1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định phạm tội nhiều lần trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh hà tĩnh giai đoạn 2010 2016)

85 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn Về Chế Định Phạm Tội Nhiều Lần Trong Luật Hình Sự Việt Nam (Trên Cơ Sở Số Liệu Tại Địa Bàn Tỉnh Hà Tĩnh Giai Đoạn 2010 - 2016)
Tác giả Bùi Thế Việt
Người hướng dẫn GS.TSKH Lê Văn Cảm
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới góc độ khoa học pháp lý luật hình sự Việt Nam, vấn đề phạm tội nhiều lần vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách sâu sắc, đầy đủ, toàn diện và có hệ thống với nhiều vấn đề cần đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THẾ VIỆT

MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN Về CHế ĐịNH PHạM TộI NHIềU LầN TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 -2016)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÊ VĂN CẢM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bùi Thế Việt

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ "PHẠM TỘI NHIỀU LẦN" TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8

1.1 Vài nét về chế định đa (nhiều) tội phạm 8

1.2 Khái niệm và đặc điểm cơ bản của chế định phạm tội nhiều lần 10

1.2.1 Khái niệm tình tiết phạm tội nhiều lần 10

1.2.2 Các đặc điểm cơ bản của tình tiết phạm tội nhiều lần 13

1.3 Phân biệt phạm tội nhiều lần với một số tình tiết khác có liên quan trong pháp luật hình sự Việt Nam 14

1.3.1 Phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội 14

1.3.2 Phạm tội nhiều lần và phạm tội liên tục 17

1.3.3 Phạm tội nhiều lần và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp 17

1.3.4 Phạm tội nhiều lần và tái phạm, tái phạm nguy hiểm 19

1.4 Ý nghĩa của việc điều chỉnh về mặt lập pháp tình tiết phạm tội nhiều lần trong pháp luật hình sự Việt Nam 21

1.5 Kết luận 22

Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ “PHẠM TỘI NHIỀU LẦN” VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2010-2016 24

2.1 Các quy định của luật hình sự Việt Nam về phạm tội nhiều lần từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến trước khi ban hành BLHS năm 1999 24

2.1.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 cho đến trước khi ban hành BLHS năm1985 24

Trang 5

2.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 cho đến trước khi

ban hành BLHS năm 1999 26

2.2 Các quy định của BLHS Việt Nam năm 1999 về phạm tội nhiều lần 30

2.2.1 Các quy định của Phần chung BLHS năm 1999 về phạm tội nhiều lần 30

2.2.2 Những quy định của Phần các tội phạm BLHS năm 1999 về phạm tội nhiều lần 32

2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về phạm tội nhiều lần trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh (giai đoạn từ 2010-2016) 37

2.3.1 Những yếu tố liên quan và tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010- 2016 37

2.3.2 Thực tiễn áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần trong hoạt động xét xử của Tòa án trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010-2016 39

2.4 Kết luận 55

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG CỦA VIỆC TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC QUY PHẠM VỀ "PHẠM TỘI NHIỀU LẦN" TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TƯƠNG LAI 56

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam nói chung 56

3.2 Bộ luật hình sự 2015 – những bước tiến mới 58

3.3 Nội dung hoàn thiện các quy định của Luật hình sự Việt Nam về phạm tội nhiều lần 69

3.4 Kết luận 72

KẾT LUẬN CHUNG 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự UBND: Uỷ ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, việc nghiên cứu để làm sáng tỏ về mặt lý luận chế định phạm tội nhiều lần trong luật hình

sự Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Chế định phạm tội nhiều lần là một vấn đề rất phức tạp trong khoa học luật hình sự cũng như trong thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật Tuy nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam vẫn chưa ghi nhận chính thức định nghĩa pháp lý của khái niệm phạm tội nhiều lần

“Phạm tội nhiều lần” là một tình tiết được đề cập đến trong luật hình sự

Việt Nam với yếu tố là tình tiết định khung hình phạt của rất nhiều loại tội và

là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Dưới góc độ khoa học pháp lý luật hình sự Việt Nam, vấn đề phạm tội nhiều lần vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách sâu sắc, đầy đủ, toàn diện và có hệ thống với nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ để có quan điểm thống nhất và đầy đủ như khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp lý của vấn đề

"phạm tội nhiều lần"; tiêu chí để phân biệt "phạm tội nhiều lần" với phạm nhiều tội, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; lịch sử phát triển của các quy phạm về chế định này; việc nghiên cứu, tổng kết

và đánh giá thực tiễn áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần” cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng Ngoài ra, trong pháp luật hình sự thực định (Bộ luật Hình sự năm 1985, 1999 và 2015), nhà làm luật nước ta cũng chưa ghi nhận khái niệm pháp lý về phạm tội nhiều lần, hậu quả pháp lý của việc

áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần…

Trong Phần các tội phạm BLHS năm 1985 tình tiết phạm tội nhiều lần chỉ được xét đến là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng trong mốt

số tội phạm khác nhau được quy định tại 6 điều luật tương ứng; còn tại

Trang 8

BLHS năm 1999 đã tăng lên là 48 điều; và cuối cùng tại BLHS năm 2015 con số đó đã là 83 điều

Vì vậy có thể nói rằng, trước sự đòi hỏi đổi mới của cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm, việc nghiên cứu chế định phạm tội nhiều lần trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay có ý nghĩa quan trọng không những về mặt lý luận mà còn là đòi hỏi của thực tiễn áp dụng nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện chế định này trong pháp luật hình sự Việt Nam

Chính vì vậy, bản thân tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài “Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định phạm tội nhiều lần trong luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010-2016)” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Phạm tội nhiều lần với tính chất là một dạng của chế định đa tội

phạm vẫn chưa được điều chỉnh bằng một quy phạm riêng biệt nào trong Phần chung BLHS Việt Nam đã và đang hiện hành, mà chỉ được quy định

với tính chất là tình tiết định khung tăng nặng của một số tội phạm cụ thể

và là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong BLHS năm 1985 (điểm

“i” khoản 1 Điều 39); cũng như trong BLHS năm 1999 (điểm “g” khoản 1 Điều 48) [5, tr 78]

BLHS năm 2015 quy định tình tiết phạm tội nhiều lần (phạm tội 02 lần trở lên) là một trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm g khoản 1 Điều 52) và (điểm c, khoản 1, Điều 85) áp dụng đối với pháp nhân thương mại

Tình tiết này cũng được đề cập trong một số giáo trình, sách tham khảo

do các tác giả khác nhau biên soạn như:

1) Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (1995), Giáo trình luật hình sự

Việt Nam (Phần chung), Hà Nội;

Trang 9

2) Đinh Văn Quế (2000), Bình luận khoa học BLHS (Phần chung),

Nxb Thành phố Hồ Chí Minh;

3) Lê Văn Cảm chủ biên cùng Tập thể tác giả (2003), Giáo trình Luật

hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội;

4) Lê Văn Đệ (2003), Chế định nhiều tội phạm - những vấn đề lý luận

và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

5) Võ Khánh Vinh chủ biên cùng Tập thể tác giả (2005), Giáo trình

Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;

6) Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên cùng Tập thể tác giả (2007), Giáo trình

