Trong quá trình THADS, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thỏa thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình nhưng nếu người phải thi hành án tìm mọi cách trì hoãn, tr
Trang 1MÔN: LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
ĐỀ BÀI:
Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành về biện pháp kê biên và xử lý tài sản của người phải thi hành án và nêu kiến nghị hoàn thiện
pháp luật về vấn đề này
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM 1
1.1 Một số khái niệm cơ bản 1
1.2 Đặc điểm của biện pháp kê biên và xử lý tài sản trong thi hành án dân sự 2
II QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THADS VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN HIỆN HÀNH 2
2.1 Quy định pháp luật về kê biên tài sản 2
2.1.1 Chủ thể áp dụng biện pháp kê biên 2
2.1.2 Quy định chung về thủ tục kê biên tài sản 3
2.1.3 Quy định về kê biên tài sản đối với các trường hợp cụ thể 4
2.2 Quy định về xử lý tài sản kê biên 6
2.2.1 Định giá tài sản kê biên 6
2.2.2 Phương thức xử lý tài sản kê biên 7
2.2.2.1 Giao tài sản kê biên cho người được thi hành án 7
2.2.2.2 Bán tài sản đã kê biên để thi hành án 7
2.2.2.3 Trả lại tài sản kê biên cho người phải thi hành án 8
2.2.3 Thanh toán tài sản kê biên 8
III ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THADS HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 8
3.1 Những kết quả đạt được 8
3.2 Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 9
KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
PHỤ LỤC 16
Trang 41
MỞ ĐẦU
Thi hành án dân sự(THADS) là giai đoan thực thi các bản án, quyết định của Tòa án,
cơ quan tài phán nhằm khôi phuc lai các quyền và lơi ích hơp pháp của các bên liên quan Trong quá trình THADS, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thỏa thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình nhưng nếu người phải thi hành án tìm mọi cách trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ, không tự nguyện thi hành thì buộc cơ quan THA phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế THA, một trong số đó là biện pháp kê biên,
xử lý tài sản THA Mặc dù các quy định pháp luật đối với biện pháp kê biên và xử lý tài sản THA là tương đối đầy đủ, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế dẫn đến quá trình
áp dụng trên thực tế gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Vì lý do đó mà nhóm 06 lựa chọn
“Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành
về biện pháp kê biên và xử lý tài sản của người phải thi hành án và nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này” làm đề tài cho Bài tập nhóm
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Thứ nhất, khái niệm biện pháp cưỡng chế kê biên
Theo định nghĩa trong Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật
Hà Nội có định nghĩa kê biên tài sản như sau: “Kê biên tài sản là việc ghi lại từng tài
sản, cấm việc tẩu tán, phá huỷ để bảo đảm cho việc xét xử và THA” 1 Mặt khác, theo tài liệu nghiên cứu, giảng dạy của Trường Đại học Luật HN thì kê biên tài sản của người phải THA được áp dụng khi người phải THA có nghĩa vụ trả tiền và người phải THA có tài sản để THA mà không tự nguyện thi hành hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải THA tẩu tán, hủy hoại tài sản.2
Từ đây, có kết luận như sau: biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản là việc Chấp hành viên ghi lần lượt từng tài sản là vật, quyền sở hữu trí tuệ, các quyền tài sản của người phải THA, được áp dụng trong trường hợp người phải THA có điều kiện thi hành mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi hủy hoại hoặc trốn tránh việc thi hành án.3
Thứ hai, khái niệm xử lý tài sản trong thi hành án
Kê biên tài sản chỉ là giai đoạn đầu, xử lý tài sản mới là giai đoạn quan trọng bởi nó chấm dứt được giai đoạn cuối cùng của quá trình thi hành án dân sự và đi đến kết thúc một vụ thi hành án Trong LTHADS không có định nghĩa cụ thể mà chỉ quy định đây là một trong những biện pháp cưỡng chế THA tại Khoản 3 Điều 71 LTHADS Theo Từ
1 Bộ Tư Pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb.Từ điển bách khoa và CAND, Hà Nội, Tr.199
