1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết học mác – lênin về con người và sự vận dụng phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay

26 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 178,5 KB
File đính kèm Triet hoc Mac-Le nin ve con nguoi.rar (35 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chóng ta ®ang sèng trong kû nguyªn cña kinh tÕ tri thøc, ®ßi hái mçi con ng­êi ph¶i ®­îc ®µo t¹o tr×nh ®é häc vÊn, n¨ng lùc ; tu d­ìng rÌn luyÖn phÈm chÊt ®¹o ®øc, ý thøc lao ®éng tèt h¬n ®Ó cã thÓ ®¸p øng nh÷ng yªu cÇu cña sù biÕn ®æi khoa häc c«ng nghÖ 1 MỞ ĐẦU Phát triển con người luôn là mục tiêu cao nhất của toàn nhân loại và vấn đề con người từ xưa đến nay vẫn luôn được coi là trung tâm của mọi xã hội, là đối tượng nghiên cứu của tất cả các lĩnh vực khoa học Trong lịch sử tư tưởng triết họ.

Trang 1

MỞ ĐẦU Phát triển con người luôn là mục tiêu cao nhất của toàn nhân loại và vấn đề

con người từ xưa đến nay vẫn luôn được coi là trung tâm của mọi xã hội, là đốitượng nghiên cứu của tất cả các lĩnh vực khoa học Trong lịch sử tư tưởng triết họcphương Đông cũng như lịch sử tư tưởng triết học phương Tây trước Mác cũng đều

đã đề cập, nghiên cứu về con người nhưng tựu chung còn mang tính chất duy vậtsiêu hình hoạc duy tâm thần bí Trong bối cảnh tình hình hiện nay trước sự tan rãcủa hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, phong trào cộng sản lâm vào thoáitrào, CNTB có những sự điều chỉnh để thích nghi kéo dài sự tồn tại của mình,chúng liên tục xuyên tạc công kích bôi nhọ chủ nghĩa Mác Lênin về tính nhân văn,khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác, chúng rêu rao rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ chú trọng vào vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp mà quên đi yếu tố conngười Song nếu như ta nghiên cứu và nhìn nhận một cách khách quan khoa học về

sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta nói riêng và ở cácnước XHCN nói chung thì không ai có thể phủ nhận triết học Mác-Lênin rất đề caocon người, bản chất con người và phát triển con người Triết học Mác đã kế thừa vàkhắc phục những mặt hạn chế của các tư tưởng về con người trước đây và vận dụngnhững thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, khoa và các khoa học đương thời,

đã xây dựng nên học thuyết của mình về vấn đề con người, bản chất con người mộtcách khoa học và cách mạng Con người trong triết học Mác là con người thiệnthực, con người thực tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội và tư duy, con người vừa là sảnphẩm của xã hội lịch sử đồng thời vừa là chủ thể cải tạo tự nhiên, xã hội và bảnthân mình

Vận dụng vào nước ta Đại hôi Đảng lần thứ XII đã xác định “Đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới

là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều

Trang 2

kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tếgắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhânlực chất lượng cao làm động lực chủ yếu; huy động và phân bổ có hiệu quả mọinguồn lực phát triển”.

Do vậy yếu tố con người đóng vai trò quyết định là khâu then chốt nhất củamọi chính sách kinh tế xã hội là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm đã được Đại hộiĐảng lần thứ XII xác định “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đờisống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ

và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”

Nhận thức được tầm quan trọng nhân tố con người trong chủ nghĩa Mác –Lênin và đặc biệt là vấn đề phát triển con người là nguồn nhân lực quan trọng trongcông cuộc đổi mới ở đất nước ta hiện nay Đây chính là lý do tôi chọn chủ đề tiểu

luận “ Triết học Mác – Lênin về con người và sự vận dụng phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay”

NỘI DUNG

I KHÁI LƯỢC MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC

1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông

Phương Đông cổ đại là vùng đất rộng lớn, một trong những cái nôi của nềnvăn minh nhân loại có nhiều trung tâm triết học lớn, các quan niệm về con ngườixuất hiên rất sớm trong đó điển hình là triết học Phật giáo và Nho giáo Đã bàn vềnhững nội dung hết sức đa dạng những vấn đề thuộc nguồn gốc, bản tính của conngười, đạo làm người và mẫu hình con người lý tưởng

Quan niệm về con người trong triết học Phật giáo

Khi bàn tới nguồn gốc con người: Phật giáo phủ nhận quan điểm của kinhVêda, Upanisad cho rằng con người là sản phẩm của đấng sang tạo và con người là

Trang 3

nguyên nhân của chính mình, con người quá khứ là nguyên nhân của con ngườihiện tại, con người hiện tại là nguyên nhân của con người tương lai.

Phật giáo cho rằng con người có hai thành phần: phần sinh lý và phần tâm

lý, phần hình chất và tâm thần Con người là sự hội tụ bởi sắc và danh, hai thành

phần trên được tạo nên từ ngũ uẩn, do nhân duyên hợp thành, mà thế giới bản chất

của nó là vô thường nên sự hội tụ của sắc và danh cũng chỉ diễn ra trong thời gian nhất định, vì vậy không có cái tôi vĩnh hằng Đời sống trên trần gian chỉ là hư ảo, chỉ có cõi niết bàn, thiên đường mới là vĩnh viễn.

Trong mỗi người, người nào cũng có trần tục tính và Phật tính Trần tục

tính là tính tham, sân, si; là vô minh, ái dục Phật tính là tính giác ngộ về cõi niết

bàn, về cõi chân như Qua đây Phật giáo thừa nhận bản tính con người vừa thiện

vừa ác

Quan niệm về con người trong Nho giáo

Nho giáo cho rằng muôn vật do trời đất sinh ra thì con người cũng do trờiđất sinh ra Sinh ra người cũng như sinh ra muôn vật, đó là đức của trời đất Nhogiáo cho rằng con người sinh ra thì con người cùng với đất hợp thành ba ngôi tiêubiểu cho sự vật trong thế giới vật chất và tinh thần Kinh dịch chỉ rõ: Trời, đất,người là tam tài Nho giáo cho rằng trời là gốc của người, trời với người là một, do

đó chủ trương thiên nhân hợp nhất

Nho giáo coi tu than và thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bảnnhất, luôn được đặt vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội Mục tiêu xây dựng conngười của Nho giáo là xác định được năm mối quan hệ và làm tròn trách nhiệmtrong năm mối quan hệ đó Con đường để đạt tới mục tiêu đó là tu thân, tề gia, trịquốc, bình thiên hạ Đồng thời Nho giáo cũng rất coi trọng năm đức (ngũ thường)thường xuyên phải trau dồi là nhân, nghĩa, lễ, trí Tín

Nhìn chung quan điểm triết học về con người thể hiện trong các học thuyếttriết học phương Đông thể hiện sự đa dạng, phong phú nhưng còn mang nặng tính

Trang 4

duy tâm Tất cả những tư tưởng đó đều tồn tại lâu dài trong lịch sử, luôn giữ vai trònền tảng trong suốt xã hội trung cổ Đây là cơ sở để các triết gia Phương đông saunày củng cố và hoàn thiện, phát triển.

2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây

Quan điểm về con người trong triết học phương Tây thể hiện phong phú theodòng chảy của lịch sử từ thời cổ đại đến nay Mỗi thời đại lịch sử cụ thể những tưtưởng về con người mang những nội dung khác nhau

Triết học phương Tây cổ đại

Cả triết học duy vật và triết học duy tâm đều có quan có quan niệm khác nhau

về con người Với các triết gia theo chủ nghĩa duy vật, họ giải thích nguồn gốc, bảnchất con người theo quan điểm duy vật chất phác, mộc mạc Phái nguyên tử luận,tiêu biểu là Đêmôcrít cho rằng mọi sinh vật đều cấu tạo từ nguyên tử

Những người theo chủ nghĩa duy tâm, họ coi con người có hai phần thể xác vàlinh hồn, trong đó linh hồn là bất tử Aritxtốt cho rằng, con người là một động vậtchính trị, qua đó ông đã đặt vấn đề nghiên cứu cả mặt tự nhiên và mặt xã hội của conngười từ rất sớm

Triết học phương Tây thời kỳ trung cổ

Quan niệm con người bị chi phối bởi quan diểm duy tâm cảu tôn giáo TheoKito giáo con người do Chúa sang tạo ra, con người có thể xác và linh hồn, thể xácmất đi, linh hồn sẽ còn lại Họ cho rằng Chúa trời là lực lượng siêu nhiên, định đoạtmọi số phận của con người, ban phước hoạc trừng phạt con người Mọi mặt cuộcsống con người, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều do thượng đế sắpđặt Mọi sự vật là do chúa trời sắp đạt chính vì vậy con người trở nên nhỏ bé trướccuộc sống, nhưng đành bằng lòng, can phận với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vìhạnh phúc vĩnh cửu là ở thiên đường Đây là quan niệm duy tâm về bản chất conngười nó kìm hãm,triệt tiêu ý chí đấu tranh vươn lên của con người

Trang 5

Triết học Tây Âu thời kỳ Phục Hưng - cận đại

Ở giai đoạn này nhận thức về nguồn gốc và bản chất con người đã có mộtbước tiến đáng kể, triết học duy vật và duy tâm đều phản ánh những vấn đề mới mẻ

do thực tiễn đặt ra Tuy nhiên, chưa có một trường phái nào nhận thức đầy đủ cả vềmặt sinh học và mặt xã hội, thống nhất trong con người Họ chỉ nhấn mạnh mặt cáthể mà xem nhẹ mặt xã hội của con người

Trong triết học cổ điển Đức

Hai đại biểu xuất sắc nhất là Hêghen và Phoiơbắc quan niệm về con người đãphát triển mạnh mẽ ở cả hai khuynh hướng duy tâm và duy vật Hêghen tuyệt đốihoá con người lý tính, cho rằng ý niệm tuyệt đối tha hoá thành tự nhiên, xã hội vàcon người Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc trong lúc phê phán chủ nghĩaduy tâm, đã khẳng định ý thức là sản phẩm của bộ óc, tinh thần là sản phẩm của vậtchất và tuyệt đối hoá con người tự nhiên, sinh vật, không thấy được bản chất xã hội -lịch sử của con người; không thấy vai trò hoạt động thực tiễn của con người do vậy cảhai ông đều chưa giải quyết đúng đắn vấn đề con người

Như vậy, các quan điểm triết học trước Mác về con người chưa thoát khỏi

tính chất duy vật siêu hình hoạc duy tâm thần bí Tuy nhiên lịch sử triết học đã đểlại những quan niệm, nguồn gốc, bản chất quý giá về con người, làm cơ sở, tiền đề,điều kiện cho triết học Mác – Lênin kế thừa, phát triển đưa ra quan điểm khoa học

về con người

II- QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

1 Triết học Mác – Lênin tiếp cận con người trong lịch sử sản xuất vật chất

Khái niệm con người

Với phương pháp luận duy vật biện chứng, triết học Mác - Lênin cho chúng

ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội trong mỗi con người là thốngnhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặctrưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải được

Trang 6

“nhân hóa” để mang giá trị văn minh con người và đến lượt nó, nhu cầu xã hộikhông thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thống nhất vớinhau, hòa quyện vào nhau tạo thành con người tự nhiên - xã hội.

Nói chung, con người vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của xãhội Vì vậy con người chính là một thực thể sinh học - xã hội gọi là thực thể sinhhọc vì nó là một cơ thể sống, gọi là một thực thể xã hội vì nó mang bản chất xã hội

Tự nhiên và xã hội trong con người có mối quan hệ biện chứng với nhau C.Máccho rằng “con người không phải là một tồn tại trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thếgiới” 1 Đó là những con người sống trong một thời đại nhất định, một môi trường

xã hội nhất định

* Triết học Mác – Lênin tiếp cận con người trong lịch sử sản xuất vật chất

Từ quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử xã hội, các nhà kinh điển đã tiếp

cận sự hình thành, phát triển con người từ trong lịch sử sản xuất vật chất Từ đó,

khẳng định: lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành, phát triển củacon người, sự hình thành con người có cơ sở trực tiếp và gắn với môi trường tự nhiên– xã hội

Lao động-điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành, phát triển con người.

Trong lao động, thông qua lao động con người biến đổi điều kiện tự nhiên bênngoài; đồng thời làm biến đổi bản chất tự nhiên, cải tạo bản năng sinh học của mình

và hình thành, phát triển những phẩm chất xã hội

Con người có trình độ cải tạo bản năng sinh học, phát triển phẩm chất xã hộicủa con người là biểu hiện tập trung ở sự hình thành đặc tính sáng tạo Con ngườikhác con vật ở chỗ, con vật sống dựa hoàn toàn vào tự nhiên, còn con người phảibằng lao động sản xuất để cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra của cải vật chất, thoả mãnnhu cầu bản thân

1 C.M¸c vµ Ph.¨ngghen, tuyển tập, tập I NXB Sự thật Hà Nội- 1981, trang 13,14.

Trang 7

Qua lao động, con người đảm bảo phương thức quan hệ giữa con người với tựnhiên Lịch sử sản xuất vật chất cũng là lịch sử con người cải tạo tự nhiên phù hợpvới nhu cầu tồn tại và phát triển của mình

Sự hình thành con người có cơ sở trực tiếp và gắn với môi trường tự nhiên

ra bản thân con người”3 Con người trực tiếp tồn tại trong môi trường xã hội, thôngqua xã hội mà thích nghi với tự nhiên Bởi vì, xã hội là một bộ phận của giới tựnhiên, một kết cấu vật chất đặc thù của giới tự nhiên C.Mác khẳng định: “Chừngnào loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau” 4.Thông qua lao động mà con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa hoà nhập với tự nhiêntrở thành một thực thể sáng tạo

2 Quan điểm của triết học Mác – Lênin về bản chất con người

Trong luận cương về PhoiơBách, Mác đã khái quát bản chất con người,điều đó được Mác khẳng định: “PhoiơBách hoà tan bản chất tôn giáo và bản chấtcon người Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữucủa cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng

25 C.M¸c vµ Ph.¨ngghen, toµn tËp, Nxb CTQG, H 1994, t 20, tr 641

3

46 C.M¸c vµ Ph.¨ngghen, toµn tËp, Nxb CTQG, H 1995, t 3, tr 25

Trang 8

hợp những quan hệ xã hội.” 5 như vậy thông qua luận cương này là tiền đề quantrọng chỉ đạo quá trình xem xét nghiên cứu con người Cụ thể bản chất conngười được thể hiện trên những nội dung:

Con người – một thực thể thống nhất của cái sinh vật và cái xã hội

Kế thừa quan niệm đúng đắn về con người trong lịch sử triết học, với quanđiểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng, C Mác đã phân biệt rõ hai mặtsinh vật và xã hội thống nhất trong con người hiện thực

Mặt sinh học, đó là một cá thể xét trên góc độ sinh học con người tồn tại ở

cấp độ cơ thể, biểu hiện trong các hiện tượng sinh lý, di truyền, thần kinh, điện hoá và các quá trình khác của cơ thể Về mặt này, con người phục tùng các quyluật của tự nhiên, sinh học nhưng cấu tạo cơ thể có những đặc biệt khác xa độngvật đặc biệt là bộ não

-Mặt xã hội, con người tham gia vào các quan hệ xã hội tạo nên các giá trị xã

hội - nhân cách, biểu hiện trong những quá trình ý thức, tính cách, tính khí…làchủ thể các quan hệ xã hội, lao động, giao tiếp, tinh thần…Về mặt này, con ngườiphục tùng các quy luật xã hội

Con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của sự tiến hóa lâu dài củagiới tự nhiên Sinh giới phát triển thông qua nhiều giai đoạn, nhiều quá trình khácnhau, từ vật chất sống ban đầu là hạt Coaxecva đến sinh vật đơn bào, đến sinh vật

đa bào, đến thực vật, đến động vật và sự phát triển cao nhất là con người Conngười mang bản tính sinh vật, “Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật

mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏinhững đặc tính vốn có của con vật” Chẳng hạn đó là con người thì ai cũng phảitrải qua các giai đoạn sinh trưởng, tử vong; ai cũng phải có nhu cầu ăn, mặc, ở,sinh hoạt văn hóa, tình cảm, hiểu biết,… Song con người không phải là động vậtthuần túy, mà là động vật có tính chất xã hội Bởi vì, con người chỉ có thể tồn tại

5C.M¸c vµ Ph.¨ngghen, toµn tËp, Nxb CTQG, H., 1995, t 3, tr 11

Trang 9

khi được thỏa mãn các nhu cầu sinh học, nhưng những vật phẩm để thỏa mãn cácnhu cầu đó không có sẵn trong giới tự nhiên Cho nên để duy trì sự tồn tại củamình, con người phải lao động Chính lao động là yếu tố quyết định sự hình thànhbản chất xã hội của con người.

Con người là một bộ phận của tự nhiên Con người không thể tồn tại mà thoát

ly khỏi quá trình tất yếu đó là sinh ra, phát triển rồi chết đi Trải qua hàng chục vạnnăm, con người đã thay đổi từ vượn thành người điều đó được chứng minh trong cáccông trình nghiên cứu của Đacuyn Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quátrình tâm sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cánhân con người

Mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Đặctrưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội Thôngqua hoạt động lao động sản xuất con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục

vụ đời sống của mình hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xãhội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con ngườiđồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội “Người là giống vậtduy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật” 6

Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và pháttriển của con người luôn bị quyết định bởi các hệ thống quy luật khác nhau nhưng thốngnhất với nhau Chúng cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sốngcon người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ

sở để hình thành các nhu cầu về sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con ngườinhư nhu cầu ăn, mặc, ở, nhu cầu tái sản xuất xã hội, nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm

mỹ, nhu cầu hưởng thụ các giá trị tinh thần

Như vậy ta thấy rõ mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người còn mặt xãhội là đặc trưng bản chất nhất để phân biệt con người với loài vật Hai mặt trên thống

6 C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr 673.

Trang 10

nhất với nhau để tạo nên con người tự nhiên- xã hội hay một thực thể song trùng Mặt

xã hội là bản chất nhất quyết định sự phát triển của con người

Tóm lại, để phân biệt giữa con người và con vật con người khác con vật một số

điểm: có lao động có ý thức và tham gia vào các quan hệ xã hội Cả ba điểm này đềumang tính xã hội hoặc xuất phát từ xã hội, trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chấtnhất, bao quát mọi hoạt động của con người nhờ quan hệ xã hội mà con người làm giàuthêm tri thức của mình và tự cải biến để tách khỏi thế giới động vật

Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội

Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C Mác đã nêu lên một cách tổng

quát trong luận đề nổi tiếng Luận cương về Phoiơbăc: “Bản chất con người không phải

là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bảnchất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” 7

Luận điểm trên chỉ rõ: không có con người trừu tượng thoát ly khỏi điều kiện cụthể, con người luôn tồn tại trong điều kiện lịch sử nhất định Nghĩa là con người cùngvới xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý thức

Luận điểm có tính chất bước ngoặt trong lịch sử nghiên cứu con người, bản chấtcon người, cụ thể nó được biểu hiện trên các góc độ sau:

Thứ nhất, Tính quyết định xã hội đối với bản chất con người phải đặt trong mối

quan hệ tương tác giữa cá nhân và xã hội, thông qua sự tương tác tổng hòa các quan hệ

xã hội: khi các quan hệ xã hội thay đổi thì sớm hay muộn bản chất con người cũng có

sự thay đổi Bản chất con người không có tính cố định, bất biến Bản chất con ngườiđược qui định bởi tất cả các mối quan hệ xã hội, tức là bị qui định bởi mối quan hệgiữa người với người Đó là các quan hệ giữa người với người ở một hình thái kinh tế

xã hội đã bỏ qua, ở hình thái kinh tế - xã hội đương đại, ở một ý nghĩa nào đó là quan

hệ giữa người với người theo định tính, theo mục tiêu lý tưởng Đó là các mối quan

hệ về vật chất, quan hệ về tinh thần giữa người với người Quan hệ giữa người với

7 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr 11.

Trang 11

người trong xã hội đương đại qui định bản chất của con người thì suy đến cùng quan

hệ vật chất, quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định nhất

Thứ hai, Con người sống trong xã hội chịu sự chi phối của môi trường tự

nhiên và xã hội theo những quy luật nhất định Môi trường tự nhiên (quy luật về sựphù hợp giữa cơ thể với môi trường, về quá trình biến dị và di truyền, về sự tiếnhóa), môi trường xã hội (có các quy luật về tâm lý, ý thức, tư tưởng tình cảm, khátvọng, niềm tin, ý chí) Từ đó Triết học Mác - Lênin khẳng định: không có conngười trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Đó là những conngười cụ thể, sống trong những điều kiện cụ thể là thành viên của một cộng đồngmột giai cấp nhất định Đồng thời muốn lý giải con người, phải đặt con người vàonhững điều kiện lịch sử nhất định và trong quan hệ xã hội để quan sát Con ngườiluôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, mộtthời đại nhất định Chỉ trong toàn bộ mối quan hệ đó (như quan hệ giai cấp, dântộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội) conngười mới bộc lộ toàn bộ bản chất của mình Thông qua lao động và quan hệ xã hộicon người tạo dấu ấn của mình trong xã hội thể hiện trong các giá trị xã hội

Cụ thể: Con người là một thực thể có sự thống nhất giữa tính nhân loại và tính

giai cấp Trước hết, con người mang tính nhân loại Đây là thuộc tính vốn có hình

thành trong suốt chiều sâu lịch sử của cuộc sống cộng đồng phổ biến rộng lớn nhất.Tính nhân loại thể hiện trong thuộc tính chung nhất, cao nhất của con người là sángtạo và trong những giá trị văn hoá chung mà nhân loại đạt được Tính nhân loại cònđược thể hiện trong những quy tắc chuẩn mực của cuộc sống chung được hình thànhnhư những đạo lý Tính nhân loại thể hiện trong những giá trị chung mà con ngườiquan tâm như nhân văn, nhân đạo, dân chủ, công bằng xã hội, hoà bình, bảo vệ môitrường sinh thái Cơ sở của tính nhân loại là từ bản chất xã hội của con người, doyêu cầu khách quan của cuộc sống cộng đồng mà con người phải cố kết, nương tựavào nhau để tồn tại và phát triển Theo Mác: “xã hội suy cho cùng là sản phẩm của

Trang 12

sự tác động qua lại giữa những con người” 8 Chính vì điều này mà tạo nên xã hộiloài người với những yếu tố của riêng vốn có.

Mặt khác, trong xã hội có giai cấp, con người bao giờ cũng mang tính giai

cấp Mỗi người là một thành viên của một giai cấp nhất định, mang địa vị kinh tế

-xã hội của giai cấp đó Địa vị kinh tế - -xã hội có tính khách quan, do toàn bộ điềukiện sinh hoạt vật chất quy định, mặc dù mỗi thành viên giai cấp có thể ý thức đượchoặc không ý thức được địa vị của mình

Tính giai cấp và tính nhân loại trong con người vừa đồng nhất vừa khác biệt.Bởi vì, con người tồn tại thông qua những cá nhân hiện thực với tư cách là các chủthể hành động xã hội Tính nhân loại tồn tại vĩnh hằng Mặc dù trật tự kinh tế, chínhtrị, xã hội có thể bị thay đổi, nhưng con người luôn tồn tại và phát triển trong mốiliên hệ tất yếu với người khác; khai thác sự phong phú của người khác để tồn tại vàlàm phong phú cho bản thân mình Mặt khác, trong xã hội còn chế độ tư hữu về tưliệu sản xuất, còn quan hệ đối kháng giai cấp thì con người còn mang tính giai cấp.Các giai cấp và các hệ thống xã hội tương ứng vẫn là chủ thể chủ yếu của xã hội hiệnthực Không bao giờ có một “lợi ích nhân loại thuần khiết”, mà nó phải được phảnánh trong nhận thức, trong hoạt động thực tiễn không tách rời lợi ích các giai cấp

Thứ ba, Bản chất con người phải đặt trong quan hệ đồng loại (cộng đồng) với

cá nhân trong đó mặt cộng đồng có xu hướng xích lại gần hơn Con người hoà nhậpvào cộng đồng, mang bản chất của nó vào và thể hiện bản sắc của nó Hoà nhậpvào cộng đồng không có nghĩa là đánh mất bản sắc cá nhân mà ngược lại củng cốthêm bản sắc cá nhân Khi đề cập tới yếu tố cộng đồng thì cộng đồng dân tộc, cộngđồng giai cấp là những cộng đồng cơ bản nhất chi phối con người Nhấn mạnh vấn

đề trên không có nghĩa là bỏ qua cộng đồng nhân loại, cộng đồng người

Thứ tư, Bản chất con người vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính thời đại.

Con người luôn bị chi phối bởi điều kiện sinh hoạt vật chất, điều kiện sinh hoạt tinh

8 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.27, tr 657.

Trang 13

thần của thời đại Thời đại nào có con người ấy Tuy nhiên không được quá nhấnmạnh, đi đến chỗ tuyệt đối hoá thực tế của con người trong những điều kiện nhấtđịnh sẽ dẫn tới sai lầm vì không thể giải thích nổi những hiện tượng phức tạp củađời sống xã hội

Tuy nhiên luận đề khẳng định bản chất con người của Mác không có nghĩa làphủ nhận mặt tự nhiên của con người Trái lại luận đề trên muốn nhấn mạnh sựkhác biệt giữa con người và loài vật trước hết là ở bản chất xã hội của con người.Mặt khác cũng chỉ rõ sự biểu hiện phong phú ở mỗi cá nhân về phong cách, nhucầu, lợi ích trong cộng đồng xã hội

Như vậy, bản chất con người không phải được sinh ra mà được sinh thành, nó hìnhthành và thay đổi theo sự hình thành và thay đổi các quan hệ xã hội, trong đó trước hết

và quan trọng nhất là các quan hệ thuộc lĩnh vực kinh tế

3 Quan điểm của triết học Mác – Lênin về vai trò của con người

Triết học Mác – Lênin đã khẳng định, con người vừa là sản phẩm của lịch sử,

vừa là chủ thể của lịch sử

Con người với tư cách là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất con ngườikhông ngừng sáng tạo ra các phương pháp sản xuất khác nhau để không ngừng pháttriển hiệu quả, hiệu xuất lao động mặt khac, hoạt động của con người đã được lịch

sử chi nhận hay con người làm ra lịch sử nên để có lịch sử trước tiên phải có conngười Tiền đề đầu tiên của lịch sử là sự tồn tại của những cá nhân con người sống,

vì vậy, hành động lịch sử đầu tiên là hành động lao động sản xuất để con ngườitách khỏi động vật Con người tách khỏi động vật như thế nào thì họ bước vào lịch

sử như vậy

Là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, con người là yếu tố hàng đầu đóngvai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, là chủ thể của quátrình lịch sử, của tiến bộ xã hội Trong quá trình tham gia hoạt động của mình, conngười với trình độ và năng lực của mình đã chuyển biến những tri thức trong đầu

Ngày đăng: 06/07/2022, 21:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. CTQG, H. 1995. t.3, t.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. CTQG
4. C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, Nxb. CTQG, H. 1996, t.5. t.27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. CTQG
5. C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, Nxb. CTQG, H. 2002. t.20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. CTQG
10. Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H. 2000, t.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. CTQG
1. ĐCSVN, Nghị quyết Trung ương 5 Khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Khác
2. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII Nxb.CTQG Khác
9. Giáo trình kinh tế chính trị học, Nxb. Giáo dục, H. 1996 Khác
11. Tài liệu học tập lý luận chính trị phổ thông, Nxb. CTQG, t.1 Khác
12. Những vấn đề cơ bản và cấp bách của triết học Mácxít, Nxb CTQG, H.2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w