Luật hình sự Việt Nam, Tập I, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; v.v

Một số nhà khoa học - luật gia về pháp luật hình sự Việt Nam đã dành không ít công sức cho việc nghiên cứu về đề tài này, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của GS.TSKH Lê Văn Cảm:

1) Lê Cảm (2001), Chế định đa (nhiều) tội phạm và mô hình lý luận

của nó trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 6/2001;

2) Lê Cảm (2002), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật

hình sự, Tập IV, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội

3) Lê Cảm (2004), Trịnh Quốc Toản, Định tội danh: lý luận hướng dẫn

mẫu và 350 bài thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội;

4) Lê Cảm (2005), Chế định đa tội phạm trong Sách chuyên khảo sau

đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung),

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội;

Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên tạp chí khoa học pháp lý như:

1) Trịnh Đình Thể, Cần hiểu chính xác về tình tiết tăng nặng chung và

tình tiết tăng nặng định khung trong BLHS, Tạp chí Tòa án nhân dân số

8/1998;

2) Mai Bộ, Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, Tạp chí Tòa án nhân

dân số 1/1999;

Trang 10

3) Dương Tuyết Miên, Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm

hình sự theo BLHS năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân số 1/2003;

4) Nguyễn Hải Dũng, Về việc áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần,

phạm tội đối với nhiều người trong một số tội phạm của BLHS năm 1999, Tạp

chí Kiểm sát số 2/2005;

5) Lê Văn Luật, Bàn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm

tội nhiều lần" quy định trong Luật Hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp

lý số 4/2006, tr 35;

6) Vũ Thành Long, Áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 về tình

tiết tăng nặng phạm tội có tổ chức và phạm tội nhiều lần, Tạp chí Kiểm sát số

21/2006;

7) Đỗ Thanh Huyền, Bàn về phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần,

Tạp chí Tòa án nhân dân số 8 tháng 4/2007;

8) Vũ Hồng Thiêm, Thực tiễn áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm

hình sự trong giải quyết hình phạt - tồn tại và giải pháp, Tạp chí Tòa án nhân

dân số 10 tháng 05/2008;

9) Hồ Sĩ Sơn, Những hạn chế trong các quy định của BLHS năm 1999

về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hướng khắc phục,

Tạp chí Tòa án nhân dân số 16/2008;

10) Đinh Văn Quế, Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng các tình

tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân số

4/2010 v.v

Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu lý luận chuyên sâu và có hệ thống vấn

đề phạm tội nhiều lần, tuy nhiên vấn đề này vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức Do vậy, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề phạm tội nhiều lần cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, đầy

đủ và sâu sắc hơn

Trang 11

3 Phạm vi nghiên cứu

“Phạm tội nhiều lần” là một vấn đề tương đối hẹp nhưng lại phức tạp

Do đó, phạm vi nghiên cứu của luận văn này chỉ xem xét và giải quyết một số nội dung cơ bản xung quanh vấn đề phạm tội nhiều lần như:

1) Khái niệm và đặc điểm của phạm tội nhiều lần;

2) Phân biệt phạm tội nhiều lần và một số tình tiết khác thuộc chế định

đa tội phạm như phạm nhiều tội, phạm tội liên tục, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

3) Những quy định của pháp luật Việt Nam về "Phạm tội nhiều lần"; 4) Thực tiễn áp dụng các quy định của Luật hình sự Việt Nam về phạm tội nhiều lần trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh (giai đoạn 2010-2016);

5) Những điểm mới của Bộ Luật Hình sự 2015 và sự cần thiết hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chế định phạm tội nhiều lần

Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung tương đối cơ bản của phạm tội nhiều lần, luận văn tiếp tục nghiên cứu tình tiết này trên phương diện lập pháp

và việc áp dụng chế định này trong thực tiễn xét xử để từ đó mạnh dạn đưa ra các kiến nghị cho việc định hướng tiếp tục hoàn thiện các quy phạm về “phạm tội nhiều lần” trong pháp luật hình sự Việt Nam tương lai

4 Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một số vụ án trên đại bàn tỉnh Hà Tĩnh làm cơ sở nhận thức lý luận cho mình cũng như chứng minh cho những luận điểm mà mình đã phân tích tại nhiều luận cứ được đưa ra

Mục đính nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự Việt Nam Đồng thời luận văn còn phân tích và đánh giá một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về phạm tội nhiều lần để từ đó đưa ra những

Trang 12

kiến nghị cho việc áp dụng được thống nhất, tránh tình trạng hiểu sai về tình tiết này

5 Các phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, nghiên cứu bản án điển hình để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề đã được nêu ra trong luận văn Cụ thể đó là:

Phương pháp phân tích: Luận văn đã phân tích chi tiết các vấn đề có liên quan đến vấn đề phạm tội nhiều lần, từ đó có thể đánh giá được thực tiễn áp dụng Các nội dung cần phân tích bao gồm: Phân tích các vấn đề lý luận về phạm tội nhiều lần, phân tích các thông số về tình hình phạm tội, người phạm tội, phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về phạm tội nhiều lần

Phương pháp so sánh: Là việc so sánh các vấn đề có liên quan đến vấn

đề phạm tội nhiều lần, từ đó có thể rút ra các kết luận mang tính đánh giá Các nội dung so sánh bao gồm: so sánh giữa phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội; phạm tội liên tục; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm; tái phạm nguy hiểm

Phương pháp tổng hợp: Đó là việc khái quát hóa toàn bộ các nhận định độc lập sau khi phân tích, so sánh từng nội dung, từng tiêu chí cụ thể Phương pháp tổng hợp giúp cho quá trình đánh giá tránh khỏi sự phân tán, rời rạc và thiếu trọng tâm Các nội dung tổng hợp được đặt trong một hệ thống cấu trúc

có mối liên hệ qua lại, trong đó xác định những nội dung cơ bản chi phối nhận định chung

Nghiên cứu các vụ án điển hình: Đây là một phương pháp nghiên cứu quan trọng của luận văn Đó là những thực tiễn để chứng minh và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận mà tác giả đã đưa ra

Trang 13

6 Cơ sở khoa học và thực tiễn của luận văn

Cơ sở khoa học của Luận văn là nghiên cứu các luận điểm về phạm tội nhiều lần và các văn bản hướng dẫn thi hành luật hình sự Việt Nam, cũng như các công trình khoa học, sách báo của các tác giả có liên quan đến vấn đề này Đồng thời qua xem xét việc áp dụng các quy định về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự Việt Nam và qua nghiên cứu các bản án của Tòa án nhân dân các cấp, những vụ án hình sự do cơ quan công an điều tra, khởi tố…

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Việc làm rõ khái niệm, đặc điểm của vấn đề phạm tội nhiều lần, bản chất pháp lý của nó, đồng thời trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng để đưa

ra các kiến nghị phù hợp - đó là ý nghĩa cơ bản của luận văn

Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận bổ sung cho mốt số nhà nghiên cứu, luật gia, các sinh viên, học viên và cán bộ thực tiễn … cũng như phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn

áp dụng pháp luật hình sự trong vấn đề phạm tội nhiều lần phục vụ cho việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội hiện nay ở nước ta

