1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths- Luat học-Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hônnhân và gia đình của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc

122 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp Dụng Pháp Luật Trong Giải Quyết Các Vụ Án Hôn Nhân Và Gia Đình Của Toà Án Nhân Dân Ở Tỉnh Vĩnh Phúc
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại luận văn
Thành phố Vĩnh Phúc
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 626 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có nhiều bài viết, công trìnhnghiên cứu đề cập đến một số khía cạnh khác nhau về những vấn đề liên quanđến đề tài như:- Nguyễn Văn Cừ 2005 “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn n

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay, một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do dân và vì dân Chủ trương này của Đảng lần đầu tiên được đề cấp tớitại Nghị quyết Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (năm 1993), đượcghi nhận chính thức tại Đại hội Đảng lần thứ IX và được thể chế hoá tại điều

2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi): Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và

vì nhân dân… quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phốihợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp và tư pháp Với đặc trưng của Nhà nước pháp quyền, bộ máy Nhà nướcphải luôn được củng cố, tăng cường để đáp ứng những nhiệm vụ mà thời kỳđổi mới đặt ra đó là tinh giản, gọn nhẹ và đặc biệt hoạt động có hiệu quả theođúng chức năng, nhiệm vụ của mình đã được pháp luật quy định Chính vìvậy, cùng với việc đề ra các nhiệm vụ để cải cách các cơ quan lập pháp vàhành pháp, tại các Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 7

(khoá VIII) cũng đã chỉ rõ: “Tiếp tục cải cách Tư pháp là yêu cầu cấp bách”

và ngày 02 tháng 01 năm 2002, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số

08/NQ-TƯ về “Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới”.

Trong đó, đề ra các nhiệm vụ cụ thể nhằm cải cách tổ chức, nâng cao chấtlượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp Tiếp tục hoàn thiện và xây dựng

hệ thống pháp luật đồng bộ, ngày 24 tháng 5 năm 2005 Bộ Chính trị ban hành

Nghị quyết số 48/NQ-TƯ về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và ngày

02 tháng 6 năm 2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 49/NQ-TƯ về

“chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Mục đích của cải cách tư pháp

là nhằm xây dựng nền tư pháp trong sạch, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công

Trang 2

lý, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc mà trọng tâm là hoạt động xét xửđược tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao.

Phương hướng và nội dung cải cách tư pháp ở Việt Nam là tiến hànhcải cách tư pháp khẩn trương đồng bộ; hoàn thiện chính sách pháp luật hình

sự, dân sự… phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, vìnhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dânchủ công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; tổ chức các

cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại

về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc Trong đó, xác định Toà

án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; xã hội hoá mạnh mẽhoạt động bổ trợ tư pháp; xây dựng đội ngũ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất làcán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng nâng cao quyền hạn trách nhiệm,tiêu chuẩn chính trị, đạo đức, chuyên môn; phát huy vai trò giám sát của các

cơ quan dân cử của công dân và nhân dân đối với hoạt động tư pháp; đổi mới

và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Toà án năm

2002, nhiệm vụ trọng tâm của Toà án là xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hônnhân và gia đình, kinh tế, hành chính, lao động và giải quyết các việc kháctheo quy định của pháp luật Trên thực tế, hoạt động trọng tâm của Toà án làmột hoạt động áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án nói chung vàcác vụ án hôn nhân và gia đình nói riêng, được tiến hành theo một quá trìnhgồm nhiều giai đoạn Các giai đoạn của áp dụng pháp luật có mối liên hệ mậtthiết với nhau, kết quả của giai đoạn này làm tiền đề cho giai đoạn tiếp theovới mục đích là giải quyết một vụ án được chính xác, bảo đảm quyền và lợiích hợp pháp của các đương sự

Thực tế hoạt động xét xử của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trongnhững năm gần đây cho thấy các vụ án Hôn nhân và gia đình ngày càng gia

Trang 3

tăng và thể hiện rõ tính chất phức tạp đối với loại án này, mỗi vụ án có nộidung đa dạng và phức tạp khác nhau Thực trạng trên đòi hỏi trách nhiệm hếtsức nặng nề đối với ngành Toà án nói chung và Toà án nhân ở tỉnh Vĩnh Phúcnói riêng để góp phần làm ổn định quan hệ trong hôn nhân và gia đình, giữgìn kỷ cương pháp luật, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Trong nhữngnăm qua, quá trình giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhândân ở tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được những kết quả nhất định góp phần giảiquyết mâu thuẫn bất hoà trong hôn nhân, gia đình; bảo vệ các quyền lợi hợppháp của đương sự, góp phần tăng cường nền pháp chế xã hội chủ nghĩa trêntoàn tỉnh Vĩnh Phúc Đồng thời, hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyếtcác vụ án hôn nhân và gia đình, ngoài việc đấu tranh với các hành vi trái phápluật nảy sinh trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình, còn mang tính phổ biến tuyêntruyền, giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, từ sự hiểu biết pháp luật, nhândân sẽ tham gia thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật, tố giác những hành vi

vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân, gia đình Bên cạnh đó, qua thựctiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình sẽphát hiện ra những thiếu sót trong pháp luật để có những đề xuất sửa đổi cácđiều, khoản của pháp luật cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong từnggiai đoạn cụ thể

Bên cạnh những mặt đã đạt được, thông qua hoạt động xét xử phúcthẩm, giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và xét xử phúcthẩm, giám đốc thẩm của Toà án nhân dân Tối cao đã phát hiện những thiếusót, hạn chế nhất định với nhiều nguyên nhân khác nhau mà hoạt động xét xửcủa các Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc đã mắc phải như: để quá thời hạnchuẩn bị xét xử, Thẩm phán nghiên cứu văn bản chưa đầy đủ dẫn đến đánhgiá chứng cứ thiếu khách quan, toàn diện, bản án tuyên không rõ ràng gâykhó khăn cho công tác thi hành án dân sự, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tốtụng nên Toà án cấp trên phải huỷ hoặc sửa bản án của Toà án cấp dưới Đặc

Trang 4

biệt, có một số vụ án hôn nhân và gia đình (cụ thể là tranh chấp chia tài sảntrong vụ án hôn nhân và gia đình) còn kéo dài nhiều năm, qua nhiều cấp xét

xử ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân Mặc dù, số bản án bị sửa,huỷ không nhiều nhưng đây cũng là nhược điểm lớn nhất mà ngành Toà ánnhân dân tỉnh Vĩnh Phúc luôn trăn trở và đã tập trung mọi nguồn lực đẩynhanh tiến độ, nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc, đặc biệt là vụ ánhôn nhân và gia đình nhằm bảo đảm đúng thời hạn chuẩn bị xét xử, hạn chếđến mức thấp nhất các vụ án bị sửa, huỷ; tăng cường công tác hướng dẫn ápdụng thống nhất các quy định của pháp luật; tiếp tục củng cố và nâng caotrình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán

bộ, Thẩm phán từ cấp huyện đến cấp tỉnh Thực tiễn áp dụng pháp luật tronghoạt động xét xử của các Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc đã và đang đặt ranhững yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài để không ngừng nâng cao chấtlượng xét xử và đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và cải cách tư pháphiện nay

Từ sự phân tích trên cho thấy, về mặt lý luận và thực tiễn có nhiều vấn

đề đặt ra để nghiên cứu, đánh giá thực tế, tìm hiểu từ nhiều góc độ khác nhau

để có những căn cứ khoa học về vấn đề áp dụng pháp luật trong hoạt động xét

xử của Toà án nhân dân nói chung và áp dụng pháp luật trong giải quyết các

vụ án hôn nhân và gia đình nói riêng Chính xuất phát từ những lý do đó, việc

chọn đề tài nghiên cứu: “Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc” là cần thiết và có

ý nghĩa to lớn trong lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật Bởi vậy tôi

đã chọn đề tài này để làm luận văn thạc sĩ luật

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án nói chung và áp dụngpháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình nói riêng đã đượcgiới khoa học pháp lý và nhất là những người trực tiếp làm công tác xét xử

Trang 5

của ngành Toà án quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều bài viết, công trìnhnghiên cứu đề cập đến một số khía cạnh khác nhau về những vấn đề liên quanđến đề tài như:

- Nguyễn Văn Cừ (2005) “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” Luận án tiến sĩ, Trường đại học Luật Hà Nội;

- Hà Thành Đê (2004), “Thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong đồng bào dân tộc ít người ở tỉnh Yên Bái”, Luận văn thạc sĩ Luật, Viện Nhà

nước và pháp luật, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh;

