PHÂN TÍCH, BÌNH LUẬN, ĐÁNH GIÁ NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ NHÓM CÔNG TY TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 Tác giả PDCC 2 2 MỤC LỤC DANH MỤC HÌNH ẢNH 3 PHẦN MỞ ĐẦU 4 CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NHÓM CÔNG TY TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 5 I Quy định về Tập đoàn kinh tế, tổng công ty 5 1 Quy định về khái niệm “Nhóm công ty” 5 2 Đặc điểm của Nhóm công ty theo quy định pháp luật 5 II Quy định về “Công ty mẹ” và “Công ty con” 7 III Quy định về Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty co.
Trang 1PHÂN TÍCH, BÌNH LUẬN, ĐÁNH GIÁ NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ NHÓM
CÔNG TY TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020
Tác giả: PDCC
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NHÓM CÔNG TY TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 5
I Quy định về Tập đoàn kinh tế, tổng công ty 5
1 Quy định về khái niệm “Nhóm công ty” 5
2 Đặc điểm của Nhóm công ty theo quy định pháp luật 5
II Quy định về “Công ty mẹ” và “Công ty con” 7
III Quy định về Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con 8
IV Quy định về Báo cáo tài chính của công ty mẹ, công ty con 10
CHƯƠNG II: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NHÓM CÔNG TY TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 11
I Chưa quy định rõ các khái niệm 11
II Sự mẫu thuẫn của quy định pháp luật về cách xác định công ty mẹ - công ty con 11
III Quy định về Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con 13
IV Quy định về Báo cáo tài chính của công ty mẹ, công ty con 14
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH 16
Trang 3DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Sơ đồ tổ chức Tập đoàn đầu tư Thăng Long……… ……… 06
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Ở các nước phát triển, người ta không còn xa lạ gì với các công ty hoạt
động theo mô hình “Nhóm công ty” (Corporate group) Tuy nhiên mô hình này còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam Có thể nói mô hình Nhóm công ty ra đời là nhu cầu và đòi hỏi tất yếu của quy luật cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập của nền kinh tế Việt Nam Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực của mô hình Nhóm công ty mang lại như khả năng tập trung, tích tụ nguồn lực có quy mô lớn phục
vụ đầu tư, khả năng chuyên môn hóa cao… thì mô hình Nhóm công ty cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn cho xã hội cần phải quan tâm xem xét Hiện nay, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của mô hình Nhóm công ty ở Việt Nam về cơ bản đã hình thành tương đối đầy đủ Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, vẫn còn tồn tại một
số khó khăn, hạn chế, vướng mắc, bất cập cần tiếp tục được mổ xẻ để có hướng khắc phục trong thời gian tới Vì vậy, trong luận văn này, tác giả sẽ tập trung đi vào nghiên cứu, phân tích, bình luận, đánh giá các quy định Luật doanh nghiệp 2020 để chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về mô hình Nhóm công ty ở nước ta
Trang 5CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NHÓM CÔNG TY
TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020
I Quy định về Tập đoàn kinh tế, tổng công ty
1 Quy định về khái niệm “Nhóm công ty”
Khác với Luật doanh nghiệp 2005 quy định cụ thể, rõ ràng về khái niệm “Nhóm công ty” là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác Và các hình thức của
nhóm công ty bao gồm: (i) Công ty mẹ - công ty con; (ii) Tập đoàn kinh tế; (iii) Các hình thức khác1 Luật doanh nghiệp 2014 và Luật doanh nghiệp 2020 không có điều khoản nào quy định trực tiếp về khái niệm “Nhóm công ty” mà ta chỉ có thể suy ra từ quy định về “Tập đoàn kinh tế” và “Tổng công ty” như sau:
“1 Tập đoàn kinh tế, tổng công ty thuộc các thành phần kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác Tập đoàn kinh tế, tổng công ty không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập theo quy định của Luật này
2 Tập đoàn kinh tế, tổng công ty có công ty mẹ, công ty con và các công ty thành viên khác Công ty mẹ, công ty con và mỗi công ty thành viên trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty có quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp độc lập theo quy định của pháp luật.”2
Từ quy định trên, ta thể hiểu (i) khái niệm Nhóm công ty là các Tập đoàn kinh
tế, tổng công ty thuộc các thành phần kinh tế có mối liên hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc hình thức liên kết khác; (ii) đặc điểm của Nhóm công ty
Cũng gần tương tự như Việt Nam, pháp luật ở một số nước phát triển như Anh,
Mỹ hay Nhật Bản không đưa ra hẳn một định nghĩa chính xác về nhóm công ty,
nhưng các nước này lại có những điểm giống nhau về bản chất, “nhóm công ty bao gồm công ty mẹ và các công ty con, trong đó mỗi công ty là một thực thể pháp lý độc lập nhưng công ty mẹ giữ vai trò kiểm soát các công ty con.” Nói khác hơn, “nhóm công ty được xem là một hình thức tổ chức kinh tế dựa trên sự kết hợp giữa các công
ty có quyền và nghĩa vụ riêng biệt nhưng trong đó, công ty mẹ có quyền tác động đến hoạt động của các công ty con.” Những điều này của các nước phát triển nhằm
hướng đến mục tiêu tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi nhất cho các nhóm công
ty phát triển và đảm bảo được lợi ích chung cho các nhóm công ty3
2 Đặc điểm của Nhóm công ty theo quy định pháp luật
Một là, Nhóm công ty được tổ chức từ liên kết giữa các chủ thể kinh doanh độc lập tạo thành một tập hợp Theo đó, các công ty liên kết với nhau “hợp tác cùng phát
1 Điều 146 Luật Doanh nghiệp 2005
2 Điều 188 Luật doanh nghiệp 2014 và khoản 1 điều 194 Luật doanh nghiệp 2020
3 Lê Ngọc Kim Ngân (2021) “Phân tích, bình luận, đánh giá các quy định về nhóm công ty trong Luật doanh nghiệp 2020”
Trang 6triển” Tuy nhiên các công ty trong nhóm công ty là các chủ thể độc lập, có tư cách
pháp nhân riêng, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và tự nhân danh mình trong các quan hệ pháp luật
Hai là, Nhóm công ty có hai hình thức cơ bản là tập đoàn kinh tế và tổng công
ty Trên nguyên tắc, ta có thể phân biệt hai hình thức này dựa trên các dấu hiệu về cơ
sở quy mô của nhóm công ty và số lượng thành viên trong nhóm Luật Doanh nghiệp
2005 có quy định Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô và số lượng thành viên lớn hơn so với tổng công ty4 Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2020 không quy định rõ tiêu chí phân biệt giữa mô hình tập đoàn kinh tế và mô hình tổng công ty
Ba là, Nhóm công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, trong Nhóm công ty sẽ bao gồm công ty mẹ, các công ty con và các công ty thành viên khác.5
Hình 1 Sơ đồ tổ chức Tập đoàn đầu tư Thăng Long (Nguồn: https://tig.vn/mo-hinh-to-chuc/)
4 Xem thêm Điều 149 Luật Doanh nghiệp 2005
5 Xem Khoản 2 điều 194 Luật doanh nghiệp 2020
Trang 7Bốn là, Nhóm công ty không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập theo quy định 6 Việc thành lập Nhóm
công ty không nhằm mục đích làm xuất hiện chủ thể pháp luật mới để tham gia vào các quan hệ pháp luật mà nhằm xác lập mối quan hệ giữa các công ty độc lập để tập trung vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro từ
những biến động của thị trường Do đó Công ty mẹ, công ty con và mỗi công ty thành viên trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty có quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp độc lập theo quy định của pháp luật 7
II Quy định về “Công ty mẹ” và “Công ty con”
Như đã trình bày ở trên thì Nhóm công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Vậy Công ty mẹ - công ty con là gì được quy định tại khoản 1 điều 195 Luật Doanh nghiệp 2020:
“Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó; b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;
c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó.”
Qua quy định này, ta có thể dễ dàng nhận thấy mối quan hệ ràng buộc giữa công
ty mẹ và công ty con Một công ty là “mẹ” của công ty khác khi đáp ứng một trong các điều kiện: chi phối, nắm giữ về vốn hoặc cổ phần, bổ nhiệm nhân sự hay quyền sửa đổi điều lệ công ty Và ngược lại, một công ty là “con” của một công ty mẹ khi có
“mẹ” thuộc một trong các trường hợp đã nêu Trong mô hình này, công ty mẹ có quyền chi phối về mặt tổ chức cũng như hoạt động, giữ vai trò trung tâm quyền lực, thực hiện quyền kiểm soát các quyết định quan trọng, định hướng hoạt động của công
ty con
Hai yếu tố để các quốc gia trên thế giới nhận diện công ty mẹ là sự chi phối xuất phát từ yếu tố vốn và sự chi phối thực tế đến công ty con Điều 2 Luật Công ty của
Nhật Bản xác định, sự chi phối của công ty mẹ đến từ việc sở hữu phần lớn cổ phần có quyền biểu quyết hoặc có quyền chi phối hoạt động điều hành của công ty đó8 Theo Điều 46 và 47 Luật Công ty Úc, một công ty được xác định là công ty mẹ của một công ty khác khi nắm giữ phần lớn số cổ phần của công ty con, kiểm soát đa số phiếu biểu quyết (thông qua việc nắm giữ loại cổ phiếu ưu đãi biểu quyết) hoặc nắm giữ quyền bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số chức danh quản lý trong công ty con9 Theo
6 Khoản 1 điều 194 Luật doanh nghiệp 2020
7 Khoản 2 điều 194 Luật doanh nghiệp 2020
8 Companies Act No.86 of July 26, 2005 Tham khảo tại Japanese Law Translation, truy cập
tại http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?
ft=2&re=02&dn=1&yo=companies+act+&x=50&y=8&ia=03&ph=&ky=&page=1
9 Corporations Act No.50 of 2001.Tham khảo tại Commonweath Numbered Act, truy cập
tại http://www5.austlii.edu.au/au/legis/cth/num_act/ca2001172/s46.html và http://www5.austlii.edu.au/au/legis/ cth/num_act/ca2001172/s47.html
Trang 8pháp luật Mỹ10, quyền chi phối của công ty mẹ biểu hiện ở việc công ty mẹ sở hữu cổ phần chi phối, kiểm soát công việc kinh doanh thực tế, và quyền biểu quyết chi phối đối với công ty con.11
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng vị trí công ty mẹ và công ty con chỉ trong mối quan hệ giữa hai công ty với nhau và mang tính tương đối, tức công ty con này có thể là công
ty mẹ của một công ty khác Các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản cho phép các công ty trong Nhóm công ty được sở hữu chéo lẫn nhau12 khiến cho mối quan hệ tương đối giữa công ty mẹ và công ty con nổi bật hơn so với Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2020 không cho phép các công ty trong Nhóm công ty sở hữu chéo cổ phần của nhau theo các quy định (i) Công ty con không được đầu tư mua cổ phần, góp vốn vào công ty mẹ Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được đồng thời cùng góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau; (ii) Các công ty con có cùng một công
ty mẹ là doanh nghiệp có sở hữu ít nhất 65% vốn nhà nước không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác hoặc để thành lập doanh nghiệp mới theo quy định của Luật này 13
Mặt khác, có sự khác nhau về quy định tại Khoản 3 điều 19 Luật doanh nghiệp
2020 so với khoản 3 Điều 189 Luật Doanh nghiệp 2014, cụ thể như sau: Luật Doanh
nghiệp 2014 chỉ quy định về việc “các công ty con có cùng một công ty mẹ là doanh nghiệp có sở hữu ít nhất 65% vốn nhà nước không được cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật này.” Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp 2020
đã bổ sung thêm việc các công ty trên “không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác”8 Rõ ràng, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có những quy định sát sao hơn trong vấn đề “góp vốn, mua cổ phần của các công ty con” Không chỉ đơn thuần là “góp vốn hay mua cổ phần để thành lập một doanh nghiệp mới” mà cũng không được “cùng nhau góp vốn, mua cổ phần của một doanh nghiệp khác” Quy
định này góp phần giảm bớt những vấn đề pháp lý có thể phát sinh trong quá trình
“góp vốn, mua cổ phần” của các công ty con trong nhóm công ty, đảm bảo đầy đủ
hơn về quyền lợi của các bên liên quan
III Quy định về Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con
Qua những quy định về “Công ty mẹ” và “Công ty con” tại khoản 1 điều 195 Luật Doanh nghiệp 2020 đã phân tích ở trên, có thể thấy mặc dù công ty mẹ và công
ty con có mối quan hệ pháp lý độc lập, nhưng do mối quan hệ có tính chất chi phối các quyết định của công ty con, nên Những quy định về Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con sau đây cũng phần nào đảm bảo được
10 Securities Act 1993 Rule 405, 17 C.F.R 230.405 Tham khảo tại Legal Information Institute, truy cập
tại: https://www.law.cornell.edu/cfr/text/17/230.405
11 ThS Trần Minh Anh (2019), “Quy định về nhóm công ty trong pháp luật một số quốc gia và những nội dung
tham khảo cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 13 (389), tháng 7/2019, truy cập tại
http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210349
12 Phạm Hữu Thiện (2019), “Nhóm công ty: pháp luật và thực tiên tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, tr 47, truy
cập tại https://bom.so/ODwXQg
13 Khoản 2, 3 điều 195 Luật doanh nghiệp 2020
Trang 9quyền lợi hợp pháp và miễn trừ những trách nhiệm pháp lý không phải do công ty con gây ra:
“Tùy thuộc vào loại hình pháp lý của công ty con, công ty mẹ thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đông trong quan
hệ với công ty con theo quy định tương ứng của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.” 14
Có thể hiểu quy định này rằng nếu công ty con là công ty cổ phần thì công ty mẹ
sẽ thực hiện quyền và nghĩavụ của mình với tư cách là cổ đông trong công ty; nếu công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn thì công ty mẹ sẽ giữ vai trò như một thành viên góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn…
“Hợp đồng, giao dịch và quan hệ khác giữa công ty mẹ và công ty con đều phải được thiết lập và thực hiện độc lập, bình đẳng theo điều kiện áp dụng đối với chủ thể pháp lý độc lập 15 ”
Công ty mẹ và công ty con là các chủ thể độc lập bình đẳng trong quan hệ pháp luật và kinh doanh Mọi giao dịch, hợp đồng hay quan hệ phát sinh giữa công ty
mẹ và công ty con đều phải thực hiện theo trình tự thủ tục, quy định của pháp luật Công ty mẹ không có quyền áp đặt hay ban hành những chỉ thị, mệnh lệnh mang tính bắt buộc mà không tuân theo những điều kiện, hình thức áp dụng đối với công ty con Công ty mẹ có thể cử một vài người thay mặt mình làm cổ đông để họ được bầu vào hội đồng quản trị và chiếm đa số biểu quyết ở đó; vì nơi này quyết định theo số thành viên tham dự Hơn thế nữa, công ty con chịu trách nhiêm vô hạn bằng tài sản của mình cho chính việc làm của nó; công ty mẹ không thể đại diện công ty con tham gia vào các quan hệ pháp luật hay đứng trước toà án; cho nên các quyết định của nó phải
do nội bộ của nó đưa ra chứ không phải từ công ty mẹ chỉ thị Mẹ có thể ràng buộc con là qua cách kiểm soát bằng cách bổ nhiệm đa số hay tất cả hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc của công ty con Trong những trường hợp công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền của mình, công ty mẹ sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 3, 4, 5, 6 Điều 196 Luật doanh nghiệp 2020:
3 Trường hợp công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền của chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông và buộc công ty con phải thực hiện hoạt động kinh doanh trái với thông lệ kinh doanh bình thường hoặc thực hiện hoạt động không sinh lợi mà không đền bù hợp lý trong năm tài chính có liên quan, gây thiệt hại cho công ty con thì công
ty mẹ phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó.
4 Người quản lý công ty mẹ chịu trách nhiệm về việc can thiệp buộc công ty con thực hiện hoạt động kinh doanh theo quy định tại khoản 3 Điều này phải liên đới cùng công ty mẹ chịu trách nhiệm về thiệt hại đó.
5 Trường hợp công ty mẹ không đền bù cho công ty con theo quy định tại khoản
3 Điều này thì chủ nợ hoặc thành viên, cổ đông có sở hữu ít nhất 01% vốn điều lệ của công ty con có quyền nhân danh chính mình hoặc nhân danh công ty con yêu cầu công ty mẹ đền bù thiệt hại cho công ty con.
14 Khoản 1 điều 196 Luật doanh nghiệp 2020
15 Khoản 2 điều 196 Luật doanh nghiệp 2020
Trang 106 Trường hợp hoạt động kinh doanh theo quy định tại khoản 3 Điều này do công ty con thực hiện đem lại lợi ích cho công ty con khác của cùng một công ty mẹ thì công ty con được hưởng lợi phải liên đới cùng công ty mẹ hoàn trả khoản lợi được hưởng cho công ty con bị thiệt hại.
IV Quy định về Báo cáo tài chính của công ty mẹ, công ty con
Các quy định về báo cáo tài chính của nhóm công ty (thời gian, chủ thể, hình thức báo cáo…) được quy định cụ thể tại điều 197 Luật Doanh nghiệp 2020 Do mô hình nhóm công ty dựa trên liên kết giữa công ty mẹ và công ty con nên việc công ty
mẹ và công ty con tiến hành báo cáo là cần thiết nhằm để công ty mẹ có thể đánh giá chính xác tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng tài chính của doanh nghiệp để có thể đưa ra những phương án kinh doanh mới cho doanh nghiệp Đồng thời cũng tạo cơ
sở cho Nhóm công ty phân tích, nghiên cứu, phát hiện những dự án tiềm năng để có thể đưa ra những quyết định về mặt quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của nhóm công ty Và xác định công ty mẹ có thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với nhóm công ty hay không, hay chỉ vì lợi ích riêng của công ty mẹ