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về "Phạm tội nhiều lần" trong pháp

luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về "Phạm tội

nhiều lần" và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh (giai đoạn từ 2010- 2016)

Chương 3: Định hướng của việc tiếp tục hoàn thiện các quy phạm về

"Phạm tội nhiều lần" trong pháp luật hình sự Việt Nam tương lai

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ "PHẠM TỘI NHIỀU LẦN"

TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Vài nét về chế định đa (nhiều) tội phạm

Phạm tội nhiều lần là một vấn đề rất phức tạp trong khoa học luật hình

sự cũng như trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử ở nước ta

Phạm tội nhiều lần với tính chất là một dạng của chế định đa tội phạm Do đó trước khi tìm hiểu về chế định này, chúng ta cần hiểu về chế định đa tội phạm

Theo quan điểm của PGS.TS Lê Văn Đệ:

Nhiều tội phạm là trường hợp một người phạm từ hai tội trở lên, không phụ thuộc vào việc người đó đã bị xét xử về các tội đã phạm hay chưa; các tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và không có những trở ngại về mặt tố tụng hình sự để khởi

tố vụ án hình sự [15, tr 19]

Theo quan điểm của PGS.TS Võ Khánh Vinh:

Chế định đa tội phạm là một chế định của luật hình sự cần bao hàm tất cả những trường hợp khi một người thực hiện một số tội phạm với điều kiện nếu như đối với các tội này người đó vẫn chưa hết án tích hoặc thời hiệu truy tố về hình sự.[36, tr 26]

Theo quan điểm của GS TSKH Lê Văn Cảm:

Đa tội phạm là một chế định độc lập của luật hình sự Việt Nam bao gồm các dạng (trường hợp) như phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội, tái phạm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, mà trong những điều kiện như nhau các dạng này thường cho thấy tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao của tội phạm được thực hiện, cũng như của nhân thân người phạm tội [5, tr 75]

Trang 15

Khi xem xét các khái niệm trên cho ta thấy, đa tội phạm không chỉ là trường hợp một người phạm từ hai tội trở lên và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử (phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội) mà còn bao gồm cả trường hợp phạm từ hai tội trở lên và có thể đã bị đưa ra xét xử (tái phạm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp)

Qua so sánh đặc điểm của bốn dạng tội phạm nói trên thì có thể thấy chúng có một đặc điểm chung là người phạm tội phạm từ hai tội trở lên và vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên ở mỗi dạng lại nổi bật lên một điểm khác biệt để phân biệt giữa các dạng tội phạm khác nhau

Đối với phạm tội nhiều lần: đặc điểm nổi bật là phạm từ hai tội trở lên

và những tội ấy được quy định tại cùng một điều và người phạm tội vẫn chưa

bị xét xử

Đối với phạm nhiều tội: người phạm tội cũng phạm từ hai tội trở lên,

những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau và người phạm tội cũng chưa bị đưa ra xét xử về tội nào trong số những tội ấy

Đối với tái phạm: đặc điểm khác biệt của nó là ở chỗ người phạm tội

trước đó đã bị kết án về bất kỳ tội phạm nào, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

do vô ý

Đối với phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: người phạm tội phạm tội

nhiều lần, có tính chất liên tục, có hệ thống và tạo nên nguồn thu nhập, nguồn sống chủ yếu của người phạm tội, người phạm tội có thể bị đưa ra xét xử ở các lần khác nhau

Do đó, khi nghiên cứu về chế định đa tội phạm ta có thể thấy được tính phức tạp cũng như tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và những thiệt hại do hành vi này gây ra thường là nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng Phạm tội nhiều lần chính là một trong các dạng tội phạm có tính chất như vậy

Trang 16

1.2 Khái niệm và đặc điểm cơ bản của chế định phạm tội nhiều lần

1.2.1 Khái niệm tình tiết phạm tội nhiều lần

Trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời, phạm tội nhiều lần ít được các nhà lập pháp quan tâm đến Trong cuốn hệ thống hóa luật lệ về hình sự - Tập II do Tòa án nhân dân tối cao xuất bản năm 1979, lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm phạm tội nhiều lần:

“Đây là trường hợp phạm một tội nhiều lần (như hiếp dâm nhiều lần hoặc tham ô nhiều lần) cùng một lúc hay trong những thời gian khác nhau, mà bị phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lần Tất nhiên phạm một tội nhiều lần thì cần xử nặng hơn trường hợp phạm tội đó chỉ có một lần” [15, tr 61]

BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 cũng chưa ghi nhận chính thức định nghĩa pháp lý của khái niệm phạm tội nhiều lần và các văn bản hướng dẫn giải thích thế nào là phạm tội nhiều lần nhưng trong thực tiễn đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tình tiết này:

Quan điểm thứ nhất cho rằng:

Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên như hai lần trộm cắp, hai lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ba lần chứa mại dâm, bốn lần tham ô và mỗi lần thực hiện hành vi đã cấu thành một tội phạm độc lập nhưng tất cả các tội phạm đó đều bị xét xử trong cùng một bản án ; Phạm tội nhiều lần là người phạm tội có nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi đó chỉ cấu thành một tội, xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp và chưa đưa ra truy tố, xét xử [25, tr 126]

Quan điểm thứ hai cho rằng:

Phạm tội nhiều lần là phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều luật (hoặc tại cùng một khoản của điều luật) tương ứng trong Phần riêng BLHS, đồng thời đối với

Trang 17

những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử [6, tr 390]

Quan điểm thứ ba cho rằng:

Phạm tội nhiều lần là có từ hai lần trở lên phạm cùng một loại tội, trong đó mỗi lần đều đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, nay các lần phạm tội đó được xét xử trong cùng một bản án [32, tr 118]

Quan điểm thứ tư cho rằng:

Phạm tội nhiều lần là đã từ hai lần phạm tội đó trở lên, mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành của tội phạm phải, đồng thời, trong các lần phạm tội đó, chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự [19, tr 23-29]

Quan điểm thứ năm cho rằng:

Phạm tội nhiều lần là phạm tội trong trường hợp hành vi của chủ thể có đầy đủ các dấu hiệu của hai tội phạm trở lên mà những tội

ấy được quy định tại cùng một điều hoặc một khoản của điều trong Phần các tội phạm của BLHS và bị xét xử cùng một lần [15, tr 68] Quan điểm thứ 6 nêu rõ:

Phạm tội nhiều lần là trường hợp thực hiện tội phạm mà trước đó người phạm tội đã phạm tội này ít nhất là một lần và chưa

bị xét xử Hành vi phạm tội trong trường hợp này là sự lặp lại tội đã phạm trước đó nên có mức độ nguy hiểm cao hơn trường hợp bình

thường [27, tr 14]

Qua xem xét các quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu:

Phạm tội nhiều lần là phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy

Trang 18

được quy định tại cùng một điều luật (hoặc tại cùng một khoản của điều luật) tương ứng trong Phần riêng BLHS, đồng thời đối với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử [6, tr 390]

Qua các quan điểm trên, chúng ta có thể thấy tình tiết phạm tội nhiều lần bao gồm năm nội dung sau:

(1) Phạm tội nhiều lần là người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng hoặc nhiều đối tượng khác nhau (ví dụ: phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối đối với nhiều người - điểm c khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999, nhiều lần trộm cắp, nhiều lần hiếp dâm )

(2) Nếu tách ra từng hành vi phạm tội riêng lẻ thì mỗi hành vi ấy đã đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập

(3) Tất cả các hành vi phạm tội đó đều được quy định tại một điều luật

cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS năm 1999 (cùng là tội trộm cắp, hiếp dâm ), có thể cùng một khoản, có thể phạm tội ở các khoản khác nhau của cùng một điều luật

(4) Các hành vi phạm tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật (như đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án ) và cùng bị đưa ra xét xử một lần trong cùng một vụ án (được tuyên trong một bản án)

(5) Nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại [22]

Do đó, có thể thấy việc hiểu về tình tiết phạm tội nhiều lần khá phức tạp Mặt khác để hiểu đúng về tình tiết phạm tội nhiều lần chúng ta cần phải phân biệt nó với các tình tiết khác thuộc chế định đa tội phạm như: phạm

Trang 19

nhiều tội, phạm tội liên tục, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, tái phạm nguy hiểm Đây là những tình tiết có nhiều dấu hiệu giống nhau, nếu không phân biệt được sẽ dẫn đến việc hiểu sai và áp dụng sai

1.2.2 Các đặc điểm cơ bản của tình tiết phạm tội nhiều lần

Qua xem xét các khái niệm nói trên chúng ta thấy tình tiết phạm tội nhiều lần có những đặc điểm cơ bản như sau:

a) Người phạm tội thực hiện từ hai lần trở lên hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi

đe dọa xâm phạm hoặc xâm phạm đến những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ

b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội trong mỗi lần thực hiện bao giờ cũng phải có đầy đủ các dấu hiệu để cấu thành một tội phạm độc lập

Các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm bao gồm bốn yếu tố: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan Đây là một đặc điểm quan trọng để xác định có phải người phạm tội đã thực hiện từ hai lần hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm hay không Nếu hành vi không có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập thì không thể xác định được

đó là tình tiết phạm tội nhiều lần

c) Tội phạm được qui định tại cùng một điều hoặc một khoản của điều tương ứng trong Phần các tội phạm BLHS (1985, 1999, 2015)

Đây là một đặc điểm đặc trưng của tình tiết phạm tội nhiều lần và dùng để

phân biệt với tình tiết phạm nhiều tội Người phạm tội thực hiện từ hai lần hành

vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, mỗi lần thực hiện hành vi phải có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập và tội phạm đó do cùng một điều hoặc một khoản tương ứng quy định tại luật hình sự Việt Nam

d) Tội phạm này vẫn phải còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội phải bị đưa ra xét xử cùng một lần

Trang 20

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 45 (BLHS năm 1985), Điều 23 (BLHS năm 1999) và Điều 27 (BLHS năm 2015) Nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa Do đó, hành vi nói trên không bị tính là một lần phạm tội

Đặc điểm "người phạm tội phải bị đưa ra xét xử cùng một lần" có nghĩa

là các hành vi phạm tội trước đó chưa bị đưa ra xét xử lần nào Đây là một

đặc điểm cơ bản để phân biệt giữa tình tiết phạm tội nhiều lần và tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Như vậy, trên đây là bốn đặc điểm cần và đủ để có thể đánh giá thế nào

là phạm tội nhiều lần Nếu thiếu một trong bốn đặc điểm hay còn gọi là các dấu hiệu nói trên thì khó có thể coi đó là tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần

1.3 Phân biệt phạm tội nhiều lần với một số tình tiết khác có liên quan trong pháp luật hình sự Việt Nam

1.3.1 Phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội

"Phạm nhiều tội với tính chất là một dạng của chế định đa tội phạm

vẫn chưa được điều chỉnh bằng một quy phạm riêng biệt nào trong Phần chung pháp luật hình sự Việt Nam đã và đang hiện hành, mà thuật ngữ

“phạm nhiều tội” chỉ được đề cập đến trong tên gọi của một Điều luật

"Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội" (Điều 41 BLHS

năm 1985 trước đây và Điều 50 BLHS năm 1999) Ngoài ra, ở một mức độ

nhất định dạng đa tội phạm này cũng được đề cập đối với riêng một số tội

phạm cụ thể trong một vài giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của thực

tiễn xét xử nước ta” [5, tr 79]

BLHS năm 2015 quy định tại Điều 55: Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

Trang 21

1 Đối với hình phạt chính:

a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù

có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là

tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;

d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là

tử hình thì hình phạt chung là tử hình;

đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác;

2 Đối với hình phạt bổ sung:

a) Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên [28]

Vì vậy, để phân biệt hai tình tiết phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội

chúng ta có thể dựa vào các khái niệm, các đặc điểm của nó dưới góc độ khoa học luật hình sự

Trang 22

Phạm tội nhiều lần là phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều luật (hoặc tại cùng một khoản của điều luật) tương ứng trong Phần các tôi phạm củaBLHS, đồng thời đối với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử [6, tr 390]

Phạm nhiều tội là trường hợp một chủ thể thực hiện hai tội phạm trở lên, mà những tội phạm đó được quy định tại các điều luật khác nhau hoặc các khoản khác nhau của một điều luật trong Phần các tội phạm của BLHS, nhưng người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong số các tội ấy [15, tr 49]

Phạm tội nhiều lần là phạm tội trong trường hợp hành vi của chủ thể có đầy đủ các dấu hiệu của hai tội phạm trở lên mà những tội

ấy được quy định tại cùng một điều hoặc một khoản của điều trong Phần các tội phạm của BLHS và bị xét xử cùng một lần [15, tr 68]

Phạm nhiều tội được hiểu là trường hợp các hành vi của người phạm do một người thực hiện được quy định không những trong các điều luật khác nhau mà còn được quy định trong các khoản khác nhau thuộc Phần các tội phạm của BLHS và người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong số các tội ấy [36, tr 211]

Từ bốn khái niệm cơ bản nói trên, có thể thấy đặc điểm duy nhất để phân biệt hai tình tiết này là: số lần phạm tội từ hai lần trở lên nhưng ở tình tiết phạm tội nhiều lần thì những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc một khoản của điều) tương ứng trong Phần các tội phạm của BLHS, còn ở tình tiết phạm nhiều tội thì những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau (hoặc tại các khoản khác nhau của cùng một điều nếu các đối tượng của tội phạm khác nhau) trong Phần các tội phạm của BLHS

Trang 23

1.3.2 Phạm tội nhiều lần và phạm tội liên tục

Phạm tội nhiều lần và phạm tội liên tục nếu xét về thuật ngữ "nhiều lần" và thuật ngữ "liên tục" ta thấy chúng dường như là tương đồng nhưng thực ra về bản chất là rất khác nhau

Phạm tội liên tục là một trong ba dạng của tội đơn nhất phức tạp bao gồm tội ghép (ví dụ: tội cướp tài sản, tội hiếp dâm); tội kéo dài (ví dụ: tội tàng trữ vũ khí trái phép, tội đào ngũ) và tội liên tục Chúng ta có thể hiểu phạm tội liên tục là:

Khi tội phạm được hình thành từ một loạt hành vi nguy hiểm cho xã hội giống nhau, mà các hành vi đó có một mục đích chung, được thực hiện với một ý định phạm tội thống nhất, cùng xâm hại đến một khách thể và trong sự tổng hợp của những hành vi đó thì cấu thành một tội phạm độc lập (ví dụ: tội bức tử; tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái; v.v…) [5, tr 77] Như vậy, phạm tội liên tục cũng là phạm tội được hình thành từ nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, nhưng khác với phạm tội nhiều lần một loạt hành vi nguy hiểm của phạm tội liên tục mới cấu thành nên một tội vì mỗi hành vi chưa đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập, còn với tình tiết phạm tội nhiều lần thì hành vi nguy hiểm cho xã hội trong mỗi lần thực hiện bao giờ cũng có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập Mặt khác, xét về hậu quả cũng như thiệt hại cho xã hội do hành vi gây ra thì phạm tội nhiều lần gây ra thiệt hại lớn hơn rất nhiều

so với phạm tội liên tục Về mức độ trách nhiệm hình sự, phạm tội nhiều lần

là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự còn phạm tội liên tục nhằm để chỉ ra tội đó do một loạt hành vi cấu thành nên nó chỉ là tình tiết định tội mà thôi

1.3.3 Phạm tội nhiều lần và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp

Cũng giống với chế định phạm tội nhiều lần, định nghĩa pháp lý của

Trang 24

khái niệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp chưa được nhà làm luật chính thức ghi nhận về mặt lập pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam

Việc nghiên cứu thực tiễn xét xử cho thấy, khái niệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp có thể được hiểu là một dạng đặc biệt của phạm tội nhiều lần, tức là ngoài các dấu hiệu của phạm tội nhiều lần ra (như: hành vi của bị cáo có đầy đủ các dấu hiệu của từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều hoặc một khoản của điều trong BLHS và bị cáo được đưa ra xét xử cùng một lần), hành vi phạm tội nhất thiết phải có thêm một số dấu hiệu đặc trưng khác chủ yếu như sau: a) có tính chất liên tục, b) nhằm mục đích vụ lợi hay làm giàu bất chính và, c) hoạt động phạm tội đã trở thành

hệ thống, tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của bị cáo

Như vậy, từ các dấu hiệu đặc trưng chủ yếu mà khái niệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp bắt buộc phải có đã cho phép khẳng định rằng, khái niệm này (phạm tội có tính chất chuyên nghiệp) về cơ bản liên quan đến các tội mang tính chất vụ lợi, kinh tế hoặc xâm phạm sở hữu

Sự giống nhau và sự khác nhau của trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và trường hợp phạm tội nhiều lần là ở chỗ: a) sự giống nhau – trong cả hai trường hợp người phạm tội đều thực hiện hành vi phạm tội từ hai lần trở lên; b) sự khác nhau – trong trường hợp đầu hoạt động phạm tội của bị cáo đã trở thành phương tiện kiếm sống của mình (tức là luôn luôn nhằm mục đích vụ lợi hay làm giàu bất chính, có tính chất liên tục và hệ thống để tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu), nhưng trong trường hợp sau thì hoạt động phạm tội của bị cáo không phải là phương tiện kiếm sống của mình

Tuy nhiên, khi áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp

Cần lưu ý rằng khái niệm chuyên nghiệp được hiểu ở đây không đồng nghĩa với khái niệm nghề nghiệp của một người…, tính chất chuyên nghiệp của hành vi phạm tội thể hiện ở chỗ tội phạm

Trang 25

đó được lặp đi lặp lại nhiều lần mà người phạm tội coi việc phạm tội đó là phương tiện kiếm sống [9, tr 114-115]

Xem xét phạm tội có tính chất chuyên nghiệp dưới góc độ khoa học luật hình sự, chế định này được hiểu là phạm tội nhiều lần, có tính chất liên tục và nhằm mục đích vụ lợi hay làm giàu bất chính mà hoạt động phạm tội

đã trở thành hệ thống và tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của người phạm tội

Qua đó chúng ta nhận thấy, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thể hiện tính nguy hiểm và mang cấp độ cao hơn so với tình tiết phạm tội nhiều lần Phạm tội nhiều lần chỉ để chỉ người phạm tội thực hiện từ hai lần hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm Còn đối với phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thì các hành vi phạm tội có tính chất liên tục, các hành vi phạm tội đã trở thành hoạt động phạm tội có hệ thống và tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của người phạm tội

Bên cạnh đó, nếu ở tình tiết phạm tội nhiều lần mà các lần người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội chưa bị đưa ra xét xử lần nào thì ở tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp người phạm tội có thể bị đưa ra xét xử ở các lần khác nhau Bởi vì có thể ngay sau khi được xóa án tích người phạm tội lại tiếp tục thực hiện một loạt tội phạm cùng nhóm

1.3.4 Phạm tội nhiều lần và tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Không giống như tình tiết phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm được quy định bằng một chế định độc lập (tại Điều 40 BLHS năm 1985; Điều 49 BLHS năm 1999 và Điều 53 BLHS năm 2015)

Theo đó, một người chỉ được coi là tái phạm khi có đầy đủ các diều kiện sau đây:

Thứ nhất, người đó đã bị kết án Người đã bị kết án là người

có bản án kết tội của Tòa án mà không phụ thuộc vào việc bản án

đó có hiệu lực hay chưa

Trang 26

Thứ hai, người bị kết án chưa được xóa án tích Điều đó có nghĩa, điều kiện bắt buộc là việc kết án đó phải phát sinh án tích và

án tích chưa được xóa…

Thứ ba, phạm tội mới do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý… [15, tr 82-83]

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đặc biệt của tái phạm nên vẫn đòi hỏi các điều kiện cần và đủ như đối với tái phạm nói trên Tuy nhiên, là một trường hợp đặc biệt của tái phạm nên tái phạm nguy hiểm cũng có các điều kiện riêng:

- Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng (tội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên bảy năm đến mười lăm năm tù) do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (tức là tội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân, hoặc tử hình) do cố ý;

- Đã bị kết án về tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

- Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố

ý [15, tr 85]

Giống với tình tiết phạm tội nhiều lần, tái phạm cũng là thực hiện từ hai lần trở lên hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm Nhưng tái phạm, tái phạm nguy hiểm là trường hợp người phạm tội đã bị kết án và chưa được xóa án tích; còn phạm tội nhiều lần thì người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nhưng chưa lần nào bị đưa ra xét xử nên chưa bị kết án và chưa có án tích

Ở tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm, tội phạm trước và tội phạm

Trang 27

mới không cần thiết phải cùng là một tội được quy định trong cùng một điều luật còn ở tình tiết phạm tội nhiều lần thì bắt buộc tất cả các hành vi phạm tội

đó đều được quy định tại một điều luật cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS (1985, 1999, 2015)

Theo quy định của BLHS (1985, 1999, 2015) tình tiết tái phạm và tái phạm nguy hiểm có những dấu hiệu đặc trưng đó là dấu hiệu về hình thức lỗi

và tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội còn tình tiết phạm tội nhiều lần không đặt ra dấu hiệu này