- Lê Thu Hà (1999), “Án dân sự bị kéo dài- vài nguyên nhân và giải pháp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 01;

- Thuỷ Nguyên (2005), “Áp dụng Luật hôn nhân gia đình khi giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí Toà án số 17;

- Đặng Quang Phương (1999), “Thực trạng của các bản án hiện nay và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các bản án”, Tạp chí Toà án số 7,8;

- Lê Xuân Thân (2004), “Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt nam hiện nay” Luận án tiến sĩ;

- Chu Đức Thắng (2004), “Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các

vụ án dân sự của Toà án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn

thạc sĩ Luật, Viện Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị - Hành chínhQuốc gia Hồ Chí Minh;

- Bùi Văn Thuấn (2002), “Phụ nữ và pháp luật, quyền và nghĩa vụ của

vợ chồng đối với tài sản riêng và chung”, Luận văn thạc sĩ Luật học

Ngoài ra, trên các tạp chí khác như: Tạp chí Luật học; Tạp chí Kiểmsát; Tạp chí Dân chủ; Tạp chí Nhà nước và Pháp luật… cũng có nhiều bài viếtnghiên cứu về việc áp dụng pháp luật

Các bài viết và các công trình trên nói chung đã làm rõ một số khíacạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến việc áp dụng pháp luật trong giải quyếtcác vụ án Hôn nhân và gia đình làm tiền đề tư liệu vật chất quan trọng cho

Trang 6

việc nghiên cứu đề tài Tuy nhiên, các bài viết trên hoặc nghiên cứu chung vềviệc áp dụng pháp luật của Toà án nhân dân hoặc nghiên cứu một khía cạnhnào đó của hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân

và gia đình Đến nay, chưa có một công trình nào phân tích một cách toàndiện, đầy đủ có hệ thống dưới góc độ Lý luận và thực tiễn về áp dụng phápluật trong giải quyết các vụ án Hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân ởtỉnh Vĩnh Phúc Đó cũng chính là một trong những lý do khiến học viên chọnchủ đề này làm đề tài luận văn Cao học Luật của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích của luận văn:

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nghiên cứu cơ sở lý luận của việc

áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án Hôn nhân và gia đình; đánh giáthực trạng của hoạt động này trong những năm qua của Toà án nhân dân ởtỉnh Vĩnh Phúc, trên cơ sở đó đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả giải quyết các các vụ án nói chung và các vụ án Hôn nhân

và gia đình nói riêng của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó góp phầnnâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật của hệ thống Toà án nước ta

- Nhiệm vụ của luận văn:

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:

Một là, Phân tích cơ sở lý luận của việc áp dụng pháp luật trong hoạt

động xét xử của Toà án nhân dân đối với các vụ án hôn nhân và gia đình, cụthể tại tỉnh Vĩnh Phúc;

Hai là, Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết các các

vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh phúc từ năm

2005 đến nay, rút ra những ưu điểm, hạn chế và những nguyên nhân củanhững hạn chế đó;

Ba là, Làm sáng tỏ những quan điểm và luận chứng cho các giải pháp

chủ yếu nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân

và gia đình của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về áp dụng phápluật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình, nghiên cứu thực trạng ápdụng pháp luật, nguyên nhân và những bất cập trong việc áp dụng pháp luậtcủa Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc từ đó đưa ra những giải pháp đảm bảocho áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình củaToà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc

- Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận trong giải quyết các vụ ánhôn nhân và gia đình ở tỉnh Vĩnh Phúc, không đề cập đến việc áp dụng phápluật trong giải quyết các việc dân sự liên quan đến hôn nhân và gia đình, cácloại án khác tại Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và tại các địa phương khác.Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ và liên quan đến mốc thời điểm cóhiệu lực của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ luật tố tụng dân sự năm

2004 và Bộ luật dân sự năm 2005 nên phạm vi nghiên cứu của luận văn đượcxác định từ năm 2005 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Cơ sở lý luận:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm đường lốicủa Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nướcpháp quyền của dân, do dân, vì dân, đặc biệt là quan điểm của Đảng chỉ đạo

về cải cách tư pháp trong thời gian tới

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng, duyvật lịch sử Mác xít, chú trọng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn,phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể Bên cạnh đó, còn

Trang 8

sử dụng các phương pháp phổ biến và hiện đại khác như thống kê luật học, sosánh… trong quá trình nghiên cứu để giải quyết vấn đề một cách toàn diện.

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu việc áp dụng phápluật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân ởtỉnh Vĩnh Phúc Vì vậy, có thể đóng góp khoa học mới ở những góc độ sau:

- Nêu, phân tích và làm rõ được khái niệm, đặc điểm và các giai đoạn

áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình;

- Đánh giá thực trạng và chỉ ra được những hạn chế, bất cập cảu ápdụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà

án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc Đồng thời, phân tích làm rõ được nguyên nhâncủa những hạn chế, bất cập đó;

- Đề xuất, phân tích được những quan điểm và các giải pháp có tínhkhả thi nhằm đảm bảo áp dụng pháp luật có hiệu quả trong giải quyết các vụ

án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc

7 Ý nghĩa của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về ápdụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hônnhân và gia đình của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, làm sáng tỏnhững đặc thù của loại án này ở tỉnh Vĩnh Phúc Đồng thời, luận văn cung cấp

cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, tài liệu tham khảo cho những người trực tiếplàm công tác áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình trong hoạt động xét xử.Bên cạnh đó, có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo cho công tácnghiên cứu giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên Luật vàkhông chuyên Luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng…

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương 7 mục

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN

1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân

1.1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật

Nhà nước ra đời đồng thời Nhà nước sử dụng công cụ của mình là phápluật bằng cách ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh, quản

lý các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục,

an ninh quốc phòng, khoa học kỹ thuật Tuy nhiên, để pháp luật thực sự đivào cuộc sống thì ngoài yếu tố như sự phù hợp của hệ thống quy phạm phápluật với các điều kiện kinh tế, lịch sử, trình độ phát triển của xã hội, Nhà nướccòn phải quan tâm không kém phần quan trọng đến hoạt động tổ chức thựchiện và áp dụng pháp luật một cách nghiêm minh Bởi lẽ, cho dù có ban hành

ra những văn bản pháp luật hoàn chỉnh đến đâu nhưng nếu các quy định củanhững văn bản đó không thực hiện được trên thực tế thì mục đích điều chỉnhpháp luật vẫn chưa đạt được mà chỉ đạt được khi các chủ thể thực hiệnnghiêm chỉnh pháp luật trong đời sống thực tế

Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu kháchquan của quản lý Nhà nước bằng pháp luật Pháp luật được ban hành nhiềunhưng ít đi vào cuộc sống thì điều đó chứng tỏ công tác quản lý nhà nướckém hiệu quả Do đó, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai hoạtđộng có quan hệ chặt chẽ với nhau

Thực hiện pháp luật là hành vi của con người phù hợp với những quyđịnh của pháp luật Nói cách khác, đó là hành vi không trái, không vượt quá

Trang 10

phạm vi các quy định của pháp luật và có lợi cho xã hội, cho Nhà nước và chobản thân các cá nhân Hành vi hợp pháp rất đa dạng và phong phú, chúng cóthể được thực hiên phụ thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân, nhưng cũng có thểchỉ phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Hành vi hợp pháp của các chủ thể cóthể được thực hiện xuất phát từ nhiều nguyên nhân như sự tự giác của bảnthân chủ thể; do ảnh hưởng của dư luận xung quanh hoặc là kết quả của việc

áp dụng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước

Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm chonhững quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạtđộng thực tế của các chủ thể pháp luật Các quy phạm pháp luật rất phong phúnên hình thức thực hiện chúng cũng được tiến hành theo nhiều cách khácnhau Khoa học pháp lý đã xác định có bốn hình thức thực hiện pháp luật sau:

Thứ nhất, tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó

các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hành động mà phápluật ngăn cấm

Thứ hai, chấp hành pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật,

trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hànhđộng tích cực

Thứ ba, sử dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong

đó các chủ thể pháp luật sử dụng các quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền

và lợi ích hợp pháp khác của mình

Thứ tư, áp dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong

đó Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổchức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc

tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làmphát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể

Như vậy, trong bốn hình thức thực hiện pháp luật nêu trên thể hiện: nếunhư tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những

Trang 11

hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật

là hình thức luôn luôn có sự tham gia của Nhà nước - là một hình thức thựchiện pháp luật đặc biệt Bởi, nếu chỉ thông qua các hình thức thực hiện phápluật như: Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật thìpháp luật có lúc không được thực hiện triệt để vì các chủ thể không tự giácthực hiện Các hình thức này chỉ do các chủ thể pháp luật tự giác thực hiện

mà không có cự bắt buộc thực hiện của Nhà nước Đối với áp dụng pháp luậtthì mục đích trực tiếp là đảm bảo cho những quy phạm pháp luật được thựchiện trong thực tế đời sống, phát huy được hiệu lực trong hoạt động thực tếcủa các chủ thể pháp luật Thực tế đã cho thấy, có những trường hợp nếukhông có sự can thiệp của Nhà nước thì nhiều quy phạm pháp luật sẽ khôngđược thực hiện hoặc thực hiện không đúng

Áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnhoặc các tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền trong việc tổ chức, tạođiều kiện cho các chủ thể pháp luật thực thiện các quy định của pháp luật vềquyền và nghĩa vụ pháp lý của họ Nó vừa là một hình thức thực hiện phápluật, vừa là cách thức Nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật

Nghiên cứu áp dụng pháp luật cho thấy áp dụng pháp luật có một sốđặc điểm đặc thù sau:

Một là, áp dụng pháp luật về nguyên tắc chỉ do những cơ quan nhà nước

có thẩm quyền tiến hành Pháp luật quy định các cơ quan nhà nước khác nhau cóthẩm quyền áp dụng pháp luật khác nhau Ngoài ra, trong một số trường hợp cábiệt, pháp luật trao cho các tổ chức xã hội thẩm quyền áp dụng pháp luật

Hai là, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.

Trong nhiều trường hợp, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành ápdụng pháp luật theo ý chí đơn phương, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể

bị áp dụng Sự áp dụng này có tính bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng vàđược bảo đảm bởi sức mạnh cưỡng chế nhà nước

Trang 12

Ba là, áp dụng pháp luật là hoạt động phải tiến hành theo các thủ tục

chặt chẽ do pháp luật quy định

Bốn là, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo Nghĩa là,

khuôn khổ của pháp luật cho phép người áp dụng pháp luật phải vận dụng trithức khoa học của mình để áp dụng pháp luật sáng tạo trên cơ sở có ý thứcpháp luật cao, có kiến thức tổng hợp, kinh nghiệm cuộc sống phong phú màkhông rập khuôn, máy móc

Áp dụng pháp luật thường được thực hiện trong các trường hợp sau:

- Khi cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế bằng những chế tài thíchhợp đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật

Ví dụ: Toà án áp dụng pháp luật để ra một bản án đối với người có hành

Ví dụ: Toà án áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên tham gia hợp đồng

- Trong trường hợp nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra,giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó hoặc nhà nước xác nhận

sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự việc, sự kiện thực tế

Ví dụ: Việc chứng nhận đăng ký kết hôn…

Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về áp dụng pháp luật như

sau: Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực Nhà nước, được thực hiện thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc các tổ chức xã hội, các cá nhân được Nhà nước trao quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật để ban hành ra văn bản áp dụng pháp luật làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể.

Trang 13

1.1.1.2 Khái niệm vụ án hôn nhân và gia đình

Để hiểu về khái niệm vụ án hôn nhân và gia đình, trước tiên chúng tacần hiểu thế nào là hôn nhân và gia đình:

- Hôn nhân: Là hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa người đàn ông vàngười đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sốngvới nhau Sự liên kết đó phát sinh, hình thành do việc kết hôn và được biểuhiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng.Quan hệ này là quan hệ giới tính, thực chất và ý nghĩa của nó là biểu hiệntrong việc sinh đẻ, nuôi nấng, giáo dục con cái, đáp ứng những nhu cầu vềtinh thần và vật chất trong đời sống hàng ngày Trong mỗi giai đoạn phát triểncủa lịch sử, giai cấp thống trị bằng pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân chophù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình, phù hợp với lợi ích giai cấp mình,

xã hội nào thì có hình thái hôn nhân đó và tương ứng với chế độ hôn nhânnhất định Chẳng hạn, xã hội phong kiến có hình thức hôn nhân phong kiến,mang bản chất của hôn nhân phong kiến Trong xã hội tư bản có hình thứchôn nhân tư sản mang bản chất của xã hội tư sản Xã hội xã hội chủ nghĩa cóhình thức của hôn nhân xã hội chủ nghĩa

Ở nước ta hiện nay, hôn nhân theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắchoàn toàn tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật để chung sốngvới nhau suốt đời, xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hoà thuận và bềnvững Khoản 6, điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 giải thích: “Hônnhân là quan hệ giữa người vợ và chồng sau khi đã kết hôn”

- Gia đình: Tại khoản 10, điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000quy định: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân,quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ

và quyền giữa họ với nhau” [31, tr.13]

Trang 14

Điều đó thể hiện, gia đình có thể gồm vợ chồng, con cái, anh chị em,cha mẹ, ông bà cùng chung sống với nhau, có quan hệ huyết thống hoặcquan hệ nuôi dưỡng Trong quá trình chung sống phát sinh các quyền vànghĩa vụ đối với nhau

Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội mà luôn luôn đượccác nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học nghiên cứu Hôn nhân là cơ sởcủa gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội, mà trong đó kết hợp chặt chẽ,hài hoà lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen

đã chứng minh một cách khoa học rằng: Hôn nhân và gia đình là phạm trùphát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh tế - xã hội và tổ chức gia đình cómối liên quan trực tiếp và chặt chẽ Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình,của chế độ tư hữu và Nhà nước” (1884), Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh: Chế độgia đình trong xã hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong xã hội đó

và bước chuyển hình thái gia đình này lên gia đình khác cao hơn suy cho cùngđược quyết định bởi những điều kiện vật chất của đời sống xã hội Bằng tácphẩm đó, Ph.Ăngghen đã làm thay đổi quan điểm trước đây về hình thái hônnhân và gia đình trong lịch sử

Như vậy, hôn nhân gia đình là một lĩnh vực có thể nói là rất phức tạp,liên quan đến nhiều cá nhân, nhiều thế hệ (ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái)

và mọi sự biến động liên quan đến gia đình đều làm phát sinh hàng loạt cácvấn đề pháp lý phức tạp, “chồng chéo” lên nhau Khi trong gia đình phát sinhnhững mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về một hay các mối quan hệ liên quanđến hôn nhân (tình cảm, con chung, tài sản chung ) mà các thành viên tronggia đình không thể tự thoả thuận, dàn xếp được với nhau dẫn đến phải khởikiện ra toà án thì được gọi là vụ án về hôn nhân và gia đình

Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, nhữngtranh chấp về hôn nhân gia đình sau đây sẽ do tòa án giải quyết thông qua đơnkhởi kiện của các đương sự là vụ án hôn nhân và gia đình

Trang 15

1 Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

2 Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

3 Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

4 Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ

5 Tranh chấp về cấp dưỡng

6 Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định

Với phân tích trên, chúng ta có thể hiểu: vụ án hôn nhân và gia đình là thuật ngữ chung dành để chỉ những tranh chấp giữa các đương sự liên quan đến lĩnh vực hôn nhân gia đình, được tòa án xem xét giải quyết theo trình tự

và thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

1.1.1.3 Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân

Trong tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử Hiến pháp năm 1946, Hiếnpháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập, mặc dù không quy định rõ Toà

án là cơ quan xét xử, nhưng trên tinh thần của Hiến pháp chúng ta cũng có thểhiểu Tòa án là cơ quan xét xử Sau đó, Hiến pháp năm 1959, 1980 và Hiếnpháp 1992 đã quy định rõ về chức năng xét xử của Toà án Tại Điều 127 củaHiến pháp 1992 đã quy định: “Tòa án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dânđịa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là cơ quanxét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [30, tr.171] Trên cơ

sở Hiến pháp, Điều 1 Luật tổ chức Toà án nhân dân quy định về chức năngxét xử của Toà án: “Toà án xét xử những vụ án về hình sự, dân sự, hôn nhân

và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theoquy định của pháp luật” [32, tr.7]

Trong quá trình giải quyết các vụ án, Toà án phải áp dụng pháp luật đểgiải quyết Đối với quan hệ hôn nhân và gia đình, khi có tranh chấp xảy ra,

