1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp – liên hệ thực tiễn tòa án nhân dân tỉnh thanh hóa

123 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Đội Ngũ Thẩm Phán Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp – Liên Hệ Thực Tiễn Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Nguyễn Thị Lan Phương
Người hướng dẫn GS.TSKH Đào Trí Úc
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, công tác kiện toàn tổ chức và xây dựng đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân cho thấy lĩnh vực này hiện còn một số khó khăn như việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán vẫn còn phải nghiên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ chính xác, tin cậy và trung thực Tôi

đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Lan Phương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP 11

1.1 Thẩm phán trong hệ thống các chức danh tư pháp 11

1.1.1 Khái niệm Thẩm phán 11

1.1.2 Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tư pháp 13

1.2 Định hướng và nội dung của cải cách tư pháp ở Việt nam hiện nay 20

1.2.1 Bối cảnh của cải cách tư pháp 20

1.2.2 Những định hướng lớn và mục đích của CCTP 25

1.2.3 Những nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp 32

1.3 Những yêu cầu đòi hỏi của cải cách tư pháp đối với đội ngũ Thẩm phán ở Việt Nam 38

1.3.1 Số lượng 38

1.3.2 Về chất lượng 42

1.4 Phương thức đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán 50

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu CCTP 56

1.5.1 Sự lãnh đạo của Đảng 56

1.5.2 Cơ chế quản lý Tòa án 58

1.5.3 Ý thức pháp luật của thẩm phán 59

1.5.4 Sự phối hợp của chính quyền, của người dân 64

Kết luâ ̣n Chương 1 66

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN

Ở TỈNH THANH HÓA ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH

TƯ PHÁP 67

2.1 Thực trạng xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở Thanh Hóa hiện nay trước yêu cầu cải cách tư pháp 67

2.1.1 TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa quá trình thành lập và phát triển 67

2.1.2 Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa thực hiện chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần của Đảng và Nhà nước 69

2.2 Thực trạng Thẩm phán Tòa án nhân nhân dân 71

2.2.1 Số lượng 71

2.2.2 Chất lượng 74

2.2.3 Đào tạo 76

2.2.4 Trình độ 78

2.2.5 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn chế của đội ngũ Thẩm phán của hai cấp Tòa án nhân dân trong CCTP 79

2.3 Đánh giá về các bảo đảm cho việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở Thanh Hóa 82

2.3.1 Sự lãnh đạo, phối hợp của cấp ủy địa phương 82

2.3.2 Công tác quản lý hai cấp TAND tỉnh Thanh Hóa 83

2.2.3 Ý thức luật của thẩm phán hai cấp TAND tỉnh Thanh Hóa 83

Kết luâ ̣n Chương 2 85

Chương 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI ĐỘI NGŨ PHÁN Ở TỈNH THANH HÓA ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP 86

3.1 Quan điểm và yêu cầu nâng cao hiệu quả xây dựng dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Thanh Hóa 86

3.2 Các giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp 87

3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp 87

Trang 6

3.2.2 Hòa thiện hệ thống pháp luật liên quan đến xây dựng đội ngũ

thẩm phán đáp ứng yêu cầu CCTP 89

3.2.3 Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp của đội ngũ thẩm phán 91

3.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của thẩm phán 92

3.2.5 Công khai các bản án, quyết định nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử của thẩm phán 94

3.3 Các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở tỉnh Thanh Hóa 97

3.3.1 Gắn liền hiệu quả xét xử, đạo đức công vụ của thẩm phán TAND tỉnh Thanh Hóa với quá trình đánh giá nhiệm kỳ công tác 97

3.3.2 Tăng cường sự phối hợp của tòa án với các cơ quan bổ trợ tư pháp, cơ quan điều tra của tỉnh Thanh Hóa trong quá trình giải quyết vụ việc 98

3.3.3 Xây dựng cơ chế phát huy năng lực của các thẩm phán song song với phát huy đồng bộ năng lực của các cán bộ làm công tác tư pháp ở tỉnh Thanh Hóacủa các cán bộ làm công tác tư pháp ở tỉnh Thanh Hóa 100

3.3.4 Tăng cường việc kiểm tra, giám sát của cơ quan cấp trên đối với công tác xét xử của thẩm phán TAND tỉnh Thanh Hóa 101

3.3.5 Tăng cường vai trò hướng dẫn của các thẩm phán giàu kinh nghiệm đối với các thẩm phán trẻ, đồng thời tạo cơ chế cho các thẩm phán trẻ phát huy năng lực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ ở TAND tỉnh Thanh Hóa 103

3.3.6 Tiếp tục đào tạo, tăng cường năng lực của thẩm phán TAND tỉnh Thanh Hóa trong việc tiếp cận và vận dụng án lệ trong quá trình xét xử 104

Kết luâ ̣n Chương 3 106

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 113

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á CB,CC: Cán bộ, công chức

CCTP: Cải cách tư pháp CNH-HĐH: Công nghiệp hóa- hiện đại hóa HĐND: Hội đồng nhân dân

HTND: Hội thẩm nhân dân

NNPQ: Nhà nước pháp quyền NQ-TW: Nghị quyết -Trung ương PLTP&HTND: Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân

TH: Thanh Hóa TTV: Thẩm tra viên TAND: Toà án nhân dân TANDTC: Toà án nhân dân tối cao

TPCC: Thẩm phán cao cấp TPTS: Thẩm phán trung cấp TPSC: Thẩm phán sơ cấp TTLT-TANDTC-BQPBNV-UBTWMTTQVN: Thông tư liên tịch -

Tòa án nhân dân Tối cao - Bộ nội vụ -

Ủy ban Trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội

VKS ND: Viện kiểm sát nhân dân WTO: Tổ chức thương mại quốc tế XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua hệ thống Tòa án nhân dân đã không ngừng lớn mạnh Song song với việc triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn, lãnh đạo hệ thống Tòa án nhân dân rất chú trọng tới công tác kiện toàn tổ chức và xây dựng đội ngũ Thẩm phán, đảm bảo về chất lượng cũng như số lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của ngành và của các địa phương

Với việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó yêu cầu đối với công tác cán bộ là:

Rà soát đội ngũ cán bộ tư pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ

tư pháp trong sạch, vững mạnh, Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp,

bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ và Đào tạo

đủ số lượng cán bộ tư pháp có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về lĩnh vực tư pháp quốc tế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực… [8]

Hệ thống Tòa án nhân dân đã rất chú trọng việc kiện toàn và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh của đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán, do đó đội ngũ cán bộ, Thẩm phán ngành Tòa án nhân dân đã không ngừng được tăng cường về số lượng và nâng cao về chất

Trang 9

lượng Nhiệm vụ đó đặt ra yêu cầu phải có chiến lược cán bộ nhất là đội ngũ Thẩm phán của Tòa án nhân dân, trong tổng thể chiến lược cán bộ của Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Hiện nay đội ngũ Thẩm phán của hệ thống Tòa án nhân dân về cơ bản

đã phát huy và giữ vững được bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân; đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế, quốc tế; là lực lượng quan trọng góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Công tác cán bộ và công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán đã bám sát nhiệm vụ chính trị, thể chế hóa, cụ thể hóa được nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp lớn đề ra trong chiến lược cán bộ Nội dung, phương pháp, cách làm có đổi mới, tiến bộ; dân chủ, công khai trong công tác cán bộ được mở rộng; nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, trong đó có công tác lãnh đạo và quản lý đội ngũ Thẩm phán, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác này được giữ vững

Tuy nhiên, công tác kiện toàn tổ chức và xây dựng đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân cho thấy lĩnh vực này hiện còn một số khó khăn như việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán vẫn còn phải nghiên cứu; nguyên tắc phân công, phân cấp trong tổ chức và hoạt động của Tòa án; nguyên tắc phối hợp trong công tác giữa cơ quan Tòa án với các cơ quan hữu quan; nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác Tòa án nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp; chất lượng đội ngũ Thẩm phán còn những mặt yếu; cơ cấu đội ngũ Thẩm phán vẫn mất cân đối, thiếu đồng bộ, chưa hợp lý giữa các vùng, miền; ngân sách của nhà nước cho tổ chức, hoạt động và xây dựng đội ngũ Thẩm phán hệ thống Tòa án nhân dân còn hạn hẹp…

Đứng trước yêu cầu xây dựng và kiện toàn đội ngũ Thẩm phán Tòa án

Trang 10

nhân dân trong sạch vững mạnh, đáp ứng yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ chính trị trong tình hình hiện nay, đòi hỏi phải tiếp tục có sự nghiên cứu sâu sắc hơn

để có các giải pháp thiết thực

Thẩm phán giữ vị trí quan trọng trong việc xét xử - giai đoạn trung tâm của hoạt động tố tụng, vì thế số lượng, chất lượng của đội ngũ thẩm phán cũng như cách thức tổ chức, cơ chế vận hành đối với đội ngũ thẩm phán là yếu tố mang tính quyết định đến hiệu quả quá trình giải quyết vụ án của các

cơ quan tiến hành tố tụng Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án Nhân dân năm 2014 quy định điều kiện, tiêu chuẩn Thẩm phán, cũng như quyền hạn, nghĩa vụ của họ khi tiến hành tố tụng đã góp phần nâng cao một bước chất lượng của đội ngũ thẩm phán những năm vừa qua

Tuy nhiên, theo Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị thì: Công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu đòi hỏi của nhân dân, còn nhiều trường hợp bị lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp; và cán bộ của các cơ quan Tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình hiện nay Đội ngũ thẩm phán còn thiếu về số lượng, yếu

về trình độ năng lực nghiệp vụ, một bộ phận tiêu cực, thiếu trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, sa sút phẩm chất đạo đức Đây là vấn đề nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến kỷ cương, pháp luật và hiệu lực của bộ máy Nhà nước Vì vậy, xây dựng đội ngũ thẩm phán trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay là rất quan trọng, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và ngành toà án phải tăng cường chỉ đạo và thực hiện quyết liệt hơn nữa nhiệm

vụ quan trọng này để thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà nước Việt Nam pháp

quyền xã hội chủ nghĩa Từ thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “Xây dựng đội

Trang 11

ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp - qua thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước về đề tài

Cải cách tư pháp đã chính thức được đặt ra tại các Đại hội của Đảng, đồng thời đã được đánh dấu và ghi nhận trong các Nghị quyết 8 Trung ương khóa VII, Nghị quyết 3 và 7 Trung ương khóa VIII và đặc biệt là Nghị quyết

08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp

trong thời gian tới” và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính

trị “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”

Như vậy, có thể nói, trong những năm vừa qua, bên cạnh các kết quả đạt được, tiến trình cải cách tư pháp vẫn còn chậm so với yêu cầu của thực tiễn, còn thiếu sự quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và cơ

sở vật chất Chính sách hình sự, các chế định pháp luật dân sự có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn bất cập, chưa theo kịp quá trình đổi mới của xã hội Hoạt động của cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, chưa bắt kịp và phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội Còn một bộ phận

đội ngũ cán bộ tư pháp vẫn thiếu và yếu, sa sút về phẩm chất đạo đức

Trước yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân theo yêu cầu của cải cách tư pháp, xây dựng đội ngũ thẩm phán trong sạch, có phẩm chất, đạo đức,năng lực nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động

tư pháp là một nội dung rất quan trọng và cấp thiết Mặt khác, trong tổ chức

và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân thì đội ngũ Thẩm phán có vị trí hết sức quan trọng, là người trực tiếp tham gia vào các hoạt động tố tụng và thực thi luật pháp, tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cấp Tòa án nhân dân tại địa phương

Những năm gần đây có một số công trình luận văn thạc sĩ luật học đã

Trang 12

nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về xây dựng đội ngũ Thẩm phán Tòa

án theo tinh thần cải cách tư pháp như: Luận văn thạc sĩ của tác giả Đặng

Công Cường với đề tài: "Vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền

XHCN"; Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Chí Nguyện với đề tài: "Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của TAND cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp"; Luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Thị Thanh Bình

“Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp

ở nước ta hiện nay”

Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết, ấn phẩm sách, báo, tạp chí đã được xuất bản đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống cơ quan tư pháp cũng như Tòa

án dưới nhiều góc độ khác nhau của một số tác giả như:

- ThS Vũ Gia Lâm với bài “Đổi mới hệ thống Tòa án nhằm nâng cao

hiệu quả thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử”, Tạp chí luật học số 6 năm 2007;

- GS-TSKH Đào Trí Úc với bài “Bàn về quyền tư pháp trong Nhà

nước pháp quyền XHCN”, tạp chí luật học số 8 năm 2010

- Đặng Thanh Nga với bài “Các phẩm chất nhân cách cơ bản của

Thẩm phán” Tạp chí Luật học số 5 năm 2000;

- PGS TS Nguyễn Ngọc Chí với chuyên đề “Thẩm phán và vị trí chức

năng của Thẩm phán trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” và nhiều

bài viết khác đã được công bố trong thời gian qua

Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên đều đã đề cập đến việc xây dựng đội ngũ thẩm phán TAND với nhiều hướng tiếp cận khác nhau: có tác giả tiếp cận từ góc độ đổi mới cho phù hợp với thực tiễn thực hiện quyền

tư pháp cụ thể là công tác xét xử của Tòa án trong những năm gần đây, có tác giả tiếp cận góc độ xây dựng đội ngũ thẩm phán phù hợp với cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của TAND khi Hiến pháp 2013 và Luật TCTAND 2014

có hiệu lực; cũng có thể là theo góc độ hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động

Trang 13

của TAND đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp; vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng trong đó việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán như là một yêu cầu không thể thiếu Ngoài ra cũng có một số công trình, bài viết được công bố gần đây xây dựng đội ngũ thẩm phán nhưng cũng chỉ đề cập đến một vài khía cạnh nhất định của đội ngũ thẩm phán, chủ yếu là hoàn thiện một số quy định của pháp luật liên quan đến vai trò của Thẩm phán, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng đáp ứng kịp thời yêu cầu cải cách tư pháp, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể việc đổi mới tiêu chuẩn, công tác bổ nhiệm Thẩm phán, công tác giám sát thẩm phán trong

hệ thống TAND, bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Hơn nữa, các công trình kể trên đều chưa đưa ra được những tiêu chí rõ ràng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống Tòa án trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, xây dựng đội ngũ Thẩm phán, cũng như chưa xác định được đúng vị trí, vai trò của TAND sát với tình hình thực tế của Việt Nam hiện nay Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện đội ngũ Thẩm phán, xác định lại vị trí, vai trò, đáp ứng kịp thời với tình hình mới của đất nước nói chung và đáp ứng yêu câu cải cách tư pháp nói riêng để thực thiện thành công mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân là điều cần thiết Luận văn cũng

sẽ là một sự tham khảo hữu ích, bổ sung và làm sáng rõ thêm về chức danh Thẩm phán, nhân danh nhà nước CHXHCN VN thực hiện nhiệm vụ xét xử và đưa ra các phán quyết

2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Các tài liệu nước ngoài về đề tài chuyên sâu này ở các thư viện nước ta còn quá ít và tản mạn Vì vậy, điều kiện để tác giả tham khảo không được nhiều

- Một số bài viết của các tác giả trong nước hoặc Báo cáo của nhóm công tác nghiên cứu ở nước ngoài giới thiệu về kinh nghiệm xây dựng đội

Trang 14

ngũ Thẩm phán ở một số nước như: “Những quy định về Thẩm phán của một

số nước trên thế giới” của hai tác giả Đào Thị Hằng, Nguyễn Tố Hằng; “Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống toà án một số nước trên thế giới hiện nay” của tác giả Trần Văn Tăng; “Một số vấn đề về cải cách tư pháp ở Trung Quốc” của Viện KH pháp lý - Bộ Tư pháp; “Báo cáo kết quả chuyến công tác tại toà án Cộng hoà Pháp và Na Uy” của Ban cán sự Đảng TANDTC Các tài

liệu tham khảo nói trên chủ yếu đề cập đến các điều kiện, tiêu chuẩn làm Thẩm phán hoặc về các chế độ tuyển chọn, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng đối với Thẩm phán ở một số nước

Các nước trên thế giới tuy có đặc điểm khác nhau về thể chế chính trị, điều kiện kinh tế- xã hội, về hệ thống pháp luật và tổ chức các cơ quan tư pháp, tuy nhiên về hoạt động tư pháp và cải cách tư pháp đều có những điểm chung Các tác giả trên thế giới nghiên cứu cứu địa vị pháp lý, vai trò của người thẩm phán gắn với công tác xét xử, trong đó Độc lập xét xử của Thẩm

phán hết sức quan trọng Chẳng hạn như: Liên hợp quốc đã thông qua The

U.N Basic principles on on the Independence of the judiciary (Các nguyên

tắc cơ bản của Liên hợp quốc về độc lập xét xử) vào năm 1985 và LAWASIA

cũng ra Beijing Statement of Principles of the Independence of the Judiciary

in the LAWASIARegion (Bắc Kinh tuyên bố về nguyên tắc độc lập của tư pháp

trong luật khu vực châu Á); Thẩm phán Guy Green (Úc) trong The Rational

and some aspect of judicial Independence (Hợp lý và một số khía cạnh của

độc lập tư pháp), ABA trong báo cáo An Independence of the judiciary:

Report of the Commession on Speration of Powers and judicial Independence

(Sự độc lập của ngành tư pháp: Báo cáo của Ủy ban về Tách quyền lực và Sự độc lập của Toà án) nhấn mạnh vào tính độc lập cá nhân Thẩm phán và tính độc lập thiết chế tòa án… Ngoài ra còn quan điểm của các khu vực như: Hội

đồng Châu Âu (Recommendation No.R(94)12 concerning Independence,Efficency

Trang 15

andRole of Judges (Khuyến nghị số R (94) 12 về Độc lập, Hiệu quả và Vai trò

của Thẩm phán); Mỹ La tinh; các nước thuộc khối Ả - rập…

Công trình nghiên cứu của Hội đồng châu Âu (Conseil of Europe) về

đào tạo thẩm phán và công tố viên tại một số quốc gia châu Âu (Conseil of

Europe, The training of judges and public prosecutors in Europe, Conseil of Europe Publishing, 1996, 180 trang, tiếng Anh) giới thiệu về đào tạo và bồi

dưỡng thẩm phán, công tố viên tại Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh, Ba Lan Nghiên cứu này giới thiệu và so sánh mô hình đào tạo Thẩm phán và Công tố viên tại các quốc gia nêu trên, nhưng mới dừng lại ở những nét sơ lược

Nghiên cứu so sánh số 164 (2005-2006) của Thương viện Pháp về

tuyển chọn và đào tạo Thẩm phán tại một số quốc gia (Étude de législation

comparée n° 164 (2005-2006) - Le recrutement et la formation initiale des magistrats du siege, tiếng Pháp), trình bày dưới góc độ so sánh hệ thống

tuyển dụng và đào tạo Thẩm phán của một số nước Châu Âu lục địa (Ý, Đức, Tây Ban Nha, Pháp…) Công trình này giới thiệu các nét khái quát về tuyển chọn và đào tạo thẩm phán tại các quốc gia nêu trên

Nghiên cứu của Philippe Astruc về tuyển chọn và đào tạo Thẩm phán

tư pháp tại Pháp (Devenir magistrat aujourd’hui: le recrutement et la

formation de l’ordre judiciaire, Nxb Lextenso, 2010, tiếng Pháp), giới thiệu

về quy trình tuyển chọn và đào tạo quan tòa (magistrat) ở Pháp, tức bao gồm Thẩm phán và Công tố viên, vốn được đào tạo tại cùng một cơ sở là Trường Thẩm phán quốc gia (Ecole Nationale de la Magistrature)

Nghiên cứu của hai tác giả: Peter H Russell, Kate Malleson, Bổ nhiệm thẩm phán trong thời đại của Quyền lực tư pháp: viễn cảnh có phê phán trên

toàn thế giới (Appointing Judges in an Age of Judicial Power: Critical

Perspectives from around the world, Nxb University of Toronto, 2006, tiếng

Trang 16

Anh, 450 trang) là chuyên khảo khá đồ sộ nghiên cứu về tuyển chọn thẩm phán ở một số quốc gia tiêu biểu (Pháp, Ai cập, Indonesia…)

3 Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc Xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp - qua thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

“Xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp – qua thực tiễn TAND tỉnh Thanh Hóa” là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng, nội dung phong phú, đa dạng, phức tạp Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu đã căn cứ vào các chức năng, nhiệm vụ của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung để nghiên cứu và tiếp cận các nội dung xây dựng đội ngũ thẩm phán Những nội dung cơ bản, trọng tâm gồm: Khái niệm, vị trí vai trò quan trọng của thẩm phán ở Việt Nam hiện nay; Phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ thẩm phán và công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay; Những bất cập, hạn chế về chất lượng, số lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ thẩm phán; công tác tuyển chọn bổ nhiệm thẩm phán, tái bổ nhiệm Thẩm phán hai cấp TAND tỉnh Thanh Hóa hiện nay; Những yêu cầu, đòi hỏi trong công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán TAND đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ Thẩm phán hai cấp TAND tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và sự nghiệp đổi mới đất nước

4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu đề tài

Trang 17

4.2 Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp cụ thể được sử dụng

đó là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp luận học, phương pháp xã hội học, phương pháp lý luận kết hợp với thực tiễn

5 Những đóng góp mới của đề tài

- Luận văn góp phần làm rõ khái niệm, vị trí vai trò quan trọng của

thẩm phán trong giai đoạn cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay;

- Luận văn đánh giá được thực trạng của đội ngũ Thẩm phán; công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay; Những bất cập, hạn chế về chất lượng, số lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ thẩm phán; công tác tuyển chọn bổ nhiệm thẩm phán, tái bổ nhiệm Thẩm phán hai cấp TAND tỉnh Thanh Hóa;

- Luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp đảm bảo việc Xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp

ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Chương 2: Thực trạng xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa

đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Chương 3: Quan điểm, định hướng và các giải pháp xây dựng đội ngũ

thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

1.1 Thẩm phán trong hệ thống các chức danh tư pháp

1.1.1 Khái niệm Thẩm phán

Khái niệm Thẩm phán, quy định tại Điều 1, Pháp lệnh Thẩm phán và

Hội thẩm nhân dân năm 2002: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy

định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án” [18, tr.1] Như vậy, Thẩm phán là

những công chức nhà nước được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh

tế, thương mại, hành chính, lao động và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án

Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 quy định:

Thẩm phán là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc

và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực; Có trình độ cử nhân luật trở lên; Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử; Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật; Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật Như vậy, Thẩm phán là một chức danh tư pháp, làm việc tại Tòa án, có đủ điều kiện tiêu chuẩn theo quy định của Luật TCTAND năm 2014 được Chủ Tịch nước bổ nhiệm làm nhiệm vụ xét xử [21, Điều 65]

Trang 19

đó quy định nhiệm kỳ Thẩm phán, ở các nước trên thế giới chủ yếu phân thành hai loại: chế độ suốt đời (Bổ nhiệm cho đến tuổi nghỉ hưu) và chế độ nhiệm kỳ; cũng có nước áp dụng cả hai chế độ

Hiện nay, ở Việt Nam Thẩm phán được bổ nhiệm theo chế độ nhiệm

kỳ Nhiệm kỳ của Thẩm phán được quy định trong một khoảng thời gian nhất

định “Nhiệm kỳ đầu của Thẩm phán là 5 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại

hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10

năm” [21, Điều 74]

Trong những năm qua, với việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội liên quan tới công tác tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm

công tác tư pháp trong thời gian tới” (đây gọi tắt là Nghị quyết 08-NQ/TW) và

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược

cải cách tư pháp đến năm 2020” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 49-NQ/TW),

thì đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án nhân dân đã từng bước được kiện toàn

cả về số lượng và nâng cao về chất lượng cán bộ, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán và các cán bộ có chức danh tư pháp; cơ sở vật chất, điều kiện phương tiện làm việc của các Tòa án cũng đã được quan tâm đầu tư có hiệu quả, giúp

Trang 20

cho Tòa án các cấp có những điều kiện thuận lợi hơn để triển khai thực hiện các nhiệm vụ của mình

Trong bối cảnh tình hình tội phạm và các tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và khiếu kiện hành chính diễn biến phức tạp, gia tăng

về số lượng và phức tạp về tính chất; việc mở rộng hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng cũng làm phát sinh càng nhiều các tranh chấp có yếu tố nước ngoài liên quan tới lĩnh vực pháp luật quốc tế và với xu thế mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các vi phạm, cũng như giải quyết các tranh chấp trong xã hội, thì yêu cầu tăng cường về số lượng, chất lượng đội ngũ Thẩm phán đối với các Tòa án là một nhiệm vụ cấp thiết

1.1.2 Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tư pháp

* Về công tác xét xử

Hoạt động của TAND tập trung chủ yếu trong công tác xét xử Tòa án nhân danh nước CHXHCNVN được trao thẩm quyền xét xử các loại án bao gồm: Hình sự, Dân sự, Kinh tế, Hành chính, Lao động và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật.Thẩm phán được Nhà nước trao quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án theo luật định đó là thực hiện chức năng xét xử những vụ án: hình sự, dân sự, hành chính (Dân sự bao gồm: tranh chấp về dân sự; những tranh chấp về hôn nhân gia đình; những

tranh chấp về kinh doanh - thương mại; những tranh chấp về lao động).Vai trò của Thẩm phán trong công tác xét xử như sau:

- Đối với công tác giải quyết án hình sự

Cùng với sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt của đất nước, mặt trái

từ sự phát triển đó là tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, có chiều hướng tăng lên về số lượng, tính chất của các vụ phạm tội ngày càng nghiêm trọng, các vụ trọng án ngày một gia tăng, thành phần tội phạm đa dạng, manh động, tinh vi… đặc biệt là sự tham gia ngày càng nhiều của người phạm tội là thanh

Trang 21

thiếu niên, đang là nỗi nhức nhối của toàn xã hội Hiện nay còn xuất hiện các loại tội phạm mới về công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, vv làm cho tình hình an ninh, chính trị của đất nước bị đe dọa Chính vì vậy, công tác xét xử của Tòa án đối với các vụ

án hình sự có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ những thành quả cách mạng, các giá trị tốt đẹp của dân tộc, cũng như bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân, góp phần tích cực vào sự phồn vinh của đất nước

Khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự Thẩm phán phải thực hiện thẩm quyền tiến hành tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình

Nhìn chung, công tác xét xử các vụ án hình sự của các Toà án các cấp hầu như không có tình trạng để quá thời hạn xét xử theo quy định của pháp luật Đối với các vụ án lớn, trọng điểm, các Tòa án đã tăng cường phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng, Thẩm phán tiếp xúc với hồ sơ vụ án ngay

từ khâu điều tra, truy tố để nắm rõ các tình tiết của vụ án; Thẩm phán khẩn trương nghiên cứu hồ sơ để đưa vụ án ra xét xử kịp thời, theo đúng luật định

và kế hoạch đề ra

Trong những năm qua, Thẩm phán các cấp Tòa án cũng đã tăng cường xét xử các vụ án trọng điểm, các loại tội phạm đang có chiều hướng gia tăng ngày càng phức tạp như: vụ án lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng xảy ra ở nhiều địa phương, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; không ít các vụ án lừa đảo có tổ chức chiếm đoạt tài sản của Nhà nước hoặc của công dân có giá trị rất lớn như vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, nguyên cán bộ ngân hàng Vietinbank bị truy tố về hai tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Võ Anh Tuấn, nguyên cán bộ văn phòng Vietinbank về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Xét xử nhiều vụ án về

Trang 22

tham nhũng kinh tế đặc biệt nghiêm trọng như vụ Dương Chí Dũng lợi dụng chức vụ quyền hạn cùng đồng phạm đã không thực hiện quy định của nhà nước, gây thiệt hại cho Vinalines hàng trăm tỷ đồng… Thời gian tới Tòa án các cấp đưa 6 vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp ra xét xử sơ thẩm gồm: Vụ án “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng; Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy

ra tại Công ty in, thương mại và dịch vụ Agribank; vụ án “Đưa hối lộ; Nhận hối lộ; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Tổng Công ty xây dựng đường thủy Việt Nam; vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty cổ phần dệt Quế Võ và Chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển Bắc Ninh Xét xử các vụ án đặc biệt nghiêm trọng về

ma tuý, trong đó có nhiều vụ án mua bán, tàng trữ, sản xuất trái phép chất

ma tuý với số lượng lớn, có nhiều người tham gia như vụ án Trịnh Nguyên Thủy cùng 30 bị cáo về hành vi mua bán, sản xuất trái phép chất ma túy ;

và xét xử rất nhiều các vụ án như: trộm cắp, giết người, cố ý gây thương tích, chống người thi hành công vụ, buôn lậu, mua bán phụ nữ, trẻ em niên, lợi dụng công nghệ tin học để phạm tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bôi nhọ đường lối chính trị, chính sách pháp luật của Nhà nước và các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước.…

Tuy vậy, vẫn còn tình trạng Thẩm phán do hạn chế năng lực, trình độ chưa thực sự có trách nhiệm, không cập nhật kiến thức pháp luật thường xuyên để trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiên cứu vụa án hình sự còn sơ sài, qua loa hoặc do chịu những tác động “tế nhị” dẫn đến tình trạng “ quên”

áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thậm chí áp dụng điều luật không đúng, quyết định hình phạt tùy tiện.. nên xét xử oan sai, bỏ lọt tội phạm trong hoạt động xét xử án hình sự Tạo dư luận xấu trong xã hội, gây tâm lý hoang

Trang 23

mang trong nhân dân Thực tế chứng minh, nhiều năm gần đây Tòa án các cấp

đã bồi thường thiệt hại cho hàng chục trường hợp bị oan sai theo quy định tại Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy Ban thường

vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Trong đó có trường hợp mức bồi thường cho người bị oan lên đến hàng chục tỷ đồng gây tổn thất kinh tế lớn đồng thời giảm uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng

Do đó, đòi hỏi Thẩm phán toàn hệ thống Tòa án phải nâng cao năng lực chuyên môn, nghề nghiệp, kiến thức pháp luật, bản lĩnh chính trị và đạo đức , nỗ lực hơn nữa trong quá trình xét xử đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Thông qua xét xử các vụ án hình sự, Thẩm phán góp phần to lớn vào việc trừng trị kịp thời, có hiệu quả những kẻ phạm tội nhằm duy trì trật tự

kỷ cương phép nước, không chỉ buộc bị cáo phải hành xử đúng pháp luật mà còn tạo nên một môi trường bền vững an toàn cho cá nhân, tổ chức sinh sống

Với thẩm quyền xét xử dân sự được pháp luật quy định như trên, Thẩm phán TAND đã khắc phục mọi khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Số lượng các vụ án dân sự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động mà Tòa án các cấp phải thụ lý và giải quyết hàng năm tương đối lớn, tuy vậy tỷ lệ giải quyết loại án này luôn ở mức cao, thường chiếm trên 90% số vụ

và số việc đã thụ lý

Trang 24

Thẩm phán đã tập trung khắc phục việc để các vụ án quá thời hạn xét

xử theo quy định của pháp luật và án tuyên không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự Chú trọng làm tốt công tác hòa giải để giảm căng thẳng giữa các bên đương sự, hàn gắn mâu thuẫn trong nhân dân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án, kết quả là tỷ lệ hòa giải thành chiếm 60% trong tổng số các vụ việc dân sự đã giải quyết Trong những năm qua, tuy số lượng các loại án tăng cao, song chất lượng xét xử các loại án dân

sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động cũng được đảm bảo, góp phần tích cực bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân

Đối với quyền xét xử các vụ án kinh doanh thương mại và các vụ án về lao động, đây là mảng khối lượng kiến thức tương đối rộng, đội ngũ Thẩm phán Tòa án lại thiếu kiến thức về thị trường, các quan hệ kinh tế và quan hệ lao động tương đối phức tạp, liên quan đến lợi ích của nhiều bên Chính vì vậy quá trình giải quyết các loại án này không tránh khỏi những hạn chế Thực hiện theo tinh thần cải cách tư pháp, thời gian gần đây TANDTC đã tổ chức nhiều đợt tập huấn công tác xét xử các loại án này cho cán bộ và Thẩm phán của ngành nên chất lượng xét xử đã ngày một nâng cao, hoạt động xét

xử đã đáp ứng tốt hơn yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệ kịp thời quyền lợi của người dân và doanh nghiệp

Đối với giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48- Bộ luật tố tụng dân sự

NQ 49-NQ/TW nêu nhiệm vụ: Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân

sự Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía Nhà nước

để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đổi mới thủ tục hành chính trong

cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý;

Trang 25

người dân chỉ nộp đơn đến Toà án, Toà án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải, trọng tài; Toà án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó

- Xét xử các vụ án hành chính: Án hành chính là một trong những loại

án có tính chất đặc biệt khi người khởi kiện thường là người dân và người bị kiện là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, là xét xử các quyết định hành chính, hành vi hành chính của

cơ quan hành chính nhà nước

Từ ngày 01/7/2011 Luật tố tụng hành chính có hiệu lực thi hành đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong khiếu kiện hành chính, đồng thời mở rộng thẩm quyền giải quyết án hành chính của Tòa án, do đó số lượng án hành chính tăng nhanh Mặc dù, Tòa án đã chủ động bố trí lực lượng Thẩm phán giải quyết án hành chính và tổ chức tập huấn nâng cao trình độ của Thẩm phán nhưng số lượng án hành chính giải quyết, xét xử không cao.Trong quá trình giải quyết loại án này, Thẩm phán thường tiến hành trao đổi với cơ quan hành chính nhà nước và tổ chức đối thoại giữa người khởi kiện với cơ quan hành chính nhà nước để tìm tiếng nói chung, qua đó đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên Thông qua việc đối thoại cũng sẽ giúp mâu thuẫn có thể được giải quyết hợp tình, hợp lý, vừa đảm bảo được uy tín cho cơ quan hành chính nhà nước, vừa đảm bảo quyền lợi cho người dân Từ ngày 1/7/2016, việc xét xử các loại án hành chính sẽ có

sự thay đổi về thẩm quyền, TAND cấp huyện sẽ không thụ lý giải quyết án hành chính đối với việc khởi kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân huyện, chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện; thẩm quyền trong trường hợp này sẽ thuộc TAND cấp tỉnh

Mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các điều kiện hành chính Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện

Trang 26

hành chính tại Toà án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Toà án [6]

* Thông qua thực hiện hoạt động xét xử của Thẩm phán có vai trò trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông đối với mọi tầng lớp nhân dân

Trong hoạt động của Tòa án thì xét xử là trọng tâm, tuy nhiên việc xét

xử muốn đạt hiệu quả cao thì không thể thiếu vai trò của hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân thông qua công tác xét xử Nhận thấy tầm quan trọng của công tác này, Luật tổ chức TAND năm 2014

đã quy định: “Toà án phối hợp với cơ quan, tổ chức phát huy tác dụng giáo

dục của phiên toà và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành bản án, quyết định của Toà án” [21, Điều 17]

Trong thời gian qua bằng nhiều hình thức, Tòa án đã tích cực tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho người dân, đặc biệt là thông qua công tác xét xử lưu động các vụ án hình sự Chính từ việc thực hiện tốt công tác xét

xử lưu động, Tòa án đã giúp người dân hiểu các quy định của pháp luật hình

sự, thấy được ý thức trách nhiệm của mình đối với cộng đồng xã hội, đồng thời định hướng cho cách ứng xử của người dân phù hợp với quy định của pháp luật, giáo dục họ ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật

Thông qua hoạt động xét xử Thẩm phán còn thể hiện vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân Thẩm phán giúp cho những người tham gia tố tụng, những người tham dự tại phiên tòa hiểu rõ các quy định của pháp luật, qua đó giúp họ hình thành ý thức pháp luật, tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; củng cố lòng tin vào pháp luật, phát huy tác dụng của công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm trong xã hội

Trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ công tác nói chung

Trang 27

và công tác xét xử các loại án nói riêng, ngành Tòa án nhân dân luôn bám sát các quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp, gắn việc thực hiện hiện các nhiệm vụ trọng tâm công tác của ngành với việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp: Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử [7]

1.2 Định hướng và nội dung của cải cách tư pháp ở Việt nam hiện nay

1.2.1 Bối cảnh của cải cách tư pháp

Trong lý luận và thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, cải cách tư pháp luôn được hiểu với ý nghĩa chung nhất là sự thay đổi đem lại những điều mới có ích cho việc xây dựng nhà nước và bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nếu không đạt được ý nghĩa này, cải cách tư pháp sẽ bị coi là thất bại Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Một nền tư pháp kiểu mới – nền tư pháp nhân dân đã từng bước được thiết lập Lần đầu tiên trong lịch sử tư pháp nước ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 85 về cải cách

bộ máy tư pháp, xây dựng nên những nguyên tắc tiến bộ đầu tiên cho nền tư pháp non trẻ của nước ta trên cơ sở dự án Sắc lệnh Cải cách bộ máy tư pháp

và Luật Tố tụng với những mục đích rất rõ ràng là bộ máy tư pháp cần được

“dân chủ hoá”, “để công việc xét xử được nhanh chóng và gần dân hơn”, “thủ tục tố tụng cần được hợp lý và giản dị hơn” [12]

Kể từ Đại hội lần thứ VI (năm 1986) của Đảng ta, chủ trương đổi mới toàn diện đất nước được đặt ra và triển khai Cải cách tư pháp là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết và mang tính quy luật để có thể thích ứng với những đổi mới về văn hóa, kinh tế, xã hội, hệ thống chính trị; v.v Do đó, vấn đề này đã chính thức được đặt ra tại các Đại hội sau đó của Đảng, đồng thời đã được

Trang 28

đánh dấu và ghi nhận trong các Nghị quyết 8 Trung ương khóa VII, Nghị quyết 3 và 7 Trung ương khóa VIII và đặc biệt là Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW Nghị quyết 49 được ban hành phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế Cùng với việc Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) xác lập nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công

và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, cải cách tư pháp được triển khai từng bước đồng bộ với cải cách pháp luật và cải cách hành chính [10] nhằm đổi mới tổng thể bộ máy nhà nước theo các nguyên tắc pháp quyền, thúc đẩy đổi mới chính trị theo kịp và đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của đổi mới kinh tế

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra đường lối và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội những năm tới Trong kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội 5 năm từ 2001 đến 2005, bên cạnh những nhiệm vụ kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ là nhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, vai trò của các cơ quan tư pháp cần được củng

cố và tăng cường Đại hội cũng đã đề ra nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Nói một cách khái quát, nhà nước pháp quyền là hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội Nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức và quản lý theo pháp luật và

đề cao các giá trị nhân văn, tôn trọng và bảo đảm quyền của con người, quyền công dân Căn cứ vào những đặc trưng đó của Nhà nước pháp quyền,

có thể thấy nhiệm vụ cấp bách hàng đầu hiện nay là phải tiếp tục đổi mới,

Trang 29

hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật nghiêm minh Do đó yêu

cầu "cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư

pháp" [10, tr.2] là một trong những đòi hỏi bức xúc hiện nay, là một đòi hỏi

tự thân của nền công lý và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Đổi mới, cải cách hệ thống cơ quan tư pháp từ tổ chức đến cơ chế hoạt động, năng lực của cán bộ đã được quán triệt là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây dựng các cơ quan

tư pháp trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Thể chế hoá chủ trương của Đảng, trong 30 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng Nhờ đó, tư pháp Việt Nam đã

có những bước tiến quan trọng, tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp

đã được củng cố và phát triển từng bước đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước

Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu khách quan đặt ra là phải tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, điều chỉnh phạm vi nội dung và phương thức hoạt động của Nhà nước cho phù hợp Quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa phải được đề cao hơn bao giờ hết Trong cải cách bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp có vị trí rất quan trọng Bởi vì, các cơ quan tư pháp là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ nhân dân, các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của người dân, bảo đảm kỷ cương xã hội Từ khi công cuộc đổi mới bắt đầu, thực hiện chủ trương cải cách bộ máy nhà nước, các cơ quan tư pháp đã tham gia tích cực và chủ động vào việc soạn thảo văn bản pháp luật, xây dựng

Trang 30

và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, từng bước nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân Trong những năm qua, các cơ quan tư pháp đã luôn luôn đứng ở tuyến đầu của nhiệm vụ bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm và các

vi phạm pháp luật, giải quyết nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật các tranh chấp nảy sinh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần ổn định

xã hội, phát triển kinh tế, phát huy tính chủ động, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân trong quá trình đổi mới Có thể nói, quyền lực tư pháp đã được thực hiện có hiệu quả với sự đóng góp lớn lao của toàn bộ hệ thống tư pháp

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, quyền lực Nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Quyền tư pháp là một trong ba quyền hợp thành quyền lực Nhà nước, được hiểu là hoạt động xét xử của các Toà án và những hoạt động của cơ quan Nhà nước, các tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của Toà án như điều tra, công tố, bổ trợ tư pháp, nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế xã hội chủ nghĩa, lợi ích hợp pháp của công dân, tôn trọng và duy trì công lý Toà án nhân dân là nơi biểu hiện tập trung quyền tư pháp, sử dụng công khai các kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa, giám định tư pháp thông qua các thủ tục tố tụng do luật định để đưa ra phán quyết cuối cùng thể hiện quyền lực Nhà nước Hoạt động xét xử của Toà án nhân dân cũng là nơi thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống cơ quan

tư pháp nói riêng và của toàn bộ hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung Với ý nghĩa đó, việc cải cách các cơ quan Tư pháp và các hoạt động tư pháp là đòi hỏi tự thân, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của quyền tư pháp trong cơ cấu quyền lực nhà nước Cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo

Trang 31

Trong những năm vừa qua, bên cạnh các kết quả đạt được, tiến trình cải cách tư pháp vẫn còn chậm so với yêu cầu của thực tiễn, còn thiếu sự quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và cơ sở vật chất Chính sách hình sự, các chế định pháp luật dân sự có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn bất cập, chưa theo kịp quá trình đổi mới của xã hội Hoạt động của cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, chưa bắt kịp và phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra, vẫn còn tồn tại tình trạng bỏ lọt tội phạm, oan, sai trong việc điều tra, oan, sai trong truy tố và xét xử, khiếu nại, tố cáo các công chức trong ngành tư pháp vi phạm pháp luật vẫn còn nhiều, thi hành án dân sự vẫn chưa chuyển biến đáng kể Còn một bộ phận đội ngũ cán bộ tư pháp vẫn thiếu về số lượng trình độ chuyên môn hạn

chế và yếu, sa sút về phẩm chất đạo đức,trách nhiệm nghề nghiệp; phương

tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu Vì vậy, với yêu cầu phát triển và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định:

Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa

án được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao [8]

Do đó, các nội dung cụ thể thực hiện để cải cách tư pháp là:

Một là, cải cách tư pháp cần phải được tiến hành tổng thể trong việc cải

cách bộ máy nhà nước, cũng như trong mối liên hệ mật thiết và đồng bộ với cải cách hành chính Quá trình cải cách đó không thể tách rời việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

Hai là, cải cách tư pháp phải hướng tới việc thực hiện đầy đủ các

Trang 32

nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động tư pháp như: mỗi cơ quan thực hiện từng khâu của tiến trình tố tụng phải chịu trách nhiệm độc lập về kết luận của mình; bảo đảm tính khách quan của việc xét xử hai cấp; thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm; nhân dân tham gia, kiểm tra và giám sát hoạt động tư pháp, không bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội; v.v

Ba là, cần thực hiện tốt và nghiêm túc các nhiệm vụ cải cách tư pháp,

đó là hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức

và hoạt động của Tòa án nhân dân; hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch vững mạnh; hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp; tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp; bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp

1.2.2 Những định hướng lớn và mục đích của cải cách tư pháp

1.2.2.1 Những định hướng lớn

Công tác tư pháp là hoạt động hướng tới việc bảo vệ pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và nghiêm chỉnh thực thi trong thực tiễn cuộc sống Nền tư pháp xã hội chủ nghĩa lấy mục tiêu phục vụ nhân dân, phục

vụ đất nước là mục tiêu cao nhất Nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác tư pháp, đưa công tác này phát triển một bước cùng với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Trong giai đoạn hiện nay, với mục tiêu xây dựng nền

tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng

Trang 33

bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động xét xử của Tòa án được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao, cải cách tư pháp sẽ khắc phục những bất cập, hạn chế của công tác tư pháp nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW đã xác định mục tiêu chiến lược là

xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ

công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành

có hiệu quả và hiệu lực cao Cụ thể là:

Một là, Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người

Chức năng của Nhà nước pháp quyền là phải xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, toàn diện, đồng bộ vì con người, cho con người Nhà nước pháp quyền được xây dựng trên nền tảng tư tưởng pháp lý tiến bộ, vì quyền con người: Công bằng, nhân đạo, dân chủ Nhà nước pháp quyền là Nhà nước dân chủ, Nhà nước thượng tôn pháp luật, bảo đảm cho mọi công dân đều có quyền tự do, bình đẳng tham gia quản lý đất nước và giám sát, kiểm tra mọi hoạt động của cơ quan nhà nước Hoạt động tư pháp:

Phải ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức; bảo vệ

trật tự, kỷ cương; bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền và lợi

ích hợp pháp của các tổ chức và công dân [6]

Thực hiện CCTP theo tinh thần NQ 49-NQ/TW, đúng tiến độ, trách

Trang 34

nhiệm từng bước, có lộ trình hoàn thiện hệ thống pháp luật là một phần rất quan trọng thuộc về Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội Trách nhiệm này là rất vẻ vang nhưng cũng không kém phần cam go vì cải cách tư pháp luôn là vấn đề giải quyết xung đột lợi ích và dễ bị ách tắc do nhận thức khác nhau về những vấn đề đã được định hướng trong Nghị quyết 49/NQ Nhiều năm qua, Quốc hội đã ban hành nhiều luật, bộ luật, pháp lệnh quan trọng về lĩnh vực tư pháp, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp như đã sửa đổi: Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, ban hành Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công chứng, Luật Tương trợ

tư pháp, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thi hành án dân sự, Luật Lý lịch tư pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự Quốc hội cũng

đã phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ

Trên cơ sở các quy định của các bộ luật, luật, pháp lệnh, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; kịp thời đấu tranh phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; tích cực giải quyết các vụ án dân sự, hành chính và thi hành án, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực sự tạo niềm tin của nhân dân trong việc, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, bảo vệ quyền con người, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác

Hai là, Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện phương tiện làm việc; trong đó, xác định Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; xã hội hoá mạnh mẽ hoạt động bổ trợ tư pháp

Trang 35

Với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, mọi công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, hướng tới xã hội dân chủ kỷ cương, hạn chế các tiêu cực của xã hội, tạo sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.Việt Nam đã xây dựng được nền tư pháp trong sạch, vững mạnh,tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp

lý, khoa học và hiện đại,từng bước được kiện toàn và xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ Xác định tiến hành cải cách ở khâu then chốt đó là cải cách

tổ chức Toà án,Tòa án là trung tâm và có sự phân công rõ về quyền lực: chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp; Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp; tòa án nhân dân là cơ quan xét xử và thực hiện quyền tư pháp; còn Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố kiểm sát hoạt động tư pháp Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử và thực hiện quyền

tư pháp được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh

bạch và văn minh, theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền Việc xét xử của

Tòa án được minh bạch hơn, Tòa án ra phán quyết dựa trên xem xét chứng cứ

và Xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp liên quan đến lĩnh vực luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, giám định tư pháp, bán đấu giá tài sản, thừa phát lại, quản tài viên và một số hoạt động khác Hoạt động này có nhiều lĩnh vực,cần phân chia thành từng nhóm để xác định hướng đi phù hợp với từng lĩnh vực, xác định được đúng lộ trình trong quá trình xã hội hóa các nghề bổ trợ phù hợp với CCTP, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực này, kiên quyết xử lý những sai phạm bằng các công cụ mà pháp luật quy định như kiểm tra, thu hồi giấy phép, Để quản lý công tác bổ trợ tư pháp đáp ứng yêu cầu CCTP trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi Nhà nước cần hoàn thiện

hệ thống pháp luật về công tác bổ trợ tư pháp như:xây dựng các văn bản hướng dẫn triển khai Luật Đấu giá tài sản, sửa đổi Luật Giám định tư pháp, nhanh chóng xây dựng và ban hành Nghị định về thừa phát lại đồng hành cùng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, phục vụ người dân và doanh nghiệp

Trang 36

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ

có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hoá tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ; tiến tới thực hiện chế độ thi tuyển đối với một số chức danh

Định hướng này rất quan trọng vì đối với bất kỳ cơ quan nào,công tác cán bộ là công tác then chốt, cán bộ có tốt về mọi mặt mới có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, ngược lại cán bộ không tốt chẳng những không hoàn thành nhiệm vụ còn làm giảm uy tín của cơ quan, làm mất lòng tin của nhân dân Các cơ quan tư pháp trên cơ sở các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ, chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp gắn với tiêu chuẩn, chức danh, bảo đảm đáp ứng trình độ chuyên môn, năng lực và phẩm chất chính trị Khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để cán bộ, công chức tư pháp, bổ trợ tư pháp tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ hoạt động chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của công tác cải cách tư pháp trong giai đoạn mới Nghị quyết 48-NQ/TW, có nêu một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp,trong đó xác định đổi mới công tác đào tạo cán bộ chức danh tư pháp theo hướng: cán bộ

có chức danh tư pháp phải có trình độ đại học luật và được đào tạo về kỹ năng nghề nghiệp tư pháp theo chức danh; Nâng cao tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức và nghề nghiệp chuyên môn của các cán bộ tư pháp Nghiên cứu tiến tới thực hiện việc thi sát hạch trước khi bổ nhiệm và quy định thời hạn bổ nhiệm các cán bộ có chức danh tư pháp;Rà soát lại đội ngũ cán bộ tư pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh

Bốn là, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, của công luận và của nhân dân đối với hoạt

động tư pháp

Với yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng về công

Trang 37

tác cán bộ của Tòa án nhân dân, Nghị quyết số 49 –NQ/TW đã nêu rõ: "Xác

định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các

cơ quan tư pháp Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân" [8] Do vậy, trong quá trình thực hiện Chiến lược cải cách

tư pháp cần phải coi trọng đổi mới tổ chức, hoạt động của Tòa án, coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhất phải được ưu tiên hàng đầu Trong những năm qua, chủ trương này chưa có được sự quan tâm thực hiện đúng mức Vị trí, vai trò của Tòa án chưa được đặt đúng tầm trong bộ máy của Nhà nước, vị thế của Chánh án và Thẩm phán chưa được đề cao trong xã hội Trong bộ máy nhà nước Chánh án Tòa án các địa phương thường có một vị trí khá khiêm tốn, chỉ tương đương với các Giám đốc sở, ban, ngành cùng cấp Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân chưa được cải thiện đáng kể và đang phải đối mặt với những thách thức về nguy cơ lạm quyền từ phía các cơ quan công quyền và những người có thẩm quyền trong thi hành công vụ; lòng tin của người dân vào công

lý, sự công bằng xã hội bị giảm sút

Cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp:

Đổi mới, nâng cao chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp tại các kỳ họp Quốc hội, hội đồng nhân dân Quốc hội và hội đồng nhân dân nên có nghị quyết riêng về hoạt động tư pháp sau khi nghe báo cáo và trả lời chất vấn Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là của lãnh đạo các cơ quan tư pháp… Phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với hoạt động tư pháp… Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên tập trung làm tốt công tác động viên nhân dân phát hiện những hạn chế, khuyết điểm trong hoạt động tư pháp, qua đó kiến nghị với các cơ quan tư

Trang 38

pháp khắc phục, sửa chữa Tăng cường vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, cung cấp thông tin về hoạt động tư pháp [8]

Sự lãnh đạo toàn diện và chặt chẽ của Đảng đối với các cơ quan tư pháp là yêu cầu khách quan và cần thiết để bảo đảm cho các cơ quan tư pháp thể hiện bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tư pháp thực hiện đúng quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước Trên cơ sở các quan điểm của Đảng, Nhà nước thể chế hóa thành các quy định pháp luật, làm cơ sở pháp lý cho việc kiện toàn, đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, bảo đảm cho các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Đồng thời, Đảng lãnh đạo các cơ quan tư pháp thông qua công tác tổ chức, quản lý đội ngũ cán bộ, qua

công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

1.2.2.2 Mục đích của cách tư pháp

Để CCTP đạt hiệu quả cao Đảng và Nhà nước đề ra mục tiêu cải cách đồng bộ đối với cải cách lập pháp và cải cách hành pháp Nghị quyết số 49-

NQ/TW xác định phương châm: "Cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu

phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; gắn với đổi mới công tác lập pháp, cải cách hành chính" [8] Như vậy, Ðảng

ta đã đặt ra yêu cầu hết sức rõ ràng, chuẩn định về mối liên hệ giữa ba nhánh quyền lực và đương nhiên là cả ba hoạt động cải cách Cải cách lập pháp không thể hiệu quả nếu không cải cách hành pháp,hành chính và cải cách tư pháp và ngược lại

Như vậy mục đích của CCTP là “Xây dựng nền tư pháp trong sạch,

Trang 39

vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý từng bước hiện đại, phục

vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”, trong quá trình thực hiện cải cách muốn đạt được hiệu lực, hiệu quả đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải thực hiện cải cách đồng bộ của 3 cơ quan quyền lực nhà nước, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan

thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp "Thực hiện đồng bộ cải

cách hành chính với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp" [9, tr.2], đã thể chế

hóa và thực hiện theo Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8-11-2011 của Chính phủ ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 với nhiều mục tiêu quan trọng nhằm cải thiện và đổi mới mạnh mẽ nền hành chính Việt Nam gần dân, vì dân

1.2.3 Những nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp

Một là, Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp

Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hương chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm Khắc phục tình trạng hình sự hóa quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế

Trang 40

Thực hiện chủ trương, đường lối của Ðảng, sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW, công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã đạt những kết quả quan trọng, Nhà nước đã ban hành: 257 luật, pháp lệnh; 3.169 nghị định của Chính phủ; 1.566 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và hàng nghìn thông tư, thông tư liên tịch, nghị quyết, quyết định, chỉ thị của các bộ, ban, ngành, Công an, TAND tối cao, Viện KSND tối cao đã được ban hành [3] Hệ thống pháp luật đã cơ bản được hoàn thiện về cả nội dung, hình thức, số lượng và chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, điều chỉnh phần lớn các quan hệ cơ bản của đời sống xã hội Theo Báo cáo của Ban chỉ đạo Cải cách

tư pháp trung ương, từ tháng 6-2005 đến tháng 6-2013, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành mới và sửa đổi, bổ sung 63 luật, pháp lệnh, nghị quyết về các lĩnh vực hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp và tổ chức, hoạt động của cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp [2]

Hai là, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân

Hiến pháp 2013 và Luật TCTAND năm 2014 quy định cơ cấu tổ chức của TA phù hợp với thực tiễn đổi mới và hội nhập của đất nước trong giai đoạn hiện nay TAND gồm: TANDTC, TAND cấp cao, TAND tỉnh, TP trực thuộc trung ương, TAND huyện (tương đương) và TA quân sự Đổi mới tổ chức Tòa

án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn với đội ngũ thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành.Đổi mới việc

tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp.Yêu cầu của việc phân định thẩm quyền cho mỗi cấp Toà án là phải đảm bảo nâng cao chất

Ngày đăng: 06/07/2022, 14:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1992), Văn kiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, ngày 26-6- 1992, “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, ngày 26-6-1992, “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 1992
2. Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp trung ương (2013), Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện công tác cải cách theo Nghị quyết số 49-31, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện công tác cải cách theo Nghị quyết số 49-31
Tác giả: Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp trung ương
Năm: 2013
3. Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp trung ương (2015), Báo cáo của Ban chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW-31, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW-31
Tác giả: Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp trung ương
Năm: 2015
4. Báo Công lý điện tử (2016), Đề xuất bổ sung Thẩm phán cho các Tòa án, nguồn báo Công lý điện tử ngày 27/4/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất bổ sung Thẩm phán cho các Tòa án
Tác giả: Báo Công lý điện tử
Năm: 2016
5. Trần Thị Thanh Bình (2014), Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
Tác giả: Trần Thị Thanh Bình
Năm: 2014
7. Bộ chính trị (2002), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2002
8. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2005
9. Bộ chính trị (2007), Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 1-8-2007 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành T.Ư Ðảng (khóa X) về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 1-8-2007 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành T.Ư Ðảng (khóa X) về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2007
10. Bộ chính trị (2014), Kế hoạch số 79/KH-BCSĐ ngày 08/4/2014 ngày 02/6/2005 về tiếp tục thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và các kế hoạch, chương trình làm việc của Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp trung ương của các Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 79/KH-BCSĐ ngày 08/4/2014 ngày 02/6/2005 về tiếp tục thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và các kế hoạch, chương trình làm việc của Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp trung ương của các Tòa án nhân dân
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2014
13. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (2008), Quyết định 1138/QĐ-TCCB ngày 22/8/2008 về phân cấp quản lý cán bộ TAND địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 1138/QĐ-TCCB ngày 22/8/2008 về phân cấp quản lý cán bộ TAND địa phương
Tác giả: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2008
14. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (2016), Báo cáo công tác của Chánh án TANDTC nhiệm kỳ 2011-2016: Phản ánh đầy đủ tình hình thực hiện nhiệm vụ của Tòa án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác của Chánh án TANDTC nhiệm kỳ 2011-2016: Phản ánh đầy đủ tình hình thực hiện nhiệm vụ của Tòa án
Tác giả: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2016
15. Chính phủ (2011), Nghị quyết số 30C/NQ-CP ngày 08-11-2011 tổng thể cải cách hành chính của nước ta, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 30C/NQ-CP ngày 08-11-2011 tổng thể cải cách hành chính của nước ta
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
19. Lê Xuân Hoàng (2011), Tòa án nhân dân trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền, Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Xuân Hoàng
Năm: 2011
20. Quốc Hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2013
22. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2014, 2015, 2016), Báo cáo tổng kết của TAND tỉnh Thanh Hóa các năm 2014, 2015, 2016, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết của TAND tỉnh Thanh Hóa các năm 2014, 2015, 2016
23. TAND tỉnh Thanh Hóa (2015), Báo cáo 10 năm thực hiện cải cách tư pháp của TAND tỉnh Thanh Hóa (2005-2015), Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo 10 năm thực hiện cải cách tư pháp của TAND tỉnh Thanh Hóa (2005-2015)
Tác giả: TAND tỉnh Thanh Hóa
Năm: 2015
25. Tòa án nhân dân tối cao (2011), Công văn số 398/TCCB ngày 21/7/2011 của Chánh án TAND TC về việc Báo cáo công tác tổ chức cán bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 398/TCCB ngày 21/7/2011 của Chánh án TAND TC về việc Báo cáo công tác tổ chức cán bộ
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2011
26. Tòa án nhân dân tối cao (2011), Kế hoạch số 335/KH-TANDTC ngày 29/12/2011 về Tiếp tục triển khai thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong ngành TAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 335/KH-TANDTC ngày 29/12/2011 về Tiếp tục triển khai thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong ngành TAND
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w