Xuất phát từ những lý do trên người viết đã chọn đề tài “Pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thực tiễn thi hành tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn”
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NÔNG THỊ PHƢỢNG
PH¸P LUËT VÒ QU¶N Lý THUÕ XUÊT KHÈU, THUÕ NHËP KHÈU
Vµ THùC TIÔN THI HµNH T¹I CHI CôC H¶I QUAN CöA KHÈU H÷U NGHÞ - TØNH L¹NG S¥N
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NÔNG THỊ PHƯỢNG
PH¸P LUËT VÒ QU¶N Lý THUÕ XUÊT KHÈU, THUÕ NHËP KHÈU
Vµ THùC TIÔN THI HµNH T¹I CHI CôC H¶I QUAN CöA KHÈU H÷U NGHÞ - TØNH L¹NG S¥N
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÊ THỊ THU THỦY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nông Thị Phƣợng
Trang 4XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU 6 1.1 Khái quát chung về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 6
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 6 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu 21 1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu 22 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT
KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU HỮU NGHỊ - TỈNH LẠNG SƠN 26
Trang 52.1 Thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu ở Việt Nam 26
2.1.1 Chủ thể thực hiện quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 26 2.1.2 Đối tượng quản lý trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 28 2.1.3 Thực trạng pháp luật về thủ tục hành chính thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu 30 2.1.4 Thực trạng pháp luật về thanh tra, kiểm tra và các biện pháp
đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 48
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn 60
2.2.1 Khái quát về chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn 60 2.2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn 63 2.2.3 Đánh giá chung 85 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 89
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU HỮU NGHỊ - TỈNH LẠNG SƠN 90 3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật quản lý thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu 90
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
cần phải khắc phục được những bất cập của pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 90 3.1.2 Đảm bảo phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách của Nhà
nước về xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế trong bối cảnh cải cách hệ thống thuế hiện nay 91
Trang 63.1.3 Hoàn thiện pháp luật về quản lý thuê xuất khẩu, thuế nhập khẩu
đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế 92
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam 93
3.2.1 Hoàn thiện quy định về khai thuế 93
3.2.2 Hoàn thiện quy định về ấn định thuế 94
3.2.3 Hoàn thiện quy định về nộp thuế 96
3.2.4 Hoàn thiện quy định về xoá nợ tiền thuế, tiền phạt 96
3.2.5 Hoàn thiện quy định về quản lý thông tin người nộp thuế 97
3.2.6 Hoàn thiện quy định về thanh tra, kiểm tra thuế 98
3.2.7 Hoàn thiện quy định về cơ chế kiểm soát và chế tài xử phạt 99
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn 99
3.3.1 Hoàn thiện công tác quản lý đối tượng nộp thuế 99
3.3.2 Tăng cường chống gian lận qua căn cứ tính TXK, TNK 101
3.3.3 Tăng cường công tác quản lý nợ thuế 101
3.3.4 Tăng cường công tác chống gian lận thương mại, kiểm tra sau thông quan, thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ tại chi cục 102
3.3.5 Tăng cường công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin cho người khai hải quan, người nộp thuế 103
3.3.6 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Hải quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới 106
3.3.7 Xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế 107
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 109
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCC: Cán bộ công chức
DN: Doanh nghiệp
NSNN: Ngân sách nhà nước
TXK, TNK: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
VCIS: Hệ thống thông tin tình báo Hải quan Việt Nam VNACCS: Hệ thống thông quan hàng hóa tự động
XK, NK: Xuất khẩu, nhập khẩu
XNK: Xuất nhập khẩu
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Thống kê số liệu giai đoạn 2010 - 2016 64 Bảng 2.2 Tình hình vi phạm pháp luật giai đoạn 2010 – 2016 68 Bảng 2.3 Số lƣợng DN làm thủ tục hải quan và tờ khai XNK
đăng kí tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị giai
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thuế là một hiện tượng tất yếu, xuất hiện và tồn tại cùng với các hiện tượng kinh tế - xã hội khác Sự xuất hiện và phát triển của thuế gắn với mỗi giai đoạn, lợi ích mà nhà nước sử dụng nó là công cụ điều tiết nguồn thu của nền kinh tế, xã hội Ở nước ta, nguồn thu từ thuế giữ vai trò rất quan trọng, thuế trở thành công cụ hiệu quả để điều tiết hiệu quả nền sản xuất trong nước, đồng thời thúc đẩy kinh tế trong nước và thương mại quốc tế phát triển
Thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, nước ta đã từng bước chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Ngày nay, khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cũng như tham gia đàm phán và kí kết nhiều hiệp định đa phương và hiệp định song phương với nhiều quốc gia như: Trung Quốc, Hoa Kì, Hàn Quốc, Nhật Bản…, và gần đây nhất Việt Nam
đã chính thức gia nhập hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TTP) vào ngày 4/2/2016 sau hơn 5 năm nỗ lực đám phán Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng mang lại nhiều thách thức cho các quốc gia, đặc biệt là quốc gia đang phát triển như Việt Nam Đặc biệt trong lĩnh vực thuế quan Đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thuế là một vấn đề quan trọng, thuế trong hoạt động xuất, nhập khẩu là nguồn thu luôn giữ một tỷ lệ khá lớn vào ngân sách nhà nước Việc thực hiện các cam kết quốc tế buộc chúng ta phải cắt giảm thuế quan đã ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu từ thuế Vấn đề giảm thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan nhưng vẫn bảo đảm nguồn thu từ thuế xuất, nhập khẩu là một khó khăn rất đối với ngành Hải quan Cùng với đó là hoạt động lưu thông hàng hóa ngày càng đa dạng và phong phú với số lượng tăng lên nhanh chóng trong hoạt động xuất, nhập khẩu lại càng thêm gánh nặng lớn hơn nữa cho ngành
Trang 10Hải quan Tuy nhiên, thuế lại là một vấn đề nhạy cảm và thường gây ra sự phản ứng đối với người nộp thuế, để thu thuế hiệu quả và đảm bảo tính công bằng cũng như phù hợp với nguyện vọng của người nộp thuế là vấn đề gặp nhiều khó khăn hiện nay Để công tác quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày càng được nâng cao và có hiệu quả Luật quản lý thuế đã được Quốc hội khóa XI kì họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, được sửa đổi, bổ sung vào ngày 20/11/2012, và gần đây nhất là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế vào ngày 06/4/2016 Luật quản lý thuế ra đời nhìn chung đã giúp cho công tác quản lý thuế được thực hiện một cách dễ dàng hơn, các quy định pháp luật không còn rời rạc, gây chồng chéo trong nhiều văn bản pháp luật như trước đây Nhìn chung, trong những năm qua hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu đã đạt được những kết quả và thành tựu đáng kể, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số tồn đọng như: trình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế, gian lận thương mại còn phổ biến gây khó khăn không nhỏ cho ngành Hải quan nói riêng và các cơ quan thực hiện công tác quản lý thuế trong hoạt động xuất, nhập khẩu nói chung
Chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu nghị là một cầu nối quan trọng trong phát triển kinh tế giữa Việt Nam - Trung Quốc với chức năng thực hiện quản lý hoạt động xuất, nhập khẩu giữa hai nước Trong những năm qua, chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị đã có những đóng góp lớn cho hoạt động xuất, nhập khẩu, là một trong những đơn vị đóng góp một số lượng lớn tiền thuế vào ngân sách nhà nước Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý thuế của chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị cũng gặp phải những khó khăn và vướng mắc cần giải quyết kịp thời Với lượng hàng hóa lưu thông qua cửa khẩu ngày càng tăng như hiện nay và chủng loại ngày càng đa dạng cùng với các hình thức gian lận ngày càng tinh vi, phức tạp ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý thuế trong hoạt động xuất, nhập khẩu tại chi cục Vậy nên, các quy định pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được chi cục, ngành Hải quan và nhà nước rất quan tâm
Trang 11Xuất phát từ những lý do trên người viết đã chọn đề tài “Pháp luật về
quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thực tiễn thi hành tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn” với mong muốn góp phần
hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về quản lý thuế, nhằm đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn, đặc biệt là giai đoạn đất nước ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay phần lớn các công trình nghiên cứu liên quan đến thuế xuất, nhập khẩu đều nhìn nhận từ góc độ kinh tế là chủ yếu, chưa có nhiều các công trình nghiên cứu từ giác độ luật học Một số luận văn, luận án đề cập đến
vấn đề này như: luận án tiến sĩ kinh tế “Các giải pháp tăng cường quản lý
thuế xuất nhập khẩu trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Danh Hưng, năm 2004 hay luận án tiến sĩ kinh tế “Giải pháp
chống thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Mai Thị Vân Anh, năm 2015 Trong lĩnh vực luật
học, cũng có công trình nghiên cứu được đề cập đến vấn đề này như luận văn
thạc sĩ luật học của tác giả Ngô Khánh Phượng, năm 2011 “Pháp luật về
quản lý thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO”
và luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh, năm 2010
“Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” Những công trình nghiên cứu trên đã hệ thống
hóa những vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn có liên quan đến công tác hải quan, công tác thuế… Các đề tài đã có những đóng góp nhất định trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật và phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước đối với thuế xuất, nhập khẩu Qua các công trình nghiên cứu trên luận văn sẽ nghiên cứu một cách đầy đủ hơn về mặt lý luận cũng như thực trạng áp dụng các quy định pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, từ đó nêu ra bất cập và nguyên nhân để đề ra các giải pháp
Trang 12phù hợp nhất nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế của cơ quan nhà nước nói chung và của chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu có hệ thống các vấn
đề lý luận và thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
và thực tiễn thi hành vấn đề này tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị, để
từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và nâng cao hiệu quả thực thi tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị
Để đáp ứng được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có các nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật quản
lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
- Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị
- Tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, đồng thời tìm hiểu nguyên nhân của những khó khăn đó
- Đưa ra một số kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại chi cục Hải quan của khẩu Hữu Nghị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thi hành pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Trang 13Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những quy định pháp luật hiện hành của cơ quan nhà nước đối với hoạt động quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam Ngoài ra, luận văn còn đề cập cụ thể về thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin để nghiên cứu sâu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về pháp luật quản lý thuế xuất nhập khẩu và công tác quản lý thuế đó trong mối quan hệ thúc đẩy ngoại thương, phát triển kinh tế, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Bên cạnh đó trong quá trình nghiên cứu người viết còn sử dụng đồng bộ các phương pháp khoa học như: phương pháp phân tích, phương pháp logic, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp đối chiếu, phương pháp so sánh, phương pháp chứng minh,…v.v để làm rõ các nội dung nghiên cứu của đề tài và rút ra nhưng kết luận, đề xuất phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn chia làm 3 phần:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu ở Việt Nam và thực tiễn thi hành tại chi cục Hải quan của khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả quản lý thuế tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ
XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU
1.1 Khái quát chung về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1.1.1.1 Sự cần thiết phải thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thuế là một khoản tiền do các cá nhân, tổ chức nộp cho nhà nước để góp phần chia sẻ gánh nặng chi tiêu với nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu (TNK, TXK) là một loại thuế có vai trò và ý nghĩa thiết thực, không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách mà quan trọng hơn, nó là công cụ hữu hiệu trong tay nhà nước để kiểm soát hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại của chính phủ trong từng thời kỳ Ngày nay, cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang từng bước ảnh hưởng đến tình trạng TXK, TNK theo hướng hạn chế vai trò của loại thuế này, tuy nhiên về cơ bản, TXK, TNK vẫn sẽ là giải pháp quản lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước, nhất là đối với quốc gia đang trong quá trình từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường như Việt Nam hiện nay [31]
TXK, TNK là công cụ rất quan trọng để nhà nước thực hiện chính sách kinh tế của mình, quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu (XK, NK); mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; nâng cao hiệu quả của hoạt động XK, NK Căn cứ vào từng giai đoạn lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước
mà thuế quan được sử dụng với nhiều mục tiêu khác nhau, nên sự cần thiết phải đánh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Trang 15Thứ nhất, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tạo nguồn thu quan trọng cho
ngân sách nhà nước (NSNN) Mục tiêu chung của các quốc gia là sử dụng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (TXK, TNK) để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Ðồng thời thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế dễ thu nhất,
ít bị phản ứng từ phía các DN, cá nhân có thực hiện hoạt động XK, NK hàng hóa Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay Việt Nam tham gia kí kết các hiệp định về cắt giảm thuế quan thì TXK, TNK cũng bị giảm dần theo lộ trình cắt giảm thuế quan Điều này cũng làm giảm nguồn thu cho NSNN
Thứ hai, thông qua thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhà nước điều tiết
việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cấu thành trong giá cả hàng hoá, làm tăng giá hàng hoá, do đó có tác dụng điều tiết xuất khẩu, nhập khẩu (XK, NK) và hướng dẫn tiêu dùng; bởi vì lượng hàng hoá xuất khẩu hay nhập khẩu phụ thuộc vào sức tiêu thụ hàng hoá, yếu
tố này lại phụ thuộc vào giá cả Giá cả hàng hoá cao hay thấp sẽ quyết định việc giảm hoặc tăng sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị trường Hơn nữa, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sẽ hạn chế việc tiêu dùng hàng hoá xa xỉ hoặc các loại hàng hoá không được khuyến khích sử dụng như thuốc lá, rượu, bia
Thứ ba, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng bảo hộ nền sản
xuất trong nước: việc đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu sẽ giúp các nhà sản xuất trong nước có thể cạnh tranh được với hàng hoá nhập khẩu Ðặc biệt thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành còn non trẻ trong nước có thời gian “trưởng thành” và sinh lời để từ đó có thể cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu
Thứ tư, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng giảm bớt nạn thất
nghiệp vì việc đánh thuế nhập khẩu cao thì hàng hoá nhập khẩu sẽ giảm; để
bù vào lượng hàng hoá nhập khẩu đó nhà nước ta phải mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động từ đó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp trong nước
Trang 161.1.1.2 Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế tương đối đặc trưng trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu gắn liền với hoạt động ngoại thương và trở thành những một trong những công cụ, những nhân tố cấu thành nên chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước
Cho đến nay, khái niệm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chưa được quy định tại bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào của Việt Nam từ khi luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch 1987 ra đời, sau đó Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1992 được ban hành và sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1993,1998, 2005 và đến nay Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 được ban hành cũng không đưa ra định nghĩa nào về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà cũng chỉ quy định đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cụ thể tại Điều 2 bao gồm:
1 Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam;
2 Hàng hóa xuất khẩu từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan, hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước;
3 Hàng hóa xuất khẩu , nhập khẩu tại chỗ và hàng hóa xuất khẩu, nhâ ̣p khẩu của doanh nghiệp thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, quyền phân phối [25, Điều 2]
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận
Xét về phương diện kinh tế, thuế XK, thuế NK được quan niệm là khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi XK, NK hàng hóa qua biên giới một nước Với các tiếp cận này, thuế XK, thuế NK được quan niệm như là một quan hệ
Trang 17phân phối các nguồn lực tài chính, phát sinh giữa các chủ thể là tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là Nhà nước Hơn nữa, thuế XK,NK còn có thể được hiểu như là đòn bẩy kinh tế hay biện pháp kinh tế để Nhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi mỗi quốc gia
và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi khu vực
và toàn cầu [31, tr.58]
Dưới góc độ pháp lý, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là khoản thu được ghi nhận trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do Quốc hội ban hành, được tổ chức thu bởi cơ quan Hải quan và được đảm bảo cưỡng chế thực hiện [18, tr.179]
Theo từ điển luật học thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do hải quan
của một nước thu đối với hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu khi vận chuyển qua cửa khẩu của nước đó [20, tr 740]
Từ những nghiên cứu và quan niệm trên về thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu ta có thể hiểu khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như sau: Thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
1.1.1.3 Đặc điểm của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển, và cũng mang đặc điểm của thuế nói chung:
Tính bắt buộc: tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để
phân biệt giữa thuế với các hình động viên tài chính khác của NSNN Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phân thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những
Trang 18quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân hoặc doanh nghiệp, các tổ chức khác trong nền kinh tế
Thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp: tính chất không
hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước
Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao: được quyết định bởi
cơ quan quyền lực chính trị của nhà nước và được thể hiện bằng pháp luật
Bên cạnh những đặc điểm chung đó thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng mang những đặc điểm riêng nhất định:
Một là, TXK, TNK là loại thuế đánh vào hàng hóa được phép vận
chuyển qua biên giới Cụ thể là TXK đánh vào hàng hóa sản xuất trong nước đưa ra nước ngoài, còn TNK là thuế đánh vào hàng hóa đươc phép vận chuyển qua biên giới từ nước ngoài vào nội địa hoặc là từ khu phi quan thuế nằm trong lãnh thổ quốc gia vào thị trường nội địa Đối tượng XK,NK là hàng hóa tiêu dùng hoặc tư liệu sản xuất
Hai là, chủ thể XK và NK hàng hóa có thể nhằm mục đích tiêu dùng
hoặc kinh doanh Tùy thuộc vào mục đích XK, NK mà có sự phân biệt chủ thể nộp thuế và chủ thể chịu thuế Đối với cá nhân trực tiếp nhập khẩu cho tiêu dùng thì cá nhân vừa là người nộp thuế, vừa là người chịu thuế, đối với các cá nhân doanh nghiệp NK nhằm mục đích kinh doanh thì cá nhân, doanh nghiệp đó là người nộp thuế, còn người chịu thuế là người tiêu dùng
Ba là, TXK,TNK được tổ chức thu bởi Cơ quan Hải quan, cơ quan này
cũng đồng thời là cơ quan tổ chức cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cùng với các cơ quan có thẩm quyền khác [18, tr 180, 181]
Bốn là, TXK,TNK bị chi phối bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố hội nhập
kinh tế quốc tế của quốc gia.TXK, TNK thay đổi theo từng giai đoạn, khi chính
Trang 19sách của nhà nước thay đổi và hội nhập với nền kinh tế thế giới chính sách TXK, TNK cũng phải thay đổi cho phù hợp với từng thời kì nhất định
1.1.1.4 Phân loại thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Ta có thể phân loại TXK, TNK theo nhiều tiêu chí khác nhau như: theo
xu hướng vận động của hàng hóa, dựa trên mục đích đánh thuế, dựa trên cách thức đánh thuế, cụ thể như sau:
Phân loại thuế theo xu hướng vận động của hàng hóa: Thường phổ
biến dưới ba hình thức đó là: xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, chuyển khẩu Gắn liền với ba hình thức này có ba loại thuế: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế quá cảnh, mượn đường, thuế chuyển khẩu Trong đó:
Thuế xuất khẩu: là loại thuế đánh vào hàng hóa được phép xuất khẩu từ thị trường trong nước ra nước ngoài hoặc vào khu chế xuất
Thuế nhập khẩu: là loại thuế đánh vào hàng hóa được phép nhập khẩu
từ nước ngoài vào thị trường trong nước hoặc từ khu chế xuất vào thị trường nội địa, khu phi thuế quan
Thuế quá cảnh, mượn đường, chuyển khẩu: là loại thuế đánh vào hàng hóa được phép đi qua một vùng lãnh thổ, một khu vực thương mại tự do này tới một quốc gia, một vùng lãnh thổ hoặc một khu vực thương mại tự do khác
Phân loại thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu dựa trên mục đích đánh thuế:
Thuế xuất, nhập khẩu để tạo nguồn thu cho NSNN: loại thuế này thường dựa trên nhu cầu của xã hội và mức cung của sản xuất để đánh thuế Thông thường người ta thường đánh thuế với mức thuế suất cao đối với các mặt hàng nhập khẩu mà trong nước có nhu cầu cao hoặc các mặt hàng xuất khẩu mà thế giới có nhu cầu cao nhưng lượng cung còn thấp để tạo nguồn thu cho NSNN
Thuế xuất khẩu để bảo hộ nền sản xuất trong nước: loại này thường được quy định có lựa chọn theo khả năng, định hướng phát triển sản xuất theo hướng có lợi cho mỗi quốc gia Bảo hộ tạm thời bằng thuế quan để cho các
Trang 20ngành sản xuất còn non trẻ có đủ điều kiện và tiềm năng để phát triển, đủ sức cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu
Thuế xuất, nhập khẩu để tự vệ: biện pháp này đước áp dụng đối với một loại hàng hóa nhất định được nhập khẩu quá mức vào thị trường nội địa nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước
Ranh giới giữa thuế quan tạo nguồn thu ngân sách và thuế quan bảo hộ
là khá mỏng manh và nhiều khi không thể phân biệt được Thuế quan tăng thu ngân sách thuần túy chỉ có thể có khi quốc gia đó không có bất kỳ cơ sở sản xuất, gia công, chế biến nào có liên quan đến mặt hàng nhập khẩu đó Ngoài trường hợp này ra thì các loại thuế quan tăng thu ngân sách không nhiều thì ít đều có tính chất bảo hộ cho sản xuất trong nước, ngoài chức năng tăng thu cho ngân sách, nhưng tính chất bảo hộ không rõ nét như ở thuế quan bảo hộ
Phân loại trên cách thức đánh thuế: Để đánh thuế đối với hàng hóa
xuất, nhập khẩu chúng ta có thể căn cứ vào trị giá hoặc dựa vào đơn vị tính của hàng hóa Trên cơ sở này có các loại thuế xuất, nhập khẩu sau:
Thuế xuất, nhập khẩu tuyệt đối: loại thuế này ghi rõ một số tiền thuế nhất định cho mỗi đơn vị tính của hàng hóa xuất, nhập khẩu, không phân biệt chủng loại, giá trị của hàng hóa
Thuế xuất nhập khẩu theo tỷ lệ %: đây là loại thuế tính theo tỷ lệ %trên giá trị hàng hóa xuất, nhập khẩu thực tế của mỗi đơn vị hàng hóa xuất, nhập khẩu
Thuế xuất, nhập khẩu hỗn hợp: là trường hợp áp dụng kết hợp đồng thời cả hai loại thuế xuất, nhập khẩu tuyệt đối và thuế xuất, nhập khẩu theo tỷ
lệ % đối với cùng một chủng loại hàng hóa
Thuế xuất, nhập khẩu theo lượng thay thế: là trường hợp một mặt hàng được quy định đồng thời theo tỷ lệ % và thuế theo một số tiền tuyệt đối, nhưng khi tính và nộp thuế phải tính và nộp theo số thuế này cao hơn
Thuế xuất, nhập khẩu biến thiên: sắc thuế này thường được ấn định ở
Trang 21một mức, nhằm triệt tiêu ưu thế về giá cả của nước xuất khẩu đối với hàng hóa sản xuất trong nước Loại thuế nhập khẩu kiểu này được các nước trong khối Liên minh châu Âu (EU) áp dụng đối với các sản phẩm nông nghiệp
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Để tiếp cận khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trước hết
ta cần tiếp cận từ khái niệm quản lý
Theo từ điển Tiếng Việt, quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định” [20]
Theo từ điển pháp luật, quản lý là tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định Trong đời sống xã hội, quản lý xuất hiện khi có hoạt động chung của con người Quản lý điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước [36, tr 633]
Cũng như quan niệm về thuế, quản lý thuế có nhiều cách tiếp cận khác nhau Tổng cục thuế Latvia cho rằng “quản lý thuế là một hệ thống những quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm mục tiêu đảm bảo thu thuế đúng,
đủ và công bằng trên cơ sở quy định của pháp luật thuế, bao gồm các hoạt động thu nhận hồ sơ khai thuế, tính toán số thuế phải nộp, đôn đốc thu nộp thuế và cung cấp dịch vụ tư vấn cho người nộp thuế”
Theo Giáo trình Quản lý tài chính Nhà nước thì quản lý thuế là “…những biện pháp tác nghiệp của cơ quan thuế thực hiện trong quá trình thu thuế” [14, tr.95]
Theo giáo trình quản lý thuế thì “quản lý thuế là việc tổ chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước, tức là, quản lý thuế được hiểu là hoạt động tác động và điều hành của Nhà nước đối với hoạt động thực hiện nghĩa vụ thuế (kê khai, tính thuế, nộp thuế) của người nộp thuế” [33, tr 8]
Trang 22Theo giáo trình quản lý thuế (thuế 2) thì “quản lý thuế là khẩu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ phận trong cơ quan thuế, xác lập mối quan
hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế để ngày một nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả thu cho NSNN,góp phần khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao ý thức tự giác nộp thuế cho đối tượng nộp thuế và coi đó như là bổn phận trách nhiệm của đối tượng nộp thuế” [15, tr 3]
Từ các quan điểm trên ta có thể khái quát khái niệm quản lý thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu như sau: Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là
hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Cụ thể là việc cơ quan Hải quan tiến hành các hoạt động nhằm thu đúng, thu
đủ số tiền thuế theo quy định của luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà những tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp vào NSNN nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
So với các lĩnh vực quản lý khác, quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có những đặc điểm cơ bản sau:
- Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là quản lý bằng pháp luật
Toàn bộ hoạt động quản lý TXK, TNK được quy định chặt chẽ, rõ ràng trong khuôn khổ pháp luật Và được quy định chung trong luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và luật quản lý thuế Việc quy định như vậy nhằm tránh việc huy động tùy tiện mức đóng góp của các thành viên trong xã hội, đảm bảo công bằng và sự tuân thủ của mọi thành viên trong xã hội Như vậy hoạt động quản lý TXK, TNK mới thực sự có khả năng thực thi trong thực tiễn
- Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đặc biệt coi trọng phương
pháp hành chính
Phương pháp hành chính trong quản lý TXK, TNK là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh, là sự thiết lập mối quan hệ giữa con người, giữa cơ quan
Trang 23Hải quan với các tổ chức và cá nhân trong xã hội Quản lý TXK, TNK coi trọng phương pháp hành chính chính là coi trọng công việc văn thư, sổ sách
kế toán, bộ phận hành chính trong một cơ quan, cũng như biện pháp quyền lực trong quản lý thu thuế như: cưỡng chế,… đặc điểm này thể hiện tính pháp
lý thống nhất, chỉ huy và quyền lực của chủ thể quản lý TXK, TNK
- Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu xét ở tầm vi mô là hoạt động mang
tính kĩ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ Nghĩa là mọi hoạt động quản lý thu TXK, TNK,
thủ tục hành chính phải được thực hiện theo đúng quy trình cụ thể, chặt chẽ, rõ ràng
và được chuyên môn hóa, tiêu chuẩn hóa bằng các văn bản pháp luật mang tính thống nhất trên toàn quốc và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế [27, tr 7,8]
Như vậy, quản lý TXK, TNK là sự tác động của Nhà nước đến người nộp thuế dựa trên căn cứ pháp luật nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
1.1.2.2 Vai trò của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Quản lý TXK, TNK là nhiệm vụ của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền (cơ quan Hải quan) Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý TXK, TNK không chỉ đảm bảo sự vận hành thông suốt hệ thống cơ quan nhà nước, mà còn tác động tích cực tới quá trình thu, nộp thuế vào NSNN Vai trò của quản
lý TXK, TNK thể hiện như sau:
Thứ nhất, quản lý TXK, TNK có vai trò quyết định trong việc đảm bảo
nguồn thu từ TXK, TNK được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý thuế có hiệu quả, cũng như xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục về thuế hợp lý, đảm
bảo cho cơ quan Hải quan thu thuế đúng luật, đầy đủ và kịp thời vào NSNN
Thứ hai, thông qua hoạt động quản lý TXK, TNK góp phần hoàn thiện
chính sách và pháp luật TXK, TNK Những điểm còn bất cập trong chính sách và khiếm khuyết trong các luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu được phát hiện trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý TXK,
Trang 24TNK Trên cơ sở đó cơ quan điều hành thực hiện pháp luật đề xuất bổ sung,
sửa đổi luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Thứ ba, thông qua quản lý TXK, TNK Nhà nước thực hiện kiểm soát
và điều tiết hoạt động XK,NK hàng hóa của các tổ chức, cá nhân qua biên giới Việt Nam Theo quy định của pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu, người nộp thuế có trách nhiệm phải kê khai thuế Nội dung kê khai thuế là kê khai các hoạt động XK, NK hàng hóa có liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ TXK, TNK của người nộp thuế, tức là phải kê khai các hoạt động XK, NK hàng hóa của người nộp thuế, mặt khác, để quản lý TXK, TNK, cơ quan Hải quan phải tổ chức thu thập, năm bắt, lưu giữ thông tin về hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của người nộp thuế Như vậy có thể thấy, thông qua quản lý TXK, TNK, nhà nước đã thực hiện kiểm soát các hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của các tổ chức, cá nhân qua biên giới Việt Nam Từ việc kiểm soát hoạt động XK, NK hàng hóa này, nhà nước có thể có các chính sách quản lý phù hợp để điều tiết hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo định
hướng của nhà nước [33, tr 11]
1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Quản lý thuế là hoạt động thường xuyên của cơ quan thuế hướng tới đối tượng nộp thuế nhằm bảo đảm nguồn thu cho NSNN đầy đủ, kịp thời Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc tham gia vào quản lý thuế
Pháp luật quản lý TXK, TNK là bộ phận quan trọng trong pháp luật thuế mỗi quốc gia, là công cụ quản lý TXK, TNK Pháp luật quản lý TXK, TNK điều chỉnh quan hệ về đăng kí thuế, khai thuế, ấn định thuế, hoàn thuế, nộp thuế, miễn, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, quản lý thông tin người nộp thế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại về thuế
Trang 25Luật Quản lý thuế Việt Nam quy định việc quản lý đối với các loại thuế
và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế thu theo quy định của pháp luật Như vậy, Luật Quản lý thuế Việt Nam không chỉ điều chỉnh các quan hệ quản lý thuế của cơ quan thuế mà còn điều chỉnh các quan hệ quản lý thuế của cơ quan hải quan và các khoản thu do cơ quan hải quan thực hiện
Như vậy ta có thể hiểu: pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thực hiện với Nhà nước và các quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ này
1.2.2 Cấu trúc pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Xét về mặt lý thuyết, pháp luật thuế bao gồm: pháp luật vật chất hay còn gọi pháp luật nội dung và pháp luật thủ tục hay còn gọi pháp luật hình thức; trong đó pháp luật vật chất ghi nhận, phản ánh chính sách thuế, còn pháp luật thủ tục quy định các vấn đề về quản lý thuế [16, tr 51]
Xét từ phương diện hình thức, pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu gồm các văn bản quy phạm pháp luật như văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội và các văn bản dưới luật của Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, các Bộ… Còn xét về phương diện nội dung thì nội dung điều chỉnh của pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu điều chỉnh các vấn đề sau:
Điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan Hải quan và người nộp thuế trong thủ tục thực hiện thu, nộp thuế Khoản thuế phải nộp chỉ có thể được xác định khi người nộp thuế thực hiện các thủ tục để thiết lập quan hệ hành chính thuế Luật quản lý TXK, TNK điều chỉnh về thủ tục đăng kí thuế, kê khai thuế, nộp thuế
Điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan Hải quan và người nộp thuế trong xác
Trang 26định điều kiện đánh thuế, xác định khoản thuế phải nộp dựa trên các căn cứ tính thuế Các quy định điều chỉnh liên quan đến thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xóa tiền thuế, tiền phạt, ấn định thuế Đây là các quy định về thủ tục pháp
lý bảo vệ quyền của người nộp thuế dựa trên các căn cứ theo luật nội dung
Điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan Hải quan và người nộp thuế nhằm đảm bảo quản lý hành chính thuế Các nội dung điều chỉnh bao gồm: quản lý thông tin về người nộp thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành nghĩa vụ nộp thuế, xử lý vi phạm nhằm đảm bảo thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Cấu trúc pháp luật quản lý thuế được nghiên cứu theo hai phương diện cấu trúc nguồn và cấu trúc quy phạm pháp luật
Căn cứ vào nguồn của pháp luật quản lý thuế thì pháp luật quản lý thuế có cấu trúc sau:
Các quy phạm pháp luật quản lý thuế được quy định ở Luật quản lý thuế, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật hải quan, các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam tham gia và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Các quy phạm pháp luật này là các quy phạm pháp luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng trong quản lý thuế để thực hiện quản lý các loại thuế
Các quy phạm pháp luật quản lý thuế được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế Nhóm quy phạm pháp luật này có tính đặc thù được ưu tiên áp dụng để quản lý trong một loại thuế cụ thể mà không áp dụng
để quản lý các loại thuế khác
Các quy phạm pháp luật quản lý thuế được quy định trong các luật khác
có liên quan Các quy phạm pháp luật này được sử dụng khi các văn bản pháp luật quản lý thuế chuyên ngành không quy định cụ thể Chẳng hạn, các quy phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế sẽ
sử dụng các quy phạm trong văn bản pháp luật về khiếu nại, tố cáo chung
Trang 27Căn cứ vào cấu trúc quy phạm pháp luật quản lý thuế thì pháp luật quản lý thuế có thể sắp xếp theo cấu trúc sau:
Bộ phận quy phạm pháp luật quy định những vấn đề có tính nguyên tắc trong quản lý thuế như: Xác định phạm vi, đối tượng áp dụng pháp luật quản
lý thuế; các nguyên tắc trong quản lý thuế; quyền và nghĩa vụ cơ bản của người nộp thuế; quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế và những vấn đề có tính chất chung khác trong quản lý thuế
Bộ phận pháp luật quy định cụ thể về từng nội dung trong quản lý thuế như: Đăng kí thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử
lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và tổ chức hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý thuế Trong đó, mỗi nội dung quản lý pháp luật quản lý thuế quy định về quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể tham gia quan hệ và trình tự, thủ tục mà các chủ thể phải tuân theo khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ cụ thể đó như: thủ tục về kê khai thuế; nộp thuế; quyết toàn thuế; thủ tục hoàn thuế; miễn thuế; giảm thuế…
Căn cứ vào chức năng trong quản lý thuế và và biện pháp quản lý được
sử dụng, pháp luật quản lý thuế có thể chia thành:
Bộ phận pháp luật quản lý thuế sử dụng biện pháp mang tính hành chính, phục tùng Chẳng hạn: việc ấn định thuế, cưỡng chế thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế
Bộ phận pháp luật quy định về việc hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế và giải quyết các thủ tục hành chính thuế cho người nộp thuế Nhóm quan hệ quản lý thuế này được sử dụng biện pháp quản lý mang tính hành chính phục vụ, dịch vụ
Trang 28Căn cứ vào đối tượng áp dụng pháp luật quản lý thuế thì pháp luật quản lý thuế được chia thành 3 bộ phận:
Bộ phận pháp luật quy định về địa vị pháp lý của người nộp thuế Người nộp thuế là đối tượng được quy định cụ thể trong pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Ngoài ra, còn có các tổ chức có trách nhiệm nộp thuế thay người nộp thuế,…cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Bộ phận pháp luật quy định về địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý thuế bao gồm hệ thống cơ quan thuế và cơ quan hải quan
Cơ quan thuế được tổ chức theo ngành dọc thống nhất theo hệ thống hành chính các cấp từ trung ương đến địa phương để quản lý thu các khoản thuế, thu ngân sách nhà nước phát sinh trong nội địa Cơ quan hải quan được
tổ chức tập trung tại cấp trung ương và khu vực địa bàn hải quan để quản lý thu các khoản thuế, thu NSNN phát sinh tại cửa khẩu hải quan Pháp luật giao cho cơ quan quản lý thuế các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để
tổ chức thực thi chính sách thuế hiệu lực, hiệu quả
Bộ phận pháp luật quy định về các tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế bao gồm: Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, doanh nghiệp…có liên quan đến hoạt động làm phát sinh nghĩa vụ thuế, việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế hoặc liên quan đến công tác quản lý của cơ quan quản lý thuế
Việc quy định các tổ chức, cá nhân có liên quan trong đối tượng áp dụng Luật quản lý thuế nhằm đảm bảo nâng cao vai trò trách nhiệm pháp lý của cộng đồng xã hội trong việc thực thi và giám sát chấp hành nghĩa vụ thuế với Nhà nước Cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ cơ quan thuế trong quản lý thuế; đồng thời giám sát cả cơ quan thuế và người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật về thuế
Trang 29Căn cứ vào nội dung quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế được phân thành 3 bộ phận như sau:
Bộ phận pháp luật quy định về các thủ tục hành chính thuế, bảo đảm các điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn, bao gồm các nội dung: đăng kí thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt…
Bộ phận pháp luật quy định về giám sát và bảo đảm việc tuân thủ pháp luật thuế của cơ quan quản lý thuế đối với người nộp thuế, bao gồm các nội dung: quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Bộ phận pháp luật quy định về tổ chức bộ máy quản lý thuế [8, tr 280, 281] Cấu trúc pháp luật về quản lý thuế hợp lý nhằm tạo thuận lợi cho cho việc phục vụ công tác quản lý thuế Trong quá trình nghiên cứu luận văn tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được quy định ở Luật quản lý thuế và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Cụ thể là những vấn đề về bộ phận pháp luật quy định về
tổ chức bộ máy quản lý thuế, về bộ phận pháp luật quy định về các thủ tục hành chính thuế và bộ phận pháp luật quy định về giám sát và bảo đảm việc tuân thủ pháp luật thuế của cơ quan quản lý thuế đối với người nộp thuế
1.2.3 Mục tiêu, yêu cầu của pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK phải hướng đến thực hiện các mục tiêu sau:
Đảm bảo thực hiện chính sách thuế về XNK hàng hóa của quốc gia Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK là công cụ, phương tiện chủ yếu để thực hiện chính sách thuế XNK của một nước trong một giai đoạn nhất định, thông qua việc thể chế hóa chính sách này thành những điều khoản cụ thể của pháp luật thực
Trang 30định Tôn trọng pháp luật thuế trong lĩnh vực XNK từ cả hai phía – cơ quan hải quan và đối tượng nộp thuế - là đề cao quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và công dân, là quá trình thực thi dân chủ và phát huy sức mạnh của tổ chức và công dân trong quá trình hình thành luật thuế, đồng thời cũng là bước quan trọng để các tổ chức và công dân thực hiện quyền làm chủ của mình [19, tr 26]
Đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể nộp thuế khác nhau trong thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển
Bảo hộ được nền sản xuất trong nước và bảo đảm được sự cạnh tranh công bằng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài
Bên cạnh đó, pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cần phải đáp ứng yêu cầu sau:
Thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật, tránh tình trạng chồng chéo, mẫu thuẫn giữa các văn bản pháp luật với nhau
Phù hợp với các quy định của các tổ chức quốc tế, các hiệp định đa phương và song phương mà Việt Nam đã tham gia
Công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.2.4.1 Các quy định pháp luật nội dung về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Pháp luật về nội dung là cơ sở, là tiền đề cho xây dựng pháp luật quản
lý thuế Vậy nên, luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và luật quản lý thuế có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nếu được quy định rõ ràng, ổn định,
ít có ngoại lệ thì pháp luật quản lý TXK, TNK sẽ giảm tính phức tạp,quy trình, thủ tục triển khai thực hiện dễ dàng và thuận tiện hơn Khi luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thay đổi thì luật quản lý thuế cũng phải thay đổi cho phù hợp
Trang 31Pháp luật về nội dung các sắc thuế thay đổi thì pháp luật quản lý thuế ít nhiều cũng thay đổi Xu hướng cải cách phát triển hệ thống thuế ở các nước đều cho thấy: Cải cách hệ thống thuế được kết hợp chặt chẽ và tương thích giữa nội dung pháp luật thuế với công tác quản lý thuế Bởi vì, một hệ thống pháp luật về nội dung các sắc thuế dù có tiên tiến đến đâu cũng không phát huy được tác dụng nếu thiếu vắng quy định của pháp luật quản lý thuế và ngược lại, cải cách quản lý công tác quản lý thuế cần được dựa trên nền tảng một hệ thống pháp luật về nội dung các sắc thuế ổn định và rõ ràng Hệ thống pháp luật quy định các sắc thuế đơn giản, rõ ràng, các thủ tục quản lý thuế đơn giản, thuận tiện cho người nộp thuế sẽ tạo điều kiện tốt cho việc thực thi chính sách thuế [7, tr 55]
1.2.4.2 Cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
Cơ chế quản lý là sản phẩm của ý thức chủ quan của con người, do chủ thể quản lý định ra, nên nó mang tính chủ quan phụ thuộc vào ý chí và lợi ích của chủ thể quản lý Tuy nhiên, việc định ra cơ chế quản lý có hiệu quả thì nhà nước không thể không dựa trên cơ sở các quy luật khách quan và phù hợp với
xu thế phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử cụ thể Việc định ra
cơ chế quản lý hợp lý, khoa học là sự biểu hiện rõ nhất về trình độ, khả năng vận dụng các quy luật khách quan vào quá trình quản lý Pháp luật là yếu tố cơ bản cấu thành trong cơ chế quản lý Mỗi cơ chế quản lý thuế khác nhau đòi hỏi pháp luật điều chỉnh khác nhau cho phù hợp cơ chế quản lý thuế đó [7, tr 54]
Để phát triển kinh tế thì phải tạo ra được một môi trường lành mạnh cả
về kinh tế, chính trị… bằng việc tạo ra những chính sách thông thoáng nhằm đẩy mạnh hoạt động ngoại thương góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng với quốc tế Đặc biệt là khi nước ta đã chuyển đổi từ cơ chế
“chuyên quản” sang cơ chế “ tự khai, tự nộp thuế” trong quản lý thuế thì pháp luật về quản lý thuế xuất, khẩu cần phải được điều chỉnh sao cho hợp lý, đơn giản, thuận tiện và có hiệu quả nhất
Trang 321.2.4.3 Văn hóa tuân thủ thuế của người nộp thuế
Văn hóa tuân thủ của người nộp thuế được thể hiện ở ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tỉ lệ thuận với ý thức và trách nhiệm nộp thuế Để đối tượng nộp thuế chấp hành tốt các quy định của luật quản lý thuế thì việc tạo ra một cơ chế quản lý thuế dân chủ, đề cao tính tự chủ sẽ tạo cho người nộp thuế một tâm lý tốt chủ động trong thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế Từ đó, các hành vi vi phạm pháp luật về thuế như trốn thuế, gian lận thương mại sẽ được hạn chế giúp công tác quản lý thu thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn
1.2.4.4 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế thì bối cảnh hội nhập đã tạo ra một thị trường năng động Việc gia nhập tổ chức AFTA cũng như gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã cho thấy cung cách quản lý, các quy định về thuế,… cũng cần phải được điều chỉnh phù hợp với quy định chung Bởi lẽ không thế nói hội nhập khi các quan hệ dựa trên những quy định mang tính cục bộ, chưa có sự hội nhập [15, tr 12]
Vì vậy việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế cần thiết phải tham khảo, tiếp thu có chọn lọc pháp luật quản lý thuế của các nước tiên tiến trên thế giới nhằm bảo đảm pháp luật quản lý thuế của Việt Nam nhanh chóng tiếp cận được chuẩn mực quản lý thuế của quốc tế, đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Để có cơ sở phân tích, đánh giá nội dung và thực trạng pháp luật quản
lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, chương 1 của luận văn đã tập trung phân tích những vấn đề sau:
Việc phân tích những vấn đề về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
từ khái niệm, đặc điểm, vai trò để thấy rõ được tầm quan trọng của của hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực TXK, TNK Cụ thể luận văn phân tích khái niệm, đặc điểm thuế xuất, nhập khẩu và pháp luật quản lý TXK, TNK, phân tích cấu trúc, mục tiêu và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quản lý TXK, TNK Qua việc phân tích, tác giả đã nói lên được tầm quan trọng của pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Từ đó, có thể nhận thấy:
Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là hoạt động quan trọng Khẳng định vai trò của hoạt động quản lý TXK, TNK trong việc góp phần tạo lập nguồn thu vào NSNN, và hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý thuế và kiểm soát, điều tiết hoạt động XK, NK hàng hóa
Pháp luật là công cụ chủ yếu và hữu hiệu nhất để quản lý TXK, TNK Pháp luật quản lý TXK, TNK là một bộ phận trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình với nhà nước
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU HỮU NGHỊ - TỈNH LẠNG SƠN
2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam
2.1.1 Chủ thể thực hiện quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Hoạt động quản lý thuế đối với hàng hóa XK, NK được thực hiện bởi các cơ quan của Tổng cục Hải quan Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải ký Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 9 năm 2002 chuyển Tổng cục Hải quan vào Bộ Tài chính Và được quy định cụ thể tại điểm b, khoản 2,
Điều 2, luật quản lý thuế: “cơ quan hải quan gồm Tổng cục hải quan, Cục hải
quan, Chi cục hải quan” Là cơ quan trực thuộc bộ tài chính, giúp Bộ trưởng
Bộ tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về hải
quan; thực thi pháp luật hải quan trong phạm vi cả nước
Nguyên tắc tổ chức của Tổng cục Hải quan là tập trung, thống nhất Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ tài chính về công tác kiểm tra, giám sát hải quan; chống buôn lậu và gian lận thương mại; thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Tổng cục trưởng tổng cục Hải quan thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp dưới chịu sự quản lý của Hải quan cấp trên
Nhiệm vụ của cơ quan Hải quan được quy định cụ thể trong Luật hải quan 2014:
Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về
Trang 35thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước
về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu [23, Điều 12]
Bên cạnh đó, hải quan còn có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác phân tích, kiểm tra về tiêu chuẩn, chất lượng, kiểm dịch, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo đề nghị của các Bộ hoặc phân công của Thủ tướng Chính phủ; thực hiện công tác phân loại hàng hóa XK, NK theo quy định của pháp luật Đồng thời, tổ chức thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về hải quan; tổ chức thực hiện chế độ một cửa quốc gia, một cửa ASEAN và thực hiện cơ chế kết nối một cửa quốc gia với các tổ chức kinh tế quốc tế, các quốc gia, các vùng lãnh thổ theo các cam kết quốc tế Việt Nam là thành viên hoặc theo phân công của Chính phủ; tổ chức thực hiện thống kê nhà nước về Hải quan
Luật quản lý thuế 2006 cũng quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan
hộ gia đình, cá nhân kinh doanh trên địa bàn xã, phường, thị trấn; Giữ
bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của Luật này; Thực hiện việc miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiền thuế, xóa nợ tiền phạt,
hoàn thuế theo theo quy định của Luật này và các quy định khác của
pháp luật về thuế; Xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi có đề nghị theo quy định của pháp luật; Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế theo thẩm
Trang 36quyền; Giao kết luận, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế cho đối tượng kiểm tra thuế, thanh tra thuế và giải thích khi có yêu cầu; Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế; Giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [21, Điều 8]
Địa bàn hoạt động hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc
tế, các địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau thông quan và các địa bàn hoạt động hải quan khác theo quy định của pháp luật Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hoá, phương tiện vận tải
Bên cạnh đó, pháp luật quản lý thuế cũng xác định: ngân hàng thương mại và kho bạc Nhà nước cũng là chủ thể có trách nhiệm, nghĩa vụ tham gia quản lý thuế với tư cách là tổ chức, cá nhân có liên quan
2.1.2 Đối tượng quản lý trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Đối tượng quản lý trong quản lý TXK, TNK chính là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật thuế Tại Luật quản lý thuế quy định người nộp thuế bao gồm:
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật; Tổ chức,
cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế [21, Điều 2, Khoản 1]
Trang 37Và được quy định chi tiết hơn tại Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
2016, người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm:
Chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Tổ chức nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu
Người xuất cảnh, nhập cảnh có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, gửi hoặc nhận hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam
Người được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thuế thay cho người nộp thuế, bao gồm: đại lý làm thủ tục hải quan trong trường hợp được người nộp thuế ủy quyền nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trong trường hợp nộp thuế thay cho người nộp thuế; tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng trong trường hợp bảo lãnh, nộp thuế thay cho người nộp thuế; người được chủ hàng hóa ủy quyền trong trường hợp hàng hóa là quà biếu, quà tặng của cá nhân; hành lý gửi trước, gửi sau chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh; chi nhánh của doanh nghiệp được ủy quyền nộp thuế thay cho doanh nghiệp; người khác được ủy quyền nộp thuế thay cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật
Người thu mua , vận chuyển hàng hóa trong định mức miễn thuế của cư dân biên giới nhưng không sử dụng cho sản xuất , tiêu dùng mà đem bán ta ̣i thi ̣ trường trong nước và thương nhân nước ngoài được phép kinh doanh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ở chợ biên giới theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t
Người có hàng hóa xuất khẩu , nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế nhưng sau đó có sự thay đổi và chuyển sang đối tượng chi ̣u thuế theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t [25, Điều 3] Ngoài ra, các trường hợp thuộc diện miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế cũng chịu sự quản lý trong công tác quản lý TXK, TNK
Trang 38Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 đã bổ sung thêm các trường hợp người nộp thuế trên thực tế như các trường hợp người được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thay thuế để thống nhất với Luật quản lý thuế, và quy định người khai hải quan của Luật hải quan; người thu mua, vận chuyển hàng hóa trong định mức miễn thuế của cư dân biên giới nhưng không sử dụng cho sản xuất, tiêu dùng mà đem bán tại thị trường trong nước và thương nhân nước ngoài được phép kinh doanh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ở chợ biên giới; hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng ưu đãi thuế nhưng thay đổi mục đích sử dụng, đối tượng sử dụng (tại khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 3 Luật) So với Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 các trường hợp người
nộp thuế đã được quy định cụ thể hơn để thống nhất với văn bản pháp luật
liên quan; đồng thời khắc phục các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành
2.1.3 Thực trạng pháp luật về thủ tục hành chính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Quản lý thuế là công việc liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân Đặc biệt, từ năm 2004, khi thực hiện cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế, vai trò của người nộp thuế đã được đề cao hơn Theo đó, người nộp thuế
tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình, cơ quan quản lý thuế tập trung vào thực hiện các chức năng tuyên truyền, hỗ trợ kiểm tra, giám sát người nộp thuế Trong khi đó, nội dung quản lý thuế lại được quy định rải rác ở nhiều luật thuế nên đã gây khó khăn cho cả người nộp thuế
và cơ quan quản lý thuế trong việc tuân thủ các quy định về quản lý thuế Việc ban hành Luật quản lý thuế áp dụng chung cho các loại thuế sẽ khắc phục được tình trạng trên và không phải sửa đổi nhiều luật thuế Từ đó sẽ tách bạch được nội dung quy định về quản lý thuế ra khỏi các luật thuế hiện hành Các luật thuế sau này tập trung vào các nội dung quy định về chính sách thuế
Trang 39Ngay sau khi Luật số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 Luật quản lý thuế được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định 85/2007/NĐ-CP Đồng thời, Bộ Tài chính
đã ban hành Thông tư 60/2007/TT-BTC ngày 14/06/2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP; Thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 hướng dẫn thi hành Luật quản lý thuế về việc đăng ký thuế; Thông tư số 157/2009/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 60/2007/TT-BTC; Thông tư 61/2007/TT-BTC ngày 14/06/2008 hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Thông
tư số 28/2011/TT-BTC ngày ngày 28/02/2011, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP
và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP… Nhìn chung, hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến quản lý thuế đã được ban hành tương đối đồng bộ, kịp thời, đầy
đủ, đảm bảo đúng quy trình, khắc phục những tồn tại trong quản lý trước đây
do phân tán ở nhiều văn bản, sắc thuế khác nhau
Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được khi thực hiện Luật Quản
lý thuế, thực tế đã phát sinh một số vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện Luật cho phù hợp với yêu cầu phát triển Để đáp ứng yêu cầu này Luật
số 21/2012/QH13 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật quản
lý thuế Nghị định số 83/2013/NĐ – CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế ngày 22/07/2013 Thông tư số 156/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý thuế; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế và nghị định số 83/2013 NĐ – CP ngày 22/07/2013 của chính phủ và Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/04/2016 luật sửa đổi, bổ sung một số
Trang 40điều của luật thuế giá trị gia tăng, luật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật quản lý thuế được thông qua
Việc sửa đổi Luật Quản lý thuế nhằm đáp ứng các yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, khắc phục một số vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện để bảo đảm thực hiện đồng bộ, đảm bảo tính thống nhất của Luật
2.1.3.1 Thủ tục đăng kí thuế
Đăng kí thuế là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà
nước theo quy định của pháp luật Việc đăng kí thuế là nghĩa vụ thuế đầu tiên
mà người nộp thuế phải tiến hành khi họ muốn thực hiện các hành vi hoặc các khoản thu nhập làm phát sinh quan hệ pháp luật thuế Hoạt động đăng kí thuế
là nghĩa vụ thuế bắt buộc và là tiền đề để người nộp thuế thực hiện tiếp các
nghĩa vụ về thuế khác
Luật quản lý thuế 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế năm 2012 đã quy định về thủ tục đăng kí thuế cụ thể từ Điều 21 đến Điều 29 các nội dung gồm: đối tượng đăng kí thuế, thời hạn đăng kí thuế,
hồ sơ đăng kí thuế, địa điểm nộp hồ sơ đăng kí thuế, trách nhiệm của cơ quan thuế, công chức thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ đăng kí thuế, cấp giấy chứng nhận đăng kí thuế, thay đổi thông tin đăng kí thuế, sử dụng mã số thuế, chấm dứt hiệu lực mã số thuế và chi tiết tại thông tư số 95/2016/TT-BTC ngày 28/06/2016 hướng dẫn về đăng kí thuế
Theo đó tất cả đối tượng thuộc diện nộp thuế phải tiến hành đăng kí thuế tại cơ quan thuế (nơi tổ chức, cá nhân có trụ sở hoặc cá nhân đăng kí hộ khẩu thường trú hoặc nơi tạm trú) trong thời hạn 10 ngày theo quy định Cơ quan thuế, công chức thuế tiếp nhận hồ sơ đăng kí thuế, trường hợp cần bổ sung hồ sơ, cơ quan thuế phải thông báo cho người nộp thuế trong ngày nhận
hồ sơ đối với trường hợp trực tiếp nhận hồ sơ, trong thời hạn 3 ngày làm việc,