Trang 16

các đương sự không tự mình giải quyết được thì theo quy định của pháp luật,đương sự có quyền gửi đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân có thẩm quyền để

đề nghị giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004, khi đương sự gửi đơnkhởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình đến Toà án nhân dân cấp có thẩm quyềngiải quyết, Tòa án xem xét nếu thấy đủ điều kiện thì sẽ thụ lý vụ án và giảiquyết theo trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự quy định từ khâu thu thập tàiliệu chứng cứ liên quan đến vụ án, lựa chọn quy phạm pháp luật điều chỉnh để

ra bản án hoặc quyết định buộc các đương sự thi hành bằng các hình thức tựnguyện hoặc có sự cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì Toà án là cơ quantiến hành tố tụng chủ yếu trong việc áp dụng pháp luật giải quyết các vụ ándân sự nói chung, vụ án hôn nhân và gia đình nói riêng Ngoài ra, còn có sựtham gia của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong việc kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị ,kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việcdân sự kịp thời, đúng pháp luật Đồng thời, Viện kiểm sát tham gia phiên toàđối với những vụ án do Toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại,các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, các vụ việc dân sự

mà Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Toà án [33, tr.16]

Như vậy, có thể định nghĩa: Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ

án hôn nhân và gia đình là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực Nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động của Thẩm phán (trong trường hợp giải quyết vụ án không phải mở phiên toà xét xử ) hoặc Hội đồng xét xử (sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử) căn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, các quy định khác của pháp luật để ra một quyết định

cá biệt hoặc một bản án làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Trang 17

1.1.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân

Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình củaTòa án nhân dân là sự biểu hiện của áp dụng pháp luật nói chung, nó mangđầy đủ đặc điểm của áp dụng pháp luật Tuy nhiên, do tính chất riêng biệt củacác quan hệ hôn nhân và gia đình cùng với trình tự, thủ tục giải quyết các vụ

án hôn nhân và gia đình của pháp luật tố tụng dân sự trong giải quyết các vụ

án hôn nhân và gia đình của Toà án cho nên áp dụng pháp luật trong giảiquyết các vụ án hôn nhân và gia đình có những đặc điểm riêng sau:

- Thẩm quyền giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhândân: Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình chỉ doToà án nhân dân có thẩm quyền tiến hành, Toà án là cơ quan duy nhất có thẩmquyền áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình

Thẩm quyền giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Tòa ánđược quy định rất rõ tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, quy định về thẩmquyền giải quyết của Tòa án giúp cho việc giải quyết các vụ án hôn nhân vàgia đình của Toà án được thuận lợi, tạo điều kiện cho đương sự cũng như đápứng được yêu cầu theo quy định của pháp luật nói chung

Khoản 2, Điều 32 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 quy định:Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền sơthẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng

Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định: Toà án nhân dânhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủtục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,thương mại; yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình Đối với tranh chấp về hônnhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyệntại điểm a, khoản 1, Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự quy định Toà án nhân dâncấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục những tranh chấp về hônnhân và gia đình quy định tại Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 18

Về thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp tỉnh, tại Điều 28Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định thẩm quyền nói chung củaToà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, theo đó Toà án nhândân cấp tỉnh có các thẩm quyền sau:

1 Sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng

2 Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệulực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định củapháp luật tố tụng

3 Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã cóhiệu lực thi hành luật của Toà án nhân dân cấp dưới bị kháng nghị theo quyđịnh của pháp luật tố tụng

4 Giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật

Đồng thời, Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định Toà ánnhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục

sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thươngmại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật tố tụng dân sự,trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấphuyện quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự và theo khoản 2 Điều

33 Bộ luật tố tụng dân sự thì Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyếtnhững tranh chấp hôn nhân và gia đình mà đương sự hoặc tài sản ở nước ngoàihoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài,cho Toà án nước ngoài; giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sựthuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều

33 của Bộ luật tố tụng dân sự mà Toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết

Căn cứ vào quy định trên thì Toà án nhân dân cấp huyện có đầy đủthẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm các vụ án hôn nhân và gia đình,trừ những vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp tỉnh

Trang 19

Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các vụ án hôn nhân và giađình theo các trình tự cơ bản Cụ thể, Toà dân sự (Tòa chuyên trách) giảiquyết các vụ án hôn nhân và gia đình theo trình tự sơ thẩm và phúc thẩm; Ủyban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh xét xử theo thủ tục giám đốc thẩmhoặc tái thẩm đối với những bản án, quyết định của Toà án nhân dân cấphuyện đã có hiệu lực pháp luật

- Thủ tục giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhândân: Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình đượctiến hành theo một thủ tục chặt chẽ do pháp luật tố tụng dân sự và các quyphạm pháp luật của Luật hôn nhân và gia đình quy định Khi tiến hành giảiquyết một vụ án hôn nhân và gia đình, các trình tự xây dựng hồ sơ từ khâu thụ

lý, điều tra, thu thập chứng cứ đến khi ra quyết định hoặc đưa vụ án ra xét xửđều phải tuân theo các bước như đã quy định trong Bộ luật tố tụng dân sựnhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự

- Nguyên tắc áp dụng luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và giađình của Toà án nhân dân: Toà án là cơ quan thụ lý và giải quyết các vụ ánhôn nhân và gia đình, nhân danh Nhà nước ra các phán quyết nhằm đảm bảoquyền lợi ích của các đương sự Chính vì vậy, đòi hỏi khi Tòa án áp dụngpháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình Toà án phải tuântheo những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình, của Bộ luật tốtụng dân sự cũng như các văn bản pháp luật có liên quan đến việc áp dụngpháp luật giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình

1.2 CÁC GIAI ĐOẠN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

1.2.1 Các giai đoạn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình

Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án Hôn nhân và gia đình củaToà án nhân dân là sự biểu hiện cụ thể của áp dụng pháp luật nói chung Tuy

Trang 20

nhiên, do tính đa dạng của tranh chấp Hôn nhân gia đình và những quy định

về thủ tục tố tụng khi giải quyết các vụ án do pháp luật quy định nên việc ápdụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình được chia racác giai đoạn sau:

Một là, phân tích những tình tiết thực tế khách quan của vụ án hôn nhân và gia đình và các đặc trưng pháp lý của nó.

Đây là hoạt động đầu tiên trong các giai đoạn áp dụng pháp luật giảiquyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân Trong hoạt độngnày, Toà án phải xác định loại vụ việc thuộc thẩm quyền của Toà án cấp nàogiải quyết, hoặc thông báo cho các đương sự quyền được lựa chọn Toà án Dovậy, trước khi thụ lý vụ án Toà án phải xem xét đơn khởi kiện có thuộc thẩmquyền giải quyết của Toà án không, nếu thuộc thẩm quyền giải quyết Toà án

sẽ tiến hành thụ lý đơn khởi kiện và thu thập các thông tin liên quan đến vụ ánnhư: Đơn khởi kiện, đăng ký kết hôn, xác định nơi có hộ khẩu cư trú hoặc nơi

cư trú cuối cùng của đương sự, nguyện vọng của các đương sự lựa chọn Toà

án giải quyết và các giấy tờ, tài liệu khác liên quan để xác định thẩm quyềngiải quyết của Toà án

Để làm rõ được các tình tiết khách quan và nội dung của vụ án hônnhân và gia đình thì Toà án phải tiến hành điều tra xác minh, thu thập chứng

cứ, đánh giá các tình tiết của vụ án trên cơ sở tài liệu chứng cứ đã thu thập.Tuy nhiên, có những trường hợp Toà án không nhất thiết phải tiến hành điềutra xác minh mà xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt và nghĩa vụchứng minh của các bên đương sự tự xuất trình chứng cứ, các đương sự tựthoả thuận được với nhau về các quan hệ trong vụ án hôn nhân và gia đình, thì

vụ án cũng không phải tiến hành tất cả các hoạt động điều tra, đây cũng là đặcđiểm riêng của vụ án hôn nhân và gia đình

Như vậy, đây là giai đoạn đầu của quá trình áp dụng pháp luật tronggiải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình Ở giai đoạn này, đòi hỏi không chỉ

Trang 21

xác định những tình tiết, sự kiện của vụ án mà còn phải đánh giá tầm quantrọng về mặt pháp lý của nó Đòi hỏi khi áp dụng pháp luật để giải quyết vụ

án hôn nhân và gia đình phải nghiên cứu khách quan, toàn diện và đầy đủ tất

cả các tình tiết của vụ án, xác định đặc trưng pháp lý của vụ án, tuân thủ tất cảcác quy định mang tính thủ tục gắn với vụ án hôn nhân và gia đình

Hai là, lựa chọn các quy định pháp luật tương ứng để giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình

Trên cơ sở phân tích những tình tiết khách quan và làm rõ đặc trưngcủa vụ án hôn nhân và gia đình, thì trong giai đoạn này, trước tiên Tòa án phảilựa chọn các quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, về dân sự, tố tụngdân sự và các văn bản có liên quan đến vụ án để áp dụng

Việc lựa chọn các quy phạm pháp luật để áp dụng được tiến hành theo

ý chí đơn phương của Tòa án có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí củachủ thể bị áp dụng Tuy nhiên, một số trường hợp có thể trong khi giải quyết

vụ án các đương sự có thể thực hiện quyền của mình theo pháp luật quy định

sẽ thay đổi quan điểm, nên dẫn đến vụ án không phải tiếp tục điều tra, xét xử

mà có thể ra một trong các quyết định theo hướng khác phụ thuộc vào ý chícủa các chủ thể bị áp dụng pháp luật như Quyết định đình chỉ vụ án (khinguyên đơn rút đơn khởi kiện) hay Quyết định công nhận sự thoả thuận củacác đương sự (khi các đương sự hoà giải thành được với nhau về nội dung vụán), Quyết định công nhận thuận tình ly hôn (khi các bên tự nguyện ly hôn và

đã thoả thuận về việc chia tài sản, con chung) nhưng lựa chọn các quy phạmpháp luật vẫn là do Toà án thực hiện

Ba là, làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình và các quy phạm pháp luật khác có liên quan khi đưa ra áp dụng đối với vụ án hôn nhân và gia đình.

Làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của quy phạm pháp luật hôn nhân vàgia đình cũng như các quy phạm pháp luật có liên quan nhằm mục đích bảo

Trang 22

đảm áp dụng đúng đắn pháp luật vào giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình.Đây là quá trình Thẩm phán giải quyết vụ án phải vận dụng tổng hợp các trithức chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệt là các tri thức pháp lý.

Để làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung các quy phạm pháp luật đưa ra ápdụng, đòi hỏi Thẩm phán giải quyết vụ án phải biết giải thích pháp luật thôngqua các phương pháp như phương pháp lôgic, phương pháp giải thích về mặtlịch sử, phương pháp giải thích về mặt văn phạm, phương pháp giải thích hệthống và một số phương pháp khác để nhận thức đầy đủ và đúng đắn phápluật đưa ra áp dụng đối với vụ án hôn nhân và gia đình

Bốn là, ra bản án hoặc quyết định để giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình

Đây là giai đoạn thể hiện kết quả của ba giai đoạn trên Ở giai đoạnnày, Toà án có thẩm quyền, cụ thể là Thẩm phán và Hội đồng xét xử ra quyếtđịnh hoặc bản án để quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các đương

sự trong vụ án hôn nhân và gia đình Quyết định hoặc bản án này thể hiện rất

rõ trình độ và năng lực của Thẩm phán cũng như của Hội đồng xét xử khi ápdụng pháp luật Bởi vì, trong giai đoạn này, các phán quyết cuối cùng thể hiệntính pháp lý chính là việc vận dụng các quy định pháp luật về lĩnh vực hônnhân và gia đình để giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình

Khi ra quyết định hay bản án, Thẩm phán hay Hội đồng xét xử khôngthể xuất phát từ ý muốn chủ quan hoặc tình cảm cá nhân của mình mà quyếtđịnh hay bản áp áp dụng pháp luật được ban hành phải phù hợp với quy phạmpháp luật đưa ra áp dụng Nội dung của quyết định, bản án phải rõ ràng, chínhxác, nêu rõ được các quan hệ tranh chấp cần giải quyết và tuân thủ đúng quyđịnh của Luật tố tụng dân sự và pháp luật liên quan

1.2.2 Nội dung áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân

Trang 23

Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình củaToà án nhân dân được thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy địnhnhư sau:

Thứ nhất, áp dụng pháp luật trong thụ lý, điều tra, đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án hôn nhân và gia đình:

- Áp dụng pháp luật trong thụ lý vụ án:

Theo quy định tại Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự thì cá nhân, cơ quan,

tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện

vụ án tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa mình [33, tr.114] Như vậy, theo quy định trên thì cá nhân, cơ quan, tổchức do Bộ luật tố tụng dân sự có quyền khởi kiện về việc hôn nhân và giađình tại Toà án nhân dân có thẩm quyền Cụ thể hơn về quyền yêu cầu Toà ángiải quyết việc ly hôn, tại khoản 1, Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 quy định: vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giảiquyết việc ly hôn

Điều 27 và 28 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định những vụ việc hônnhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án như sau:

Tại Điều 27 quy định về những tranh chấp về hôn nhân và gia đìnhthuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án gồm:

- Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

- Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;

- Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ;

- Tranh chấp về cấp dưỡng;

- Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định.Tại Điều 28 quy định những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộcthẩm quyền giải quyết của Toà án gồm:

- Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật;

Trang 24

- Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

- Yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi consau khi ly hôn;

- Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặcquyền thăm nom con sau khi ly hôn;

- Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;

- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định

về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án,quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài mà không có yêucầu thi hành tại Việt Nam;

- Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định.Như vậy, với quy định tại Điều 27 và 28 của Bộ luật tố tụng dân sự trênthì chỉ những tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 27

Bộ luật tố tụng dân sự được gọi là vụ án hôn nhân và gia đình, còn những quyđịnh tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự là những yêu cầu về hôn nhân và giađình mặc dù vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhưng là yêu cầugiải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự

Khi cá nhân, cơ quan, tổ chức xét thấy cần khởi kiện vụ án về tranhchấp hôn nhân và gia đình đối với một trong các tranh chấp quy định tại Điều

27 Bộ luật tố tụng dân sự đến Toà án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu bảo

vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình thì sẽ làm đơn khởi kiện gửi kèm theonhững tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình Toà ántiến hành thủ tục nhận đơn khởi kiện do đương sự gửi đến Trong thời hạnnăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, nếu thấy vụ ánthuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Toà án tiến hành các thủ tục thụ lý

vụ án, cụ thể như thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà ánlàm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạmứng án phí

Trang 25

Tòa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao chongười khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn mười lăm ngày

kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí,người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí Toà án sẽ thụ lý vụ án khingười khởi kiện nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí Trường hợpngười khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phíthì Toà án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứkèm theo [33, tr.120]

Như vậy, thụ lý vụ án là hoạt động đầu tiên trong áp dụng pháp luậttrong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình Điều kiện để thụ lý vụ án hônnhân và gia đình đòi hỏi trước khi thụ lý Toà án phải xem xét nhiều vấn đềliên quan như chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án, thẩm quyền theo vụ việc,thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo cấp xét xử, xem xét người khởikiện có quyền khởi kiện hay không, có đủ năng lực hành vi dân sự không sau khi có đầy đủ các điều kiện để thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật tốtụng thì Toà án phải thụ lý vụ án đúng thời hạn của Bộ luật tố tụng dân sự đãquy định

- Áp dụng pháp luật trong điều tra vụ án:

Điều tra vụ án là giai đoạn quan trọng và khó khăn nhất trong quá trìnhgiải quyết vụ án, bởi chỉ khi thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan thì Toà ánmới có thể ra được phán quyết chính xác và đúng pháp luật Do đó, đòi hỏiThẩm phán giải quyết vụ án phải thận trọng khi điều tra thu thập chứng cứ

Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được Chánh án Toà án phân công giảiquyết vụ án tiến hành các công việc như: Thông báo thụ lý vụ án; yêu cầuđương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án; thực hiện một số biện pháp thuthập chứng cứ theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự thì nguyên tắcchung các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và

Trang 26

chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cá nhân, cơ quan,

tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự Đồngthời, tại Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định về nghĩa vụ chứng minh:đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phảiđưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sựphản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh

Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu thấy chứng cứ mà đương sự giaonộp chưa đầy đủ để giải quyết vụ án thì Toà án yêu cầu đương sự giao nộp bổsung chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Bộ luật tố tụng dân sự.Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và cóyêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây đểthu thập chứng cứ:

+ Lấy lời khai của đương sự;

+ Quyết định định giá tài sản;

Từ kết quả lấy lời khai, nếu thấy có mâu thuẫn thì tiến hành cho đốichất giữa các đương sự với nhau nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mâu thuẫn,

Trang 27

việc đối chất phải được ghi lại thành biên bản có chữ ký của những ngườitham gia đối chất.

Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Toà án quyết định trưng cầu giám địnhtheo sự đề nghị của các bên đương sự hoặc theo đề nghị của một bên đương

sự Nếu trong trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng thìToà án ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại

Đối với những vụ án mà các đương sự không thoả thuận được với nhau

về tài sản, giá của tài sản mà yêu cầu Toà án định giá tài sản hoặc thoả thuậngiá thấp hơn nhằm trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí thì Toà án sẽ quyếtđịnh thành lập Hội đồng định giá tài sản

Ngoài ra, có nhiều vụ án việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở nhữngđịa phương (tỉnh) khác mà Toà án không thể tự đi điều tra thu thập chứng cứđược vì điều kiện đi lại khó khăn trong những trường hợp này Toà án nơigiải quyết vụ án có thể ra quyết định uỷ thác để Toà án khác hoặc cơ quan, tổchức có thẩm quyền tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ

Đối với những vụ án mà trong những trường hợp cần thiết pháp luậtquy định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ chứng cứ, tránhgây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc đảm bảo việc thi hành án saunày, Toà án có thể áp dụng các biện pháp tạm thời như:

+ Kê biên tài sản đang tranh chấp;

+ Cấm dịch chuyển về quyền về tài sản đang tranh chấp;

+ Cấm thay đổi hiện trạng đang tranh chấp;

+ Phong toả tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước ởnơi gửi giữ;

+ Phong toả tài sản người có nghĩa vụ;

+ Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định

Trang 28

Quá trình điều tra cần tuân thủ nghiêm ngặt, chính xác các quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự thì mới đảm bảo tính khách quan, làm rõ bản chất sự thậtkhách quan và giải quyết vụ án được chính xác, đúng quy định của pháp luật

- Áp dụng pháp luật trong đình chỉ vụ án:

Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định Toà án sẽ ra quyết địnhđình chỉ giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:

+ Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của

họ không được thừa kế;

+ Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận hoặcngười khởi kiện không có quyền khởi kiện;

+ Các đương sự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết tiếp vụ án;+ Nguyên đơn triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt;

+ Các trường hợp khác do pháp luật quy định

Nếu vụ án thuộc một trong các trường hợp nêu trên, Toà án tiến hànhphân tích, đánh giá, làm rõ các tình tiết trong vụ án, đồng thời đối chiếu vớipháp luật hiện hành, lựa chọn các quy phạm pháp luật để áp dụng ra quyếtđịnh đình chỉ đối với vụ án đó

Khi Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong các trườnghợp nêu trên thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào côngquỹ nhà nước Trường hợp trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèmtheo cho đương sự thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo quy định tạiĐiều 168 Bộ luật tố tụng dân sự thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộpđược trả lại cho người đã nộp Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án có thể bịkháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

- Áp dụng pháp luật trong tạm đình chỉ giải quyết vụ án:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án có thể ra quyết định tạm đìnhchỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 189 của Bộluật tố tụng dân sự đối với những trường hợp sau:

Trang 29

+ Một bên đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưaxác định được người đại diện theo pháp luật;

+ Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc đượcpháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giảiquyết được vụ án như: chờ kết quả giám định, kết quả uỷ thác tư pháp…;

+ Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định

Khi có căn cứ thuộc một trong các trường hợp nêu trên Toà án tiếnhành phân tích, đánh giá và căn cứ vào các quy định của pháp luật để ra quyếtđịnh tạm đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình

Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đìnhchưa làm xoá tên vụ án hôn nhân và gia đình bị tạm đình chỉ giải quyết vụ ántrong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý, tiền tạm ứng án phí mà đương sự

đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và được xử lý khi Toà án tiếp tục giảiquyết vụ án Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình

có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Thứ hai, áp dụng pháp luật trong trường hợp hoà giải thành.

Trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình tại cấp sơ thẩmthì hoà giải là một thủ tục bắt buộc (trừ những vụ án không được hoà giải vàkhông tiến hành hoà giải được) Điều này xuất phát từ nguyên tắc chung đượcquy định tại Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền quyết định và tự địnhđoạt của đương sự, trong đó quy định các đương sự có quyền thoả thuận vớinhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên trongquá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình trước khi đưa vụ án ra xét xửToà án phải tiến hành hoà giải để các đương sự tự thoả thuận với nhau về việcgiải quyết vụ án

Việc hoà giải phải tuân theo quy định tại các Điều 180, 181, 184, 185,

186 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án mở phiên hoà giải trong thời hạn chuẩn bịxét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình để các đương sự thoả thuận với

Trang 30

nhau về giải quyết vụ án theo nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện thoả thuậncủa các đương sự Trước khi tiến hành hoà giải, Toà án phải thông báo chocác đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự biết về thời gian, địađiểm tiến hành phiên hoà giải, nội dung các vấn đề cần hoà giải Khi tiếnhành hoà giải, Thẩm phán giải quyết vụ án phải nắm vững các tình tiết nộidung của vụ án, chủ động chuẩn bị nội dung hoà giải Thành phần phiên hòagiải cũng được pháp luật quy định gồm: Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải,Thư ký Toà án ghi biên bản hoà giải, các đương sự hoặc người đại diện hợppháp của các đương sự.

Khi tiến hành hoà giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết cácquy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên

hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giảithành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Sau đó,Thẩm phán phân tích đánh giá, làm rõ các tình tiết trong vụ án, đồng thời Thẩmphán phải nắm rõ tâm tư nguyện vọng của các bên đương sự rồi tiến hành hoàgiải Thẩm phán tiến hành phiên hoà giải phải nắm vững kiến thức pháp luật,

có sự hiểu biết sâu rộng và có kinh nghiệm, có trình độ hiểu biết về tâm lý xãhội, cần phải kiên trì phân tích, động viên các bên đương sự hướng đến việcgiải quyết tranh chấp để vụ án được giải quyết nhanh chóng và có hiệu quả thìviệc hoà giải mới đạt được kết quả Phải chuẩn bị chu đáo nội dung trước phiênhoà giải, cần tìm hiểu nguyên nhân xảy ra tranh chấp và quan hệ pháp luật bịkhởi kiện, yêu cầu các bên đương sự cung cấp chứng cứ, giúp cho Thẩm phánnắm vững những vấn đề cơ bản cần thiết của vụ án, giải thích viện dẫn chínhxác các văn bản pháp luật, chính sách có liên quan đến vụ kiện, đồng thời giảiquyết những vướng mắc trong tâm tư, tình cảm của các bên đương sự Thẩmphán phải có thái độ khách quan, không thiên vị nhằm định hướng các bênđương sự bàn bạc, thương lượng với nhau các vấn đền cần giải quyết Khi tiếnhành hoà giải cần đặt ra kế hoạch cụ thể cho từng bước, hướng cho các đương

Trang 31

sự những vấn đề cơ bản cần thoả thuận và dứt điểm từng nội dung một, khi tiếnhành hoà giải cần có thái độ trân trọng ghi nhận những vấn đề mà đôi bênđương sự nêu ra tại phiên hoà giải, giải thích thêm về pháp luật đối với nhữngđiểm chưa đạt được, động viên, gợi mở các bên đương sự tiếp tục bàn bạc,thương lượng để họ đi đến sự tự nguyện thoả thuận về những vấn đề cơ bảncủa tranh chấp và cả các điểm cụ thể mà các bên bất đồng chính kiến.

Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về các vấn đề tranh chấp,nội dung hoà giải phải được ghi lại thành biên bản và có chữ ký của các bênđương sự, của Thư ký và Chủ toạ phiên hoà giải theo quy định tại Điều 186

Bộ luật tố tụng dân sự, hết thời hạn bảy ngày kể từ ngày lập biên bản hoà giảithành không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì Toà án đối chiếu với phápluật hiện hành lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng Điều 187 Bộ luật tố tụngdân sự để ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự

Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực phápluật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủtục phúc thẩm, nhưng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu cócăn cứ cho rằng sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc tráipháp luật, trái đạo đức xã hội

Thứ ba, áp dụng pháp luật trong trường hợp thuận tình ly hôn.

Trong vụ án hôn nhân và gia đình có ba quan hệ cần giải quyết gồm:quan hệ về hôn nhân (ly hôn), quan hệ về con chung và quan hệ về tài sảnchung Chính vì vậy, trong trường hợp thuận tình ly hôn, sau khi thụ lý vụ án,Toà án phải tiến hành điều tra thêm về con chung như độ tuổi, nguyện vọngcủa con chung khi bố mẹ ly hôn, đối với con từ đủ chín tuổi trở lên thì phảixem xét nguyện vọng của con; về tài sản, công nợ… Trong trường hợp này,

vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn mà việc hoà giải không thành, các đương

sự thực sự thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, họ

Trang 32

tự nguyện ly hôn và thoả thuận được với nhau các mối quan hệ trong hônnhân, như thoả thuận về chia tài sản, nợ chung, việc trông nom, nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục con chung thì Toà án lập biên bản ghi nhận lại nội dungcủa sự thoả thuận đó, đồng thời đối chiếu với pháp luật hiện hành để lựa chọnquy phạm pháp luật và áp dụng pháp luật để ra quyết định công nhận việcthuận tình ly hôn của các bên đương sự.

Hiệu lực của quyết định công nhận thuận tình ly hôn cũng giống nhưhiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự là có hiệulực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghịtheo thủ tục phúc thẩm, nhưng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốcthẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đedoạ hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

Thứ tư, áp dụng pháp luật trong trường hợp đưa vụ án ra xét xử

Vụ án sau khi tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật, nếu cácđương sự trong vụ án không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ

án mà hồ sơ vụ án đã thu thập được đầy đủ tài liệu chứng cứ thì Toà án raquyết định đưa vụ án ra xét xử để kết luận vụ án bằng một bản án

Căn cứ vào các quy định của pháp luật về phân cấp, phân từng loại vụviệc cho các cấp Toà án giải quyết Trong việc giải quyết các vụ án hôn nhân

và gia đình, Toà án nhân dân cấp huyện được giải quyết theo trình tự sơ thẩm

và Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các vụ án hôn nhân vàgia đình theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quyđịnh của pháp luật

Đối với các vụ án phải đưa ra xét xử thông thường thì tính chất của

vụ việc có tính phức tạp hơn, mặt khác các đương sự cũng không có thiệntrí hướng đến giải quyết các tranh chấp bằng con đường thương lượng, hoàgiải Sau khi Toà án tiến hành thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình, điều tra,

Trang 33

xác minh, thu thập các tài liệu chứng cứ có liên quan đến vụ án, yêu cầucác bên chứng minh những vấn đề liên quan đến tranh chấp tuân theo cácbước như đã nêu ở trên Khi đã điều tra đầy đủ, làm rõ các tình tiết kháchquan vụ án, nếu vụ án có tài sản phải định giá tài sản Sau đó tiến hành hoàgiải, phân tích để các đương sự tự thoả thuận với nhau, nhưng việc hoà giảicác bên không tự thoả thuận được với nhau thì tiếp theo phải phân tích,đánh giá các tình tiết của nội dung vụ án, đồng thời đối chiếu với pháp luậthiện hành để lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng ra quyết định đưa vụ

án ra xét xử

Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, đây là quá trình chuẩn

bị xét xử, áp dụng pháp luật để tiến hành xét xử vụ án hôn nhân và gia đìnhphải tuân theo bước sau đây:

- Thủ tục bắt đầu phiên toà gồm có:

+ Khai mạc phiên toà;

+ Giải thích yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định,người phiên dịch;

+ Xem xét, quyết định hoãn phiên toà khi có người vắng mặt;

+ Bảo đảm tính khách quan của người làm chứng

- Thủ tục hỏi tại phiên toà:

+ Hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu;

+ Nghe lời trình bày của đương sự;

+ Thứ tự hỏi tại phiên toà: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợinghĩa vụ liên quan, người làm chứng;

+ Công bố các tài liệu của vụ án, xem xét vật chứng, hỏi người giám định;+ Kết thúc phần thủ tục hỏi tại phiên toà

- Thủ tục tranh luận tại phiên toà:

+ Trình tự phát biểu tranh luận tại phiên toà: Người bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu, nguyên đơn bổ sung ý kiến; người

Trang 34

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu, bị đơn bổ sung ý kiến;người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liênquan phát biểu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bổ sung ý kiến;

Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quankhông có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ tự mìnhphát biểu khi tranh luận

+ Phát biểu sau khi tranh luận và đối chất;

+ Phát biểu của kiểm sát viên (trường hợp có kiểm sát viên tham giaphiên toà);

+ Trở lại việc hỏi (nếu xét thấy cần thiết);

- Nghị án và tuyên án:

+ Nghị án;

+ Trở lại việc hỏi và tranh luận nếu qua nghị án xét thấy có tình tiết của

vụ án chưa được xem xét, hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứthì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc xét hỏi và tranh luận;

+ Tuyên án, cấp trích lục bản án cho đương sự và cơ quan có liên quan.Hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và giađình theo các trình tự sau:

* Hoạt động áp dụng pháp luật theo trình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện.

Đây là cấp xét xử đầu tiên đối với vụ án hôn nhân và gia đình và hầuhết các loại án khác Đây là cấp xét xử có ý nghĩa quan trọng trong trình tựxét xử vụ án hôn nhân và gia đình

Xét xử án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân cấp huyện có sốlượng vụ án nhiều, chiếm đa số trong toàn tỉnh Nếu viêc áp dụng pháp luậtđược chính xác thì kết quả vụ án không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tựphúc thẩm và trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, vụ án không bị kéo dài, hạnchế tình trạng quá tải cho Toà án cấp trên cũng như việc khiếu kiện vượt cấp

Trang 35

Đối với vụ án hôn nhân và gia đình, việc tranh chấp sau khi hoà giảikhông thành mà phải đưa ra toà xét xử chủ yếu là tranh chấp về tài sản, tranhchấp về con chung Nếu như giai đoạn hoà giải làm tốt thì hạn chế được sốlượng án và thời gian ở giai đoạn xét xử, tránh tốn kém tiền của nhà nước chiphí cho việc xét xử và công tác thi hành án sau này.

Khi vụ án tiến hành đưa vụ án ra xét xử, phải tuân thủ theo các bướcnhư đã trình bày ở trên Về nội dung vụ án cần được Hội đồng xét xử chuẩn bịchu đáo như nội dung cần hỏi, cách hỏi như thế nào, nội dung nào cần hỏitrước… Trong quá trình hỏi phải đảm bảo khách quan, đồng thời tuân theotrật tự pháp luật quy định về thủ tục hỏi tại phiên toà, tranh luận tại phiên toà,nghị án và tuyên án

Như vậy, ở trình tự phiên toà sơ thẩm cấp huyện, vụ án được xét xử ởcấp đầu tiên, vụ án trước khi đưa ra xét xử phải được điều tra một cách đầy

đủ Tại phiên toà phải được thẩm vấn các đương sự một cách khách quan, cácchứng cứ đều được đưa ra xem xét, các bước tiến hành tố tụng được tôn trọng

và thực hiện nghiêm túc và tuân thủ theo các bước mà pháp luật quy định.Việc áp dụng pháp luật phải chính xác thì mới đạt được kết quả xét xử caonhất, hạn chế tới mức tối đa việc kháng cáo, kháng nghị lên Toà án cấp trên

và tránh được án bị cải sửa, huỷ

* Hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình theo trình tự sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh:

Theo quy định tại khoản 3, Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự thì nhữngtranh chấp hôn nhân và gia đình mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoàihoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nướcngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà ánnhân dân cấp huyện Tại khoản 2, Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm

Trang 36

những vụ việc thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện, Toà ánnhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết.

Theo hướng dẫn tại công văn số 128/NCPL ngày 14/12/1991 của Toà

án nhân dân tối cao thì Toà án nhân dân tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩmcác vụ án trong đó có án hôn nhân và gia đình như sau:

+ Khi có đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài;Người Việt Nam ở nước ngoài bao gồm những người mang quốc tịchViệt Nam đang sinh sống học tập và lao động ở ngoài lãnh thổ Việt Nam

Tại công văn số 82/TANDTC ngày 07/11/1982 của Toà án nhân dân tốicao hướng dẫn những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấphuyện mà Toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết, trong đó có án hônnhân và gia đình là những vụ án như:

+ Những vụ án vận dụng pháp luật, chính sách có nhiều khó khăn phức tạp;+ Những vụ án điều tra thu thập chứng cứ có nhiều khó khăn hoặc phảigiám định kỹ thuật phức tạp;

+ Những vụ án việc xử lý có nhiều khó khăn, có ý kiến khác nhau vềchủ trương xử lý giữa các cơ quan hữu quan ở địa phương;

+ Những vụ mà đương sự là cán bộ chủ chốt ở địa phương, nhữngngười có uy tín tôn giáo mà xét thấy việc xét xử ở Toà án nhân dân cấp huyệnkhông lợi về chính trị;

+ Ngoài ra, Toà án nhân dân cấp tỉnh còn có thể theo yêu cầu củađương sự lấy những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyệnlên để xét xử nếu thấy có lý do chính đáng

Những vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Toà án nhân dântỉnh hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Toà án nhândân huyện mà Toà án nhân dân tỉnh lấy lên để giải quyết theo trình tự sơ thẩmcủa tỉnh không nhiều Khi giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Toà án

Trang 37

nhân dân tỉnh cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước theo quy định của Bộluật tố tụng dân sự, từ khi thụ lý đến khi ban hành quyết định hoặc bản án.

* Hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình theo trình tự phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh:

Phúc thẩm là một thủ tục xét xử do Toà án nhân dân cấp trên trực tiếptiến hành nhằm xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyếtđịnh sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp dưới khi cókháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Đây là cấp xét xử thứ haiđối với vụ án Do vậy, cấp xét xử thứ hai phải xem xét bản án một cách thậntrọng Mục đích của việc xét xử phúc thẩm là để xem xét lại việc xét xử ở cấpxét xử sơ thẩm Với tính chất là cấp xét xử thứ hai, phúc thẩm là cấp xét xử có

ý nghĩa bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứ cho cácc phán quyết của Toà án,

do đó Toà án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm phải là Toà án cấp trên củaToà án đã xét xử sơ thẩm [25, tr.64]

Giải quyết án hôn nhân và gia đình theo trình tự phúc thẩm chiếm sốlượng lớn của Toà án nhân dân cấp tỉnh Bởi, sau khi bản án cấp sơ thẩmđược tuyên, có thể bản án sơ thẩm không thể đáp ứng được nguyện vọng củamột trong các đương sự nên đã thực hiện quyền kháng cáo, cá biệt có một số

ít đương sự cố tình gây khó khăn cho bên kia nên thực hiện quyền kháng cáocủa mình để bản án chưa thi hành được phải kéo dài Khi tiến hành giải quyết

vụ án hôn nhân và gia đình ở cấp phúc thẩm, Toà án nhân dân cấp tỉnh phảihết sức thận trọng, ngoài việc kiểm tra lại việc áp dụng pháp luật của Toà ánnhân dân cấp huyện đã chính xác chưa, kết quả của bản án đã thấu tình đạt lýkhông Như vậy, quyết định của bản án cấp phúc thẩm đòi hỏi phải có sứcthuyết phục cao hơn đối với Toà án nhân dân cấp huyện và các đương sự

Khi tiến hành áp dụng pháp luật để xét xử theo trình tự phúc thẩm đốivới bản án hôn nhân và gia đình có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm cóthẩm quyền:

Trang 38

- Giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm;

- Sửa bản án, quyết định sơ thẩm;

- Huỷ bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà áncấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án;

- Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án

Với những lẽ trên, khi xét xử theo trình tự phúc thẩm, Toà án nhân dâncấp phúc thẩm (Toà án nhân dân tỉnh) không chỉ đơn thuần áp dụng pháp luật

để giải quyết vụ án, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc khắc phụcnhững sai lầm có thể có trong những bản án, quyết định chưa có hiệu lực phápluật của Toà án cấp sơ thẩm (Toà án cấp huyện), bảo đảm cho quyền và lợiích hợp pháp của đương sự được thực hiện trong thực tế, góp phần bảo vệpháp chế xã hội chủ nghĩa Đồng thời, có thể kiểm tra hoạt động xét xử củaToà án cấp dưới, qua đó có thể rút kinh nghiệm, hướng dẫn công tác xét xử,bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất trong hoạt động xét xử

* Áp dụng pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh:

Ngoài thẩm quyền xét xử các vụ án dân sự theo hai trình tự sơ thẩm vàphúc thẩm, pháp luật còn quy định Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyềnxét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với những bản án, quyết định của Toà

án đã có hiệu lực vì những nguyên nhân khác nhau dẫn đến phán quyết củaToà chưa đúng đắn hoặc không phù hợp với thực thế khách quan của vụ án

- Thủ tục giám đốc thẩm:

Giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật của toà án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trongviệc giải quyết vụ án

Theo quy định tại Điều 283 Bộ luật tố tụng dân sự quy định căn cứkháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định dân sự nói

Trang 39

chung, bản án, quyết định hôn nhân và gia đình nói riêng khi có một trongnhững căn cứ sau:

+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiếtkhách quan của vụ án;

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

+ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật;

Thủ tục giám đốc thẩm không phải là cấp xét xử thứ ba nên trình tự xét

xử giám đốc thẩm cơ bản khác với xét xử sơ thẩm, phúc thẩm từ trình tựkháng nghị cho đến việc xét xử Khi xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, Hộiđồng xét xử giám đốc thẩm có thẩm quyền:

+ Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật;

+ Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của toà án cấp dưới đã

bị huỷ hoặc bị sửa;

+ Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại;+ Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giảiquyết vụ án

Việc xét lại bản án, quyết định vụ án hôn nhân và gia đình đã có hiệulực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm có ý nghĩa giúp cho Toà án cấp trênthấy được những sai lầm, vi phạm pháp luật của Toà án cấp dưới trong việcgiải quyết từng vụ án cụ thể Qua đó, có hướng khắc phục, sửa chữa những sailầm, vi phạm pháp luật của Toà án cấp dưới trong việc giải quyết vụ án, bảo

vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Mặt khác, thông qua thủ tụcgiám đốc thẩm, Toà án cấp trên có thể tổng kết, rút kinh nghiệm công tác xét

xử, hướng dẫn Toà án cấp dưới hiểu và vận dụng đúng pháp luật

- Thủ tục tái thẩm:

Trang 40

Tái thẩm là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật củaToà án bị kháng nghị do mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án màtoà án và các đương sự đã không biết được khi toà án giải quyết vụ án.

Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định

về hôn nhân và gia đình đã có hiệu lực khi có những căn cứ như sau:

+ Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự vàtoà án đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;

+ Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch củangười phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc có giả mạo bằng chứng;

+ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố tình làm sai lệch

hồ sơ vụ án hoặc cố tình kết luận trái pháp luật;

+ Bản án của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Toà áncăn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị huỷ

Hoạt động áp dụng pháp luật của Hội đồng tái thẩm có các quyền như sau:+ Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên quyết định, bản án hônnhân và gia đình đã có hiệu lực pháp luật;

+ Huỷ bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình đã có hiệu lực phápluật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định;

+ Huỷ bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình đã có hiệu lực phápluật và đình chỉ giải quyết vụ án

Thủ tục tái thẩm vụ án hôn nhân và gia đình có ý nghĩa quan trọng đốivới cả việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án và việc bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Giúp cho Toà án khắc phục đượcnhững thiếu sót trong những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luậtkhông phụ thuộc vào thời gian bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đượcthi hành từ bao giờ

Ngày đăng: 07/07/2022, 01:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả nhận đơn khởi kiện của Toà án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2005 - 2009 - Ths- Luat học-Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hônnhân và gia đình của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.1 Kết quả nhận đơn khởi kiện của Toà án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2005 - 2009 (Trang 55)
Bảng 2.2: Kết quả thụ lý và giải quyết theo hình thức đình chỉ vụ án của Toà án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc (giai đoạn 2005 - 2009) - Ths- Luat học-Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hônnhân và gia đình của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.2 Kết quả thụ lý và giải quyết theo hình thức đình chỉ vụ án của Toà án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc (giai đoạn 2005 - 2009) (Trang 59)
Bảng 2.3: Kết quả thụ lý và giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc - Ths- Luat học-Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hônnhân và gia đình của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.3 Kết quả thụ lý và giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc (Trang 61)
Bảng 2.4: Kết quả án sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm - Ths- Luat học-Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hônnhân và gia đình của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.4 Kết quả án sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (Trang 63)
Bảng 2.6: Kết quả giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (từ năm 2005 - 2009) - Ths- Luat học-Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hônnhân và gia đình của Toà án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.6 Kết quả giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (từ năm 2005 - 2009) (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w