1.4 Ý nghĩa của việc điều chỉnh về mặt lập pháp tình tiết phạm tội nhiều lần trong pháp luật hình sự Việt Nam

Thực tiễn đấu tranh chống tội phạm ở Việt Nam trong những năm qua

đã cho thấy một cách xác đáng và đảm bảo sức thuyết phục rằng, nếu như trong pháp luật hình sự không có sự ghi nhận một cách rõ ràng và dứt khoát các định nghĩa pháp lý của bốn dạng thuộc chế định đa tội phạm - trong đó có

khái niệm "phạm tội nhiều lần" là gì (?) với tính chất là sự giải thích chính

thức về mặt lập pháp của nhà làm luật, thì các cơ quan điều tra, truy tố và xét

xử khó đạt được sự thống nhất và đồng bộ trong việc nhận thức khoa học và

áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tình tiết này [5, tr 82]

Do đó có thể nói rằng, phạm tội nhiều lần là một tình tiết cần phải được điều chỉnh về mặt lập pháp bằng các quy phạm trong một chương độc lập của BLHS Đây là điều cần thiết và quan trọng trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

Việc ghi nhận những dấu hiệu đặc trưng cơ bản, điển hình và riêng biệt

trong định nghĩa pháp lý của khái niệm phạm tội nhiều lần sẽ thể hiện rõ được tính nguy hiểm cho xã hội của nó và giúp chúng ta hiểu đúng, phân biệt được

bản chất pháp lý riêng của “phạm tội nhiều lần” trong chế định đa tội phạm

nêu trên [5, tr 83, 84]

Trang 28

Hơn nữa, việc được ghi nhận chính thức với tính chất là các căn cứ pháp lý cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án áp dụng thống nhất có ý nghĩa và ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của Tòa án, đến quyền và lợi ích thiết thực của chính bản thân người phạm tội

Theo cấu trúc xây dựng điều luật thì bất kỳ điều luật cụ thể nào trong Phần các tội phạm của BLHS, nhà làm luật nước ta đều quy định mức hình phạt tối thiểu và mức hình phạt tối đa tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội tương ứng Đường lối xử lý chung trong pháp luật nước ta là tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với những trường hợp phạm tội nhiều lần

Chúng tôi đề nghị cùng với việc rà soát, sửa đổi bổ sung BLHS về sau, tình tiết “phạm tội nhiều lần” cần được quy định trong các điều luật quy định tội phạm cụ thể, với ý nghĩa là đó là tình tiết phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để có xác định khung hình phạt phù hợp hơn

Việc điều chỉnh về mặt lập pháp tình tiết phạm tội nhiều lần có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, góp phần đồng bộ hóa các quy định của pháp luật về tình tiết này

Việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận về chế định phạm tội nhiều lần không chỉ tác dụng hữu hiệu đối với thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm, mà còn là một trong những nhiệm vụ cơ bản của khoa học luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [5, tr 85]

1.5 Kết luận

Tóm lại, từ việc tìm hiểu về chế định đa tội phạm, trong đó có tình tiết phạm tội nhiều lần chúng ta phần nào hiểu được khái niệm, đặc điểm cơ bản của chế định phạm tội nhiều lần cũng như phân biệt được chế định này với ba dạng còn lại của chế định đa tội phạm (phạm nhiều tội; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; tái phạm, tái phạm nguy hiểm) và từ đó cho chúng ta một

Trang 29

nhận thức thống nhất và đúng đắn về bản chất pháp lý của chế định phạm tội nhiều lần nhằm xác định chính xác từng hình thức biểu hiện cụ thể của chế định này trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử Đây chính là điều kiện quan trọng bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và nhiều (đa) tội phạm nói riêng

Trang 30

Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ

“PHẠM TỘI NHIỀU LẦN” VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI ĐỊA

BÀN TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2010-2016 2.1 Các quy định của luật hình sự Việt Nam về phạm tội nhiều lần

từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến trước khi ban hành BLHS năm 1999

2.1.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 cho đến trước khi ban hành BLHS năm1985

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với chính quyền còn non trẻ, khó khăn chồng chất Bắt tay vào xây dựng đất nước trên đống đổ nát của chiến tranh; tàn dư thực dân, phong kiến; bên cạnh nhiều nhiệm vụ tối quan trọng hàng đầu như diệt “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật hình sự

để tạo cơ sở cho việc ổn định an ninh trật tự, trấn áp tội phạm…

Tuy vậy, trong thời kỳ đầu của chính quyền cho đến những năm 1950 với muôn vàn khó khăn, thử thách, kinh nghiệm lập pháp chưa có nhiều nên những quy định của pháp luật hình sự chưa hoàn chỉnh; các quy định về tội phạm, hình phạt được xây dựng trên cơ sở kinh tế xã hội và trên cơ sở thực tiễn của tình hình tội phạm của thời kì đó Trong giai đoạn này, các chế định của luật hình sự được thể hiện dưới dạng các Sắc lệnh Mỗi tội phạm cụ thể lại được điều chỉnh bằng một Sắc lệnh mà không quy định chung trong một Sắc lệnh Nghiên cứu các văn bản quy định trong thời kỳ này có thể thấy tình tiết phạm tội nhiều lần chưa được đề cập đến

Sau đó, từ những năm 1960 đến trước năm 1975, Nhà nước ta phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược, đó là: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

Trang 31

miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Những quy định chung trong luật hình sự cũng đã có những bước phát triển để bảo vệ

sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hóa, chống lại những âm mưu, hành động phá hoại, làm thiệt hại đến tài sản Nhà nước, tập thể và công dân, trấn áp kẻ thù của đất nước; đồng thời bảo vệ cơ sở vật chất kỹ thuật, bảo vệ nền kinh tế

kế hoạch, chống mọi âm mưu và hành động phản cách mạng, lật đổ chính quyền nhân dân Trong thời kỳ này các quy định của pháp luật hình sự cũng chưa có được sự thống nhất, tập trung mà vẫn quy định ở nhiều văn bản khác nhau.Tìm hiểu các văn bản quy định trong thời kỳ này, có thể thấy tình tiết phạm tội nhiều lần cũng chưa được đề cập đến mà pháp luật chỉ quy định về các tình tiết tăng nặng khác như tái phạm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hoặc phạm tội có tổ chức

Đại thắng mùa xuân năm 1975 kết thúc công cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước, đất nước ta được hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối Tuy vậy, ngay sau khi giải phóng, tạm thời hai miền Nam, Bắc vẫn tồn tại hai hệ thống pháp luật khác nhau

Ngày 25/04/1976, nhân dân ta tiến hành tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung trong cả nước Ngày 02/07/1976, Quốc Hội chính thức đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật được áp dụng chung cho cả nước Những năm đầu đất nước thống nhất, pháp luật hình sự đã bắt đầu đề cập đến tình tiết phạm tội nhiều lần với ý nghĩa là một trong những trường hợp cần xử lý nghiêm khắc, phạm tội nhiều lần mang tính chất là một tình tiết tăng nặng hình phạt

Ví dụ: Tại Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ ngày 20/05/1981 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quy định: Tội hối lộ bao gồm nhận hối lộ, đưa hối lộ và môi giới hối lộ Người nào nhận hối lộ thì bị phạt tù từ 01 năm đến 10 năm Người nào đưa hối lộ, môi giới hối lộ thì bị phạt tù từ 06

Trang 32

tháng đến 05 năm Phạm tội trong trường hợp phạm tội nhiều lần thì bị phạt tù đến 15 năm [35]

Do hoàn cảnh và những điều kiện cụ thể của đất nươc trong thời kỳ này nên hệ thống các văn bản pháp luật hình sự thực định Việt Nam chưa có sự phân chia rõ ràng giữa các quy phạm Phần chung và Phần riêng, đồng thời có rất ít văn bản liên quan đến các quy phạm Phần chung mà chủ yếu chỉ là các văn bản liên quan đến các quy phạm Phần riêng luật hình sự (khi đề cập đến việc đấu tranh chống các tội phạm cụ thể) [7, tr 61]

2.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 cho đến trước khi ban hành BLHS năm 1999

Nhằm đáp ứng yêu cầu tăng cường tăng cường tuân thủ pháp luật và thực hiện đầy đủ, toàn diện chính sách pháp luật hình sự của Đảng và Nhà nước, ngày 27/06/1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII, Quốc hội đã thông qua toàn văn BLHS, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1986 BLHS năm

1985 ra đời dựa trên cơ sở sự kế thừa và phát triển những thành tựu của pháp luật hình sự Việt Nam, đặc biệt từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 Đây là bước ngoặt rất quan trọng trong lịch sử pháp luật nước ta Các quy định về hình sự đã được tập trung lại thành một bộ luật hoàn chỉnh BLHS năm 1985 được chia làm hai phần: Phần chung và Phần riêng

Tại Phần chung của BLHS năm 1985 lần đầu tiên tình tiết phạm tội nhiều lần chính thức được quy định là một tình tiết tăng nặng chung Cụ thể như sau:

Những tình tiết tăng nặng

1- Những tình tiết sau đây mới được coi là tình tiết tăng nặng:

a Phạm tội có tổ chức; xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

b Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

c Phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt;

Trang 33

d Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác trong khi phạm tội hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

đ Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về vật chất, công tác hay các mặt khác;

e Phạm tội vì động cơ đê hèn; cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng;

h Phạm tội nhiều lần; tái phạm; tái phạm nguy hiểm;

i Sau khi phạm tội, đã có những hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm [26, Điều 39]

Theo thống kê của chúng tôi, tại Phần riêng của BLHS năm 1985 tình tiết phạm tội nhiều lần được xét đến như là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng trong một số tội phạm khác nhau được quy định tại 06 điều tương ứng trong bộ luật Cụ thể:

1 Khoản 2 Điều 88: Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn

đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép

2 Điểm đ khoản 2 Điều 97: Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới

3 Khoản 2 Điều 170: Tội lừa dối khách hàng

4 Điểm đ khoản 2 Điều 226: Tội nhận hối lộ

5 Điểm đ khoản 2 Điều 227: Tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ

6 Điểm c khoản 2 Điều 272: Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm [26]

BLHS năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm 1989,

1991, 1992 và 1997 Tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm

Trang 34

1985 ngày 10/05/1997, quy định phạm tội nhiều lần là tình tiết định khung hình phạt cao ở các tội phạm cụ thể đã được tăng lên rất nhiều so với BLHS năm 1985 (từ 6 tội lên đến 28 tội) Cụ thể các tội nói sau được bổ sung thêm tình tiết tăng nặng định khung phạm tội nhiều lần:

1 Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa

2 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản

5 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

6 Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

7 Tội giả mạo trong công tác

8 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi

9 Tội sản xuất trái phép chất ma túy

10 Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

11 Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

12 Tội mua bán trái phép chất ma túy

13 Tội chiếm đoạt chất ma túy

14 Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

15 Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy

16 Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

17 Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

Trang 35

18 Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất

ma túy

19 Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác

20 Tội hiếp dâm trẻ em

21 Tội cưỡng dâm người chưa thành niên

22 Tội giao cấu với trẻ em

23 Tội chứa mãi dâm, tội môi giới mãi dâm

24 Tội mua dâm người chưa thành niên

25 Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa

26 Tội hiếp dâm

27 Tội cưỡng dâm

28 Tội dâm ô đối với trẻ em [26]

Song song với việc sủa đổi bổ sung trên, xem xét về mặt thực tiễn, lần

đầu tiên bằng giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo, Thông tư liên tịch số

01/1998/TTLT ngày 02/01/1998 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) hướng dẫn áp dụng một

số quy định của Luật ngày 10/5/1997 về sửa đổi và bổ sung một số quy định

của BLHS năm 1985 đã đưa ra khái niệm phạm tội nhiều lần đối với riêng một số tội phạm có tính chất tham nhũng và tình dục được đề cập trong Luật

đã nêu (chứ chưa phải là khái niệm phạm tội nhiều lần nói chung) Theo văn bản này, thì khái niệm “phạm tội nhiều lần” đối với một tội nào đó (trong số

các tội phạm có tính chất tham nhũng có thể được hiểu là:

Bị cáo đã phạm tội ấy từ hai lần trở lên mà mỗi lần phạm tội

có đầy đủ các yếu tố của cấu thành tội phạm cơ bản (khoản 1) trong điều luật tương ứng và người phạm tội chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và tội ấy cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình

sự [5, tr 78-79]

Trang 36

Do đó, có thể nói rằng tình tiết phạm tội nhiều lần đã được chính thức ghi nhận là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung hoặc là một tình tiết định khung hình phạt tăng nặng trong Phần các tội phạm của BLHS năm

1985 Việc ghi nhận nói trên đồng thời cũng là một căn cứ pháp lý quan trọng cho việc tòa án xem xét trong vấn đề quyết định khung và mức hình phạt

2.2 Các quy định của BLHS Việt Nam năm 1999 về phạm tội nhiều lần

2.2.1 Các quy định của Phần chung BLHS năm 1999 về phạm tội nhiều lần

Kế thừa những quy định của BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 quy định tình tiết phạm tội nhiều lần là một trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm g khoản 1 Điều 48)

1 Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a Phạm tội có tổchức;

b Phạm tội có tính chất chuyênn ghiệp;

c Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

f Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

h Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

i Xâm phạm tài sản của Nhà nước;

k Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

l Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên

Trang 37

tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác phạm tội hoặc thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

n Xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

o Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm

2 Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng [27, điểm g, khoản 1, Điều 48] Chế định phạm tội nhiều lần dưới góc độ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này Một mức hình phạt cụ thể là ba năm, bảy năm, mười lăm năm, hai mươi năm, thậm chí là sự lựa chọn giữa hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình một phần phụ thuộc vào việc người phạm tội có hay không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có một hay nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự,

để từ đó Tòa án quyết định quyền sống hay chết của người phạm tội Do đó, tình tiết phạm tội nhiều lần nhìn từ góc độ này có ý nghĩa và ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của Tòa án, đến quyền và lợi ích thiết thân của chính bản thân người phạm tội

Tuy nhiên, trong một vụ án hình sự có thể có một tội phạm hoặc nhiều tội phạm, một người phạm tội hoặc nhiều người phạm tội, nên việc xác định tình tiết định tội và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chỉ trong phạm vi một tội phạm cụ thể mà không được sử dụng tình tiết định tội của tội phạm này làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội phạm khác cũng như tình tiết tăng nặng của người phạm tội này làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm

Trang 38

hình sự cho người phạm tội khác vì "những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng"

2.2.2 Những quy định của Phần các tội phạm BLHS năm 1999 về phạm tội nhiều lần

Ghi nhận tại Phần các tội phạm BLHS năm 1999, tình tiết phạm tội nhiều lần được quy định là tình tiết định khung hình phạt trong rất nhiều tội phạm quy định tại các điều của các chương khác nhau Tổng số điều luật có tình tiết định khung hình phạt tăng nặng phạm tội nhiều lần tại BLHS năm

1999 theo thống kê của chúng tôi là 48 điều Cụ thể:

1 Điểm c khoản 1 Điều 104: Tội cố ý gây thương tích

2 Điểm d khoản 2 Điều 111: Tội hiếp dâm

3 Điểm c khoản 3 Điều 112: Tội hiếp dâm trẻ em

4 Điểm b khoản 2 Điều 113: Tội cưỡ ng dâm

5 Điểm b khoản 3 Điều 114: Tội cưỡng dâm trẻ em

6 Điểm a khoản 3 Điều 115: Tội giao cấu với trẻ em

7 Điểm a khoản 2 Điều 116: Tội dâm ô với trẻ em

8 Điểm e khoản 2 Điều 119: Tội mua bán phụ nữ

9 Điểm b khoản 2 Điều 121: Tội làm nhục người khác

10 Điểm b khoản 2 Điều 123:Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

11 Điểm c khoản 2 Điều 125: Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác

12 Điểm b khoản 2 Điều 131: Tội xâm phạm quyền tác giả

13 Điểm a khoản 2 Điều 142: Tội sử dụng trái phép tài sản

14 Điểm k khoản 2 Điều 153: Tội buôn lậu

15 Điểm đ khoản 2 Điều 154: Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới

Trang 39

16 Khoản 2 Điều 162: Tội lừa dối khách hàng

17 Điểm b khoản Điều 169: Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ

18 Điểm b khoản 2 Điều 170: Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

19 Điểm b khoản 2 Điều 171: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

20 Điểm b khoản 2 Điều173: Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai

21 Điểm b khoản 2 Điều 176: Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng

22 Điểm b khoản 2 Điều 193: Tội sản xuất trái phép chất ma túy

23 Điểm b khoản 2 Điều 194: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

24 Điểm b khoản 2 Điều 195: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất

ma túy

25 Điểm b khoản 2 Điều 196: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy

26 Điểm a khoản 2 Điều 197: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

27 Điểm b khoản 2 Điều 198: Tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy

28 Điểm b khoản 2 Điều 200: Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

29 Điểm b khoản 2 Điều 201: Tội vi phạm quy định về quản

lý sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác

Trang 40

30 Điểm a khoản 2 Điều 228: Tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em

31 Điểm c khoản 2 Điều 251: Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản

do phạm tội mà có (nay gọi là Tội rửa tiền)

32 Điểm c khoản 2 Điều 254: Tội chứa mại dâm

33 Điểm d khoản 2 Điều 255: Tội môi giới mại dâm

34 Điểm a khoản 2 Điều 256: Tội mua dâm người chưa thành niên

35 Điểm b khoản 2 Điều 257: Tội chống người thi hành công vụ

36 Điểm b khoản 2 Điều 266: Tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức

37 Điểm b khoản 2 Điều 267: Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

38 Khoản 2 Điều 275: Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép

39 Điểm c khoản 2 Điều 278: Tội tham ô tài sản

40 Điểm c khoản 2 Điều 279: Tội nhận hối lộ

41 Điểm c khoản 2 Điều 280: Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

42 Điểm b khoản 2 Điều 281: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

43 Điểm b khoản 2 Điều 282: Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

44 Điểm b khoản 2 Điều 283: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi

45 Điểm c khoản 2 Điều 284: Tội giả mạo trong công tác

46 Điểm d khoản 2 Điều 289: Tội đưa hối lộ

Ngày đăng: 06/07/2022, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung Luật hình sự, Tập III, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung Luật hình sự, Tập III
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
4. Lê Cảm (2001), "Chế định đa (nhiều) tội phạm và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt Nam", Tạp chí Dân chủ và pháp luật (6) tr 2,5,9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định đa (nhiều) tội phạm và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
5. Lê Cảm (2002), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, Tập IV, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, Tập IV
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2002
6. Lê Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
7. Lê Văn Cảm (2008) “Sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình sựu Việt Nam (phần chung) từ năm 1945 đến nay”, Tạp chí nhà nước và pháp luật (6); tr 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình sựu Việt Nam (phần chung) từ năm 1945 đến nay”, "Tạp chí nhà nước và pháp luật (6)
8. Lê Cảm (Chủ biên) (2001) (2003-tái bản), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Lê Cảm, Trịnh Quốc Toản (2011), Định tội danh (lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh (lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập)
Tác giả: Lê Cảm, Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
10. Nguyễn Hải Dũng (2005), Về việc áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần, phạm tội đối với nhiều người trong một số tội phạm của BLHS năm 1999, Tạp chí Kiểm sát (2), tr 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần, phạm tội đối với nhiều người trong một số tội phạm của BLHS năm 1999
Tác giả: Nguyễn Hải Dũng
Năm: 2005
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
15. Lê Văn Đệ (2003) - Chế định nhiều tội phạm - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định nhiều tội phạm - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
16. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên cùng Tập thể tác giả (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên cùng Tập thể tác giả
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
17. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2003), Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2003
18. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2006
19. Đỗ Thanh Huyền (2007), “Bàn về phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (8), tr 23-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần”
Tác giả: Đỗ Thanh Huyền
Năm: 2007
20. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (1998), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1998
21. Vũ Thành Long (2006), Áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 về tình tiết tăng nặng phạm tội có tổ chức và phạm tội nhiều lần, Tạp chí Kiểm sát, (21), tr. 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 về tình tiết tăng nặng phạm tội có tổ chức và phạm tội nhiều lần
Tác giả: Vũ Thành Long
Năm: 2006
22. Lê Văn Luật (2006), "Bàn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội nhiều lần" quy định trong Luật hình sự Việt Nam", Tạp chí Khoa học pháp lý, (4), tr 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội nhiều lần" quy định trong Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Luật
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

CHế ĐịNH PHạM TộI NHIềU LầN TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM - (LUẬN văn THẠC sĩ) một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định phạm tội nhiều lần trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh hà tĩnh giai đoạn 2010  2016)
CHế ĐịNH PHạM TộI NHIềU LầN TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM (Trang 1)
Bảng 2.1: Thống kờ số liệu một số tội danh cỏc đối tượng phạm tội thường bị ỏp dụng tỡnh tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần từ năm 2010 đến năm 2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định phạm tội nhiều lần trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh hà tĩnh giai đoạn 2010  2016)
Bảng 2.1 Thống kờ số liệu một số tội danh cỏc đối tượng phạm tội thường bị ỏp dụng tỡnh tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần từ năm 2010 đến năm 2016 (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm