1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2012

53 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Bất Cập Trong Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Năm 2012
Người hướng dẫn GVGD: Trần Thị Lệ Thu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế - Luật
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại Bài Thi Cuối Kỳ
Năm xuất bản 2021 – 2022
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2012 Môn LUẬT HÀNH CHÍNH GVGD Trần Thị Lệ Thu Sử dụng các kiến thức đã học được trong môn học Luật Hành chính, đặc biệt là sau khi tìm hiểu Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020 cũng như thực tế thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 từ năm 2013 cho đến nay, AnhChị hãy viết một bản phân tích không dưới 10 trang.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT BÀI THI CUỐI KỲ

KHOA LUẬT Học kỳ 1 - Năm học 2021 – 2022

(Sinh viên làm bài tiểu luận theo nhóm, mỗi nhóm chỉ nộp 1 bài)

Môn: LUẬT HÀNH CHÍNH GVGD: Trần Thị Lệ Thu

Sử dụng các kiến thức đã học được trong môn học Luật Hành chính, đặc biệt làsau khi tìm hiểu Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Luật sửa đổi, bổ sungnăm 2020 cũng như thực tế thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 từ năm

2013 cho đến nay, Anh/Chị hãy viết một bản phân tích không dưới 10 trang trả lời cáccâu hỏi sau đây:

1 Theo Anh/Chị, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có những bất cập gì?Hãy lý giải và cho dẫn chứng cụ thể minh hoạ?

2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 sửa đổi, bổ sung đã khắc phục đượchết những bất cập trên chưa? Giải pháp của Anh/ Chị đề ra (nếu có)?

Trang 2

CHƯƠNG I: NHỮNG BẤT CẬP TRONG LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH

CHÍNH NĂM 2012

Luật Xử lý hành chính năm 2012 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày20/6/2012, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2013 là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần đảmbảo kỷ cương hành chính Với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được banhành khá đồng bộ đã góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh, phòng ngừa vàchống các hành vi vi phạm hành chính; giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệquyền lợi ích hợp pháp của nhân dân, nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước trêncác lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, ngoài những kết quả tích cực song từ thựctiễn cho thấy vẫn còn có những khó khăn, vướng mắc, bất cập từ quy định của Luật

Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quandẫn đến sự thiếu đồng bộ và chưa thống nhất trong quy định Những bất cập từ quyđịnh của các văn bản pháp luật chuyên ngành cần được khắc phục, thay đổi tạo cơ sởpháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc áp dụng trong thực tiễn cuộc sống

I Bất cập của những quy định chung:

1 Các quy định về nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính

Trang 3

Thứ nhất, tại điểm b khoản 1 Điều 10 quy định về tình tiết tăng nặng “Vi phạm hành chính nhiều lần; tái phạm” có sự mâu thuẫn Theo nội dung của quy định này có

thể hiểu cùng một hành vi vi phạm mà xảy ra tại nhiều thời điểm khác nhau, tái phạm nhiều lần nhưng chưa bị phát giác Như vậy khi hành vi vi phạm bị phát hiện cùng tang vật thì sẽ xử phạt 1 lần và có áp dụng tình tiết tăng nặng do có hành vi tái phạm Mặt khác, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 nguyên tắc xử phạt vi phạm hành

chính: “Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp

luật quy định Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần” Như vậy, với

trường hợp vi phạm như trộm cắp xảy ra nhiều lần tại một địa phương thì phải xử phạthành vi vi phạm theo từng thời điểm xảy ra hành vi vi phạm theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 hay xử phạt theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10? Qua đó, ta có thể thấy sự bất cập giữa 2 điều khoản nói trên, sự quy định thiếu rõ ràng này khiến các cơ quan, người có thẩm quyền khi ra quyết định xử phạt gặp khó khăn, mâu thuẫn, lúng túng khi áp dụng điều luật1

Thứ hai, dù được quy định trong cùng một đạo luật, nhưng các nội dung cụ thể về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính lại được quy định tách riêng khỏi xử phạt vi phạm hành chính, từ đối tượng áp dụng, nguyên tắc, thời hiệu, thời hạn áp dụng, nội dung các biện pháp cho đến thẩm quyền và thủ tục áp dụng Bên cạnh đó, có một số điều khoản quy định chung cho cả xử phạt VPHC và áp dụng các biện pháp xử lý hànhchính chưa thật sự hợp lý, ví dụ như quy định tại Điều 9 “Tình tiết giảm nhẹ”, Điều 10

“Tình tiết tăng nặng”, Điều 15 “Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính”, Điều 16 “Trách nhiệm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành

chính”, v.v… Xem xét quy định tại điểm l khoản 1 Điều 10 về tình tiết tăng nặng: “Vi

phạm hành chính có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn” chưa có sự

thống nhất như thế nào là quy mô lớn; chưa có định lượng, định tính cụ thể về “trị giá

hàng hóa vi phạm” như thế nào thì được coi là “lớn” để áp dụng tình tiết tăng nặng

này Việc người có thẩm quyền áp dụng “tình tiết tăng nặng” khi ra quyết định xử phạt

theo quy định của pháp luật sẽ mang lại sự chính xác hơn, nhưng với quy định không được rõ ràng, mâu thuẫn như trên thì sẽ khó mà áp dụng trong thực tế

Thứ ba, theo khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định:

“Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

Trang 4

bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử

lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền” Tuy vậy, trên thực tế các cơ

quan có thẩm quyền vẫn chưa ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tụcthực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới như thế nào để bảo đảm tính chặt chẽ và chính xác Mặt khác, cũng theo khoản 2 Điều 77 Luật này có quy

định: “Đối với trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ra quyết định xử

phạt thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đó xem xét, quyết định việc giảm, miễn tiền phạt”

nhưng lại thiếu quy định về trình tự, thủ tục quyết định việc được miễn, giảm tiền phạtgây nên nhiều bất cập trong thực tiễn áp dụng

2 Các quy định về tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

Thứ nhất, tại Điều 26 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Tịch thu

tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức.

Việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu được thực hiện theo quy định tại Điều 82 của Luật này” Như vậy việc tịch thu tang vật, phương tiện vi

phạm hành chính chỉ được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố

ý của cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, trên thực tế ở lĩnh vực hải quan, việc chứng minh được lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức là rất khó bởi khi hàng hóa được chuyển từ nước ngoài về họ nhận nhưng không biết bên trong là mặt hàng gì, như thế nào nên dù hàng hóa đó là vi phạm hành chính nghiêm trọng đi nữa mà không thể chứng minh được đó

là lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức thì việc áp dụng quy định tại Điều 26 của Luật này có thực sự thỏa đáng và hợp lý hay không?

Thứ hai, theo khoản 1 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định

“Đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để

vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào

Trang 5

ngân sách nhà nước.” Quy định này khi áp dụng đã gây lúng túng, khó khăn trên thực

tế do Nghị định 81/2013/NĐ-CP và các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực cụ thể chưa có quy định hay hướng dẫn chi tiết trình tự, áp dụng đối với biện pháp này Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính 2012 cũng không quy định hình thức này là hình thức xử phạt hay biện pháp khắc phục hậu quả, đồng thời trên thực tế các phương tiện vận tải hầu hết đều có giá trị lớn, người lái xe đa số là làmthuê, thu nhập thấp nên không có khoản tiền tương đương để nộp khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước Xem xét vấn đề này khi áp dụng trong thực tiễn thì quy định này có thực sự hợp lý? Tất cả các vấn đề nêu trên từ điều luật này là do Luật chưa có sự rõ ràng trong việc quy định về thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính.Bên cạnh các bất cập cũng liên quan đến xử lý tang vật vi phạm hành chính đối với những tang vật cần phải thành lập Hội đồng định giá để xác định giá, có quy định thời gian là 24 giờ bắt đầu từ thời điểm ra quyết định tạm giữ tang vật Việc này sẽ gây ra những khó khăn nhất định trong thực tế áp dụng cho cơ quan chức năng bởi lẽ các nhàlàm luật giới hạn thời gian như thế là rất ngắn, không kịp để các cơ quan xử lý theo trình tự nhất định Theo Thông tư 173/2013/TT-BTC và Thông tư 190/2013/TT-BTC thì Hội đồng định giá tang vật ngoài Chủ tịch Hội đồng là người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện thì thành viên là đại diện Sở Tài chính cùng cấp Chính vì vậy, việc triệu tập phải có thời gian nhất định, mà không phải lúc nào việc phối hợp giữa cơ quan Hải quan và cơ quan Tài chính cũng diễn ra suôn sẻ, đồng bộ

Vấn đề thứ ba, tại khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012,

quy định: “Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quá thời hạn tạm giữ

nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng hoặc trường hợp không xác định được người vi phạm thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo, niêm yết công khai, nếu người vi phạm không đến nhận thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xử lý theo quy định tại Điều

82 của Luật này” Giả sử trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

chưa xác định được chủ sở hữu thì thời hạn để người có thẩm quyền ra quyết định tịch

Trang 6

thu tang vật, phương tiện theo quy định được xác định như thế nào? Người có thẩm quyền ban hành quyết định tịch thu tang vật vi phạm hành chính quy định tại khoản 4 Điều 1261 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nếu áp dụng thời hạn để ra quyết định tịch thu tang vật vi phạm hành chính là chưa phù hợp theo quy định của Luật Tuy nhiên, vấn đề bất cập trong trường hợp này là theo quy định tại khoản 8 Điều 125

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 “Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi

phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề” Theo đó, tang vật, phương tiện vi phạm hành

chính chỉ được cơ quan có thẩm quyền tạm giữ và có trách nhiệm bảo quản trong thời hạn tối đa là 30 ngày Sau thời hạn 37 ngày thì người có thẩm quyền mới được ban hành quyết định tịch thu tang vật, phương tiện không xác định được chủ sở hữu, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nói trên sẽ do ai bảo quản, trách nhiệm và thuộc

về cá nhân, tổ chức nào nếu xảy ra vấn đề như mất mát, hư hỏng trong thời gian 07

1 Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều

125 của Luật này khi hết thời hạn tạm giữ mà người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận mà không có lý do chính đáng thì được xử lý như sau:

a) Trường hợp xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho họ 02 lần Lần thông báo thứ nhất phải được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện Lần thông báo thứ hai được thực hiện trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thông báo thứ nhất Hết thời hạn 01 tháng, kể

từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

b) Trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện Lần thông báo thứ nhất phải được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện Lần thông báo thứ hai được thực hiện trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thông báo thứ nhất Hết thời hạn 01 năm, kể

từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

4a Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 125 của Luật này khi hết thời hạn thi hành quyết định xử phạt mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không thi hành quyết định xử phạt thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền tạm giữ phải chuyển tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cho người có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt để quyết định việc kê biên, bán đấu giá theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt.

4b Đối với giấy phép, chứng chỉ hành nghề đã quá thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể

từ ngày hết thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền tạm giữ phải chuyển cho cơ quan đã cấp các loại giấy tờ đó để tiến hành việc thu hồi theo quy định của pháp luật và thông báo cho người vi phạm biết.

Trang 7

ngày để chờ người có thẩm quyền ban hành quyết định xử lý tịch thu tang vật Tuy vấn

đề này nhỏ nhưng trên thực tế việc giải quyết không hề đơn giản, trái lại còn dễ phát sinh tiêu cực, đùn đẩy trách nhiệm, gây khó khăn cho các cơ quan, cá nhân người có thẩm quyền

3 Quy định về mức phạt tiền

Tại điểm b khoản 1 Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy

định: “Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại

Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng”; điểm b khoản 2 Điều 38

Luật này quy định: “Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương

ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng” Mặt khác,

theo quy định tại khoản 2 Điều 67 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, Chủ tịch UBND

cấp xã có quyền “Phạt tiền đến 10.000.000 đồng” Mặt khác, cũng trong Nghị định này tại khoản 2 Điều 68 có quy định Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền “Phạt tiền

đến 100.000.000 đồng” Như vậy có thể thấy rằng nội dung các quy định giữa Luật Xử

lý vi phạm hành chính năm 2012 với văn bản Nghị định vừa trích dẫn trên là mâu thuẫn, gây khó khăn cho việc áp dụng

4 Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Tại khoản 1 Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012: “Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc

có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc

Trang 8

thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 2 và khoản 3 3 Điều 61 của Luật

này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá

30 ngày.” Như vậy, có thể thấy đối với các vụ việc phức tạp, Luật cho phép gia hạn

30 ngày Tuy nhiên, khi ban hành luật, các nhà làm luật lại không đề cập hay quy định

rõ loại vụ việc nào được coi là “vụ việc phức tạp” để có thể áp dụng quy định về vấn

đề gia hạn thời gian Ngoài ra, cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 664 của Luật này, thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 07 ngày kể từ ngày biên bản hành chính được lập Tuy nhiên, về phía cơ quan hành chính nhà nước, trừ các bộ

2 Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn không quá 05 ngày, kể từ ngày lập biên bản

Người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm.

Người có thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu căn cứ pháp lý và tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi phạm Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, người đại diện hợp pháp của họ có quyền tham gia phiên giải trình và đưa ra ý kiến, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên quan; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì các bên phải ký vào từng tờ biên bản Biên bản này phải được lưu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính và giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ 01 bản.

4 Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản

3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.

Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng

cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Trang 9

phận “một cửa” làm việc thêm vào buổi sáng thứ bảy, còn lại chỉ làm việc có 05 ngày Vậy nếu 02 ngày còn lại rơi vào các ngày nghỉ thì sẽ không bảo đảm thời gian bởi cơ quan chuyên môn hoàn chỉnh hồ sơ xử phạt cho Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh

để ra quyết định xử phạt Chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể thế nào là vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp kể từ khi ban hành luật đến này Do vậy, điều luật này chưa bảo đảm được sự thống nhất đã gây khó khăn cho người có thẩm quyền xử phạt trong quá trình thực thi áp dụng quy định này

5 Tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012: “Việc

tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác” Về vấn đề này có thể hiểu như sau, tạm giữ người theo thủ tục hành

chính chỉ được áp dụng trong các trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ khi người đó có

những hành vi gây thương tích cho người khác, gây rối trật tự công cộng Tuy nhiên,

trong thực tế có rất nhiều trường hợp các đối tượng có hành vi vi phạm khác nhau như trộm cắp tài sản, dùng thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản của người khác, lực lượng chức năng cần thời gian để xác minh làm rõ hành vi, hậu quả thiệt hại, cần xác minh nhân thân của người vi phạm để xử lý theo đúng quy định pháp luật Nhưng trong trường hợp đối tượng vi phạm lại không có nơi cư trú ổn định, vậy nếu không áp dụng biện pháp tạm giữ hành chính thì đối tượng sẽ bỏ trốn, gây khó khăn, mất thời gian trong công tác xác minh, xử lý, nên đây cũng là vướng mắc từ thực tiễn cần tháo gỡ

6 Về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp người bị xử phạt đã chết, mất tích; tổ chức bị xử phạt vi phạm giải thể, phá sản

Theo quy định tại Điều 755 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Bên cạnh

đó, khoản 1 Điều 9 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP đã có quy định: “Trường hợp người

5 Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp người bị xử phạt chết, mất tích, tổ chức bị

xử phạt giải thể, phá sản:

Trường hợp người bị xử phạt chết, mất tích, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản thì không thi hành quyết định phạt tiền nhưng vẫn thi hành hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định.

Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Trang 10

bị xử phạt chết, mất tích, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản theo quy định tại Điều

75 Luật Xử lý vi phạm hành chính, mà quyết định xử phạt vẫn còn thời hiệu thi hành, thì người đã ra quyết định xử phạt phải ra quyết định thi hành một phần quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày người bị xử phạt chết được ghi trong giấy chứng tử; người bị mất tích được ghi trong quyết định tuyên bố mất tích; tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản được ghi trong quyết định giải thể, phá sản Quyết định thi hành gồm các nội dung sau: a) Đình chỉ thi hành các hình thức xử phạt, lý do đình chỉ; trừ trường hợp quy định tại Điểm b Khoản này; b) Hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả tiếp tục thi hành” Trên thực tế cho thấy, khi bị xử phạt vi phạm hành chính với số

tiền lớn nhằm trốn tránh trách nhiệm, nghĩa vụ nộp phạt vi phạm hành chính của mình

mà nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng lỗ hổng của quy định này để xin giải thể rồi lập thủ tục xin phép thành lập doanh nghiệp mới

II Bất cập của những quy định về xử phạt vi phạm hành chính

1 Các quy định về hình thức xử phạt

Khoản 1 Điều 21 Luật XLVPHC năm 2012 quy định:“năm hình thức xử phạt vi

phạm hành chính bao gồm: (i) Cảnh cáo; (ii) Phạt tiền; (iii) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; (iv) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; (v) Trục xuất.”

Qua thực tiễn, áp dụng các hình thức xử phạt ta có thể nhận ra rằng: “(i) Hình

thức xử phạt cảnh cáo là mức nhẹ nhất, chủ yếu chỉ tác động về mặt tinh thần, không

có tác dụng trong việc răn đe, phòng ngừa các hành vi VPHC (ii) Hình thức phạt tiền chỉ có tính răn đe với những người có điều kiện khó khăn còn với những đối tượng có điều kiện, dư giả thì trên thực tế không hiếm các trường hợp tự nguyện chịu nộp phạt

để tiếp tục hành vi vi phạm (iii) Hình thức xử phạt trục xuất thì chỉ áp dụng với đối tượng là người nước ngoài, công dân Việt Nam không được áp dụng hình thức VPHC này (iv) Đối với các hình thức xử phạt như “tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt động có thời hạn” cũng phải dựa vào các điều kiện phù hợp, cụ thể mới có thể

áp dụng Thêm vào đó, nếu chủ thể VPHC không có giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc không có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì không thể áp dụng các hình thức xử phạt i, ii, iii, iv nêu trên”.

Trang 11

Qua trến, dễ dàng nhận thấy rằng các hình thức xử phạt VPHC được quy định trong Luật XLVPHC năm 2012 còn hạn chế và không phát huy tính giáo dục, răn đe trong việc phòng chống các hành vi VPHC.

2 Các quy định về phạt tiền

Khoản 4 Điều 23 quy định về mức phạt tiền như sau: “Mức tiền phạt cụ thể đối

với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối

đa của khung tiền phạt.” Theo quy định trên thì khi chủ thể thực hiện hành vi VPHC

“có tình tiết tăng nặng thì tăng lên (không vượt quá mức tối đa), nếu có tình tiết giảm

nhẹ thì giảm xuống (không thấp hơn mức tối thiểu)” 6 Tuy nhiên, Luật XLVPHC năm

2012 chưa có quy định làm căn cứ xác định tăng, giảm như thế nào cho đúng Bên cạnh đó, Nghị định 81/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/7/2013 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật năm 2013 không hướng dẫn thực hiện Điều 23

Vì thế, dễ dẫn đến tình trạng khi chủ thể thực hiện hành vi VPHC trong trường hợp có tình tiết tăng nặng thì mức xử phạt tiền sẽ tăng lên mức tối đa của khung tiền phạt

“Đồng thời cũng dễ dẫn đến tình trạng “tùy nghi” trong xác định mức xử phạt tiền,

dẫn đến không bình đẳng giữa các chủ thể khi bị xử phạt VPHC.” 7

3 Các quy định về hình thức phạt tiền

Theo khoản 3 Điều 25 Luật XLVPHC quy định: “thời hạn tước quyền sử dụng

giấy phép, chứng chỉ hành nghề, thời hạn đình chỉ hoạt động quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này từ 1 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành” Nhưng trên thực tế, hiện nay một số hành vi vi phạm quy tắc giao thông

trong lĩnh vực giao thông đường bộ như: điều khiển xe mà trong cơ thể có chất ma túyhay vi phạm quy định về nồng độ cồn… mang tính nguy hiểm cao và có khả năng gây

ra tai nạn lớn nên việc quy định hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấyphép lái xe từ 1 tháng đến 24 tháng là chưa đủ sức răn đe

4 Các quy định có sự trùng lặp, không cần thiết

Thứ nhất, các quy định trong Luật XLVPHC năm 2012 có sự trùng lặp, ví dụ như

(i) khoản 2 Điều 68 quy định:“Thời hạn thi hành quyết định là 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt; trường hợp quyết định xử phạt có ghi thời hạn thi hành

6 Trần Quốc Huy (2018) “Một số góp ý hoàn thiện luật xử lý vi phạm hành chính”, số 24(376) T12/2018, Tạp

chí Nghiên cứu pháp luật, tr49.

7 Trần Quốc Huy (2018) “Một số góp ý hoàn thiện luật xử lý vi phạm hành chính”, số 24(376) T12/2018, Tạp

chí Nghiên cứu pháp luật, tr50.

Trang 12

nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó” gần như giống với quy định tại khoản 1 Điều 73 Luật “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó”; (ii) khoản 3 Điều 68 8 cũng

có nội dung trùng lặp với khoản 2 và 3 Điều 67 9

Thứ hai, các quy định còn mang tính lặp lại, không cần thiết Ví dụ như: khoản 1

Điều 78 Luật XLVPHC quy định: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải nộp tiền phạt tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt” Quy định này là thừa thãi bởi vì quyết định phạt tiền chỉ là một trong các biện

pháp xử phạt hành chính Do đó, thời hạn thi hành quyết định phạt tiền đã được quy định tại Điều 73 về thi hành quyết định xử phạt VPHC

5 Các quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Thứ nhất, Luật XLVPHC năm 2012, từ Điều 38 đến Điều 51 quy định: “về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính” Trong đó, tổng cộng 185 chức danh có thẩm

quyền xử phạt, cụ thể như sau: “176 chức danh làm việc trong cơ quan hành chính

nhà nước và 09 chức danh thuộc Tòa án không thuộc cơ quan hành chính” So với Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008), Luật năm 2012

đã bổ sung thêm 86 chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Mặc dù mức tăng này đảm bảo tính đầy đủ, thống nhất, thích hợp với yêu cầu của quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng tồn đọng cũng như chưa xử lý kịp thời, dứt điểm các vi phạm, bên cạnh đó nó sẽ không thể lấp đầy được khoảng trống trong thẩm quyền xử phạt Và dẫn đến tự ý bổ sung, thêm bớt các chức danh có thẩm quyền xử phạt vào cácvăn bản dưới luật Cụ thể như:

Một là, theo Luật năm 2012, “Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng” không có thẩm quyền xử phạt VPHC Tuy nhiên, khoản 2 Điều 34 Nghị định số 119/2017/NĐ-CP ngày 01/11/2017 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực tiêu

8 Khoản 3 Điều 68 Luật XLVPHC năm 2012

Trường hợp ban hành một quyết định xử phạt vi phạm hành chính chung đối với nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực hiện một hành vi vi phạm hoặc nhiều cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau trong cùng một vụ vi phạm thì nội dung hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt đối với từng cá nhân, tổ chức phải xác định cụ thể, rõ ràng.

9 Khoản 2, 3 Điều 67 Luật XLVPHC năm 2012

2 Trường hợp nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì có thể ra 01 hoặc nhiều quyết định xử phạt để quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng cá nhân, tổ chức

3 Trường hợp nhiều cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau trong cùng một vụ

vi phạm thì có thể ra 01 hoặc nhiều quyết định xử phạt để quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành

vi vi phạm của từng cá nhân, tổ chức.

Trang 13

chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa lại quy định: “Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng” có thẩm quyền xử phạt như “Chánh Thanh tra

Sở Khoa học và Công Nghệ” 10 Trong một số trường hợp được xem là sự bổ sung này hợp lý, nhưng nghị định “bổ sung” luật là không phù hợp với nguyên tắc pháp quyền Sau đó, Dự thảo Luật đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng liên quan đến thẩm

quyền xử phạt VPHC, đó là: “đã sửa đổi 08 điều luật liên quan đến thẩm quyền xử

phạt của các chức danh (bao gồm thay đổi tên gọi, bãi bỏ hoặc thêm vào một số chức danh) như Công an nhân dân (Điều 39), Bộ đội biên phòng (Điều 40), Cảnh sát biển (Điều 41), Hải quan (Điều 42), Kiểm lâm (Điều 43), Quản lý thị trường (Điều 45), Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ hàng không, Cảng vụ đường thủy nội địa (Điều 47), Cơ quan thi hành án dân sự (Điều 49) Ngoài ra, Dự thảo luật cũng đã bổ sung 03 điều luật hoàn toàn mới về thẩm quyền xử phạt của Kiểm ngư (bổ sung Điều 43a), Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (bổ sung Điều 45a) và Kiểm toán nhà nước (bổ sung Điều 49a)” Tuy đã bổ sung, sửa đổi như vẫn còn thiếu sót, điển hình là thẩm quyền xử phạt

của “Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng” vẫn không được chính thức hóa trong Dự thảo Luật mặc dù chức danh này được quy định trong Nghị

định số 119/2017/NĐ-CP và hiện nay vẫn đang tiến hành việc xử phạt các vi phạm

hành chính về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Hai là, Điều 48 Luật năm 2012 quy định: “Chánh tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao có quyền XPVPHC”

Tuy nhiên, không còn Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao và các tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao11 khi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 được ban hành

và có hiệu lực Vì thế, hai chức danh “Chánh tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao,

Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao” không còn nữa Mặc dù Luật năm

10 Khoản 2 Điều 34 Nghị định số 119/2017/NĐ-CP ngày 01/11/2017 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định:

“Chánh Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Sở Khoa học và Công nghệ; Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Tổng cục Tiêu chuẩn

Đo lường Chất lượng có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân và phạt tiền đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy

định tại điểm b khoản này;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị định này”.

11 Điều 21 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao gồm:

“a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

b) Bộ máy giúp việc;

c) Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng.

Tòa án nhân dân tối cao có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm tra

viên, Thư ký Tòa án, công chức khác, viên chức và người lao động”.

Trang 14

2012 quy định Chánh tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao có quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng dựa vào thực tế không còn chức danh này nên đương nhiên không còn quyền xử phạt Mặt khác, theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, xuất hiện một số chức danh mới là Chánh

án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp cao12 cần phải trao quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng lúc đó, do Luật XLVPHC năm

2012 chưa được sửa đổi, bổ sung nên không có quyền xử phạt Ta có thể thấy dường như các nhà làm luật đã quên đi việc điều chỉnh thẩm quyền xử phạt của các chức danh thuộc Tòa án nhân dân

Ba là, Luật XLVPHC năm 2012 không quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm

hành chính cho bất kỳ một chức danh nào trong lĩnh vực cạnh tranh, nhưng Luật Cạnh tranh năm 2018 lại có hai chủ thể đặc trưng có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh đó là Chủ tịch Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia và Hội đồng xử

lý vụ việc hạn chế cạnh tranh13 Trên cơ sở Luật Cạnh tranh năm 2018, Chính phủ ban

hành Nghị định số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 xử phạt VPHC trong lĩnh vực

cạnh tranh Nghị định số 75/2019/NĐ-CP cũng quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ

Tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia14 và Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh15

Dự thảo Luật bổ sung Điều 45a quy định về “Thẩm quyền của Ủy ban Cạnh tranh

Quốc gia”, trong đó khoản 1 quy định về thẩm quyền xử phạt của “Chủ tịch Hội đồng

xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh” và khoản 2 về thẩm quyền xử phạt của “Chủ tịch

Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia” Tuy nhiên, cách quy định này không đúng với Hội

đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số16 Vì thế, thẩm quyền xử phạt phải thuộc về tập thể Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh chứ không phải thuộc thẩm quyền riêng của bất kỳ cá nhân Chủ tịch Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh Do đó, Dự thảo Luật quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh

tranh là hoàn toàn sai và cũng không đồng nhất với quy định tương ứng trong Luật

Cạnh tranh năm 2018 lẫn Nghị định số 75/2019/NĐ-CP Ngoài ra, tên của điều luật là

“Thẩm quyền của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia” cũng không đúng vì chỉ khái quát

12 Điều 30, 33, 35 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

13 Điều 113 Luật Cạnh tranh năm 2018.

14 Điều 26 Nghị định số 75/2019/NĐ-CP.

15 Điều 26 Nghị định số 75/2019/NĐ-CP.

16 Khoản 3 Điều 60 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định: “Khi xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng

xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số”.

Khoản 3 Điều 60 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định: “Khi xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng

xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số”.

Trang 15

được thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia nhưng không bao hàm được thẩm quyền của Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, bởi vì Hội đồng

xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh không phải là bộ phận cấu thành của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia17

Bốn là, Theo Luật năm 2012, thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất

chỉ thuộc về Giám đốc Công an cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh Theo thống kê, hiện nay ở nước ta có 09 nghị định xử phạt vi phạm hành chính quy định về hành vi vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất18 Tuy nhiên, có một sốnghị định không quy định thẩm quyền xử phạt cho lực lượng công an (trong đó có Giám đốc Công an cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh) Điều này dẫnđến là khi xử phạt vi phạm trong các lĩnh vực này mà áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì thẩm quyền xử phạt này không còn bất kỳ ai

Thứ hai, theo khoản 2 Điều 2 Luật năm 2012, xử phạt VPHC là việc người có

thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với

cá nhân, tổ chức thực hiện VPHC và ở đây lực lượng chủ yếu phát hiện VPHC là các chức danh có thẩm quyền xử phạt ở cấp cơ sở (Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ, Chiến sĩ Bộ đội biên phòng đang thi hành công vụ, Cảnh sát viên Cảnh sát biển đang thi hành công vụ, Công chức Hải quan đang thi hành công vụ, Kiểm lâmviên đang thi hành công vụ, Công chức Thuế đang thi hành công vụ, Kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ, Chấp hành viên thi hành án dân sự đang thi hành công vụ) Tuy nhiên, các chức danh này chỉ có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền mà không có quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.Vì thế, khi phát hiện các VPHC đơn giản, mức phạt tiền nằm trong mức xử phạt khi phát hiện hành vi vi phạm

17 Khoản 3 Điều 60 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định: “Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh do Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định thành lập để xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh cụ thể Hội

đồng chấm dứt hoạt động và tự giải thể khi hoàn thành nhiệm vụ Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh

tranh hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.

18 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới; Nghị định số 107/2013/NĐ-CP

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; Nghị định số 138/2013/NĐ-CP xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục; Nghị định số 159/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản; Nghị định số 167/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống

bạo lực gia đình; Nghị định số 174/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số

49/2017/NĐ-CP) xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô

tuyến điện; Nghị định số 176/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế; Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07-10-2015) xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở

nước ngoài theo hợp đồng; Nghị định số 67/2017/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí.

Trang 16

hành chính đơn giản, nhưng các chủ thể này không có quyền xử phạt nếu đã áp dụng

biện pháp khắc phục hậu quả Đơn cử, theo quy định tại Điều 39 Luật Xử lý vi phạm

hành chính (XLVPHC): “Trưởng công an cấp huyện, trưởng phòng cảnh sát giao thông công an cấp tỉnh được phạt tiền đến 20% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của luật này nhưng không quá 25 triệu đồng và giám đốc công an tỉnh phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của luật này nhưng không quá 50 triệu đồng” Khoản 2 Điều 46 Luật XLVPHC cũng quy định chánh thanh tra Sở Giao thông vận tải cũng được phạt

tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của

luật này nhưng không quá 50 triệu đồng Và theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 24

Luật XLVPHC “mức phạt tối đa trong lĩnh vực giao thông đường bộ là 40 triệu

đồng”; tức là: “Trưởng công an cấp huyện, trưởng phòng cảnh sát giao thông công an cấp tỉnh chỉ được xử phạt mức tối đa là 8 triệu đồng đối với cá nhân, 16 triệu đồng đối với tổ chức; giám đốc công an tỉnh, chánh thanh tra Sở Giao thông vận tải chỉ được xử phạt mức tối đa là 20 triệu đồng đối với cá nhân; 40 triệu đồng đối với tổ chức.”Tuy nhiên hiện nay, các hành vi vi phạm thường xuyên xảy ra trong lĩnh vực

giao thông đường bộ theo Nghị định số 100/2019/NĐ-CP có mức phạt rất cao, vượt quá thẩm quyền xử phạt của các chức danh trên nên phải chuyển lên cấp có thẩm quyền để ra quyết định xử phạt (Chủ tịch UBND cấp tỉnh), từ đó dẫn tới việc chậm trễ

và phát sinh khó khăn, vướng mắc về việc XLVPHC trong lĩnh vực giao thông đường

bộ Như vậy, chính biện pháp khắc phục hậu quả đã vô hiệu hóa thẩm quyền xử phạt của các chức danh ở cấp cơ sở Điều này dẫn đến hành vi vi phạm mà mức tiền phạt thuộc chính quyền cấp cơ sở nhưng do áp dụng cùng với các biện pháp khắc phục hậu quả nên phải chuyển lên cấp trên Từ đó, cấp trên phải xử phạt nhiều hơn, “ôm đồm”

xử hết mọi vi phạm vốn đã thuộc thẩm quyền của các chức danh có thẩm quyền xử phạt cấp cơ sở19 Đây là phương án đi ngược lại với mở rộng thẩm quyền cho cấp dưới, cấp cơ sở, đồng thời cũng đi ngược lại với phân cấp quản lý nhà nước về hoạt động xử phạt và mâu thuẫn với nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi20 Dự thảo Luật cũng không tăng thẩm quyền xử phạt cho cấp cơ sở Tuy nhiên, việc không có thẩm quyền rõ ràng để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của các chức danh này là một thiếu sót lớn Xem xét một số nghị định xử phạt VPHC trong các lĩnh vực, mức phạt dưới 500.000 đồng - đây là mức

19 Cao Vũ Minh (2019), Một số biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính - Thực

trạng và hướng hoàn thiện, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, tr.98.

20 Nguyễn Cảnh Hợp - Mai Thị Lâm (2015), “Quy định thẩm quyền xử phạt theo tỷ lệ phần trăm có khống chế mức trần: Ưu điểm hay hạn chế?”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 06.

Trang 17

phạt tiền thuộc thẩm quyền xử phạt của các chức danh cấp cơ sở đều là những vi phạmđơn giản, ở mức độ nhẹ mà người có thẩm quyền có thể đưa ra quyết định xử phạt ngay, không cần phải mất nhiều thời gian để chứng minh Do đó, việc chuyển vi phạm lên cấp trên để giải quyết là không cần thiết và có thể dẫn đến tình trạng không xử lý kịp thời, dẫn tới chậm trễ các VPHC.

Thứ ba, Luật XLVPHC năm 2012 quy định: “Chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa

phương” Ngoài ra, để xác định thẩm quyền xử phạt, Điều 52 Luật XLVPHC năm

2012 còn quy định “nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch

UBND cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm” Trong một vụ vi phạm với

nhiều hành vi thuộc các ngành, lĩnh vực khác nhau thì không thể chuyển về cho bất cứmột cơ quan chuyên môn nào cũng không thể xé nhỏ vụ này ra và đưa về cho từng cơ quan chuyên ngành xử phạt21 Do đó, giao thẩm quyền xử phạt cho Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền xử phạt ở nơi xảy ra vi phạm là hợp lý Tuy nhiên, việc xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực cụ thể lại được điều chỉnh bằng các nghị định của Chính phủ, trong đó, có nhiều nghị định không quy định thẩm quyền xử phạt cho Chủ tịch UBND các cấp Điều này dẫn đến thực trạng là Chủ tịch UBND các cấp không có thẩm quyền xử phạt trong rất nhiều ngành, lĩnh vực22 Bất cập này đã vô hiệu hóa

nguyên tắc “Chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương” Và vì thế quy định cũng đã làm

mất giá trị của nguyên tắc “nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm”.

Cụ thể, theo Nghị định số 41/2018/NĐ-CP, Chủ tịch UBND các cấp không có

thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm toán độc lập Nếu trường

hợp một cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm thuộc các lĩnh vực khác nhau trong đó có vi phạm thuộc lĩnh vực kiểm toán độc lập thì về nguyên tắc chung là phải chuyển cho Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền xử phạt Tuy nhiên, do Chủ tịch UBND các cấp không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này

21 Nguyễn Cảnh Hợp (2017), Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nxb Hồng Đức, tr.373.

22 Nghị định số 75/2019/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh không quy định thẩm quyền xử phạt cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp Tương tự, Nghị định số 109/2013/NĐ-CP xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn cũng không quy định thẩm quyền xử

phạt cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp.

Trang 18

nên đương nhiên thẩm quyền xử phạt của cả vụ vi phạm này không thuộc về Chủ tịch UBND các cấp, vậy chủ thể nào có thẩm quyền xử phạt? Điều này gây cản trở cho công tác xử phạt Bởi trên thực tế nếu chuyển cho Chủ tịch UBND xử phạt thì trái pháp luật mà “tách lẻ” ra từng vụ việc cho các chủ thể có thẩm quyền xử phạt thì lại càng không đúng pháp luật.

Thứ tư, thời hạn xử phạt VPHC được quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC năm

2012: “Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt

vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể

từ ngày lập biên bản” Quy định thời hạn này là cần thiết vì lúc lập biên bản vi phạm

không phải khi nào cũng có thể ra quyết định xử phạt ngay được, họ cần có thời gian

để chuẩn bị, thu thập, xác minh tài liệu nhằm đưa ra quyết định xử phạt đúng đắn và chính xác nhất Từ đó, pháp luật cho phép xin gia hạn thêm 30 ngày nữa và việc gia hạn đó phải được “thủ trưởng trực tiếp” đồng ý bằng văn bản Tuy nhiên, Luật năm

2012 không quy định rõ “thủ trưởng trực tiếp” ở đây là thủ trưởng quản lý trực tiếp hay thủ trưởng có thẩm quyền xử phạt Nhằm cụ thể hóa quy định này, thì Chính phủ

ban hành Nghị định số 97/2017/NĐ-CP giải thích rõ: “Thủ trưởng trực tiếp của người

có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc theo quy định tại các Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính là cấp trên trực tiếp trong quan hệ hành chính đối với người đang giải quyết vụ việc” (Điều 6e) Tuy vậy, nhưng trong trường hợp Chủ tịch UBND cấp

tỉnh, Chánh thanh tra Bộ, Tổng Cục trưởng, Cục trưởng xin gia hạn cũng rất khó xác định người có thẩm quyền gia hạn

Thứ năm, Điều 4 Luật XLVPHC năm 2012 quy định: (i) Người có thẩm quyền xử phạt có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt VPHC (ii) Việc giao quyền xử phạt VPHC được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền (i) Cấp phó được giao quyền xử phạt VPHC phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt VPHC của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền cho bất kỳ người nào khác Vấn đề có tính pháp lý đặt ra là

trong trường hợp cấp trưởng đã giao quyền cho cấp phó thì cấp trưởng có được quyền

Trang 19

ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính nữa hay không? Hiện nay, câu hỏi này đang

bị “ngó lơ” trong Luật XLVPHC năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành

6 Các quy định về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ nhất, Khoản 3 Điều 60 Luật XLVPHC quy định thời gian tạm giữ tang vật

để xác định giá trị là không quá 24 giờ và nếu cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng không được quá 24 giờ (tổng cộng tối đa là 48 giờ) Có thể thấy thời gian quy định là

không phù hợp vì việc thành lập hội đồng định giá, việc tổ chức định giá đối với những vụ vi phạm mà tang vật là hàng hóa nhập lậu có giá trị, đặc biệt ở các khu vực biên giới, biển, đảo rất khó khăn Hơn nữa, có nhiều vụ vi phạm tang vật là nhiều chủng loại hàng hóa, hàng hóa phức tạp, khó xác minh trị giá việc xác định giá trị trong khoảng thời gian 24 giờ sẽ không đảm bảo tính chính xác, dẫn đến việc ra quyết định XPVPHC không chính xác, không đúng thẩm quyền

Thứ hai, Khoản 1 Điều 61 Luật XLVPHC không quy định quyền giải trình đối

với trường hợp đối tượng vi phạm bị áp dụng biện pháp tịch thu tang vật, phương tiệnVPHC hoặc phương tiện sử dụng trong VPHC là không hợp lý, ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích của đối tượng vi phạm, vì trong nhiều trường hợp, nhiều tang vật, phươngtiện vi phạm còn có giá trị lớn hơn nhiều lần so với số tiền bị xử phạt

Thứ ba, Điều 62 Luật XLVPHC quy định về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có

dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên chưa quy định rõ khichuyển sang cơ quan điều tra thì tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ do cơ quannào quản lý, chi phí do ai chi trả, thời hạn, thủ tục tạm giữ trong trường hợp này giảiquyết như thế nào

7 Các quy định về thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Điều 70 Luật XLVPHC quy định về thời hạn gửi quyết định XPVPHC là “trong

vòng 02 ngày”, việc quy định này khó thực hiện do khối lượng quyết định XPVPHC

rất lớn, nhiều đối tượng vi phạm không có nơi cư trú ổn định hoặc ít có mặt tại địaphương hoặc địa chỉ ghi trong giấy tờ khác với địa chỉ cư trú thực tế

8 Các quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Khoản 2 Điều 86 Luật XLVPHC quy định các biện pháp cưỡng chế bao gồm:

“(i) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của

cá nhân, tổ chức vi phạm; (ii) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; (iii) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết

Trang 20

định xử phạt VPHC do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản (iv) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả”

Tuy nhiên, (iv) quy định “buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả” là biện

pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC là chưa thật sự hợp lý Bởi vì:Một là, dưới góc độ lý luận, biện pháp khắc phục hậu quả là hình thức cưỡng chế

do Nhà nước tiến hành, buộc người VPHC phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhấtđịnh nhằm mục đích hạn chế hoặc khôi phục lại tình trạng ban đầu do VPHC gây ra Như vậy, biện pháp khắc phục hậu quả là một hình thức của cưỡng chế hành chính chứkhông phải là một hình thức hay biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC.23

Hai là, xét về nguyên tắc, “các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

VPHC” là nhằm cưỡng chế các đối tượng không thi hành các quyết định xử phạt

VPHC phải thi hành Bên cạnh đó, việc “buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu

quả” là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu những điều bị các VPHC xâm hại Dưới

góc độ thực tiễn, xử phạt VPHC là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện VPHC

III Bất cập của những quy định về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính:

1. Đối tượng và điều kiện áp dụng

Thứ nhất, với cụm từ “02 lần trở lên trong 06 tháng” thực hiện hành vi vi phạm là

điều kiện để áp dụng các biện pháp xử lý hành chính được quy định tại các Điều 90,

92 và 94 Luật XLVPHC năm 2012 hiện nay có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhauliên quan đến các vấn đề:

Một là, đối tượng vi phạm lần thứ hai hay phải vi phạm từ lần thứ ba mới đủ điềukiện để áp dụng biện pháp xử lý hành chính? Từ ngữ còn mơ hồ, gây khó khăn trongviệc ra quyết định xử lý;

Hai là, hành vi vi phạm của đối tượng tại các lần vi phạm có cần phải giống nhauhay không (lần một là trộm cắp thì lần hai cũng phải là trộm cắp mới thỏa điều kiện hay chỉ cần là các hành vi được nêu tại quy định của luật) Ở đây nhóm có đưa ra 1 tình huống cụ thể với cách hiểu rằng đối tượng vi phạm lần thứ 2 là đủ điều kiện để ápdụng biện pháp xử lý hành chính: A 15 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi, vào ngày 03/5/2018 A thực hiện hành vi trộm cắp 1 cái nón bảo hiểm trị giá 500,000 đồng từ

23Cao Vũ Minh (2018), “Hạn chế của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nhìn từ góc độ kỹ thuật lập pháp.”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 3 + 4 (355 + 356) T02/2018, tr97.

Trang 21

cửa hàng Nón Sơn, vào ngày 04/7/2018 A thực hiện hành vi đánh bạc (nhưng chưa đếnmức truy cứu trách nhiệm hình sự), vậy thì theo quy định tại khoản 4 Điều 92 Luật

XLVPHC năm 2012 “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06

tháng thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.”thì A có bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

hay không

Ba là, trên thực tế cho thấy điều kiện áp dụng là rất không khả thi vì thời giancủa 02 lần vi phạm trở lên trong 06 tháng quá ngắn, rất khó để có đối tượng để ápdụng biện pháp này, bởi do là đối tượng phải trải qua các biện pháp tiền đề nên thờigian lập hồ sơ đề nghị để áp dụng biện pháp bị kéo dài, trì trệ

Thứ hai, Theo Luật XLVPHC 2012, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

chỉ đề cập đến đối tượng là người nghiện ma túy, tuy nhiên nhóm thấy rằng người sử dụng ma túy cũng cần phải áp dụng biện pháp này (hoặc ở một mức độ nào đó) Vì vậy, chưa có cơ sở pháp lý để các cơ quan chức năng quản lý hiệu quả mặc dù tính chất nguy hiểm, hậu quả gây ra cho xã hội của các đối tượng này cũng không hề nhỏ Qua vấn đề trên, nhóm nhận thấy rằng cần phải có căn cứ để quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nhằm phòng ngừa, ngăn chặn hậu quả của việc sử dụng trái phépchất ma túy gây ra cho xã hội, đồng thời hạn chế được tối đa tình trạng sử dụng chất

ma túy, dần dần lệ thuộc vào nó và gây ra nghiện cùng với đó Nhà nước phải đảm bảo nguồn nhân lực, chi phí cai nghiện, quản lý hiệu quả những người này

Luật XLVPHC 2012 chưa có quy định về việc với người chưa thành niên (từ đủ

12 tuổi đến dưới 18 tuổi) có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hay nghiện ma túy

bị áp dụng BPXLHC Tuy nhiên, theo quy định của Điều 29 Luật Phòng, chống ma

túy và các văn bản khác, “người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi

nghiện ma túy vẫn được đưa vào cai nghiện trong CSCNBB theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện để thực hiện việc cai nghiện” (các đối tượng này

được bố trí khu vực cai nghiện riêng và không được coi là áp dụng BPXLHC) Hiện nay, việc đưa người nghiện dưới 18 tuổi cai nghiện bắt buộc tại CSCNBB theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy ở nhiều địa phương vẫn chưa được thực hiện hoặc thực hiện không thống nhất, trong khi việc tự nguyện cai nghiện vẫn chưa thu hút được nhiều người tham gia Đây là vấn đề đang chưa được giải quyết, không được xử

lý dứt điểm, ở nhiều nơi gây ảnh hưởng không ít tới trật tự xã hội

Trang 22

Bên cạnh đó theo quy định tại Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy 2021

“Điều 32 Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện

bắt buộc Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:1 Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện;2 Trong thời gian cai nghiện ma túy

tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy;3 Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện;”

và quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật XLVPHC năm 2012 “Điều 96 Đối tượng

áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1 Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị

áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị

áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.”

Căn cứ các quy định pháp luật nêu trên có thể thấy, đối tượng áp dụng biện phápđưa vào CSCNBB theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 và Luật XLVPHC năm

2012 có sự khác nhau rõ rệt dẫn đến gây khó khăn nhất định trong thực tế áp dụng cho

cơ quan chức năng, bởi lẽ không biết phải áp dụng bộ luật nào cho đúng

Thông qua Luật XLVPHC năm 2012, đối tượng áp dụng biện pháp đưa vàoCSCNBB phải thỏa mãn các điều kiện:

Thứ nhất, đối tượng phải là người nghiện ma túy

Thứ hai, đối tượng phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện phápgiáo dục tại xã, phường, thị trấn (đối với người có nơi cư trú ổn định) hoặc cư trú ổnđịnh/nhất định

Như vậy, một trong những điều kiện để áp dụng BPXLHC đưa vào CSCNBB làngười nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi trú ổn định phải “đã bị áp dụng biệnpháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện” Quy định này dẫn đến việcnhóm có 2 cách hiểu và áp dụng khác nhau:

- Cách hiểu đầu, “Đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn” thìđược hiểu là đối tượng này chỉ cần nhận được quyết định từ xã, phường thị trấn màchưa cần biết đã chấp hành hay chưa thì vẫn được đưa vào CSCNBB

Trang 23

- Cách hiểu thứ hai, “Đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn”thì được hiểu là đối tượng đã hoàn thành xong và được cấp giấy chứng nhận rằng đãthực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

2 Thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

Hiện nay, các quy định liên quan đến trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Luật XLVPHC năm 2012 còn nhiều điểm rườm rà, nhiều quy định chưa đồng nhất với nhau, thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan,

tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình phối hợp để lập hồ sơ và thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cùng với đó là các mốc thời gian thực hiện các công việc liên quan đến trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp này Cụ thể theo

các quy định tại điểm a khoản 1 Điều 99 “Điều 99 Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện

pháp đưa vào trường giáo dưỡng 1 Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với đối tượng quy định tại Điều 92 của Luật này được thực hiện như sau: a) Đối với người chưa thành niên vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.”; điểm b khoản 1 Điều 101 “Điều 101 Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 1 Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng quy định tại Điều

94 của Luật này được thực hiện như sau: Đối với người không cư trú tại nơi có hành

vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người

đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.”và điểm

a khoản 1 Điều 103 Luật XLVPHC “Điều 103 Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1 Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy quy định tại Điều 96 của Luật này được thực hiện như sau: a) Đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.”năm 2012 thì theo các quy định

nêu trên việc lập hồ sơ áp dụng với các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào

cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc sẽ “do Chủ tịch UBND

cấp xã thực hiện, sau đó, hồ sơ được gửi cho Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện để kiểm tra tính pháp lý Sau khi kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện gửi hồ sơ cho Trưởng Công an cấp huyện, Trưởng phòng Phòng Lao động

Trang 24

– Thương binh và Xã hội cùng cấp (tùy theo từng biện pháp) để Trưởng Công an cấp huyện, Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị TAND cấp huyện áp dụng biện pháp xử lý hành chính.” 24 Qua những khâu kiểm duyệt nêu trên nhóm thấy rằng các quy định chưa

thực sự hợp lý: Nhiều cơ quan cùng xem xét và có ý kiến đối với hồ sơ đề nghị dẫn đến kéo dài thời gian lập hồ sơ trước khi chuyển TAND cấp huyện xem xét, quyết địnhviệc áp dụng biện pháp xử lý hành chính

IV Bất cập những quy định về các biện pháp ngăn chặn và xử lý vi phạm hành chính

1 Các quy định về Tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Trên thực tế thì đa số các hành vi vi phạm hành chính thường xuyên diễn ra trong

xã hội hiện nay là các đối tượng rất nguy hiểm và manh động, thường xuyên có các hành động chống lại người thi hành công vụ Vì nếu cơ quan chức năng không tạm giữtheo thủ tục hành chính thì sẽ khó có thể xử phạt hành chính đối với họ Đây cũng là một trong những hạn chế trong việc quản lý người VPHC nhằm bảo đảm cho công tác XPVPHC

Hình : Ông Nguyễn Duy Quang bị áp giải tạm giam vì không thực hiện yêu cầu kiểm tra của cơ quan chức năng và chống đối người thi hành công vụ

(Nguồn ảnh: https://bom.so/BV2lQv )

24 Tham khảo chinh/

Trang 25

https://trangtinphapluat.com/blog/bai-viet-hay/quan-ly-hanh-chinh/luat-xu-ly-vi-pham-hanh-Thứ nhất, Luật XLVPHC năm 2012 quy định chỉ được áp dụng biện pháp tạm

giữ người theo thủ tục hành chính trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay

những hành vi “(i) gây rối trật tự công cộng, (ii) gây thương tích cho người khác”.25Tuy nhiên, việc quy định các trường hợp như trên là tương đối hẹp, gây cản trở cho việc thi hành Luật XLVPHC Bởi vì, trong thực tế nhiều đối tượng có các hành vi vi phạm nguy hiểm như: Trộm cướp tài sản, chiếm đoạt tài sản của người khác bất hợp pháp, cơ quan chức năng có thẩm quyền cần thêm thời gian để xác nhận, chứng thực

về các yếu tố nhân thân của các đối tượng vi phạm để xử lý theo đúng pháp luật, tránh

bỏ sót tội phạm (đối với những tội có quy định đã bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi trên) nhưng đối tượng lại không có nơi cư trú ổn định, nếu không tạm giữ hành chính để xác minh đối tượng sẽ có hành vi sợ tội bỏ trốn gây cản trở trong công tác điều tra, truy bắt và xử lý về sau,…26

Thứ hai, khoản 2 Điều 122 Luật Xử quy định “Mọi trường hợp tạm giữ người đều phải có quyết định bằng văn bản và phải giao cho người bị tạm giữ một bản.”

Nhưng điều này rất cứng nhắc, thiếu tính linh hoạt và trên thực tế rất hay bị bỏ qua khiviệc tạm giữ được thực hiện bởi các cơ quan chức năng những ngành mang tính chất đặc thù như kiểm lâm, bộ đội biên phòng…

Thứ ba, khoản 3 Điều 122 Luật XLVPHC quy định “thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính” trong các trường hợp: “(i) Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không được quá 12 giờ; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 24 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm (ii) Đối với người vi phạm quy chế biên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm (iii) Đối với người

bị tạm giữ trên tàu bay, tàu biển thì phải chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền khi tàu bay đến sân bay, tàu biển cập cảng.” Việc quy định như vậy nhằm tạo điều kiện

thuận lợi để các cơ quan có thẩm quyền xác minh các yếu tố nhân thân, lai lịch của người vi phạm cũng như kết luận hành vi vi phạm nhưng nó cũng đã gây ra một số khó khăn khi áp dụng vào thực tiễn:

25 Khoản 1 Điều 122 Luật XLVPHC năm 2012

26Nhật Tân (2019), Một số khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, truy xuất từ https://stp.quangbinh.gov.vn/3cms/mot-so-kho-khan-vuong-mac-han-che-trong-thi-hanh-luat-xu-ly-vi- pham-hanh-chinh.htm

Trang 26

Một là, đã có rất nhiều trường hợp xảy ra trên thực tế mà các đối tượng vi phạm

có hành vi tàng trữ, vận chuyển các chất kích thích hoặc chất cấm… mà bị cơ quan chcứ năng nghi ngờ là ma túy, thuốc lắc, vật liệu nổ, pháo nổ cần phải giám định thì trong lúc chờ kết quả giám định các loại vật chất trên; việc quản những đối tượng này gặp nhiều khó khăn, hạn chế Trong khi đó Điều 208 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

quy định “thời hạn giám định các chất ma túy, vật liệu nổ không quá 09 ngày.” Ở đây

có sự mâu thuẫn giữa hai văn bản pháp luật và theo nhóm tác giả thì khoảng thời gian quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 hợp lý hơn vì tính chất tội phạm cần thờigian dài để giám định

Hai là, có thể vì các nguyên nhân nêu trên hoặc nguyên nhân khác bất lợi trong

quá trình điều tra, giám định, người có thẩm quyền cố tình bắt người vào buổi sáng nhưng đến buổi chiều mới lập biên bản vi phạm nhằm kéo dài thời gian Để quyền tự

do thân thể của công dân được pháp luật bảo đảm

2 Quy định về áp giải người vi phạm:

Tại khoản b Điều 124 Luật XLVPHC quy định “người vi phạm không tự nguyện

chấp hành yêu cầu của người có thẩm quyền thì bị áp giải trong trường hợp bị đưa trở lại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.” Tuy

nhiên, quy định này chưa quy định cụ thể đối tượng bị áp giải trong trường hợp này là những ai?

3 Các quy định về tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính

Thứ nhất, Điều 125 Luật XLVPHC quy định về việc “tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, thủ tục hành nghề theo thủ tục hành chính” Tuy nhiên việc quy định

này “không bao gồm giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký

doanh nghiệp, chứng minh thư nhân dân, thẻ căn cước.” 27 Mặt khác, các hình thức xửphạt bổ sung được quy định trong các nghị định như Nghị định có liên quan của chính phủ đơn cử như Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo… lại không quy định các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính được quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong quá trình thi hành nhiệm vụ đã gây không ít bất cập, đặc biệt là những hạn chế của cơ quan thanh tra chuyên ngành trong việc đảm bảo chấp hành các quyết định xử phạt VPHC.28

27 Nhật Tân (2019), Một số khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, truy xuất từ https://stp.quangbinh.gov.vn/3cms/mot-so-kho-khan-vuong-mac-han-che-trong-thi-hanh-luat-xu-ly-vi- pham-hanh-chinh.htm

28 “Đề cương giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC” (2021), truy xuất từ

Ngày đăng: 06/07/2022, 11:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình :Tình trạng quá tải bên trong bãi giữ xe vi phạ mở Thành phố Hồ Chí Minh. - NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2012
nh Tình trạng quá tải bên trong bãi giữ xe vi phạ mở Thành phố Hồ Chí Minh (Trang 28)
Việc tăng mức tối đa xử phạt của 10 lĩnh vực này nhằm phù hợp với tình hình thực tế cũng như mang được tính “răn đe”,  từ đó, nhằm giúp giảm thiểu vi phạm hành chính có thể xảy ra - NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2012
i ệc tăng mức tối đa xử phạt của 10 lĩnh vực này nhằm phù hợp với tình hình thực tế cũng như mang được tính “răn đe”, từ đó, nhằm giúp giảm thiểu vi phạm hành chính có thể xảy ra (Trang 41)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w