1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN CHỦ ĐỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GẮN VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

14 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng Trưởng Kinh Tế Gắn Với Công Bằng Xã Hội Ở Việt Nam
Tác giả Dương Nguyễn Thanh Hà
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 132,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực chất việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là quá trình gắn kết kinh tế với xã hội trong phát triển bền vững.. Quan điểm của Đảng ta, từ Đại hội đ

Trang 1

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC

-LÊNIN

TÊN CHỦ ĐỀ: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GẮN VỚI

CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên : Dương Nguyễn Thanh Hà

Mã số sinh viên : 030236200044

Lớp, hệ đào tạo : MLM307_2021_D14

CHẤM ĐIỂM

TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

Trang 2

1 Những vấn đề lý luận 1

1.1 Khái niệm 1

1.2 Nội dung 2

2 Thực trạng 4

2.1 Những thành tựu 4

2.2 Những hạn chế cần khắc phục 6

2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 7

3 Giải pháp 8

4 Kết luận 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

1 Những vấn đề lý luận

1.1 Khái niệm

Tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian Thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người trong một năm Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định mức tăng trưởng kinh tế như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng) (Các chỉ số trên thường được tính trong một năm và đều có thể sử dụng theo tiêu chí bình quân trên đầu người)

Khác với khái niệm tăng trưởng kinh tế được thừa nhận khá thống nhất, khái niệm công bằng xã hội (CBXH) còn nhiều ý kiến tranh luận và được diễn giải bằng nhiều khái niệm khác nhau Ngân hàng Thế giới cho rằng CBXH là "công bằng trong các cơ hội cho mọi người” Có khái niệm nhấn mạnh CBXH là công bằng

trong các quan hệ “giữa cá nhân/xã hội, và giữa các cá nhân về cống hiến/hưởng

thụ, quyền lợi/nghĩa vụ” Có khái niệm khác thì cho rằng CBXH: “là các giá trị định hướng cho quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng về vật chất và tinh thần”

Các khái niệm trên đều có giá trị làm rõ nội dung của CBXH Tuy nhiên, sự

đa dạng của các khái niệm cho thấy CBXH được đánh giá trên cơ sở các yếu tố định tính từ nhiều góc độ khác nhau

Trang 4

1.2 Nội dung

Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là hai mặt của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội, có quan hệ tương hỗ lẫn nhau Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện vật chất để thực hiện công bằng xã hội Không có tăng trưởng kinh tế thì cũng không có của cải để thực hiện công bằng xã hội về phân phối, tăng thêm thu nhập, cải thiện phúc lợi và giảm nghèo Ngược lại, công bằng xã hội tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ví dụ, khi việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất của các chủ thể là công bằng thì tự nó sẽ tạo ra động lực để thu hút và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngược lại, nếu việc tiếp cận các nguồn lực không công bằng thì sẽ không thể có sự tăng trưởng kinh tế nào hết, và nếu việc tiếp cận nguồn lực quá bất công thì sẽ dẫn đến phá hoại sản xuất Nếu phân phối thu nhập mà công bằng, thì người tiếp nhận phân phối sẽ cảm nhận được thu nhập

mà họ được hưởng là hợp lý với mức đóng góp của mình, nhờ đó tính tích cực sản xuất tăng lên Công bằng không chỉ tạo ra điều kiện để ổn định kinh tế, xã hội mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thực chất việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là quá trình gắn kết kinh tế với xã hội trong phát triển bền vững Không phải ngẫu nhiên từ giữa thế kỷ XX lại đây, công bằng xã hội

đã trở thành tâm điểm trong các hệ tư tưởng và chương trình nghị sự của hầu hết các đảng và tổ chức chính trị trên toàn thế giới và rất ít người dám phản đối trực tiếp

Quan điểm của Đảng ta, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến Đại hội XI mới đây đã được bổ sung và phát triển ngày càng hoàn chỉnh, có thể tóm tắt như sau:

- Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay từ đầu và trong suốt quá trình thực hiện các kế hoạch phát triển Công bằng xã hội

Trang 5

phải thể hiện cả ở khâu phân phối tư liệu sản xuất, cả ở khâu phân phối kết quả sản xuất; tạo điều kiện để mọi người có cơ hội phát triển và phát huy tốt năng lực của mình

- Sử dụng nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động

và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; kết hợp phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực, phân phối thông qua phúc lợi xã hội; thực hiện điều tiết hợp lý, bảo hộ quyền lợi hợp pháp của người lao động

- Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đi đôi với việc tích cực xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển và mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư

- Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc; uống nước, nhớ nguồn, đền ơn, đáp nghĩa, nhân hậu, thủy chung

- Các chính sách xã hội đều phải giải quyết theo tinh thần xã hội hóa; trong

đó Nhà nước đóng vai trò nòng cốt; động viên toàn dân, các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, cộng đồng quốc tế tham gia giải quyết các vấn đề xã hội

- Mới đây nhất, Văn kiện Đại hội XI đã khẳng định lại một lần nữa rằng:

“Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát

triển là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, khắc phục những bất hợp lý về tiền lương, tiền công, trợ cấp xã hội phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước Tập trung triển khai có hiệu quả chương trình xóa đói, giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; huy động mọi nguồn lực xã hội cùng Nhà nước chăm lo tốt hơn đời sống vật chất

và tinh thần cho những người và gia đình có công với cách mạng Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo

vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em” Khi tổng kết 20 năm công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nói rõ mối quan hệ gắn bó giữa kinh tế và công bằng xã hội như

Trang 6

sau “thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, xem trình độ phát triển

kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách

xã hội là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”

2 Thực trạng

2.1 Những thành tựu

Thứ nhất, giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với văn hóa đã thu

được nhiều kết quả quan trọng Nhận thức về văn hóa và gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội của các cấp, ngành và toàn dân được nâng lên Vai trò của văn hóa ngày càng thể hiện rõ trong việc xây dựng con người, có tác động to lớn trong đời sống xã hội Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Tiến bộ và công bằng xã hội được thể hiện ngay từ chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư phát triển, hưởng thụ kết quả, coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển

Thứ hai, công tác bảo vệ, chăm sóc sóc khỏe nhân dân được chú trọng.

Trong những năm gần đây, việc chăm sóc sóc khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ đã góp phần hạ thấp đáng kể tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi, cơ bản thanh toán một số dịch bệnh có tính phổ biến trước đây, đặc biệt khống chế thành công bệnh viêm đường hô hấp cấp (SARS), dịch bệnh truyền nhiễm cấp tính (virut Zika), v.v Tuổi thọ trung bình tăng, đạt 73,3 tuổi vào năm 2015.Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tăng

Thứ ba, trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế, Việt Nam đã rất chú

trọng hướng vào con người, nhất là những người nghèo Tỷ lệ giảm nghèo từ

Trang 7

khoảng 60% vào năm 1990 xuống còn 18,1% vào năm 2004, và kết thúc năm 2011,

tỷ lệ nghèo cả nước giảm chỉ còn 14% Tính bình quân trong giai đoạn từ năm 2010

- 2015, tỷ lệ hộ nghèo giảm khoảng 2%/năm, từ 14,2% cuối năm 2010 xuống dưới 4,5% năm 2015 Năm 2008, Việt Nam đã hoàn thành hầu hết các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đặt ra cho năm 2015 Số hộ nghèo giảm từ 29% năm 2002 xuống còn 9,5% năm 2011; chỉ số HDI tăng từ mức 0,683 năm 2000 lên mức 0,728 năm 2011, xếp thứ 128/187 nước, thuộc nhóm trung bình cao của thế giới Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người của Việt Nam xếp 129 trên tổng số 182 nước Điều này cho thấy sự phát triển kinh tế của Việt Nam có xu hướng phục vụ

sự phát triển con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội khá hơn so với một

số nước đang phát triển có GDP bình quân đầu người cao

Thứ tư, cùng với quá trình tăng trưởng của nền kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm được giữ ở mức thấp và cùng có xu hướng giảm dần Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 6,9% của năm 1998 xuống còn 4,3% của năm 2010; thời gian thiếu việc làm ở nông thôn giảm từ 28,9% xuống còn 5,5%

0

10

20

30

40

50

60

0 5 10 15 20 25 30 35

Biểu đồ thể hiện số lao động, tỉ lệ thất nghiệp thành thị và thời

gian thiếu việc làm ở nông thôn nước ta giai đọan 1998-2010

Số lao động đang làm việc(triệu người) Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị(%)

Thời gian thiếu việc làm ở nông thôn

Trang 8

Thứ năm, trong thời gian qua, Việt Nam đã có những nỗ lực rất mạnh mẽ

trong việc đảm bảo bình đẳng giới thông qua các luật, chiến lược và chính sách về bình đẳng giới, điển hình là Hiến pháp; Luật Bình đẳng giới; Luật Lao động; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020; Đề án Phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn 2016-2020

2.2 Những hạn chế cần khắc phục

Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, nhưng trên thực tế còn không ít các vấn đề khó khăn, phức tạp, cả khách quan và chủ quan

Điểm nổi bật là trong hơn hai thập kỷ phát triển vừa qua, có tình trạng

một số người nghèo trở nên nghèo hơn

Bảng: Thu nhập của các nhóm dân từ 1995-2004, đơn vị (nghìn VND)

lần

Trong khi nhóm giàu nhất (Nhóm 5) tăng thu nhập 2,28 lần trong 10 năm thì nhóm nghèo nhất (Nhóm) tăng 1,91 lần Đáng chú ý đây là thu nhập tuyệt đối (tính

Trang 9

bằng nghìn đồng) nếu con số này được tính bằng phần trăm GDP thì mức chênh lệch giữa các nhóm còn lớn hơn nhiều

Năng lực quản lý ở tất cả các cấp, các ngành đều không theo kịp yêu cầu phát triển, thể hiện ở các mặt: dự báo chiến lược yếu kém; quy hoạch, kế hoạch không chính xác, tiền của, sản phẩm làm ra với khối lượng và giá trị lớn, nhưng do quản lý kém nên thất thoát, mất mát rất lớn; trong hoạt động quản lý, do không nắm chắc tình hình thực tế nên việc điều hành luôn mắc mớ, trục trặc Chênh lệch giàu -nghèo của nước ta cũng ẩn chứa những yếu tố bất cập về phía những người giàu với những biểu hiện làm giàu bất chính như tham nhũng, buôn lậu, làm ăn phi pháp Những khoản thu nhập bất chính có thể có được do buôn lậu, buôn hàng cấm, gian lận thương mại trốn thuế, do tham nhũng Những khoản thu nhập bất chính này làm cho nhóm giàu ngày càng giàu lên nhanh chóng và làm gia tăng khoảng cách chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèo, làm cho những người nghèo càng trở nên nghèo hơn

2.3 Nguyên nhân của những hạn chế

- Điều đáng lo ngại nhất là một số yếu tố tác động đến nhóm nghèo làm cho nghèo hơn chưa được nhận diện, ngăn ngừa thỏa đáng Trong những yếu tố ấy, nổi bật lên là ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường và gánh nặng cá nhân trong chi trả dịch vụ y tế, giáo dục Tác động của ô nhiễm môi trường từ các ngành công nghiệp

và hóa chất bảo vệ nông nghiệp là nguy cơ lớn nhất đối với sức khỏe người dân nói chung, và đặc biệt nguy hiểm đối với nông dân sống gần các khu công nghiệp Người nghèo ngày càng trở nên khốn khó khi nền kinh tế phát triển không bền vững, môi trường không được chú trọng

Ô nhiễm là tác động ngoại ứng tiêu cực làm cho người nghèo càng nghèo hơn, trong khi đối tượng gây ô nhiễm không bị bắt buộc chi trả cho việc bảo vệ môi trường Ô nhiễm là một thủ phạm góp phần tăng tỷ lệ đói nghèo khi tiêu hao khả năng lao động của nhiều lao động chính trong gia đình hoặc trực tiếp là nguyên

Trang 10

nhân làm chết cây trồng, vật nuôi của bà con nông dân Những vụ việc ô nhiễm gây tổn thất lớn cho hoạt động kinh doanh, sản xuất của nhân dân và những địa danh có

số người chết, đau ốm vì ô nhiễm môi trường xuất hiện ngày càng nhiều trong cả nước

Nhân dân ở một số nơi tiếp tục chịu tác động tiêu cực của những vùng ô nhiễm nặng, hứng chịu rác thải, nước thải, khí thải công nghiệp độc hại từ những nhà máy, khu công nghiệp và từ những làng nghề cơ khí tự phát ngay trong các khu dân cư Những tổn hại về sức khỏe, bệnh tật và chi phí khám chữa bệnh tăng làm cho người nghèo trở nên nghèo hơn và những hộ cận nghèo tái nghèo trở lại Vì vậy, bảo vệ môi trường và quản lý nguồn gây ô nhiễm là một biện pháp tích cực bảo đảm công bằng xã hội, giúp cho nhóm chịu tác động chủ yếu (người nghèo) bớt chịu thiệt và nhóm gây tác động giảm thu lợi một cách bất công Khi đó nhóm gây tác động ở mức độ nhất định sẽ phải có phần bồi hoàn để bù đắp lại những thiệt hại

mà nhóm chịu tác động phải gánh chịu do tác nhân ô nhiễm gây ra

- Giải thích cho những hạn chế trên có thể kể đến nguyên nhân là việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường vừa còn di chứng giai đoạn cũ vừa có yếu tố độc quyền, lũng đoạn, tự phát của hình thái kinh

tế thị trường giai đoạn sơ khai Tham nhũng có đất phát triển khi hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện và pháp chế còn thiếu nghiêm minh Bên cạnh các yếu tố khách quan, cũng phải kể đến yếu tố chủ quan trong đó có ảnh hưởng của một số quan điểm quá tả hoặc quá hữu trong mô hình phát triển

3 Giải pháp

Để thực hiện được quan điểm tăng trưởng phải đi đôi với công bằng xã hội trong từng bước, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước rất nặng nề Nhà nước phải thực hiện có hiệu quả các chức năng cơ bản của mình

Thứ nhất, thực hiện việc kết hợp tăng trưởng kinh tế nhanh với công bằng xã

hội ngay từ đầu khi xây dựng, thực thi chính sách kinh tế - xã hội và trong toàn bộ

Trang 11

tiến trình phát triển; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa cả ba mặt là kinh tế, xã hội

và môi trường

Thứ hai, hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa; chủ động hội nhập quốc tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường để phát triển nhanh và bền vững

Thứ ba, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh Nội

dung cụ thể của giải pháp này là: nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước

để tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để nền kinh tế vận hành thông suốt, hiệu quả

và hội nhập quốc tế; phát huy mạnh mẽ quyền dân chủ, tự do sáng tạo của người dân trong phát triển kinh tế

Thứ tư, hoàn thiện chính sách phân phối Chính sách phân phối và phân phối

lại phải bảo đảm lợi ích của Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp Chú trọng phân phối lại qua phúc lợi xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, giáo dục Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội

Thứ năm, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, con người Việt Nam phát triển

toàn diện Nội dung cụ thể của giải pháp này là: xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức lành mạnh; khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam; ngăn chặn

sự xuống cấp về văn hóa, đạo đức; xây dựng các cơ chế, chính sách để gắn kết chặt chẽ xây dựng văn hóa và phát triển con người; phát triển văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; phát huy vai trò của thông tin truyền thông; phát triển, hoàn thiện, sử dụng hiệu quả các thiết chế văn hóa; thu hẹp khoảng cách chênh lệch

về hạ tầng văn hóa giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa; giảm sự chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa giữa các giai tầng, các nhóm xã hội

Ngày đăng: 06/07/2022, 10:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Đại Dũng, Phạm Thu Phương/Tạp chí khoa học ĐHQGHN Khác
2. Tổng cục Thống kê: Số liệu của Tổng cục Thống kê xuất bản thường niên 1987- 2006 Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia Khác
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận (2005),Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng: Thu nhập của các nhóm dân từ 1995-2004, đơn vị (nghìn VND) - TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN CHỦ ĐỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GẮN VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
ng Thu nhập của các nhóm dân từ 1995-2004, đơn vị (nghìn VND) (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w