1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Độ linh động của điện tử trong giếng lượng tử tam giác GaAs/AlGaAs

11 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 287,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tập trung nghiên cứu lý thuyết độ linh động của khí điện tử hai chiều (2DEG) trong giếng lượng tử tam giác GaAs/AlGaAs. Trong tính toán này mất trật tự hợp kim và tán xạ nhám bề mặt phân cực được xem là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến độ linh động của 2DEG trong giếng lượng tử tam giác.

Trang 1

NGUYỄN THỊ NHƠN - NGUYỄN LÊ HỒNG THỦY

ĐINH NHƯ THẢO Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Huế

Tóm tắt: Trong bài báo này chúng tôi nghiên cứu lý thuyết độ

linh động của khí điện tử hai chiều (2DEG) trong giếng lượng tử

tam giác GaAs/AlGaAs Trong tính toán này mất trật tự hợp kim

và tán xạ nhám bề mặt phân cực được xem là hai yếu tố chính ảnh

hưởng đến độ linh động của 2DEG trong giếng lượng tử tam giác

Độ linh động của điện tử được tính toán với mô hình thực với hàng

rào thế hữu hạn, tính đến ảnh hưởng của một số nguồn giam giữ

có thể như các điện tích phân cực, các tạp chất và 2DEG Kết quả

cho thấy rằng độ linh động của 2DEG là một hàm giảm của mật độ

điện tích phân cực trên mặt chuyển tiếp, là một hàm tuyến tính và

tăng theo mật độ điện tử bề mặt chuyển tiếp và bề dày lớp spacer

và gần như là một hằng số đối với mật độ tạp cho

Từ khóa: Độ linh động, khí điện tử hai chiều, giếng lượng tử,

GaAs/AlGaAs, điện tích phân cực

1 GIỚI THIỆU

Các bán dẫn có cấu trúc dị thể là loại bán dẫn có tính chất đặc biệt, mới lạ, thu hút

sự quan tâm nghiên cứu của các nhà lý thuyết lẫn thực nghiệm Điều hấp dẫn của các dị cấu trúc này là sự hiện diện của khí điện tử với mật độ cao (cỡ 1013hạt/cm−2) Đặc biệt, do hiệu ứng giam giữ lượng tử, độ linh động của khí điện tử hai chiều trong giếng lượng tử cao hơn so với trong bán dẫn khối Một trong các dị cấu trúc thu hút nhiều nghiên cứu chuyên sâu của các nhà khoa học là GaAs/AlGaAs

Sự vận chuyển điện tử trong dị cấu trúc được đặc trưng bởi độ linh động của khí điện tử hai chiều Độ linh động của khí điện tử hai chiều là đại lượng có ảnh hưởng

Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Sau đại học lần thứ hai

Trường Đại học Sư phạm Huế, tháng 10/2014: tr 97-107

Trang 2

mạnh lên khả năng hoạt động của các linh kiện điện tử Độ linh động của khí điện

tử hai chiều trong các dị cấu trúc pha tạp đã được nghiên cứu trong nhiều thập niên

cả về lý thuyết lẫn thực nghiệm

Tuy nhiên, tồn tại một số hạn chế trong các tính toán trước đây Các điện tích phân cực bề mặt mới chỉ được tính đến như là một nguồn cung cấp hạt tải nhưng thường

bị bỏ qua vai trò là một nguồn giam giữ và tán xạ Các tạp chất bị ion hóa cũng

bị bỏ qua vai trò như một nguồn giam giữ Các tác giả Đinh Như Thảo và Nguyễn Thành Tiên [1] đã có bước tiến khi nghiên cứu sự phân bố của điện tử trong dị cấu trúc pha tạp điều biến AlGaN/GaN có tính đến ảnh hưởng của các nguồn giam giữ kể trên Các tác giả đã vẽ được hàm sóng trong dị cấu trúc pha tạp điều biến AlGaN/GaN trong 3 trường hợp: ứng với các giá trị mật độ điện tích phân cực trên mặt chuyển tiếp khác nhau, ứng với các giá trị mật độ điện tử bề mặt khác nhau và ứng với các mật độ tạp chất cho khác nhau đối với cả hai mô hình rào thế vô hạn

và hữu hạn nhưng chưa nghiên cứu về độ linh động của điện tử Trong bài báo này chúng tôi trình bày nghiên cứu lý thuyết về độ linh động của điện tử trong giếng lượng tử tam giác GaAs/AlGaAs có tính đến ảnh hưởng của tất cả các nguồn giam giữ có thể

2 KHẢO SÁT ĐỘ LINH ĐỘNG TRONG GIẾNG LƯỢNG TỬ TAM GIÁC

GaAs/AlGaAs

2.1 Sự phân bố điện tử trong dị cấu trúc pha tạp điều biến phân cực

Ở nhiệt độ thấp, khí điện tử hai chiều được giả định chủ yếu chiếm vùng con thấp nhất Trong một giếng lượng tử tam giác sâu hữu hạn, phân bố của khí điện tử hai chiều có thể được mô tả tốt bằng hàm sóng Fang-Howard [1]:

ζ(z) =

(

Bk1/2(k z + c) exp(−kz/2) khi z > 0, (1)

trong đó, κ và k tương ứng là nửa số sóng trong hàng rào và lớp kênh dẫn A, B và

c là các tham số không thứ nguyên được xác định bởi các điều kiện biên tại mặt phẳng tiếp xúc (z = 0) và điều kiện chuẩn hóa

Hàm sóng của vùng con thấp nhất, mà các vectơ sóng của nó là k và κ, được xác định khi cực tiểu hóa tổng năng lượng ứng với một điện tử, được xác định bởi Hamiltonian:

với T là động năng, và Vtot(z) là thế giam giữ toàn phần

Trang 3

Thế giam giữ hạt tải trong một dị cấu trúc pha tạp điều biến phân cực được ấn định bởi tất cả các nguồn giam giữ có thể nằm dọc theo hướng nuôi tinh thể, bao gồm thế của hàng rào thế, thế gây bởi các điện tích phân cực tại mặt chuyển tiếp và thế Hartree gây bởi các ion tạp chất và khí điện tử hai chiều:

Hàng rào thế có chiều cao hữu hạn V0 định xứ tại mặt phẳng z = 0 có dạng [2]:

với θ(z) là hàm bậc thang đơn vị

Thế gây nên bởi các điện tích phân cực dương được liên kết trên mặt chuyển tiếp được cho bởi [2]:

Vσ(z) = 2π

εaeσ|z| =

εaeσz z > 0,

−2π

εaeσz z < 0,

(5)

với σ là mật độ điện tích lá toàn phần của chúng Ở đây εa = (εb + εc)/2 là giá trị trung bình của các hằng số điện môi của hàng rào (εb) và kênh dẫn (εc)

Tiếp theo, chúng tôi tính thế Hartree gây nên bởi các tạp cho ion hóa và khí điện

tử hai chiều trong dị cấu trúc pha tạp điều biến Thế Hartree có thể được biểu diễn dưới dạng [3, 4, 5]:

Số hạng thứ nhất VI là thế gây nên bởi các tạp cho nằm ở xa được xác định như sau:

VI(z) = EI+ 4πe

2nI

εa

(z + zd)2/2Ld − zd< z < −zs,

z + (zd+ zs)/2 z > −zs

(7)

trong đó: nI = NILd là mật độ lá của tạp cho với NI là mật độ các tạp cho trong bán dẫn khối (trên một đơn vị thể tích) zs = Ls và zd = Ls+ Ld, với Ls là độ dày của lớp spacer và Ld là độ dày của lớp pha tạp

Số hạng thứ hai Vs là thế gây nên bởi khí điện tử hai chiều, được xác định bởi mật

độ lá của điện tử ns và sự phân bố theo trục z của chúng, nghĩa là các tham số biến phân trong hàm sóng của điện tử, cho bởi:

Vs(z) = −4πe

2ns

εa

(

Trang 4

trong đó:

f (z) = A

2

κ e

κz

g(z) = B

2

k e

−kz

[k2z2+ 2k(c + 2)z + c2+ 4c + 6] (10) Giá trị kỳ vọng của Hamiltonian được xác định như sau:

E0(k, κ) = hT i + hVbi + hVσi + hVIi + hVsi (11)

Sử dụng các biểu thức giải tích được suy ra ở trên cho các thế giam giữ riêng lẻ, ta

dễ dàng tính được các giá trị kỳ vọng của chúng cho một điện tử được mô tả bởi hàm sóng cho bởi phương trình (1)

Đối với động năng, ta có:

hT i = − ~

2

8mz[A

2

Đối với thế liên quan đến hàng rào, ta có:

Đối với thế gây bởi các điện tích phân cực được liên kết trên mặt chuyển tiếp, ta có:

hVσi = 2πeσ

εa

 A2

B2

k (c

2+ 4c + 6)



Đối với thế gây bởi các tạp cho ion hóa:

hVIi = EI+ 4πe

2nI

εa

 d + s

A2 κ(d − s)



χ2(d) − χ2(s) − dχ1(d) +sχ1(s)+d

2

2 [χ0(d) − 1] −

s2

2[χ0(s) − 1]

 +B

2

k (c

2+ 4c + 6)



với s = κLs và d = κ(Ld+ Ls) là các kích thước không thứ nguyên xác định vùng pha tạp Ở đây, ta đã sử dụng hàm bổ sung:

χn(x) = 1 − e−x

n

X

l=0

xl

với n = 0, 1, 2, là số nguyên

Trang 5

Cuối cùng, thế trung bình gây nên bởi khí điện tử hai chiều là:

hVsi = −4πe

2ns

εa

 A2

4

2κ +

B2

k (c

2 + 4c + 6)

−B

4

4k(2c

4

+ 12c3+ 34c2+ 50c + 33)



2.2 Độ linh động của điện tử ở nhiệt độ thấp trong dị cấu trúc pha tạp điều biến

Các điện tử chuyển động trong mặt chuyển tiếp bị tán xạ bởi các nguồn mất trật

tự khác nhau, thường được đặc trưng bởi một số các trường ngẫu nhiên Tán xạ bởi trường ngẫu nhiên dạng Gauss được đặc trưng bởi hàm tự tương quan của nó (ACF) trong không gian các vectơ sóng, h|U (q)|2i Ở đây, U (q) là chuỗi Fourier hai chiều của thế tán xạ không bị chắn trung bình ứng với hàm sóng ở vùng con thấp nhất [1]:

U (q) =

Z +∞

−∞

Nghịch đảo thời gian sống vận tải (tốc độ tán xạ) ở nhiệt độ thấp được biểu diễn dưới dạng hàm tự tương quan như sau [1]:

1

τ =

1 2π~EF

Z 2kF 0

2

(4k2

F − q2)1/2

h|U (q)|2i

Ở đây, q biểu thị xung lượng được truyền bởi một sự tán xạ trong mặt phẳng chuyển tiếp, q = |q| = 2kFsin(θ/2) với θ là góc tán xạ Số sóng Fermi được ấn định bởi mật độ lá của điện tử: kF = √

2πns, và EF = ~2k2

F/2m∗, với m∗ là khối lượng hiệu dụng trong mặt phẳng của điện tử trong GaAs Hàm điện môi ε(q) cho phép tồn tại

sự chắn các thế tán xạ bởi khí điện tử hai chiều Thông thường, hàm này được ước lượng trong gần đúng pha ngẫu nhiên [1]:

ε(q) = 1 + qs

qFS(q/k)[1 − G(q/k)], với q ≤ 2kF (20) trong đó qs = 2m∗e2/εa~2 là nghịch đảo của chiều dài chắn Thomas-Fermi hai chiều

Ở nhiệt độ thấp các điện tử trong dị cấu trúc pha tạp điều biến phân cực được dự đoán cơ bản sẽ trải nghiệm các cơ chế tán xạ sau: mất trật tự do hợp kim (AD) và tán xạ do độ nhám gây nên bởi bề mặt phân cực (PSR) Thời gian sống vận tải toàn phần được xác định bởi các thời gian sống đối với các mất trật tự riêng lẻ phù hợp với quy tắc Matthiessen:

1

τtot =

1

τAD +

1

Trang 6

Hàm tự tương quan đối với tán xạ do mất trật tự hợp kim được cho dưới dạng số sóng của hàng rào κ như sau [2, 3]:

AD(q)|2 = x(1 − x)u2

alΩoA

2 e−2κL a − e−2κLb , (22) với x là hàm lượng của hợp kim (Al) trong hàng rào, Lb là độ dày của hàng rào, ual

là thế hợp kim, và Ω0 là thể tích bị chiếm bởi một nguyên tử [2] Thế hợp kim là một tham số có thể điều chỉnh cho phù hợp với thực nghiệm [6] và ual ∼ ∆Ec [3] Thể tích nguyên tử Ω0 được liên hệ với thể tích ô cơ sở của hợp kim Ωc Đối với tinh thể lục giác wurtzite, có 4 nguyên tử trong một ô cơ sở: Ω0 = Ωc/4, trong đó

Ωc= (√

3/2)a2(x)c(x) với a(x) và c(x) là các hằng số mạng của hợp kim

Đối với hàng rào có độ dày Lb đủ lớn, số hạng thứ hai trong phương trình (22) là nhỏ không đáng kể Do đó, tán xạ do mất trật tự hợp kim được xác định chủ yếu bởi số hạng đầu tiên mà tỉ lệ với ζ4(z = −La), nghĩa là bằng giá trị của hàm sóng ở gần mặt chuyển tiếp

Hàm tự tương quan cho quá trình tán xạ nhám bề mặt phân cực này được cho như sau [1]:

P SR(q)|2 = |FP SR(t)|2 q|2 , (23) trong đó thừa số dạng liên quan được cho bởi tổng:

Thừa số dạng đối với tán xạ nhám bề mặt thông thường (SR) liên kết với độ nhám của hàng rào thế được xác định như sau [4]:

FSR= hVσ0i + hVI0i + hVs0i , (25) với V0 = ∂V (z)/∂z

Việc tính toán các thế trung bình xuất hiện trong phương trình (25) là đơn giản với việc sử dụng hàm sóng ở vùng con thấp nhất từ phương trình (1) Các thế này cho như sau:

Đối với các điện tích phân cực có mật độ lá σ:

hVσ0i = 4πe

2

εa

σ 2e(1 − 2A

Đối với các ion tạp chất nằm ở xa có mật độ lá nI:

hVI0i = 4πe

2nI

εa



1 − A2 − A

2

d − s[χ1(d) − χ1(s) − dχ0(d) + sχ0(s)]



Trang 7

Đối phân bố của khí điện tử hai chiều có mật độ lá ns:

hVs0i = 4πe

2ns

εa



1 − A2+A

4

4

4

+ 4c3+ 8c2+ 8c + 4



Cuối cùng, thừa số dạng đối với tán xạ nhám bề mặt phân cực là:

FP R(t) = 2πeσ

εa

 B2

 2 (1 + t)3 +

2c (t + 1)2 + c

2

t + 1



− A2 a

t + a



Cấu hình nhám bề mặt trong không gian vector sóng hai chiều được cho bởi [7]:

q|2 = (∆Λ)2

trong đó ∆ là biên độ nhám, Λ là chiều dài tương quan và FR(qΛ) là thừa số dạng 2.3 Độ linh động của điện tử ở nhiệt độ thấp

Trong phép gần đúng thời gian hồi phục, độ linh động của điện tử ở nhiệt độ thấp được xác định trong như sau:

µ = eτ

trong đó m∗ là khối lượng hiệu dụng của điện tử trong kênh dẫn, e là độ lớn điện tích của điện tử và τ là thời gian hồi phục (thời gian sống vận tải) của điện tử

Ở đây, ta xét hai yếu tố ảnh hưởng đến độ linh động của khí điện tử hai chiều là mất trật tự do hợp kim và độ nhám gây nên bởi bề mặt phân cực nên thời gian hồi phục là τtot được xác định bởi biểu thức (21)

3 KẾT QUẢ TÍNH SỐ VÀ THẢO LUẬN

Có nhiều tham số liên quan có thể ảnh hưởng đến các nguồn giam giữ riêng lẻ và có một vài liên hệ giữa chúng Sau đây, ta đơn giản hóa bài toán bằng cách giả định rằng chỉ có một thông số thay đổi, trong khi các thông số khác được giữ cố định Xét dị cấu trúc GaAs/AlxGa1−xAs với x = 0.3, chiều cao của hàng rào thế là

V0 = 0.45 eV Như vậy, ta đang xét rào thế có chiều cao hữu hạn Khối lượng của điện tử dọc theo trục z là mz = 0.0919 m0 = 0.0919 × 9.1 × 10−31 kg Hằng số điện môi của giếng GaAs là εc = 13.18, hằng số điện môi của rào AlxGa1−xAs được xác định bởi công thức:

với x = 0.3 ta có εb = 12.24 Từ đó ta có giá trị trung bình của hằng số điện môi của hàng rào và kênh là εa= (εb+ εc)/2 = 12.7

Trang 8

Độ dày của lớp spacer là Ls = 70A, độ dày của lớp pha tạp là Lo d= 150 A, Lo a= 3.3

o

A, Lb = 250 A Biên độ nhám và chiều dài tương quan nhám lần lượt là ∆ = 9.6o A,o

Λ = 74

o

A

Hình 1: Biểu diễn sự phụ thuộc của độ linh động của điện tử vào mật độ điện tích phân cực trên mặt chuyển tiếp σ/x ứng với Ls = 70 A, no s = 0.5 × 1017m−2,

Ni = 50 × 1023m−3

Từ hình 1 ta thấy khi xét đồng thời ảnh hưởng của cả hai cơ chế tán xạ, độ linh động của điện tử là một hàm khá phức tạp của σ/x và độ linh động giảm khi mật

độ điện tích phân cực bề mặt tăng

Hình 2: Biểu diễn sự phụ thuộc của độ linh động của điện tử vào mật độ điện tử bề mặt ns ứng với Ls= 70

o

A, σ/x = 1 × 1017m−2, Ni = 50 × 1023m−3

Từ hình 2 ta thấy khi xét ảnh hưởng của cả hai cơ chế tán xạ, độ linh động của điện

Trang 9

tử là một hàm gần như tuyến tính theo ns và tăng khi mật độ khí điện tử hai chiều tăng

Hình 3: Biểu diễn sự phụ thuộc của độ linh động của điện tử vào mật độ tạp chất cho nI ứng với Ls = 70

o

A, ns= 0.5 × 1017m−2, σ/x = 1 × 1017m−2

Từ hình 3 ta thấy nếu xét sự ảnh hưởng của cả hai cơ chế tán xạ, khi tăng mật độ tạp chất cho thì độ linh động của điện tử hầu như không thay đổi

Hình 4: Biểu diễn sự phụ thuộc của độ linh động của điện tử vào bề dày lớp spacer

Ls ứng với Ni = 50 × 1023m−3, ns= 0.5 × 1017m−2, σ/x = 1 × 1017m−2

Từ hình 4 ta thấy khi xét ảnh hưởng của cả hai cơ chế tán xạ, độ linh động của điện

tử là một hàm tuyến tính theo LS và tăng khi Ls tăng

Trang 10

4 KẾT LUẬN

Trong bài báo này chúng tôi đã sử dụng phương pháp gần đúng thời gian hồi phục để tính độ linh động của điện tử trong giếng lượng tử tam giác GaAs/AlGaAs Chúng tôi đã đưa ra các hàm tự tương quan ứng với các cơ chế tán xạ do mất trật tự hợp kim và độ nhám gây nên bởi bề mặt phân cực, từ đó tính được thời gian sống vận tải (thời gian hồi phục) của điện tử; sau đó tiến hành khảo sát sự phụ thuộc của

độ linh động của điện tử vào mật độ điện tích phân cực trên mặt chuyển tiếp, mật

độ khí điện tử hai chiều, mật độ tạp chất cho và bề dày lớp spacer ứng với hai cơ chế tán xạ trên Với mô hình rào thế hữu hạn kết quả cho thấy rằng độ linh động của khí điện tử hai chiều là một hàm giảm của mật độ điện tích phân cực trên mặt chuyển tiếp, là một hàm tuyến tính và tăng theo mật độ điện tử bề mặt chuyển tiếp

và bề dày lớp spacer và gần như là một hằng số đối với mật độ tạp cho

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Thao D N., Tien N T (2011), "Electron Distribution in AlGaN/GaN Modulation-doped Heterostructure", Proceedings of the 36th Vietnam National Conference on Theoretical Physics, Qui Nhon City, Vietnam, August, pp.212-221

[2] Quang D N., Tung N H., Tien N T (2011), “ Electron scattering from polarization charges bound on a rough interface of polar heterostructures”, J Appl Phys B, 109, 113711

[3] Bastard G (1988), Wave Mechanics Applied to Semiconductor Heterostructures, Les Editions de Physique, Paris

[4] Quang D N., Tuoc V N., Tung N H., Minh N V., Phong P N (2005), “ Roughness-induced mechanisms for electron scattering in wurtzite group-III-nitride hetestruc-tures”, Phys Rev B, 72, 245303

[5] Enderlein R., Horing N J M (1997), Fundamentals of Semiconductor Physics and Devices, World Scientic, Singapore

[6] Jena D., Smorchkova Y P., Elsass C R., Gossard A C, Mishra U K (2000), Pro-ceedings of the 25th International Conference on Physics of Semiconductors, edited

by N Miura and T Ando, Osaka, p 771

[7] Quang D N., Dat Ng N., Tien N T., and Thao D N (2012), "Single-valued esti-mation of the interface profile from intersubbandabsorption linewidth data", Applied Physic Letters, 100, 113103

Ngày đăng: 06/07/2022, 18:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Thao D. N., Tien N. T. (2011), "Electron Distribution in AlGaN/GaN Modulation- doped Heterostructure", Proceedings of the 36th Vietnam National Conference on Theoretical Physics, Qui Nhon City, Vietnam, August, pp.212-221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electron Distribution in AlGaN/GaN Modulation-doped Heterostructure
Tác giả: Thao D. N., Tien N. T
Năm: 2011
[2] Quang D. N., Tung N. H., Tien N. T. (2011), “ Electron scattering from polarization charges bound on a rough interface of polar heterostructures”, J. Appl. Phys. B, 109, 113711 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electron scattering from polarizationcharges bound on a rough interface of polar heterostructures
Tác giả: Quang D. N., Tung N. H., Tien N. T
Năm: 2011
[4] Quang D. N., Tuoc V. N., Tung N. H., Minh N. V., Phong P. N. (2005), “ Roughness- induced mechanisms for electron scattering in wurtzite group-III-nitride hetestruc- tures”, Phys. Rev. B, 72, 245303 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Roughness-induced mechanisms for electron scattering in wurtzite group-III-nitride hetestruc-tures
Tác giả: Quang D. N., Tuoc V. N., Tung N. H., Minh N. V., Phong P. N
Năm: 2005
[6] Jena D., Smorchkova Y. P., Elsass C. R., Gossard A. C, Mishra U. K. (2000), Pro- ceedings of the 25th International Conference on Physics of Semiconductors, edited by N. Miura and T. Ando, Osaka, p. 771 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proceedings of the 25th International Conference on Physics of Semiconductors
Tác giả: Jena D., Smorchkova Y. P., Elsass C. R., Gossard A. C., Mishra U. K
Năm: 2000
[7] Quang D. N., Dat Ng. N., Tien N. T., and Thao D. N. (2012), "Single-valued esti- mation of the interface profile from intersubbandabsorption linewidth data", Applied Physic Letters, 100, 113103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Single-valued esti-mation of the interface profile from intersubbandabsorption linewidth data
Tác giả: Quang D. N., Dat Ng. N., Tien N. T., and Thao D. N
Năm: 2012
[3] Bastard G. (1988), Wave Mechanics Applied to Semiconductor Heterostructures, Les Editions de Physique, Paris Khác
[5] Enderlein R., Horing N. J. M. (1997), Fundamentals of Semiconductor Physics and Devices, World Scientic, Singapore Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Cấu hình nhám bề mặt trong không gian vector sóng hai chiều được cho bởi [7]: - Độ linh động của điện tử trong giếng lượng tử tam giác GaAs/AlGaAs
u hình nhám bề mặt trong không gian vector sóng hai chiều được cho bởi [7]: (Trang 7)
Hình 1: Biểu diễn sự phụ thuộc của độ linh động của điện tử vào mật độ điện tích phân cực trên mặt chuyển tiếpσ/xứng vớiL s= 70A,ons= 0.5×1017m−2, - Độ linh động của điện tử trong giếng lượng tử tam giác GaAs/AlGaAs
Hình 1 Biểu diễn sự phụ thuộc của độ linh động của điện tử vào mật độ điện tích phân cực trên mặt chuyển tiếpσ/xứng vớiL s= 70A,ons= 0.5×1017m−2, (Trang 8)
Từ hình 1 ta thấy khi xét đồng thời ảnh hưởng của cả hai cơ chế tán xạ, độ linh động của điện tử là một hàm khá phức tạp củaσ/xvà độ linh động giảm khi mật độ điện tích phân cực bề mặt tăng. - Độ linh động của điện tử trong giếng lượng tử tam giác GaAs/AlGaAs
h ình 1 ta thấy khi xét đồng thời ảnh hưởng của cả hai cơ chế tán xạ, độ linh động của điện tử là một hàm khá phức tạp củaσ/xvà độ linh động giảm khi mật độ điện tích phân cực bề mặt tăng (Trang 8)
Hình 3: Biểu diễn sự phụ thuộc của độ linh động của điện tử vào mật độ tạp chất chon Iứng vớiLs= 70 - Độ linh động của điện tử trong giếng lượng tử tam giác GaAs/AlGaAs
Hình 3 Biểu diễn sự phụ thuộc của độ linh động của điện tử vào mật độ tạp chất chon Iứng vớiLs= 70 (Trang 9)
Từ hình 3 ta thấy nếu xét sự ảnh hưởng của cả hai cơ chế tán xạ, khi tăng mật độ tạp chất cho thì độ linh động của điện tử hầu như không thay đổi. - Độ linh động của điện tử trong giếng lượng tử tam giác GaAs/AlGaAs
h ình 3 ta thấy nếu xét sự ảnh hưởng của cả hai cơ chế tán xạ, khi tăng mật độ tạp chất cho thì độ linh động của điện tử hầu như không thay đổi (Trang 9)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm