Giáo trình Đại cương giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ: Phần 2 gồm có 2 chương với những nội dung chính sau: Chương 4 phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khuyết tật trí tuệ, chương 5 quản lí hành vi của trẻ khuyết tật trí tuệ. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm nội dung chi tiết.
Trang 1
CHƯƠNG 4
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP
CHO TRE KHUYET TAT TRI TUE
* B là một cậu bé 3 tuổi, bị khuyết tật trí tuệ nặng, kèm với bại não Các kĩ năng của cậu không hơn gì so với những đứa trẻ mới sinh C bế B trên tay và nói chuyện với cậu bé, đưa khuôn mặt của cô gần với khuôn mặt của cậu bé Bằng cách địu dàng của người lớn, C nói với B về những việc mà ho sẽ làm tiếp theo vào ngày hom đó C ngừng nói chuyện và nhìn B một lúc lâu Thật đáng yêu, ngay lập tức B bắt đầu phát ra các âm “gừ, gừ” (cooing) trong khi vẫn đang nhìn vào C C không nói một từ nào nhưng vẫn tiếp tục nhìn vào mắt B B ngừng phát
ra các âm thanh “git, gif” va ngay khi đó C lại bắt đầu nói chuyện với cậu bé Hơn một lần, C ngừng nói chuyện và nhìn vào B, B lại phản ứng bằng việc phát ra các 4m thanh “git, git”,
Doan văn miều tả về C và B chỉ ra tắm quan trọng của mối quan hệ giữa mẹ
và con trong sự phát triển các kĩ năng giao tiếp Ngôn ngữ của B là ngôn ngữ đặc trưng của một trẻ sơ sinh mặc dù cậu bé đã gần 3 tuổi C đang đưa ra những chiến lược can thiệp tuyệt vời cho B — cậu bé đã hoàn toàn bị chậm ở tất cả các lĩnh vực phát triển (developmental areas) Tiéng “git, git” va việc luân phiên đã được quan sát thấy là giai đoạn tiển ngôn ngữ quan trọng trong sự phát triển các kĩ năng
+ Các phương pháp và chiến lược để tăng cường ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ nhỏ, đặc biệt là các trẻ khuyết tật trí tuệ (KTTT)
Trang 21 Đặc điểm về giao tiếp ở trẻ KTTT
1.1 Một số đặc điểm về sư phát triển ngôn ngữ và giao tiếp ở trẻ em nói chung
Sự phát triển của trẻ nhỏ trong thời gian từ khi sinh đến 5 tuổi không chỉ là giai đoạn quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ mà còn ở tất cả các lĩnh vực phát triển khác Việc sử dụng các giai đoạn ngôn ngữ phụ thuộc vào kha nang tiếp thu các kĩ năng cụ thể vẻ vận động, kĩ năng xã hội và nhận thức Ví dụ, lời nói đòi hỏi phải có sự phát triển thể chất vẻ các cấu trúc cơ và việc điều khiển vận động của các cấu trúc cơ đó
'Trong giai đoạn đầu thơ ấu, trẻ tiếp thu cả cấu trúc và nội dung ngôn ngữ, trẻ đạt khoảng 2500 từ (Bowe, 1995) Thời kì này cung cấp nến móng cho sự phát triển về sau ở tất cả các lĩnh vực phát triển và đóng vai trò quyết định trong sự phát triển đầy đủ các kĩ năng giao tiếp
a) Sự phát triển tiền ngôn ngữ (tiền lời nói)
Cơ sở để phát triển giao tiếp bắt đầu ngay từ những năm đâu tiên của cuộc đời Thực tế, một vài tuần đầu tiên trong cuộc đời của một đứa trẻ là rất quan trọng đối với sự phát triển các kĩ năng giao tiếp vẻ sau Nó rất khó để phân tách
sự phát triển ngôn ngữ và các kĩ năng giao tiếp khỏi các vùng phát triển vẻ xã hội
và nhận thức Ví dụ, một trẻ nhỏ sẽ cười khi nhìn thấy mẹ có nghĩa là đứa trẻ đó đang thể hiện sự nhận ra (nhận thức), giao riếp (ngôn ngữ) và biểu lộ sự thích thú trong /ương tác (xã hội) Ở các giai đoạn phát triển ban đầu có mối tương tác quan hệ qua lại giữa tất cả các vùng phát triển
5) Giao tiếp của trẻ sơ sinh
Chúng ta thường cho rằng đứa trẻ mới sinh là một con người bé nhỏ, thường nằm trong nôi, khóc khi đái dâm, ăn khi đối, và ngủ hầu hết thời gian Đôi khi những người lớn cho rắng *Trẻ chưa biết di hoặc biết nói,
chuyện nhiễu với con mình” Tuy nhiên, ngay trong nam đầu của cuộc đời, thậm
chí trước khi trẻ bắt đầu nói những từ đầu tiên, thì nền móng cho sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp đã được đặt trước Giai đoạn này là thời gian quan trọng trong sự phát triển giao tiếp, thậm chí trước khí từ đầu tiên xuất hiện Với tiếng khóc dầu tiên, đứa trẻ đang giao tiếp, đang thể hiện những ý định, những nhu cầu, những mong muốn Trẻ đang nói với chúng ta một điều gì đó
Sự phát triển tiền ngôn ngữ có trước sự xuất hiện những từ đầu tiên (giai đoạn ngôn ngữ) Đứa trẻ thể hiên giao tiếp có mục đích trước khi chúng nói những từ
Trang 3
đâu tiên (Bruner,1981) Bruner cho rằng có ba loại giao tiếp có mục đích trong giai đoạn tiển ngôn ngữ: (1) để có được sự hỗ trợ, giúp đỡ của người khác; (2) thu hút sự chú ý của mọi người; (3) và chia sẻ sự chú ý với những người khác Ông
cũng quan sát thấy rằng trẻ sử dụng nhiều điệu bộ và các âm để thực hiện các
mục đích đó
Sự phát triển tiền ngôn ngữ bắt đầu ngay khi sinh bằng những trao đổi không lời giữa trẻ với cha mẹ và người chăm sóc Trẻ sơ sinh có các kĩ năng nhìn (khả năng thị giác) và kĩ năng nghe (kĩ năng thính giác) để chuẩn bị cho chúng các tương tác giao tiếp sớm Ví dụ, chúng có các kĩ năng nhìn để phân biệt mẹ của chúng với những người phụ nữ khác Chúng cũng bắt đầu nhận ra âm thanh giọng nói của người mẹ và chúng bắt đâu để liên kết với thức ăn, và có lẽ, nắm giữ các hình ảnh âm thanh và thị giác đó
“Trẻ mới sinh sẽ nhìn vào người mẹ trong khi ăn, một dạng giao tiếp sớm, hoặc trẻ sơ sinh khóc khi chúng nghe thấy giọng nói của người mẹ Trẻ sơ sinh
có xu hướng tìm kiếm các giọng nói và phân biệt chúng với giọng nói của những người phụ nữ khác Đó là nền tảng của sự phát triển giao tiếp
Tiếng khóc của trẻ sơ sinh, những biểu hiện trên khuôn mật của trẻ, điệu bộ
cơ thể và việc phát ra các âm thanh, thậm chí cả sắc thái màu da của trẻ truyền
đạt nhiều thông tin về sự thoải mái hay không thoải mái, sự thích thú, hoặc sự sẵn sang tham gia vào giao tiếp của trẻ Trẻ đang giao tiếp khi hành vi của chúng được đón nhận một phản hồi từ phía cha mẹ hoặc người chăm sóc Trong khi đó mục đích của hành vi đó của trẻ không thường xuyên rõ ràng lúc bắt đầu, một cách nhanh chóng cha mẹ bắt đầu có thể đọc được các dấu hiệu đó và phản hồi lại bằng một mẫu hành vi để củng cố những cố gắng giao tiếp ban đầu của đứa trẻ Ví dụ, khi trẻ trở nên tức giận và bắt đầu khóc gần thời điểm mà chúng nên được cho ăn thì cha mẹ biết đã đến lúc cho chúng ăn
Trong tháng thứ hai của cuộc đời, trẻ bắt đầu có tính kiểm soát hơn Chúng học cách truyền đạt những ý định của chúng một cách rõ ràng hơn Yếu tố quan trọng có thể là việc phản hồi của cha mẹ và khả năng dự đoán vẻ phản hồi đó (Owens, 1988) Yoder & Warren (1999) thừa nhận rằng giao tiếp tiền ngôn ngữ
có chủ ý có thể có liên quan một phần đến mức độ ngôn ngữ vẻ sau bởi vì giao tiếp có chủ ý gợi ra sự phản ứng tích cực, và đến lượt mình sự phản ứng tích cực này lại tạo điều kiện cho sự phát triển ngôn ngữ về sau
Những bà mẹ cũng nhanh chóng bắt đầu phân biệt được những tiếng khóc của con mình Họ có thể nói sự khác nhau giữa những tiếng khóc thể hiện “con
Trang 4
gắng giao tiếp của trẻ là không có chủ đích Tuy nhiên, chúng vẫn được hiểu bởi
những người thường xuyên chăm sóc chúng Giai đoạn này tạo ra nén tảng cho việc luân phiên giao tiếp và hiểu biết ngôn ngữ
* Sự gắn bồ mẹ ~ con
Sự gắn bó là mối quan hệ có ảnh hưởng mạnh mẽ giữa người mẹ và con của
họ Mối quan hệ này được xem là nền tảng quan trọng cho sự phát triển cảm xúc
và xã hội của trẻ nhỏ, nhưng cũng có một mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển giao tiếp sớm Thông qua mối quan hệ gắn bó giữa người chăm sóc chính và đứa trẻ, lòng tin sẽ phát triển Connor, Williamson và Siepp (1978) đưa ra tổng quan
về tắm quan trọng của mối quan hệ qua lại giữa trẻ nhỏ và người chăm sóc chính:
Đứa trẻ ra dấu hiệu nhu cầu cẩn chăm sóc bằng việc khóc hoặc khó chịu, người mẹ (người chăm sóc) phản hồi bằng cách đón lấy trẻ Đến lượt mình, dứa trẻ lại phản hồi với một số phản hồi bằng cơ thể như là được âu yếm, vuốt ve Những điều chỉnh cơ thể của đứa trẻ ra hiệu cho người mẹ rằng trẻ đã sắn sàng cho bước tiếp theo, là vệ sinh, cho ăn, tắm, hoặc chí là được âu yếm, vuốt ve Đứa trẻ phản hồi với việc được chăm sóc bằng sự im lặng, điều đó củng cố cho việc được chăm sóc đó
Quá trình giao tiếp giữa người chăm sóc chính và trẻ tiếp tục phát triển thông qua việc thiết lập mối quan hệ tin tưởng, mà được dựa trên một chuỗi các dấu hiệu và các phản hồi Lời nói và ngôn ngữ với trẻ được thay đổi một cách có hệ thống từ những gì được sử dụng trong hội thoại giao tiếp thông thường Lời nói được điểu chỉnh, được nói đến như là “&forherese” hay là "đứa trẻ nói/baby talk”) Motherese được đặc trưng bởi độ dài của câu ngắn và ngữ pháp đơn giản (Owens, 1988) Người mẹ sử dụng những biểu hiện trên khuôn mật và ngữ cảnh
để giao tiếp và truyền đạt ý nghĩa khi giao tiếp với con mình
Blacher & Meyers (1983), trong bài báo vẻ mối quan hệ gắn bó của những thành viên trong gia đình với trẻ khuyết tật, đã nhấn mạnh rằng sự hạn chế các phản ứng của nhiều trẻ mắc các khuyết tật phát triển có ảnh hưởng bất lợi đến mối quan hệ gắn bó Sự hạn chế các phản ứng là do sự hạn chế vẻ phát âm, hiếm khi cười và khóc, và thiếu giao tiếp mắt — mắt (Fallen, Umansky, 1985) Đứa trẻ khuyết tật không phát ra những dấu hiệu để thu hút giao tiếp của cha mẹ, vì vậy cha mẹ có thể tránh tương tác với đứa trẻ bởi vì nó thường xuyên giận dữ, khóc, hoặc là yếu ớt vẻ mặt thể chất Nếu cha mẹ không nhận được phản ứng thích thú
từ đứa trẻ, thì họ có thể giảm việc tương tác của mình, điều này có thể dẫn đến rối nhiễn trone mối quan hê sắn bó.
Trang 5
Mối quan hệ gắn bó được dựa trên mối quan hệ qua lại giữa cha mẹ và trẻ Mối quan hệ qua lại này được dựa trên giả thuyết rằng hành vị của đứa trẻ ảnh hưởng đến cha mẹ của chúng và ngược lai (Bell, 1979) Vì vậy, hệ thống giao tiếp
xã hội thường bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ cha mẹ trẻ
* Giao tiếp của trẻ sơ xinh Hầu hết trẻ sơ sinh bắt đầu có những âm thanh “gừ, gừ” vào tháng thứ 2 của cuộc đời Tiếng “gừ, gừ” bao gồm việc tạo ra các âm thanh nguyên âm, và sau đồ
là các âm thanh nguyên âm/phụ âm, thường là để phản hồi với khuôn mặt, giao tiếp, hoặc giọng nói của con người (Anselmo, 1987) Cười đi cùng với việc phát
ra các âm thanh "gừ, gừ” là một phẩn của quá trình giao tiếp Owens (1988)
khẳng định rằng trẻ sơ sinh lặp lại nhiều hơn âm thanh "gừ, gừ” đó nếu người lớn
phản ứng bằng lời hơn là không bằng lời
Gần 4 tháng tuổi, trẻ bắt đầu khởi xướng giao tiếp với người lớn bằng việc cười, phát ra âm thanh "gừ, gừ”, hoặc ríu rít lên để thu hút sự chú ý Các chuỗi
âm thanh này được gọi là bập bẹ Hầu hết các âm là đơn âm tiết gồm phụ âm — nguyên âm hoặc nguyên âm — phụ âm Chúng tham gia vào các nghỉ thức và trò chơi, học luân phiên, chia sẻ chú ý, và truyền đạt những ý định của chúng thông qua việc phát ra các âm bập bẹ hoặc khóc để thu hút sự chú ý (Anselmo, 1987; Rossetti, 1991) Lúc 5 tháng, trẻ có thể bắt chước một số âm thanh thông dụng, thường là các nguyên âm tuân theo một mẫu phát âm (Owens, 1988)
Các điệu bộ là một dạng của hành vi tiển ngôn ngữ và có trước giao tiếp bằng lời (Rossetti, 1991) Các ví dụ vẻ những điệu bộ để truyền đạt một ý định, đó là với lên để thể hiện nhu cầu muốn được bế, vẫy tay bai-bai và gật đầu thể hiện là
có hoặc không Sự thiếu vắng các hành vi cử chỉ điệu bộ này có thể dự báo về một sự thiếu hụt ngôn ngữ sắp xảy ra (Rossetti, 1991)
Khoảng 6 tháng, những đứa trẻ có khả năng phản ứng đây đủ những trạng thái cảm xúc trong những phát âm của chúng như là giận dữ, thích thú, hoặc ngạc nhiên (Owens, 1988) Trẻ ở giai đoạn này có thể điều chỉnh độ to của tiếng khóc hoặc những âm phát ra bởi vì những thay đổi về thể chất Đến cuối tháng thứ 6, những đứa trẻ bắt đâu bập bẹ Tiếng bập bẹ bao gồm cả nguyên âm và phụ âm (/ma/, /bu/, /pa/) và phức tạp hơn tiếng “gừ, gừ” lúc đâu Đứa trẻ tiếp tục bap be cho đến khoảng một tháng trước khi sử dụng các từ có nghĩa đầu tiên và sau đó việc bập bẹ giảm đi cho đến khi chúng nói được từ đầu tiên
* Các chiến lược để khuyến khích giao tiếp tiễn ngôn ngữ
‘Cha me va người chăm sóc có thể khuyến khích giao tiếp ở mức độ tiền ngôn
Trang 6rằng trẻ sẽ phát âm lại và một loạt các tương tác thay thế, luân phiên xảy ra Điều rất quan trọng đối với cha mẹ và người chăm sóc là nói chuyện nhiều với trẻ và đọc những câu chuyện đơn giản cho chúng nghe Cha mẹ nên bắt đầu gọi tên các
đổ vật ở môi trường xung quanh (*Bình sữa của con dây”), các bộ phận cơ thể (°Hãy nhìn vào ngón chân nhỏ bé của con”) trong khi đang chạm vào các ngón chân của trẻ và những người thường xuyên có mặt bên cạnh chúng (*Bố đây”); hoặc có thể nói những nhịp điệu ngắn như “bánh bao/ patty cake” khi dang cham
©) Sự phát triển ngôn ngữ sớm
* Sự phát triển c iêng lẻ
Đến 12 tháng, trẻ nhận ra tên của chúng và có thể làm theo những hướng dẫn
về vận động đơn giản Chúng cũng phản ứng lại với “không” và bắt đầu sử dụng một số từ để thể hiện điều muốn nói đến Các từ đơn được sử dụng không chỉ cho việc gọi tên Chúng được sử dụng để hỏi, để nhận xét, để xin hoặc yêu cầu
‘Thong thường, các từ đầu tiên là các từ chỉ các thành viên trong gia đình, các con vật nuôi, các đồ chơi và các đồ ăn Sau khi trẻ tiếp thu một từ, trẻ sẽ thường xuyên sử dụng từ đó nhiều hơn trong một khoảng thời gian ngắn Khoảng 12 - I8 tháng, trẻ bắt đầu nói các từ đơn, thường là “mama" Các từ đơn này thông thường ám chỉ đến những người hoặc những vật trong môi trường mà thoả mãn nhu cầu và mong muốn của chúng Các từ trở nên có tính biểu tượng và tuân theo các quy ước riêng
Khi trẻ khoảng 2 tuổi rưỡi, chúng bắt đầu nói kết nối 2 từ và tăng tốc độ phát triển vốn từ vựng Trong thời gian này trẻ giảm việc phát ra các âm thanh bap be Cuối năm thứ 2, trẻ có thể nói 300 — 500 từ và nối các từ thành câu (Stoel= Gammon, 1998) Khi mới đầu bắt đầu kết hợp các từ, chúng sử dụng các từ có ý
Trang 7
những kết hợp từ của trẻ chỉ bao gồm các từ cần thiết như là “sữa nữa" có nghĩa
là "con muốn uống sữa nữa" hoặc “con bánh” có nghĩa là "con muổn ăn bánh” Các nhà ngôn ngữ học đã phân loại các câu đầu tiên này thành 7 loại chính (Anselmo, 1987):
+ Các câu mô tả: "Hết bánh”
+ Các câu hỏi: "Bố đâu?"
+ Các câu sở hữu: “Búp bê của con”
« Các câu tái diễn/Recurrence: “Sữa nữa”
+ Các câu chủ động/ agent action: “Con chó cắn”
© Phủ định và mong muốn: “Không đi ngủ” và "Uống nước”
s Định vị: “Con ở đây”
Roger Brown (1973) sau khi hoàn thành một nghiên cứu lâu năm vẻ sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nhỏ, đã xây dựng một hệ thống cho việc phân loại sự phát triển sử dụng giá trị độ dài trung bình của chuỗi lời nói (MLU) Brown nhấn
mạnh rằng có những giai đoạn đặc trưng riêng của sự phát triển ngôn ngữ mà
tương đương với những sự tăng lên vẻ độ dài trung bình của chuỗi lời nói của trẻ được do lượng bằng các hình vị Để ước tính độ dài trung bình chuỗi lời nói của trẻ, thì tổng số các hình vị từ mẫu ngôn ngữ của trẻ được chia thành tổng số các
từ Brown xác định 14 hình vị, bao gồm: 2 giới từ (trong — “in”, trén — “on”), 2 mao tit (a, the) và các biến đổi danh từ (sở hữu và số nhiều bằng việc thêm "~s”), các biến đổi động từ (tiếp diễn — "ïng”, thì hiện tại cho ngồi thứ 3, thì quá khứ của động từ có quy tắc “-ed”, và động từ bất quy tắc), và cách sử dụng chủ yếu của động từ * be, cả dạng rút gọn và khi nó không thể được rút gon (I am, I'm, hoặc I was) Quá trình tiếp thu các hình vị này là một quá trình dan dan, và cách dùng các loại từ đó của trẻ là không thường xuyên cho đến khi nó trở nên chắc chắn (Tager-Flusberg, 1993) Owens (1988) đã đưa ra một tóm tắt dưới đây vẻ các giai đoạn của Brown, số lượng của các MLU, độ tuổi xấp xỉ theo tháng, và
I 10-20 12- I6 _ | Gần với các quy tắc vẻ ngữ nghĩa
1 2,0-2,5 27-30 | Sự phát triển vẻ hình thái học
0 2,5-3,0 31-34 | Sự phát triển của việc hình thành câu
IV 3/75 ~ 4,5 4l —46 _ | Nối các mệnh để
Trang 8
Như đã trình bày, giữa 2 và 2 tuổi rưỡi, các hình vị về mặt ngữ pháp đã bắt đầu xuất hiện ở trẻ Trẻ sử dụng các biến đổi động từ và các dạng thức số nhiều của đanh từ Đứa trẻ nói: "Có 2 con chó” Đôi khi các biến đổi từ này được sử dụng một cách không phù hợp Ví dụ trẻ sẽ nói: “Con có hai cái chân”, hoặc
“Con ngéi trên ghế” Mặc dù các cấu trúc về ngữ pháp này có thể được sử dụng không chính xác, nhưng chúng cũng là giai đoạn tỉnh vi hơn, phức tạp hơn giai đoạn lời nói vấn tắt ban đầu
Ngay cả các câu 2 từ đơn giản nhất cũng thể hiện dấu hiệu của ngữ pháp Đứa trẻ nối các từ để tạo thành các câu tuân theo các quy tắc riêng hơn là một cách ngẫu nhiên (Tager — Flusberg, 1993) Bing 4.1 đưa ra một tóm tất về sự phát triển ngôn ngữ của tr từ 15 đến 60 tháng Ở các giai đoạn này có một sự khác biệt lớn giữa các trẻ nhỏ
~ Chỉ vào đồ chơi, người, con vat, hoặc quấn áo
15— 16 |— Sử dụng biệt ngữ và các từ trong hội thoại
21 — Sử dụng một số giới từ (in — trong, on — trên) và dai tir (I, me, you) nhưng không thường xuyên chính xác
~ Sử dụng một số dạng kết của động từ (—s, =ed, ~ing) và danh từ
Số nhiều (~s)
36 ~Vốn từ có khoảng 900 — 1000 từ
Trang 9
~ Tạo ra các câu 3 ~ 4 từ
~ Sử dụng các câu đơn giản gồm chủ ngữ và động từ
~ Chơi với các từ và các âm thanh
~ Làm theo yêu cầu 2 bước
~ Nồi chuyện vẻ hiện tại
~ Vốn từ có khoảng 1.500 — 1.600 từ
~ Hỏi rất nhiều câu hỏi
~ Sử dụng các câu phức tạp
1 ~ Kể lại các câu chuyện và sử dụng thời quá khứ đơn
~ Hiểu hầu hết các câu hỏi về môi trường xung quanh
~ Gặp khó khăn khi trả lời câu hỏi “như thế nào — how” và “tai Sao — why”
~ Dựa vào trật tự từ để hiểu
— Vốn từ khoảng 2100 — 2200 từ
~ Thể hiện các cảm giác
60 — Hiéu “truéc” (before) va “sau” (after)
~ Làm theo yêu cầu 3 bước
~ Đạt được mức độ chính xác về ngữ pháp đến 90%
Điều chỉnh từ: Owen, R.E, Jr (1988) “Sự phát triển của trẻ”, (tái bản lần 2, tr 63
— 103) Columbus, OH: Merrill =
* Sự phát triển các câu đơn giảm
Đến 3 tuổi, hầu như các trẻ đều sử dụng được các từ 3 — 4 tir Các câu này chứa đựng một chủ ngữ và một vị ngữ Trẻ 3 tuổi có kĩ năng đặt câu hỏi, đưa ra mệnh lệnh và sử dụng các câu tường thuật Hầu hết trẻ 3 tuổi đều thành thạo với
các nguyên âm và các phụ âm /p/, /m/, /h/, /nứ, /ew/, /b/, /k/, /g/ và /d/ (Owens,
1988) Khoảng 3 — 4 tuổi, từ vựng phát triển nhanh Như đã được chú ý ở bảng giai đoạn 3 tuổi, đứa trẻ tiếp thu khoảng 900 — 1000 từ Vốn từ vựng có tính diễn cảm và dễ tiếp thu của trẻ được mở rộng, đến 4 tuổi trẻ đã thành thạo ngữ pháp cơ bản của ngôn ngữ và đã tiếp thu 1500 — 1600 từ và đẩy đủ các câu hỏi Trẻ thường xuyên sử dụng một sự biến đổi (ví dụ biến đổi dạng động từ) hoặc một mạo từ với một danh từ và hầu hết các động từ có quy tắc và bất quy tắc được trẻ sử dụng đúng
Trang 10
* Những điều kiện tiên quyết để lĩnh hội ngôn ngữ cho trẻ nhỏ
Việc lĩnh hội ngôn ngữ đối với trẻ nhỏ là giai đoạn phức tạp mà ở đó các hệ
cơ quan thực hiện chức năng theo một cách tích hợp Để trẻ nhỏ tiếp thu ngôn
ngữ theo một quá trình bình thường thì tất cả các hệ cơ quan phải làm việc Nếu
có một sự thiếu hụt ở cơ quan nào đó thì sẽ dẫn đến sự trì hoãn trong việc tiếp thu ngôn ngữ và khả năng giao tiếp Hệ thần kinh hoạt động không hiệu quả, cơ quan cảm giác bị hư hại, và các khả năng nhận thức và trí tuệ bị hạn chế sẽ dẫn đến trì
hoãn trong việc tiếp thu ngôn ngữ Bảng 4.2 minh hoạ một số dẫn chứng vẻ những trì hoãn về giao tiếp có thể xảy ra
“Từ ngày đầu tiên đứa trẻ được sinh ra, chúng đã trải nghiệm vẻ thế giới, một phần dựa vào những gì chúng nghe được Giao tiếp giữa cha mẹ và trẻ được mở rộng đựa trên khả năng phát ra các âm thanh và khả năng nghe Khi trẻ dần lớn
ên, trẻ bắt đầu chú ý đến các âm thanh xung quanh chúng như là âm thanh giọng nói của mọi người, tiếng chó sủa, tiếng nhạc Sau đó trẻ bắt đâu hiểu và kết nối những từ (những biểu tượng) đó với tên của mọi người và những sự vật trong môi trường xung quanh trẻ Chúng trải nghiệm các tương tác dựa trên giao tiếp với chính mình, với những bạn cùng trang lứa, và những người lớn trong gia đình và cộng đồng Thông thường, cha mẹ và những người khác điều chỉnh giao tiếp của mình xuống mức độ của trẻ nhỏ, làm đơn giản lối hội thoại bình thường để trẻ hiểu Quá nhiều điều diễn ra mang tính ngôn ngữ trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời nếu ở giai đoạn này sự mất sức nghe nhẹ ở trẻ cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển ngôn ngữ (Fallen và Ưmansky, 1985)
Bảng 4.2 Các dấu hiệu về sự trì hoãn giao tiếp có thể xảy ra ở trẻ
Từ khi sinh |— Không thể hiện phản ứng giật mình với âm thanh to
đến 28 ngày | ~ Không nhìn vào mắt người khác khi đang được bế
4~=8tháng |— Không thể hiện sự tập trung, thích thú vào âm thanh mới, khác lạ
~ Không vui thích khi nghe thấy giọng nói của người chăm sóc
Trang 11
~ Không tuân theo các yêu cấu “không” hoặc các yêu cầu đơn giản
~ Không thích thú với các âm thanh hoặc phát ra từ đầu tiên
§~— 12 tháng
— Không nói được nhiều câu | tir
12 ~ 18 tháng | ~ Không trả lời các câu hỏi “có” hoặc “không” hoặc các câu trả
lời phù hợp khác
~ Không hoặc không sử dụng được nhiều câu 2 từ dễ hiểu với mọi người
18 — 24 tháng | — Không tuân theo những yêu cầu bang ngôn ngữ nói đơn giản
trừ khi yêu cầu đó được đưa ra kèm theo các điệu bộ, cử chỉ hoặc các cách thức về thị giác khác
~ Không nói nhiều câu 3 — 4 từ
3 tuổi _ |— Không có lời nói thường xuyên dễ hiểu với những người
~ Không nói tên mình khi được yêu cầu
Điều chỉnh từ Prizant, B & Weatherby, A.M (1993) Đánh gid giao tiếp và ngôn
ngữ cho trẻ nhỏ (Trong Trở sơ sinh và trẻ nhỏ) 5(4), 20 — 34
1.2 Một số đặc điểm về giao tiếp ở trẻ KTTT
1.2.1 Những khiếm khuyết đi kèm với KTTT đã ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ
* Khiểm khuyết trong phát triển tinh cảm = xã hội:
Sự phát triển xã hội — tình cảm để cập tới cuộc sống tình cảm của đứa trẻ và quan hệ của trễ với những người khác Những vấn để trong lĩnh vực này có thể được biểu hiện dưới rất nhiều cách khác nhau
Ví dụ vẻ vấn để tình cảm: Khi một đứa trẻ không cảm thấy an toàn, trẻ sẽ tách mình khỏi môi trường Đứa trẻ này thường không giao tiếp bằng mắt, hoặc chỉ thỉnh thoảng giao tiếp rất ngắn bằng mắt Cũng có những trẻ do có vấn để vẻ tình cảm nên luôn sợ phải dĩ chuyển trong không gian
Ví dụ vấn để xã hội: Một đứa trẻ không thể chơi với những trẻ khác mặc dù
lẽ ra ở độ tuổi của bé, trẻ phải biết chơi với bạn bè Nhưng trẻ chỉ chơi một mình
mà từ chối chơi cùng với bạn Một vài trẻ có vấn để trong phát triển các kĩ năng
xã hội sẽ không hiểu và không chấp nhận các quy tắc chơi, luật chơi, không biết cách chờ đến lượt để chơi
Trang 12
Thường thì những trẻ có các vấn đề xã hội — tình cảm cũng có những vấn đẻ khó khăn trong giao tiếp Đứa trẻ không có khả năng đặt câu hỏi một cách trực tiếp, không giao tiếp bằng mắt, luôn lảng tránh nhìn ra chỗ khác Trẻ có thể có hiện tượng sử dụng ngôn ngữ kì quặc, như lặp đi lặp lại lời nói một cách vô nghĩa (echolalia) hoặc trẻ không giao tiếp được ở những tình huống nhất định (thường được gọi là cấm khẩu do tình huống: DSM IV)
* Khiểm khuyết trong phát triển cảm giác:
Sự phát triển bình thường của các giác quan đóng vai trò quan trọng giúp trẻ
em học ngôn ngữ Với trẻ KTTT, các em thường có khiếm khuyết về cảm giác, điều này sẽ hạn chế việc tiếp nhận thông tỉn một cách trọn vẹn và đầy đủ, sẽ ảnh hưởng tới quá trình phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của các em
* Khiểm khuyết trong phát triển vận động:
Khả năng vận động của trẻ nhỏ giúp trẻ có thể khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh Trong khi trẻ vận động, môi trường xung quanh sẽ biến đổi, trẻ sẽ học về tầm quan trọng của các đồ vật, học cách sử dụng các đồ vật; đồng thời khi trẻ bò xung quanh, chạm vào các đồ vật, trẻ sẽ được nghe tên gọi các đồ vật Do đó, ban đầu đồ vật chỉ có ý nghĩa khi trẻ sờ và tiếp xúc với nó; sau này đổ vật có ý nghĩa dưới dạng các tên gọi của đồ vật
Không phải mọi trẻ KTTT đều có khiếm khuyết vẻ khả năng vận động, nhưng hấu hết trẻ KTTT đều có xu hướng “ngại” khám phá môi trường xung quanh, ít khi thể hiện sự tò mò về các đồ vật, hiện tượng xung quanh Điều này sẽ
có ảnh hưởng sâu sắc không những tới quá trình phát triển ngỏn neữ ø f
mà cả quá trình phát triển nhận thức ở trẻ
* Khó khăn trong khả năng tập trung:
Các vấn để về khả năng tập trung có thể dẫn đến việc trẻ không thể chứ ý vào một mục tiêu cụ thể nào Ví dụ: trẻ nhìn lơ đăng và luôn có vẻ không tập trung Khó khăn về khả năng tập trung cũng có thể có nghĩa là trẻ chỉ có khả năng tập _ trung trong một thời gian rất ngắn Ví dụ: đứa trẻ ngừng chơi ngay sau khi vừa mới bắt đầu và chuyển sang chơi trò chơi mới
Trẻ có vấn để vẻ tập trung sẽ gặp khó khăn trong việc học các kĩ năng ngôn _
ngữ Thông thường trẻ sẽ chỉ nghe thấy một phần của lời nói và do đó trẻ không - hiểu hết nghĩa Ví dụ: Giáo viên nói: “Bây giờ chúng ta sẽ đi trên ghế băng” nhưng đứa trẻ chỉ nghe thấy “di” va do d6 trẻ bắt đầu chạy quanh lớp
* Khó khăn trong khả năng bắt chước:
Bg chước là một điệu kiện rất quan trọng | trong phát triển ngôn ngữ Bắt
Trang 13
biểu hiện Việc trẻ không có hoặc hạn chế về khả năng bắt chước có thể do một
trong những nhân tố đã nói trên,
* Sự chậm chế phát triển trong khả năng lĩnh hội về ngôn ngữ:
Những khó khăn trong việc lĩnh hội ngôn ngữ có thể dẫn đến việc trẻ sẽ gặp khó khăn trong giao tiếp Để hiểu các khả năng và các vấn để trong giao tiếp của trẻ KTTT, chúng ta cần phải quan sát và đánh giá xem vấn để mà trẻ gặp phải là thuộc phạm vi nào Khi trẻ KTTT có sự chậm trễ trong phát triển ngôn ngữ và Tĩnh hội ngôn ngữ, thường thể hiện cụ thể ở bốn phạm vi sau đây:
~ Sự chậm trễ phát triển trong phạm vi ngữ dụng biểu hiện:
+ Không có hoặc có rất ít sự tiếp xúc bằng mất
+ Khoảng thời gian chú ý ngắn
+ Không có hoặc hạn chế về khả năng luân phiên
® Nhận ra sự tồn tại của đồ vật muộn
+ Khả năng tập trung chú ý vào đồ vật, người thấp
® Hiểu các biểu tượng muộn
® Ít hợp tác và chia sẻ với người khác
+ Thiếu sự tự tin để khẳng định cho quan điểm của chính mình
+ Không tuân theo các quy tắc giao tiếp (lắng nghe, đợi đến lượt mình) + Không có khả năng phỏng đoán về đối tượng giao tiếp với mình
« Khó khăn trong việc lựa chọn ngôn ngữ trong các tình huống và đối tượng giao tiếp khác nhau (ví dụ xưng hô)
+ Không có khả năng xử lí các mâu thuẫn, xung đột bằng ngôn ngữ
~ Sự phát triển chậm trễ trong phạm vi ngữ nghĩa biểu hiện:
+ Vốn từ bị hạn chế
+ Ý nghĩa của các dạng từ được sử dụng quá hạn hẹp, ví dụ một cái bàn cụ thể mới được gọi là cái bàn, những chiếc bàn khác trông khác nhau một chút thì trẻ không hiểu được đó cũng là cái bàn Trẻ gặp khó khăn ở khả năng khái
nhất họ£
Trang 14« Việc phân loại các thuật ngữ theo chức năng dưới một thuật ngữ chung phát triển muơn, cĩ nghĩa trẻ khơng thể phân loại quần, áo, tất với thuật ngữ chung đĩ
là "quần do’
+ Khả năng diễn giải hoặc mơ tả một thuật ngữ chưa biết hạn chế, ví dụ trẻ muốn yêu cầu một đồ chơi nhất định, trẻ khơng biết tên của đồ chơi đĩ và cũng khơng thể mĩ tả nĩ bằng các từ khác
— Sự phát triển chậm trễ trong phạm vi ngữ âm:
« Một số trẻ cĩ khĩ khăn vẻ thể chất thường ảnh hưởng đến khả năng phát
âm, ví dụ ngọng, khơng rõ từ, nĩi khĩ
+ Cử động và phối hợp của các cơ quan phát âm khơng tốt
+ Sự khác thường của cơ quan phát âm, ví dụ hở mơi, hở hàm ếch
+ Cơ miệng yếu, ví dụ hội chứng Down
+ Khĩ khăn trong việc phân biệt các âm thanh thính giác Não bộ khơng thể
xử lí thơng tỉn về các âm thanh thu nhận, do đĩ trẻ gặp khĩ khăn trong bắt chước
các âm thanh nghe được
s Khĩ khăn trong việc sử dụng các nguyên âm (ví du: thảo, mèo ) hay các phụ âm (trứng, nhà )
« Nhận thức vẻ ngữ âm khơng đầy dù, ví dụ khĩ phân biệt các âm phát ra gần giống nhau như: “na” và "đa"
— Sự phát triển chậm trể trong phạm vi ngữ pháp và cú pháp:
+ Gặp khĩ khán trong việc kết hợp các câu gồm hai, ba từ trở lên
+ Gặp khĩ khăn trong việc thành lập câu đúng
s Gặp khĩ khăn trong việc sử dụng các câu mơ tả, hình thức số nhiều
+ Sử dụng các từ khơng đúng các từ phân loại (cái, con, củ, quả )
+ Khĩ khăn trong việc sử dụng câu so sánh
+ Khĩ khăn trong việc sử dụng từ quá khứ và tương lai (đã, sẽ)
+ Cấu trúc câu lộn xộn, khơng theo quy tắc (ví dụ “con ăn cơm”, trẻ thường
nĩi "cơm an con’
* Tiến trình giao tiếp gặp khĩ khăn:
“Trong tiến trình giao tiếp, trẻ KTTT cĩ thể gặp phải những khĩ khăn ở những bước sau:
~ Nghe va nhin thơng điệp: Trẻ KTTT cĩ thể khơng gặp văn để gì ở bước này
néu khéne kém theo tat khiếm thính hộc khiếm thí
Trang 15— Nhận ra ý nghĩa: Trẻ KTTT cũng có thể gặp khó khăn ở bước này Trẻ gập
khó khăn khi hiểu ý nghĩa của câu nói, ý nghĩa của một sự kiện, tinh huống cụ thể nào đó
— Quyết định phản ứng lại: Do gặp khó khăn trong việc nhận ra ý nghĩa giữa con người, sự kiện, tình huống nên trẻ cũng khó khăn khi ra quyết định
~ Quyết định cách gửi thông điệp trả lời: Trẻ KTTT khó khăn trong việc quyết định xem nên gửi thông điệp đi bằng cách nào: nói, viết hay cử chỉ điệu bộ
~ Khó chọn lựa từ ngữ và âm thanh; dấu hiệu; tranh ảnh, con chữ và từ
— Khó khăn trong việc nhận biết thứ tự của các biểu tượng
~ Đáp lại — điều khiển và điều chỉnh câu trả lời cho đúng
1.2.2 Một số biểu hiện bất thường khác trong sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ khuyết tật trí tuệ
* Nói lắp
Nhiều trẻ không trải qua một giai đoạn ngắn giữa 3 và 5 tuổi, trẻ rất muốn thể hiện mình nhưng không điều khiển được, rất khó nói lưu loát Hầu hết trẻ trở lại cách nói bình thường nhưng một số tiếp tục còn khó khăn Chúng sẽ nói lắp trong một thời gian dài
Đôi khi tật nói lắp liên quan đến yếu tố thần kinh như buồn rấu, lo lắng,
ốm đau Điều quan trọng với trẻ nhỏ bị nói lắp là tránh làm cho trẻ lo lắng vẻ điều này
Tat lip cũng phát sinh do những vấn để ngôn ngữ như khó nhớ ra từ, ghép
câu hoặc phát âm
* Trẻ không phát ra âm tiết nào
"Trẻ không thể phát ra bất kì âm tiết nào Có thể trẻ bị giảm hoặc mất khả năng nghe, cũng có thể trẻ không thích giao tiếp, không thích nói Trẻ cần được
đi khám tai và đo thính lực
Với trẻ này, giáo viên nên khuyến khích trẻ phát ra một âm thanh bất kì như
cù cho trẻ cười; hoặc dạy cho trẻ ngôn ngữ ra hiệu hoặc biểu tượng; cho trẻ nghe hát bắt chước tiếng đông vât cùng các ban
Trang 16
* Trẻ nói ở nhà nhương không nói ở trường
Nhiều trẻ không nói trong thời gian đến trường, vì trẻ xấu hổ hoặc lí do nào
đó Giáo viên nên cố gắng tìm hiểu lí do, gần gũi và nói chuyện với trẻ Giáo viên
có thể đến thăm nhà của trẻ
* Trẻ nói quá nhiều
Một vài trẻ KTTT nói suốt ngày, nhưng ít câu có nghĩa Trẻ thường nhắc lại câu trẻ đã nghe được Những trẻ này cần được giúp để phát triển các kĩ năng phản ứng và lắng nghe
* Trẻ nghe hiểu ngôn ngữ nói nhường không tự nói
Những trẻ này thường không chủ động trong khi giao tiếp Trẻ có thể hiểu được những câu đơn giản song không chủ động nói Những trẻ này cẩn có sự động viên khuyến khích rất lớn
* Trẻ phát âm thiếu, nhắm lẫn từ
Nhiều trẻ KTTT có khó khăn khi phát âm Chúng thường phát âm không chính xác như thiếu từ, phát âm sai phụ âm đầu, phụ âm cuối, các dấu thanh, nguyên âm Nhiều khi, người nghe phải thật chú ý và thường xuyên tiếp xúc với trẻ mới có thể hiểu được trẻ nói gì
1.2.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ và giao tiếp xét theo mức độ khuyết tật trí tuệ
Ngoài việc xem xét các mức độ giao tiếp phi biểu tượng, biểu tượng, tiền biểu tượng, chúng ta còn phải chú ý tới các giai đoạn phát triển Những giai đoạn này để cập tới cách trẻ trải nghiệm vẻ bản thân và môi trường, cách trẻ xác định
vi trí của mình trong thế giới Đồng thời, những giai đoạn này cũng cho chúng ta biết thông tỉn vẻ cách đáp ứng nhu cầu của trẻ Điều này sẽ tác động tới cách chúng ta sắp xếp không gian, lựa chon dé chơi, hoạt động cho trẻ cũng như cách chúng ta giao tiếp với trẻ Tất cả trẻ KTTT đều có khó khăn trong việc hiểu và diễn đạt nhưng mức độ cũng như phạm vi của những khó khăn trên phụ thuộc vào
mức độ KTTT
* Trẻ khuyết tật trí tuệ rất nặng
Trẻ KTTT rất nặng hầu như không nói Đối với một số trẻ có khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ thì sự diễn dat này cũng thường chỉ giới hạn ở mức độ sử dụng một số từ đơn lẻ Trẻ thường chỉ vào các đồ vật mà trẻ mong muốn và cầm tay bạn để làm rõ điều mình muốn Trẻ cũng thể hiện mong muốn hoặc cảm xúc của
Trang 17
chuyển Trẻ cũng có thể vận dụng các âm thanh trong môi trường xung quanh hoặc bắt chước các cử chỉ
* Trẻ khuyết tật trí tuệ nặng
“Trẻ KTTT nặng học cách tạo các liên kết nhờ vào các kinh nghiệm lặp lại
Đứa trẻ học được rằng các âm thanh, từ ngữ, cử chỉ nhất định thuộc về các đồ
vật và tình huống nhất định Trẻ bắt đầu hiểu những nhiệm vụ đơn giản trong các tình huống sống hàng ngày Có vẻ như đứa trẻ gần như hiểu được mọi thứ
có liên quan tới ngôn ngữ nhưng trẻ vẫn bị bó buộc trong phạm vì các tình huống rất cụ thể
Ngoài việc nói các từ và câu ngắn, đứa trẻ sử dụng các cử chỉ một cách tự nhiên như chỉ tay, cẩm tay người khác để dẫn đi xem vật gì Trẻ cũng thường sử dụng nhiều phương thức giao tiếp cùng một lúc Trong khi nói, trẻ vẫn có các cử chỉ, tạo giao điếp, bảng mắt và sử dụng ngôn ngữ cơ thể
đt trí tuệ trưng bình Đối với trẻ KTTT trung bình, ngôn ngữ trong các tình huống hàng ngày chiếm vị trí trung tâm: Các câu đài hơn và phức tạp hơn; Có khả năng diễn đạt cảm xúc bằng lời; Có thể nói và nghĩ vẻ các sự vậ/sự việc trong quá khứ và hiện tại: Có thể tự lập kế hoạch cho mình; Có khả năng tương đối trong giao tiếp xã hị
* Trẻ khuyết tật trí tuệ nhẹ
Trẻ KTTT ở mức độ này có thể sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp một cách sáng tạo không chỉ dựa trên thói quen và điều kiện mà còn nhờ vào ngôn ngữ tiểm ẩn bên trong Giao tiếp thực tế có vai trò quan trọng để trao đổi thông tin va ling nghe lẫn nhau
Tuy nhiên trẻ vẫn cẩn có sự giải thích thêm nhưng giải thích không nên quá đài và các câu phải rõ rằng Một điều cần thiết là phải vừa sử dụng những từ quen thuộc vừa giải thích những từ và câu mới để đứa trẻ có thể tăng khả năng hiểu của mình Để hiểu được trẻ, cần hết sức kiên nhẫn: hãy để trẻ nói; hãy để trẻ tự tìm Idi và cử chỉ; hãy để trẻ có cơ hội giao tiếp
Như vậy, đối với trẻ KTTT chúng ta thường thấy chúng bị chậm lại hoặc
“te” ở một giai đoạn phát triển nào đó, vì vậy mỗi giai đoạn phát triển đòi hỏi một cách tương tác riêng với đứa trẻ Giáo viên và cha mẹ cần phải biết chính xác những nhu cầu của đứa trẻ trong giai đoạn đó và có khả năng cung cấp những kinh nghiệm nhằm giúp trẻ phát triển Hấu hết trẻ KTTT đều có khó khăn trong việc hiểu và diễn đat ngôn neữ nhưng không phải tất cả trẻ đểu có khó khăn
Trang 18i
khó khăn của những trẻ này khác nhau Có nghĩa là trẻ KTTT có sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp khác nhau, khả năng giao tiếp của mỗi trẻ cũng khác nhau, Ngoài ra, ở cùng một trẻ, sự phát triển và khả năng giao tiếp ở từng lĩnh vực cũng, khác nhau Do đó, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ KTTT thường kéo đài thời gian hơn trẻ bình thường Sự phát triển này cũng theo cùng một trình tự nhưng với tốc
độ chậm hơn nhiều Một số khía cạnh trong sự phát triển ngôn ngữ có thể phát triển tốt hơn các khía cạnh khác Ví dụ: khả năng hiểu của đứa trẻ cao hơn khả, năng diễn đạt Thông thường trẻ KTTT chỉ có khả năng học một số quy tắc cơ bản của ngôn ngữ Trẻ có khó khăn cả với nội dung của ngôn ngữ và hình thức của ngôn ngữ Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ KTTT thường chỉ đạt giới hạn nhất định, thấp hơn trẻ thường, tuỳ vào mức độ phát triển chung của trẻ Ví dụ: chúng ta không thể hi vọng bé H 10 tuổi và tuổi tí tuệ chỉ tương đương 12 tháng có thể nói được các câu nhiều từ
Khả năng giao tiếp ở từng trẻ KTTT cũng khác nhau Trẻ có ngôn ngữ nhưng không có khả năng nói Ví dụ, trẻ bị KTTT mức độ nhẹ nhưng kèm theo bị điếc nặng, không học nói được Khi trẻ giao tiếp bằng dấu hiệu, trẻ dang dùng ngôn ngữ, trẻ cũng học đọc thẩm và giao tiếp bằng chữ viết Trẻ nhỏ hoặc trẻ KTTT có thể không có ngôn ngữ nhưng vẫn có khả năng thể hiện thích hay không thích bằng nét mặt, vận động cơ thể hoặc bằng âm thanh với người quen Trẻ có khả năng giao tiếp hiệu quả mặc dù trẻ chỉ có tiếng nói và ngôn ngữ rất hạn chế Cha
mẹ của những trẻ bị KTTT thường nghĩ rằng nói là nhu cầu lớn nhất Thực ra với những trẻ này, nên tăng cường cho trẻ khả năng giao tiếp và sự ham muốn giao tiếp Giáo viên và gia đình nên động viên trẻ giao tiếp càng nhiều càng tốt, cần đáp ứng lại một cách thích hợp khi trẻ cố gắng giao tiếp
Nhiều trẻ KTTT học nói giống như cách trẻ bình thường nhưng chậm hơn — chúng cần được động viên nói cho phù hợp với sự phát triển Ngôn ngữ của - chúng phát triển chậm nhưng không bất thường Một vài trẻ có khó khãn trong kĩ năng ngôn ngữ ban đầu, như bắt chước, lắng nghe, luân phiên Việc này cần phải tập luyện Nhiều trẻ KTTT kèm theo nghe kém, điều này có ảnh hưởng tới ngôn ngữ và lời nói Một số trẻ có thể điếc vĩnh viễn, số khác thỉnh thoảng bị viêm tai hoặc số khác đục thuỷ tỉnh thể Thậm chí, một số trẻ sẽ không bao giờ nói được
và sẽ chỉ luôn luôn đừng lại ở một giai đoạn nào đó
2 Đánh giá giao tiếp của trẻ khuyết tật trí tuệ
'Để có thể phát triển giao tiếp và lựa chọn phương thức giao tiếp phù hợp với từng trẻ KTTT, chúng ta cần phải đánh giá mức độ ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ
Trang 19
KTTT về ngôn ngữ và giao tiếp, từ đó có thể thiết kế một chương trình phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho phù hợp với trẻ Xin giới thiệu một số cách đánh giá dễ
sử dụng nhất để cha mẹ trẻ và giáo viên có thể thực hiện được
2.1 Lược đổ Shane
Lược đồ Shane là công cụ giúp chúng ta đánh giá mức độ giao tiếp của trẻ
em Ý nghĩa cơ bản của công cụ này là giúp chúng ta có thể điều chỉnh được mức
độ giao tiếp của mình cho phù hợp với mức độ giao tiếp của trẻ KTTT mà chúng
ta đang giáo dục Theo lược đồ này, giao tiếp được chia thành các mức độ:
~— Mức độ giao tiếp phi ngôn ngữ/phi biểu tượng: Trẻ em sử dụng các cử chỉ
điệu bộ như cử động của tay chân, ánh mắt, nét mật, tiếng khóc hoặc các âm
thanh khác để thể hiện sự giao tiếp với người xunh quanh
— Mức độ giao tiếp tiền ngôn ngữ/tiền biểu tượng: Trẻ em sử dụng một số cử
chỉ điệu bộ như chỉ, sử dụng đồ vật thật, tranh ảnh hoặc kí hiệu, các âm thanh thể hiện sự đồng ý, không đồng ý để giao tiếp với người xunh quanh
~— Mức độ giao tiếp ngôn ngữ/biểu tượng: Trong giai đoạn này, trẻ em sử dụng được các hệ thống ngôn ngữ để giao tiếp với người xung quanh Các hệ thống này có thể là: ngôn ngữ nói, ngôn ngữ kí hiệu, tranh biểu tượng, chữ viết Nếu trẻ đã đạt mức độ giao tiếp ngôn ngữ thì có nghĩa là đã trải qua các mức
độ giao tiếp trước đó Nhưng nếu trẻ mới chỉ có giao tiếp phi ngôn ngữ hoặc tiền ngôn ngữ thì trẻ sẽ chưa thể có giao tiếp ngôn ngữ
Chúng ta có thể dựa vào mô hình này để xác định mức độ giao tiếp
R Verpoorten, 1982 điều chỉnh mô hình Shane, 1980:
Mức độ phi | L]Cử động của chân tay |[ ]Khóc
biểu _ tượng/ | [T]Tư thế đâu và người Le@i
tiền ngôn ECŒứchỉ/ kí hiệu
ngữ TOKE akan nikon lade AR sine
Trang 20Mức độ biểu | [L]Ngôn ngữ kí hiệ LHNói
Tranh biểu tượng
2.2 Đánh giá kĩ năng giao tiếp
Ki nang giao tiếp sớm có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ em Nhiều bậc phụ huynh cũng như giáo viên hiện nay thường nóng vội muốn nhanh chóng đạy trẻ khả năng sử dụng ngôn ngữ nói trong khi trẻ chưa có được các kĩ năng cơ bản cần thiết để sắn sàng tiếp nhận Trong can thiệp sớm cho trẻ KTTT, đánh giá kĩ năng giao tiếp sớm ở trẻ là cẩn thiết Xin giới thiệu bảng đánh giá các kĩ năng giao tiếp sớm, đó là các kĩ năng: tập trung, bắt chước và lần lượt, chơi, tranh ảnh, ngôn ngữ xã hội Mỗi kĩ nâng được đánh giá ở
5 giai đoạn khác nhau
ĐÁNH GIÁ KĨ NĂNG GIAO TIẾP
(+) trẻ làm được; (~—) trẻ không bao giờ làm; (/) thỉnh thoảng làm được; (2)
~Trề quay lạ | - Nhĩ vào đồ | Cha sẽ sự | ~Nhn lâu hơn và | - Tập tung vào
để đáp ứng | vật tong một | tập trung với | đợi mộtdấu hiệu | sự chỉ dẫn của âm thanh _ | thờngian ngắn | ngườilớn - Hiểu tính chất | người lớn
~_ Nhịn vào | -Nhận biếtđược | - Nhìn và lắng | nhan-qua | - Làm việc tong Tập | những vật có | âmthanh "| nghe người nhóm
trừng | mềusắc ~ Nhịn mẹ |=Dễphãntán | khác — nối chuyện một nhiệm ~ Tập trung vào vụ và
có thể lắng nghe
được những hướng dẫn,
BI [~ CWớ và|-LãmlếnvW|-LâmllnM@l|= Bất chước|- Chơi các tò chước | chuyển động | trong các hoạt | sử dụng đồ vật | những tử _ trẻ | choi od lat valén | khi nổi | động và người | - Lặp lại hành | nghe thấy ~ Chơi lấn lượt
Trang 21
- Biểu cảm 10 tinh
~ Đập ứng
~ Cha mẹ đợi
trẻ phản hồi
~ Hấu hết là sử dụng tay | đổ vật choilgp lal _ | lớn làm việc nhà | chơi ic có luật
và mật xúc ` bằng | mình vào tay | némđốvật _ | khác + tiếp | - Thích đập tay | - Ody, làm rơi, | - Chơi với các trẻ | ~ Tham gìa chơi nhôm mắt ~ Với đồ vật | - Với, ắc, đập, | vat Chơi giả | vẽ ngườikhác | - Chơi với 2 đồ | - Xếp mồ hình, | - Làm tốt một số hoạt động như Chơi | -Trẻ cử động | khảm phá đố | vở đơn gin | -Đả,nẽmbong, | xếp hình, nhảy để đáp ứng | vật ~ Kéo đồ chơi cò, cẩm
động cơ thể ảo cho búp bê
~ Bi, khóc, |~ GIØ tay khi | - Nhắc lại các | -Sử dụng cử chỉ | - Vẽ tranh
thể hiện nét | muốn được bể | hoạt động, cử | để có cái trẻ | - Có thể sử dụ
mat = Nhin vat ma | chi muốn cử chỉ tranh đi
~ Với, dùng | trể muốn mắt để ~Chỉtheo vật | vật bằng cách | hiệu cho ~ Yêu cấu đồ | - Có thể học dấu | truyền đạt thông các 46 | tin, cươy |hiện sự vài Và hich nhn vào vật | vật và hành |- Giao tiếp sử người lớn rối | động dụng những dấu ten | = Van done nh, | theo phản xạ nhìn vào vật | - Hiểu tranh và | mà trẻ - Nhận biết| chỉ vào tranh | hoặc tranh ở trên đã học
được các bức | được nêu tên, tranh - Đặt : một vải đấu
- Vẫy tay tạm hiệu hoặc tranh
xin và từ chối, thể làm thành câu,
= Bap Gng với | - Muốn wi Kan | hútsựchủý | do ng _ cách | - Cẩn yêu cầu | - Khôi và thu | - Giao tiếp có lí | - Nhận đấu giao | - Đưara trong hội thoại _ | giao iếp cho 2 ~ 3 lượt cho người | cả các li do ey nhìn mặt và | nhắc lại tò | tếp lớn các thông li, | ~ Hồi các câu hỏi
Kí | quay theo|chơi xã hội |~ Chào, yêu | tả lời cầu hồi về | tại sao để hỏi
năng | tiếng động _ | yêu cầu vật và | cấu vật, hành | cái trẻ nhin thấy | thêm,
ae thức ân động, gợi tên | - Lôi cuốn mọi | - Bình luận, kể về
NHI môi Hỏi các câu | nhưng vẫn thích | không nhin thấy,
k2 hoạt động thể | hỏi đơn giản: | đốithoại1-1 | những sự kién
"HH hiện cảm giác | cai gi? để mô t va | Weg ~ Dũng ngôn ngữ | trong quả khứ và hoạch việc | - Giải quyết được
xây a to ieo | sựhduiên,
Trang 22
2.3 Đánh giá khả năng ngôn ngữ diễn đạt và ngôn ngữ tiếp nhận
Bảng đánh giá đơn giản này nhằm giúp giáo viên nhanh chóng xác định được khả năng ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ diễn đạt của trẻ KTTT Điều này sẽ rất hữu ích để giáo viên tìm ra các mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho các em Cũng cần lưu ý là rất nhiều trẻ KTTT có sự phát triển ngôn ngữ tiếp nhận và diễn đạt không cân bằng, qua bảng đánh giá này, giáo viên cũng sẽ phát hiện ra đặc điểm
thanh ban đầu
2 Hiểu tên người Theo 2 Nói những từ có tính
dõi mọi người nói chuyện xã hội: bố, me,
3 Chỉ được một số bộ 3 Bất chước tiếng các
4 Hiểu tên của đồ vật khi «| | 4 Nói một số từ ban đầu
sử dụng dấu hiệu
5 Hiểu tên đổ vật mà 5 Làm dấu hoặc nói tên
không sử dụng dấu hiệu nhiều đồ vật và tranh ảnh
6 Hiểu các từ hoạt động 6 Nói các từ hành động
Chỉ ra các đồ vật khi bạn Những vật này để làm gì
nói về cách sử dụng
7 Hiểu câu có 2 từ 7 Nồi hai từ cùng nhau
7a Ghép hai đồ vật vào 7a Tên và từ ban đầu
Trang 23c Những cái này của ai b Nói các từ chỉ vị trí
d Màu sắc d Nói các từ để hỏi e Nối các đại từ
9 Hiểu một câu có 3 từ: 9 Nói câu 3 từ
10 Hiểu các câu khó, câu 10 Nồi được các câu khó
có các từ diễn tả a Nồi các câu đài, thử kể
a Giữa, bên cạnh, sau, trước một câu chuyện Sử dụng
b Quá khứ và tương lai các từ điễn tả đúng:
3 Các phương tiện giao tiếp với trẻ khuyết tật trí tuệ
Giao tiếp là một quá trình tương tác xã hội bao gồm các biểu hiện rất đa dạng,
và phong phú, có thể thực hiện qua ngôn ngữ nói và viết, qua nét mat, cử chỉ, tư thế, giọng nói, trang phục, cách sử dụng không gian trong giao tiếp Đó là một hệ thống toàn vẹn, không có sự tách rời giữa biểu hiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
trong giao tiếp
Các phương tiện giao tiếp là cách thức để biến những mục đích giao tiếp thành hiện thực trong thực tế Hay nói cách khác: Phương tiện giao tiếp là cách
mà con người sử dụng nhằm trao đổi với nhau về tư tưởng, cảm xúc, trí tuệ, ảnh
hưởng tác động qua lại lẫn nhau
Trang 24Giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự giao tiếp được tiến hành thông qua hệ thống tín hiệu thứ hai: lời nói và chữ viết
* Phương tiện giao tiếp lời nói: Lời nói là phương tiện giao tiếp thông thường, tự nhiên thông qua hệ thống cấu âm, âm thanh được phát ra thành từ, câu
* Phương tiện giao tiếp chữ viết: Chữ viết là sự mã hoá ngôn ngữ nói thông qua hệ thống chữ cái nhằm thực hiện mục đích giao tiếp
Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng cơ bản nhất trong hệ thống giao tiếp xã hội bởi nó có những chức năng: chức năng thông báo, chức năng diễn cảm và chức năng tác động Tuy nhiên, do có những khó khăn và hạn chế về ngôn ngữ như đã nêu ở trên, trẻ KTTT vẫn cẩn được học cách để giao tiếp mà không nhất thiết phải có ngôn ngữ lời nói Những phương tiện giao tiếp khác được giới thiệu dưới đây sẽ gợi ý cho cha mẹ và giáo viên hướng dẫn cho trẻ sử dụng để thay thế trong giao tiếp
3.1 Lựa chọn các phương tiện giao tiếp với trẻ KTTT
Trẻ KTTT gập rất thiểu khó khăn trong giao tiếp, chính vì lẽ đó lựa chọn phương tiện giao tiếp phù hợp sẽ giúp trẻ tự tin tham gia vào quá trình giao tiếp
và học tập Các phương tiện giao tiếp với trẻ KTTT vẻ cơ bản giống với trẻ em bình thường, như phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ, phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ Tuy nhiên, ngoài ngôn ngữ nói, trẻ KTTT còn cẩn sự hỗ trợ đặc biệt
của một số phương tiện sau đây:
Phương tiện giao tiếp đồ vật thật: Trong quá trình
giao tiếp, con người còn sử dụng dé vat that dé thay thé
hoặc bổ sung trong việc sử dụng các phương tiện giao
tiếp khác Loại đổ vật có liên hệ chính xác với tình
huống hoặc hoạt động mà nó mô tả Ví dụ: cái bát ăn
chính là cái ta dùng để liên tưởng tới hoạt động ăn,
cốc uống nước chính là cái được dùng để liên tưởng tới
hoạt động uống
Phương tiện giao tiếp dụng mô hình: Mô hình là đỗ
vật làm liên tưởng tới một hoạt động cụ thể nhưng nó
không được sử dụng cho hoạt động đó, ví dụ: Mô hình
cái bát dùng để liên tưởng tới bữa ăn, nhưng cái bát có
thể chỉ giống cái bát thật ở hình dáng, còn khác cái bắt
thật ở màu sắc, kích cỡ, chất liệu
Trang 25
Phương tiện giao tiếp dưới dụng một hình nổi: bao gồm một hình nổi bằng
số hoặc nhựa được gắn trên một bế mật được làm bằng cùng một chất liệu Chúng được dành cho những trẻ giao tiếp ở trình độ ngôn ngữ và có khuyết tật vẻ nhìn hoặc khuyết tật vận động cảm giác Phương tiện giao tiếp này có thể được sử dụng bên trong nhà ở hay các công trình Các đấu hiệu vẻ đặc điểm và mầu sắc
có thể tạo một liên tưởng giữa tình huống và hoạt động
Phương tiện giao tiếp là tranh ảnh: Bao gồm ảnh chụp đồ vật thật, hình vẽ, tranh biểu tượng Cũng giống như phương tiện giao tiếp là đồ vật thật, con người còn sử dụng tranh ảnh để thay thế hoặc bổ sung trong việc sử dụng các phương, tiện giao tiếp khác
Anh (photos):
Ảnh có thể được sử dụng như một công
cụ khi nó đạt các điều kiện như: đồ vật trong ảnh rõ rằng trên một niển trung tính, các phối hợp màu được lựa chọn cẩn thận, không kết hợp màu đỏ với xanh lá cây hoặc các đại diện màu phức tạp
"Trẻ KTTT có thể vừa hiểu những gì dang diễn ra, vừa có thể nói về mình nhờ vào một bảng kế hoạch bằng ảnh, trong đó nói về trình tự hoạt động trong ngày hoặc trong tuần Các bảng kế hoạch hoạt động làm bảng ảnh sẽ giúp diễn tả một cách cụ thể lần lượt các bước thực hiện các hoạt động phức tạp, ví du nh mac quấn áo, tắm rửa, dọn bàn ăn Bảng ảnh là một công cụ phù hợp cho các hoạt động tại bàn, ví dụ: ăn hoặc chơi
Các hình vé (drawings):
Các hình vẽ có thể được dùng cho những người KTTT đã có một trình độ tư duy trừu tượng nhất định Các hình vẽ là
sự diễn tả mang tính hình tượng cho thực
nó chỉ diễn tả một số (chứ không phải tất cả) các đặc điểm của thực tại mà nó liên tưởng tới Các hình vẽ có thể được dùng cho tất cả các loại lịch trình, bản kế hoạch hay bản miêu tả
Ví dụ: Hình vẽ chiếc xe máy để mỉnh hoạ cho việc trẻ sẽ được bố mẹ cho
Trang 26nhiệm vụ hoặc hoạt
ch từng bước
hình vẽ minh hoạ các hệ thổng khen thưởng,
động, các phần của các hoạt động hoặc các bảng kế h
Các tranh biểu tượng (Pictograms):
“Tranh biểu tượng là biểu tượng mã hoá cho
một khái niệm, một đồ vật, một hoạt động, một địa điểm hay một sự kiện thông qua hình vẽ Nói một cách khác, tranh biểu tượng là một dạng khác của ngôn ngữ nói được truyền đạt thông qua kênh hình vẽ Cơ sở của tranh biểu tượng là lối chữ hình nền và hình tượng trưng, thường được sử dụng như các chữ cái hoặc vần điệu Tranh biểu tượng còn là các hình vẽ đã được đơn giản ở mức độ cao, nó sử dụng các đường nết để thể hiện ý nghĩa, biểu đạt ý tưởng trực tiếp nhờ sự tương
phản trắng đen
"Tranh biểu tượng có thể được áp dụng theo nhiều cách khác nhau:
s Các tranh biểu tượng có thể được liên kết với các đổ vật, các ảnh, các kí hiệu hoặc ngôn ngữ nói Theo cách này, một người sẽ học cách nhận ra và sử dụng các tranh biểu tượng trong cuộc sống hàng ngày
s© Các tranh biểu tượng có thể được sử dụng như các kí hiệu đánh dấu và có thể dùng ở trong nhà Hãy thử tưởng tượng ra một tranh biểu tượng cho các công
cụ học vẽ để gắn trên cửa tủ đựng tài liệu giảng dạy hoặc một tranh biểu tượng
cho ban chai rang dé gan trên bồn rửa mặt
© Tranh biểu tượng có thể được sử dụng để hình ảnh hoá các hoạt động bao gồm nhiều tiểu hành động như sắp ban an, tu mac quần áo, đi chợ,
+ Tranh biểu tượng có thể được dùng để hình ảnh hoá thời gian, ví dụ như việc tạo nên các bảng kế hoạch cho ngày hoặc cho tuần
u (sign language):
Ngôn ngữ kí hiệu được tạo thành bởi những kí hiệu đã được thu thập, lựa chọn và xây dựng theo một hệ thống mang tính khái quát giúp cho việc giao tiếp giữa các cá nhân với nhau Ngôn ngữ kí hiệu cũng tuân theo một quy tắc nhất định gồm Š yếu tố kết hợp với nhau: sự tượng hình, sự định hướng, vị trí, cử động và điễn đạt của nét mặt
Trang 27
Nhiều nhà khoa học cũng đã nghiên cứu vẻ cấu trúc của ngôn ngữ kí hiệu Trong ngôn ngữ kí hiệu, các khái niệm được kết hợp với nhau theo một trật tự riêng, khác hẳn ngôn ngữ nói, ví dụ như cấu trúc: “chủ ngữ ~ định ngữ ~ bổ ngữ” (ví dụ: “Đứa trẻ — quả táo — ăn"), hay cấu trúc: “chủ ngữ — định ngữ ~ bổ ngữ ~
u: *Con mèo — đen — con chuột — v6")
Hệ thống phương tiện hỗ trợ giao tiếp bằng âm thanh (VOCA):
~ đúng như tên gọi của nó — hỗ trợ việc giao tiếp của trẻ bằng cách phát ra âm thanh thay thế cho khả nãng nói đã bị mất (hay chưa được phục hồi) dựa theo 'yêu cầu của người sử dụng
'Để sử dụng được VOCA, trẻ cần phải có các kĩ năng:
+ Khởi xướng: Kĩ năng khởi xướng là một kĩ nãng rất quan trọng nhằm hiện thực hoá khả năng giao tiếp của mỗi cá nhân thành cuộc giao tiếp với người khác Nếu như trước khi sử dụng VOCA mà đứa trẻ chưa học được kĩ năng khởi xướng chủ động với người khác nhằm mở đầu hội thoại thì VOCA sẽ trở nên vô nghĩa bởi vì đứa trẻ chỉ biết ấn những cái nút trên máy và ngồi cho!
+ Số lượng từ vựng: Trước khi chuyển tiếp sang VOCA, đứa trẻ phải có một khối lượng từ vựng tương đối lớn (theo nghĩa là trẻ có thể hiểu những từ đó và biết sử dụng những từ đó trong bối cảnh giao tiếp phù hợp)
+ Cấu trúc câu: Đứa trẻ cũng cần học được những cấu trúc ngữ pháp câu nhất
định để có thể xây dựng câu trên máy
Ngoài ra, giáo viên, cha mẹ và cộng đồng cũng cần chuẩn bị rất nhiều để có thể bắt đầu cho trẻ sử dụng VOCA Ngoài hiểu biết vẻ hệ thống hỗ trợ giao tiếp này, các thành viên còn cần có nhiều kĩ năng để giúp trẻ sử dụng hệ thống một cách thành thạo và linh hoạt chuyển tiếp khi nhận thấy nó không phù hợp
Hệ thống hỗ trợ giao tiếp bằng máy tỉnh:
Hê thống máy tính hỗ trợ viết tắt là CAI (Computer assist instruction) thông
Trang 28trẻ Mặc dù nó không cung cấp cho trẻ những
trải nghiệm giác = đông như một cái sáo hay
một cái trống, nhưng bằng cách sử dụng những
biểu tượng âm thanh và hình ảnh, nó có thể kích
thích hệ thống các giác quan của trẻ, trong đó
tập trung chủ yếu vào thị giác và thính giác
Phương tiện giao tiếp nhờ vào tỉa nhìn:
Điểm mốc quan trọng khi hỗ trợ giao tiếp cho
trẻ khuyết tật nặng, đặc biệt là trẻ bại não sẽ được
kiểm chứng qua thử nghiệm cụ thể vẻ phương
pháp giao tiếp nhờ vào tia nhìn Mắt là một cơ
quan cảm giác và đồng thời cũng là cơ quan vận
động ưu việt Sự vận động của mắt phản ánh tức
thì những biến động tâm lí của con người Vì vậy,
nhờ vào việc kiểm tra tia nhìn, chúng ta có thể
nắm bắt được tình cảm, sự quan tâm, ý chí của trẻ
KTTT nang trong việc phát âm Nếu đối tượng là
trẻ có thể di chuyển được tỉa nhìn một cách có ý
đồ thì trẻ có khả năng ứng dụng dược điều này để Ÿ
tiến hành cả những giao tiếp phức tạp í
Phương tiện giao tiếp phim trong:
Đây là phương pháp giao tiếp nhờ vào tỉa
nhìn nhưng không đùng máy vi tính mà là một
phương pháp thô sơ, đơn giản Phim trong sẽ được
đt giữa người hỗ trợ và trẻ khi cả hai đang ngồi LấY
đối diện với nhau Vì có thể nhìn thấy sự di động lời ¥
của mất trẻ qua phim trong, nên người hỗ trợ có ey YR
thé đọc được đối tượng mà trẻ chọn bằng tỉa nhìn AX £ \
Tờ phim trong này là giấy dùng cho máy OHP, có.“ < Š £ \ Ì
thể dùng để in hoặc copy dễ đàng nên rất tiện lợi
Tuy nhiên khi sử dụng phim trong cẩn lưu ý
hai điểm sau đây:
~ Thứ nhất, khoảng cách giữa phim trong và mắt trẻ
Nếu để tờ phim trong qué an, trẻ sẽ khó nhìn và ngược lai nếu để tờ phim
Trang 29
mắt nhỏ Khoảng cách thích hợp để đặt tờ giấy cách mặt người sử dụng từ
20 = 40em, với khổ A4 có 9 6 dé lựa chọn (ngang 3 ð, dọc 3 ð) Nếu khoảng cách xa hơn 60em thì thường người đọc sẽ đọc sai điểm tập trung của tỉa nhìn Nếu không ý thức điểu này, người hỗ trợ thường có khuynh hướng đặt tờ phim trong ở vị trí hơi xa
~ Thứ 2, không tham lam cung cấp một lần nhiều kí hiệu
Trên mặt của tờ phim trong nếu chia nhỏ ra và tăng số ô lên thì việc đọc tia nhìn sẽ trở nên rất khó Nhiều thí nghiệm đã cho trẻ lựa chọn bằng tia nhìn bảng
kí hiệu S0 chữ cái tiếng Nhật nhưng thực tế cho thấy là rất khó và không hiệu
qua Quan trọng cần cố gắng thu gọn chủng loại kí hiệu, không phân chia ra quá
nhỏ diện tích của tờ phim trong
Việc sắp đặt 9 ð trên diện tích một mặt của tờ phim trong là hợp lí nhất Tại sao lại như vậy? Vì cách sắp đặt này giới hạn sự kết hợp: nhìn theo hàng dọc là:
“trên — giữa — dưới”, nhìn từ hàng ngang là “phải — giữa ~ trái” Vì vậy, khi
người ta hướng dẫn đọc tia nhìn của trẻ không cắn phải dự đoán trước là trẻ sẽ nhìn ở đâu mà chỉ cẩn đoán xem trẻ nhìn bên phải, bên trái hay ở giữa là được
“Thêm vào đồ, người sử dụng cũng vừa ý thức được luật lệ này vừa di chuyển mắt nên tính xác thực của giao tiếp càng tăng
Hệ thống giao tiếp bằng trao đổi tranh (PECS — The Picnue Exchunge Communication System):
Hệ thống giao tiếp bằng trao đổi tranh
(The Picture Exchange Communication
System, viết tắt là PECS) là một hệ thống
giao tiếp được xây dựng nhằm hỗ trợ những
cá nhân có khó khăn đặc thù vẻ ngôn ngữ và giao tiếp
‘Theo Andy Bondy va Frost (1994), PECS
là một hệ thống giao tiếp tăng cường được xây
dựng nhằm hỗ trợ cá nhân học được các phương tiện giao tiếp chức năng một cách
nhanh chóng Theo đó, PECS thích hợp với
các cá nhân không có khả năng sử dụng ngôn
ngữ nói, hoặc ngôn ngữ nói bị hạn chế do một
số khó khăn như: khiếm khuyết về vận động
hoặc các cơ quan cấu âm, v.v Bộ hỗ trợ giao
tiếp này cũng thích hơp với những người gắp
Trang 30
PECS chính là một bô thẻ tranh được chia theo các chủ để khác nhau, với rất nhiều hình
ảnh những đồ vật quen thuộc trong cuộc sống
hàng ngày như: quấn áo, xe cộ, thức an Ngoài ra, PECS cũng bao gồm hình ảnh về những khái niệm trừu tượng hơn, ví dụ như bày tỏ ý kiến hay sở thích Với lợi thế là một bộ hỗ trợ giao tiếp có sử dụng tranh ảnh
để đổi lấy một thứ ưa thích, PECS có những
ưu điểm nhất định so với các bộ tranh giao tiếp khác, cụ thể là:
~ Việc trao đổi tranh hoàn toàn rõ ràng, có mục đích và dễ hiểu Khi trẻ đưa
cho bạn một thẻ tranh thì rõ ràng, yêu cầu đã được xác định Như vậy, trẻ đã được tạo cơ hội giao tiếp để người lớn có thể đáp ứng nhu cầu của chúng một
cách hiệu quả
~ Trẻ có thể bắt đầu quá trình giao tiếp ngay từ bước đầu tiên Chúng
không được huấn luyện để đáp lại các chỉ dẫn cụ thể của người lớn theo kiểu
học vẹt, mà thực tế, chúng được khuyến khích tự tìm bạn giao tiếp trong môi trường tự nhiên
~ Quá trình giao tiếp có ý nghĩa và hấp dẫn đối với trẻ Việc biểu dương khen
thưởng củng cố diễn ra một cách tự nhiên và mang tính khuyến khích cao
~ Đồ dùng hỗ trợ giao tiếp có chỉ phí thấp, dễ chuẩn bị và di chuyển Tranh
ảnh được sử dụng trong PECS khá đơn giản, ví dụ như một thẻ tranh vẽ tay, hoặc
một tấm ảnh tự chụp
— Trẻ có thể sử dụng PECS để giao tiếp với bất cứ ai chứ không chỉ với
những người biết về ngôn ngữ kí hiệu hoặc hiểu cách giao tiếp của trẻ, hay những người quen thuộc với cách giao tiếp của các em Trẻ có khá năng khái quát cách giao tiếp với nhiều người khác nhau một cách nhanh chóng
“Trên thực tế, PECS được sử dụng như một phương tiện tăng cường giao tiếp
cho những cá nhân bị khiếm khuyết về cơ quan cấu âm hoặc hạn chế về khả năng ngôn ngữ Cho đến nay, sở dĩ PECS đã trở nên rất phổ biển vì nó rất cụ thể và có
tính ổn định cao, và còn bởi vì để có thể sử dụng PECS, trẻ em không bắt buộc
phải có các kĩ năng vận động phức tạp như nhiều bộ công cụ hỗ trợ giao tiếp
bằng kí hiệu khác Các kí hiệu hình ảnh của PECS có thể khái quát từ rất nhiều
những tình huống, đỏ vật trong cuộc sống hàng ngày của trẻ, và do vậy, tất cả
Trang 31
Mặc dù vậy, hiện nay vẫn có nhiều ý kiến tranh luận xung quanh việc sử dụng PECS Thực tế cho thấy bộ hỗ trợ tăng cường ép này trong trường hợp được thực hiện đúng hấu như không làm cản trở đối với sự phát triển ngôn ngữ nói của trẻ, mà ngược lại, có nhiều bằng chứng cho thấy PECS còn có vai trò hỗ trợ cho sự phát triển ngôn ngữ nói (Silverman, 1996) Tuy vậy, có một số ý kiến khác lại cho rằng việc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu sẽ làm cho trẻ có khả năng nói tự nhiên hơn là sử dụng PECS, bởi ngôn ngữ kí hiệu đòi hỏi trẻ phải học các đấu hiệu, cử chỉ điệu bộ của hình miệng, khuôn mặt, cơ thể trong khi PECS lại thiên về giao tiếp chọn lựa, tức là trong quá trình giao tiếp, trẻ phải thực hiện một loạt hành vi, lựa chọn và trao đổi Các ý kiến ủng hộ quan điểm này cho rằng tính chất của kí hiệu càng phức tạp thì càng giúp trẻ phát triển khả năng nói một cách
này dần trở thành không thể thiếu đối với trẻ trong hoạt động hàng ngày tại gia
đình và trường học cũng như ngoài xã hội Có thể khái quát 6 giai đoạn dạy trẻ
các phương tiện giao tiếp thay thế như sau:
* Tạo tiếp xúc
Day là bước đầu tiên để trẻ làm quen với các PTGT Người ta thường cho trẻ
chơi những đồ vật và dụng cụ mà trẻ yêu thích Người lớn hướng dẫn sử dụng
một cách có ý thức các dé vật dụng cụ với các mục dich lay chúng làm PTGT
* Dua ra các công cụ giao tiếp
Trọng tâm của giai đoạn này là đưa ra những công cụ giao tiếp trong tinh huống cụ thể Những công cụ giao tiếp đưa ra phải liên quan trực tiếp với kinh nghiệm của trẻ Đây là giai đoạn giúp trẻ hiểu và nắm vững được khái niệm vẻ các công cụ giao tiếp Để giai đoạn này đạt kết quả tốt, có thể sử dụng nhiều cách nhằm khuyến khích trẻ, như tạo nhiều niểm vui và phấn khích cho trẻ bằng cách hướng theo bất kì sự chủ động hay gợi ý giao tiếp nào của trẻ
* Tạo giao tiếp
Day 1a giai đoạn tiến hành giao tiếp, thường thì người hướng dẫn trẻ bắt đầu bằng cách cùng làm việc gì đó với trẻ và cùng tạo một kí hiệu hoặc cùng chỉ vào một tấm ảnh ngụ ý về hoạt động sắp tiến hành Trong quá trình tiến hành hoạt động giao tiếp, cần kết hợp khen thưởng vat chat hoặc tỉnh thần cho trẻ
Trang 32=—
* Bắt chước
“Thực tế cho thấy có thể dễ dàng kích thích sự bất chước của trẻ qua tất cả các trò chơi Tốt nhất là những kích thích này thực hiện một cách phù hợp và nhiều đến mức có thể trong những tình huống nhất định Người hướng dẫn phải luôn để
ý và chỉ vào những thứ mà trẻ nhìn thấy hoặc những gì hiện có trong môi trường trực tiếp xung quanh trẻ; đồng thời phải điều chỉnh trình độ của mình cho phù hợp với mức độ giao tiếp của trẻ Có như vậy mới có thể hỗ trợ trẻ trong việc học cách liên kết hành động cụ thể (như chỉ tay) với nội dung và ý nghĩa mà nó ngầm biểu đạt
* Tiến hành giao tiếp trong tình huống cụ thể
Để tiến hành giao tiếp trong tình huống cụ thể, ta phải tạo điều kiện cho trẻ chủ động gợi ý hoặc tiến hành giao tiếp, phải có thái độ chờ đón điều này, phải đảm bảo rằng các công cu giao tiếp nằm trong tắm với của trẻ, phải hình ảnh hoá
và làm cho tình huống trở nèn dễ hiểu hơn
* Khải quát hoá Trọng tâm của giai đoạn khái quát hoá là mở rộng giao tiếp Để làm được diều này cẩn hướng cho trẻ giao tiếp vẻ những gì trẻ được học và làm trước day
vẻ các tình huống hàng ngày Điểu quan trọng và cũng rất khó khăn là ta phải dạy trẻ khả năng dự đoán và chờ đợi những gì sẽ xảy ra
4 Phat trién kĩ năng giao tiếp cho trẻ KTTT
4.1 Phát triển các kĩ năng giao tiếp
4.1.1 Tập trung và lắng nghe
“Trẻ có thể nghe tốt nhưng nếu chúng không có khả năng lắng nghe và tập trung, chúng sẽ khó nhớ và hiểu những điều mà người khác nói với chúng
a) Các hoạt động và chiến lược chung để phát triển sự chú ý và kĩ năng lắng nghe
~ Làm việc với trẻ trong môi trường yên nh, ít sự xao lãng để trẻ tập trung
vào hoạt động hiện tại
~ Bắt đầu công việc với trẻ một cách từ từ trong môi trường bình thường của
chúng vì điểu này cho phép trẻ dần điều chỉnh sự xao lãng hiện tại một cách bình thường và bắt đầu tập trung vào hoạt động
~ Đảm bảo rằng các hoạt động vừa thú vị vừa phù hợp với sự phát triển của trẻ
~— Để thu hút sự chú ý của trẻ, luôn luôn chỉ đích danh trẻ bằng cách gọi tên khi chúng có sự phản ứng, khuyến khích sự liên lạc bằng mắt với người nói
~ Cố gắng thiết lập sự chia sẻ chú ý tới mối quan tâm chung bất cứ khi nào
Trang 33
ˆ ~ Khuyến khích trẻ theo tủa mắt của bạn hoặc chú ý khi bạn chỉ vào sự vật, ví
dụ xem sách lám phá các đổ vật và các hoạt động cùng nhau sẽ khuyến khích sự chia sẻ mối quan tâm chung
~ Kết hợp yêu cầu bằng lời “hãy nhìn” với việc chỉ vào sự vật một cách
rõ rằng
~ Tạo cơ hội tối đa để hướng dẫn cho trẻ xử lí, hoàn thành một nhiệm vụ Đừng lúc nào cũng giúp trẻ hoàn thành nhiệm vụ Thay vào đó bạn có thể xây dựng sự hướng dẫn, ví dụ bằng việc tháo các mảnh ghép hình ra và chỉ vào mảnh
mà bạn muốn chúng chọn và nói “Mảnh ghép này sẽ vào dau?”
~ Đảm bảo khuyến khích trẻ khi trẻ có câu trả lời phù hợp
— Sử dụng sự hướng dẫn đơn giản hoặc đồ chơi bị khuyết bộ phận để minh hoạ “phần nào còn thiéu?”
~ Chọn những hoạt động dễ hoàn thành để sự hướng dẫn của bạn là cần thiết
Sử dụng ngôn ngữ mẫu như “nhìn này, nó ra đây”, hoặc "giờ đến mảnh này”
— Trẻ sẽ nhận được lợi ích từ trò chơi “làm con mèo", chúng phải bắt chước các hoạt động mẫu của người lớn Khuyến khích trẻ bắt chước hành động của bạn, luôn kèm theo sự hướng dẫn bằng lời, ví dụ “vỗ tay, vỗ vào chân mìn! =
~ Khuyến khích trẻ tham gia những bài hát có vận động và vận động các ngón tay
— Chú ý khi trẻ sử dụng tương tác mắt luân phiên hơn Cũng cố điều này bằng cách nhắc lại hoạt động đó bất cứ khi nào có thể
~ Ngôn ngữ rõ ràng, đơn giản Đảm bảo trẻ chú
hãy nhìn cô và lắng nghe”
~ Trẻ sẽ cẩn chơi các trò chơi để phát triển các kĩ năng luân phiên Luân phiên chơi nhạc cụ, ném bóng qua lại sẽ giúp phát triển kĩ năng luân phiên
* Đối với nhiều trẻ, hoạt động này bắt đầu bằng tương tác l—1 giữa giáo viên
và trẻ trước khi chuyển sang chơi nhóm nhỏ Chơi nhóm nhỏ rất quan trọng để bạn theo dõi mức độ chú ý của những trẻ khác và bạn có thể đưa ra các hoạt động khác nhau một cách phù hợp
Trang 34
~ Khuyến khích tương tác mắt tốt bằng việc thu hút sự chú ý tới mắt bạn và nói: *Con có thể nhìn vào mắt cô không?” — bất cứ cái gì để thu hút sự chú ý của trẻ vào khuôn mặt bạn
~ Sử dụng tên của trẻ một cách thường xuyên nhưng có chủ dích
~ Các kích thích thị giác và kí hiệu có thể được sử dụng để duy trì sự chú ý
và sự hiểu,
* Mức độ 2:
Mục đích là để vào một hoạt động
~ Trước hết ngồi với trẻ và xem trẻ
~ Sau đó ngồi bên cạnh và chơi cạnh trẻ
~ Khi trẻ có thể thoải mái với người lớn và bắt đầu bắt chước người lớn, điều chỉnh chút ít trò chơi của trẻ, ví dụ đưa mầu ghép hình cho trẻ hoặc thêm
~ Bước tiếp theo để đạt sự chú ý của trẻ trong khi trẻ đang hoạt động: Gọi tên trẻ, nói “nhìn này”, "hãy lắng nghe” nhưng không đưa ra bất cứ một sự hướng dẫn nào đến khi bạn thiết lập được sự tương tác bằng mắt
— Giảm dần số lượng các hành động cảnh báo cần thiết đến khi trẻ có thể nhìn lên và lắng nghe khi được gọi tên
* Mức độ 4:
Mục đích: Để bắt đầu kĩ năng di chuyển sự chú ý tới nhóm hoặc cả lớp Day trẻ lắng nghe và tiếp thu những diều bạn nói một cách chậm rãi mà không ngừng việc trẻ đang làm bằng những bước sau:
~ Báo cho trẻ biết sự có mặt của bạn trong khi trẻ dang làm một hoạt động, ví
dụ ghép hình, bằng cách gọi tên trẻ và đưa ra lời hướng dẫn ngắn gọn
p trẻ thoải mái với sự có mặt và sự tham gia của người lớn
Trang 35— Đứng cạnh trẻ, khơng nĩi cho đến khi trẻ nhận ra bạn và sau đĩ đưa ra sự
— Trẻ cĩ thể làm việc bên cạnh trẻ khác cũng đang làm hoạt động tương tự
— Tăng sự chịu dựng của trẻ bằng việc cho trẻ vào nhĩm nhỏ các trẻ cĩ cùng
“mức độ chú ý
4.1.2 Bắt chước và lần lượt
Như chúng ta đã biết, giao tiếp là quá trình diễn ra giữa hai hay nhiều người
và cần cĩ sự luân phiên, lần lượt
Ching ta cĩ thé giúp trẻ như thể nào?
Gợi ý các hoạt động phát triển kĩ năng luân phiên, lần lượt:
— Đặt mẩu xếp hình vào bảng xếp hình
— Hỏi và trả lời câu đố
— Xâu hạt
— Xây tháp
— Lam những cơng việc nhà
‘Vi dụ: Lần lượt lấy quần áo ra khỏi máy giặt; đi mua đồ: lấy đỏ/ hàng ra khỏi túi và cho các thứ vào tủ
— Bắt chước các âm lời nĩi
_4.1.3 Liên hệ mắt
Đây là một phần quan trọng trong giao tiếp; nĩ là một kĩ năng xã hội để thể _hiện rằng trẻ đang lắng nghe và thích thú với những gì bạn đang nĩi hoặc làm
Cĩ thể giáp trẻ như thế nào?
Đảm bảo trẻ dang nhìn bạn khi bạn nĩi với chúng Trong khi chơi, cầm ơtơ
lên ngang tâm mắt của bạn để trẻ nhìn bạn khi bạn nĩi về ơtơ Chơi ú ịa Cùng
nhìn vào mật nhau trong gương, cĩ thể dán những hình ngộ nghĩnh lên mặt của
ban, hộc vẽ lên mất để thu hút sư chú ý của trẻ
Trang 36
4.1.4 Chơi Chơi giả vờ cho chúng ta biết rằng trẻ cĩ thể thực hiện được các tình huống thực ngồi cuộc sống với đồ chơi Chúng cần làm diều này trước khi chúng sử
dụng ngơn ngữ để miêu tả mọi thứ
Chơi cịn là cách học của trẻ em Trẻ sẽ học về thế giới xung quanh thơng qua chơi
Chúng ta giúp trẻ như thế nào?
~ Chơi giả vờ: cho gấu bơng ăn, chải tĩc, mặc quần áo, cho chúng đi ngủ
— Chơi xã hội
= Choi với đồ vat
Nếu trẻ thích chơi với lego/mẩu gỗ, hãy giúp chúng khi chúng tạo các hình Ví dụ tìm một con búp bê cĩ thể trèo lên tháp, ngã xuống, nhảy xuống,
đi dưới cầu, làm một cái cửa số cĩ thể nhìn qua Lái xe ð tơ lên hoặc xuống đốc, đi trên hoặc dưới cầu, vào gara, đi nhanh hoặc chậm Nĩi chúng đang ở đâu, ở ga ra ơtơ hay đang đi mua bán, đĩn bạn Khuyến khích trẻ nghĩ ra trị chơi với đồ chơi và các búp bê, gấu bơng Chúng cĩ thể chơi giả vờ ăn tiệc, đi
xe buýt hoặc chơi cơng viên, chơi ở sản trường Cĩ thể làm cái nhà, xe buýt, ơtơ từ cái hộp các tơng
Chơi với đất nặn: làm thức ăn, làm đồ vật, nặn người
Khuyến khích trẻ làm những việc mà bạn thường làm ở nhà như đi mua sắm, giặt giữ, rửa bát
Cĩ thể sử dụng các đổ chơi như điện thoại đồ chơi, bộ đổ chơi nấu an, đổi dùng gia đình
4.1.5 Hiểu ngơn ngữ
Để nĩi được nhiều từ hơn, trước tiên trẻ cần hiểu các từ đĩ
* Những vấn để vẻ hiểu cũng cĩ thể theo những mức độ khác nhau do trẻ cĩ những khĩ khăn sau:
~ Trí nhớ thính giác hạn chế
~ Sắp xếp theo trình tự gặp khĩ khăn
— Khả năng kiểm sốt chú ý khơng tốt
* Trẻ cĩ khĩ khăn trong việc hiểu cĩ thể sẽ dẫn đến những vấn để sau:
~ Khĩ khăn khi làm theo hướng dẫn
~ Khơng thể theo dõi câu chuyên hộc trả lời câu hỏi
Trang 37
~ Ngôn ngữ diễn đạt bị ảnh hưởng: thiếu từ vựng hoặc các vấn để về ngữ pháp và cú pháp
~ Khó tập trung và ngồi yên trong lớp học
~ Có thể đọc trôi chảy nhưng không hiểu bài khoá
— Có thể kèm theo khó khăn về hành vi
— Có thể kém tự tỉn; khó khăn trong việc hoà đồng với trẻ khác
Làm thế nào để giúp trẻ?
Dành thời gian để xem trẻ chơi và gọi tên đồ vật mà trẻ quan tâm Đưa ra hai thứ để trẻ lựa chọn: ví dụ thức ăn, đồ chơi, quần áo Khi bạn nói mỗi từ, chỉ vào
đồ vật hoặc đưa ra cho trẻ một thứ mà trẻ chỉ hoặc sờ tới
'Ví dụ: Người lớn: “Con muốn ăn chuối hay ăn táo?”
— Trẻ chỉ hoặc chạm vào quả táo
~ Người lớn ~ “táo”
~ Sau đó bạn có thể tăng dần số lượng đồ vật để trẻ chọn
~ Để trẻ chỉ hoặc tìm đồ vật mà bạn nói tên Ví dụ như gấu bông, bóng, ôtô, mũi, chân con, giầy
~ Chơi trò chơi đi mua hàng với các đồ chơi Bảo trẻ mỗi lần mua một thứ
— Xem sách cùng trẻ, bảo trẻ chỉ vào những đồ vật, con vật hoặc người có
trong sách
Ví dụ “Con gà đâu?”
+ Các từ chỉ hành động:
~ Nói về những việc trẻ đang làm, ví dụ: nhảy, chạy, ăn
~ Cùng xem tranh, sách Bảo trẻ tìm trong sách hoặc bức tranh một người dang ăn, đang ngủ, đang khóc
— Sưu tẩm các đồ vật: cốc, sách, thìa, bàn chải Dùng những thứ này để chơi với con gấu, ví dụ cho con gấu đọc sách, cho gấu ăn
~ Giấu các đồ vật xung quanh phòng và bảo trẻ đi tìm chúng theo chức năng
sử dụng Ví dụ hãy tìm một thứ có thể ăn được
Các c lược chung để giúp cải thiện khả năng hiểu ngôn ngữ của trẻ : tên trẻ và thiết lập tương tác bằng mắt trước khi nói
Trang 38~ Khi dạy động từ, yêu cầu trẻ diễn tả bằng hành động và dùng từ để miêu
tả chúng
~ Sử dụng chủ để hàng ngày quen thuộc với trẻ
— Thay đổi chủ để và hoạt động để duy trì sự thích thú
— Đảm bảo thường xuyên luyện tập và củng cố những từ mới và khái niệm mới
— Đùng các từ trong những hoàn cảnh khác nhau để khuyến khích kĩ năng khái quát hoá của trẻ Nên nhớ, việc học những từ mới và khái niệm mới chiếm nhiều thời gian
~ Lời nói của người lớn nên rõ ràng, chậm rãi, phát âm chuẩn
~ Nói câu ngắn, nếu cần thì chia câu thành những phần nhỏ
— Nhấc lại câu, cụm từ
~ Cho trẻ có thời gian để phản ứng
~ Khi đọc sách hoặc nói với trẻ, vé một câu chuyện nên hỏi: Cái gì? Ở đâu? Ai? để giúp trẻ hiểu,
~ Ở mức độ cao hơn, hỏi tại sao, thế nào, khi nào về câu chuyện, sự kiện,
đổ vật
~ Choi đóng vai để giúp trẻ hiểu tại sao và khi nào chúng có khó khăn trong việc hiểu Ví dụ, chơi trò chơi cản trở và không cho trẻ tất cả những thong tin cần thiết để hoàn thành nhỉ
— Khuyến khích trẻ nói với bạn khi chúng không hiểu
— Đưa ra nhiều sự lựa chọn: hỏi cho rõ, dùng từ điển, đọc lại bài khoá hoặc hỏi bạn bên cạnh
~ Dùng hình ảnh để hỗ trợ thông tin được nói bằng lời và nếu phù hợp, sử dụng cử chỉ dấu hiệu kết hợp với ngôn ngữ
Hỗ trợ thị giác: Trẻ có khó khăn vẻ giao tiếp có thể cần đến chiến lược thi giác để trợ giúp cho việc hiểu Hình ảnh có thể cung cấp một con dường giao tiếp hai.chiéu cho bất cứ ai có giới han kha nang ngôn ngữ nói
Tod va Blamires (1998) đã gợi ý rằng người học có thể cần có những hỗ trợ bằng hình ảnh được phóng to khi chúng không thể tạo ra nhiều cơ hội sử dụng như phương tiện giao tiếp
Ngôn ngữ cơ thể: Ví dụ, diễn tả nét mặt, cử chỉ, sờ chạm, liên hệ mắt, sự thay đổi của ánh mắt
Trang 39
Các công cụ để đưa ra thong tin và trợ giúp việc tổ chức
‘Vi du: lich, kế hoạch hàng ngày, thời gian biểu, danh sách mua bán, ghi chú, thực đơn, bản đồ
Các công cụ được thí ° biệt cho nhụ cẩu đặc biệt
~— Thời gian biểu và thời gian biểu ngắn — kế hoạch trong ngày hoặc một phần trong ngày Chúng có thể cho tất cả lớp sử dụng hoặc cho một trẻ cá biệt bằng cách dán thời gian biểu vào bàn học của trẻ
~ Bảng lựa chọn — Thể hiện các lựa chọn khác nhau
~— Tổ chức nhiệm vụ — từng bước một để giúp người học hoàn thành nhiệm
vụ Điều này có thể bao gồm phiếu làm việc cá nhân thể hiện nhiệm vụ gì, tài liệu được yêu cầu là gì, các giai đoạn của nhiệm vụ và cách hoàn thành nhiệm vụ Có một số quy tắc truyền thống để thiết lập cấu trúc bài tập, ví dụ như từ trái qua phải và từ trên xuống dưới
Dán nhãn trong môi trường: Hỗ trợ trẻ sử dụng các phương tiện thị giác, ví
dụ dấu hiệu, kí hiệu của nhà vệ sinh, lối ra Trẻ cần thêm sự trợ giúp về dán nhãn các khu vực và các đồ vật Có những khu vực dành cho mọi hoạt động và vì vậy cần làm cho nó trở nên rõ ràng qua việc đùng các nhãn hiệu hoặc những vách ngăn, ví dụ khu vực được trải thảm là nơi đành cho việc nghe đọc truyện hoặc đọc truyện cần sự yên tĩnh
Tranh ảnh số: Máy ảnh kĩ thuật số rất có ích vì nó cho ra những bức ảnh một cách nhanh chóng và đơn giản Điều này có thể được sử dụng như một sự hướng dẫn một hoạt động hoặc một nhiệm vụ thể hiện trong mỗi bức ảnh ở từng phần hoặc toàn bộ Các bức ảnh cần chỉ ra yếu tố chính cần quan tâm
Sự liên kết giao tiếp bằng hình ảnh: Bằng tranh ảnh có thể trao đổi thông tin
từ nơi này đến nơi khác, ví dụ giữa trường và nhà
Máy tính: Phần mềm máy tính có thể cung cấp những kích thích bằng hình ảnh và lời nói cho hoạt động đọc và viết
4.1.6 Ngôn ngữ diễn đạt
'Để bày tỏ cho người khác hiểu mong muốn, tình cảm, suy nghĩ của ban than, trẻ cần có kĩ năng ngôn ngữ diễn đạt Điều quan trọng là cần đáp ứng và khen
ngợi tất cả sự cổ gắng của trẻ khi giao tiếp
Khi trẻ gặp khó khăn về ngôn nạữ diễn đạt sẽ nảy sinh các vấn để sau:
~ Trẻ có thể rút lui hoặc bị cô lập
~ Có thể khó kết ban
Trang 40
~ Kĩ năng luân phiên và liên hệ bằng mắt kém
~ Bị bối rối và xuất hiện những hành vi khó khăn
~ Câu trúc câu chưa thành thục; sắp xếp từ lộn xộn
~ Có thể sử dụng cử chỉ và từ “rồng/vô nghĩa” như *đó là” hoặc “coi như là”
~ Không thể tham gia thảo luận trong lớp hoặc trả lời câu hỏi
~ Không thể diễn đạt nhu cầu hoặc sự lo lắng
~ Có thể khó khăn vẻ đọc, viết
~ Có thể có khó khăn trong việc dự đoán, trình tự và suy luận
Các chiến lược giúp trẻ KTTT phát triển kĩ năng diễn đạt:
— Kiểm tra sức nghe
— Kiểm tra khả năng hiểu của trẻ
— Quan sát trẻ, xem khi nào và ở đâu trẻ nói một cách tự nhiên
~ Trẻ có thể cẩn một sự quan tâm, thân thiện để khuyến khích nói
~ Đừng mong đợi trẻ nói trôi chảy trong mọi hoàn cảnh đến khi trẻ tự tin trong những hoàn cảnh quen thuộc
— Sử dụng các đồ vật cụ thể và những sự kiện quen thuộc để nói về chúng
— Chú ý lắng nghe trẻ nói
~ Cho trẻ thời gian để n
— Ghi lại những mẫu ngôn ngữ của trẻ và nơi thích hợp cho một đánh giá
“Tìm kiếm sự giúp đỡ đặc biệt nếu phù hợp
~ Gợi ý các hoạt động, nói trong khi chơi hoặc làm việc cạnh trẻ, khuyến khích sự giao tiếp
— Phản hồi chính xác, nhưng không ép trẻ nhắc lại những điều khó
~ Dùng sự phân loại để giúp trẻ phát triển kĩ năng tìm từ
5 Các chiến lược giúp trẻ khuyết tật trí tuệ phát triển ngôn ngữ và