2 Nguyễn Công Bình (2007), “Luật THADS Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb.CAND, Tr.218
3 Nguyễn Thanh Phong (2011), Biện pháp cưỡng chế, kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học,
Hà Nội
Trang 52
điển Tiếng Việt: “Xử lý là xem xét và giải quyết về mặt tổ chức một vụ phạm lỗi nào
đó” 4 Như vậy, có thể hiểu rằng, xử lý tài sản trong thi hành án là giai đoạn tiếp sau của việc kê biên tài sản, là việc xem xét và giải quyết các tài sản đã thực hiện kê biên nhằm mục đích nhất định
Như vậy, kê biên, xử lý tài sản trong THADS là một trong những biện pháp cưỡng chế THA, đại diện cho quyền lực Nhà nước được CHV áp dụng theo một trình tự, thủ tục quy định, thường bao gồm hai giai đoạn là kê biên tài sản và xử lý các tài sản đã thực hiện kê biên nhằm hạn chế, tước bỏ quyền tự định đoạt tài sản trong trường hợp người phải THA có tài sản nhưng không tự nguyện THA hoặc cần ngăn chặn người phải THA chuyển dịch tài sản cho người khác tẩu tán, huỷ hoại tài sản để bảo vệ quyền và lợi ích của người được THA
1.2 Đặc điểm của biện pháp kê biên và xử lý tài sản trong thi hành án dân sự
Một, kê biên và xử lý tài sản thể hiện tính quyền lực Nhà nước được áp dụng khi
người phải THADS có tài sản Đối tượng của biện pháp kê biên, xử lý tài sản trong THADS là tài sản và là cơ sở đảm bảo thi hành các khoản nghĩa vụ dân sự về tiền
Hai, kê biên và xử lý tài sản chỉ được áp dụng khi người phải THADS là cá nhân, cơ
quan, tổ chức không tự nguyện THA Trong thời gian tự nguyện THA, CHV không có quyền áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản trừ trường hợp người phải THA có hành
vi nhằm tẩu tán, hủy hoại tài sản Sau khi hết thời hạn tự nguyện THA, CHV tiến hành xác minh và nếu đủ điều kiện theo quy định thì CHV được quyền áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản
Ba, khi áp dụng biện pháp kê biên và xử lý tài sản, người phải THA bị hạn chế quyền
định đoạt đối với tài sản, bị hạn chế chuyển giao quyền sở hữu tài sản như: mua, bán, tặng, cho, chuyển nhượng, cho người khác cũng như không được làm mất mát, hư hỏng hay hủy hoại tài sản nhằm đảm bảo cho nghĩa vụ của người phải THA với người được thi hành án khi người phải THA có tài sản nhưng không tự nguyện THA
II QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THADS VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN HIỆN HÀNH
2.1 Quy định pháp luật về kê biên tài sản
2.1.1 Chủ thể áp dụng biện pháp kê biên
Theo quy định tại khoản 5 Điều 20 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014; áp dụng biện pháp cưỡng chế THA là một trong các quyền hạn của Chấp hành viên nhằm bảo đảm công tác THA Như vậy chủ thể được áp dụng biện pháp kê biên tài sản là Chấp hành viên được giao thi hành bản án, quyết định đó
Nếu trước đây, Thừa phát lại cũng được giao quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế, bao gồm cả kê biên tài sản của người phải THA thì hiện nay, Thừa phát lại đã bị tước bỏ quyền hạn này theo Nghị định 08/20205; thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê
4 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb.Đà Nẵng, 2003, Tr.1163
5 Xem điểm a khoản 2 Điều 52 Nghị định 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại
Trang 63
biên chỉ thuộc về Chấp hành viên Chấp hành viên được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, nhân danh quyền lực Nhà nước để tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Việc quy định này đã tạo ra cơ sở vững chắc hơn dựa trên quyền lực Nhà nước để việc tiến hành kê biên tài sản diễn ra một cách thuận lợi, nhanh chóng, đảm bảo lợi ích của các đương sự
Chấp hành viên chịu sự quản lý của thủ trưởng cơ quan THADS, tuy nhiên trong quá trình thực hiện việc THA của mình với tư cách là người đại diện cho Nhà nước, chấp hành viên hoạt động một cách độc lập mà không bị ảnh hưởng từ bất kỳ sự chi phối nào
2.1.2 Quy định chung về thủ tục kê biên tài sản
Thứ nhất, xác minh điều kiện thi hành án Sau khi được Thủ trưởng cơ quan Thi
hành án dân sự phân công tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án, Chấp hành viên xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện quyết định thi hành án, chịu trách nhiệm chính trong toàn bộ quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định đã được phân công, trong đó có nhiệm vụ xác minh điều kiện thi hành án Thông thường điều kiện THA quan trọng nhất cần xác minh là điều kiện về tài sản thuộc sở hữu của người phải THA có hay không và có đủ để thực hiện nghĩa vụ hay không Bên cạnh đó, Chấp hành viên còn xác minh các vấn đề về địa chỉ, nơi cư trú của người phải THA hoặc xác minh tình trạng vật đặc định nếu nghĩa vụ phải thi hành là trả vật đặc định,
Ngoài ra, đối với tài sản là vật khi kê biên cần xác định các loại tài sản không được
kê biên như sau:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 87 LTHADS, các tài sản không được kê biên bao gồm: Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật( tài sản có ý nghĩa rất quan trọng về mặt kinh tế - xã hội liên, liên quan chặt chẽ tới an ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội; ví dụ như đất đai, tài nguyên, vũ khí quốc phòng, các chất kích thích bị cấm…); tài sản do ngân hàng nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng
Đối với trường hợp kê biên tài sản của người phải THA là cá nhân thì theo khoản 2 Điều 87, Chấp hành viên không được kê biên với nhóm tài sản mang tính chất thiết yếu, đảm bảo đời sống sinh hoạt bình thường của người phải THA và những người mà họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cụ thể là: Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới; số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh; vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm; đồ dùng thờ cúng thông thường;
Đối với trường hợp kê biên tài sản của người phải THA là doanh nghiệp, hợp tác xã,
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thì không được kê biên với các loại tài sản mang tính chất đảm bảo an toàn, đảm đời sống cho người lao động như: thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động; nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này không phải là tài sản để kinh doanh; trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an
Trang 74
toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường (Căn cứ khoản
3 Điều 87 LTHADS, Điều 20 Nghị định 44/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 quy định về cưỡng chế THA đối với pháp nhân thương mại)
Thứ hai, ra quyết định kê biên Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thẩm quyền ra quyết
định kê biên theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Chấp hành viên thực hiện quyết định kê biên theo bản án, quyết định đã có hiệu lực Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức
có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại Tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc người quản lý hợp pháp hoặc người thân thích của họ bảo quản Người được giao bảo quản mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, huỷ hoại tài sản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
Thứ ba, xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch cưỡng chế kê biên
Việc xây dựng kế hoạch cưỡng chế kê biên chỉ cần thiết trong trường hợp cần huy động lực lượng Quy định này đã góp phần giảm tải công việc cho Chấp hành viên khi tiến hành THA trong trường hợp việc THA đơn giản, đương sự tự nguyện, đồng thời cũng đưa ra quy trình chặt chẽ, minh bạch, bảo vệ quyền lợi của cả Nhà nước và đương
sự trong các tình huống THA phức tạp và không an toàn
Sau khi lập kế hoạch cưỡng chế phải gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế THA Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan THADS cùng cấp, cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế
Thứ tư, bảo quản tài sản kê biên Theo quy định tại Điều 58 Luật THADS thì sau
khi đã kê biên tài sản, trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án không xác định rõ trách nhiệm bảo quản tài sản thì cơ quan THADS sẽ quyết định một trong các hình thức bảo quản Đối với phương tiện giao thông đang được khai thác, sử dụng thì sau khi kê biên Chấp hành viên có thể thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được cầm cố thế chấp Chấp hành viên có quyền yêu cầu hạn chế giao thông đối với phương tiện bị kê biên.6
2.1.3 Quy định về kê biên tài sản đối với các trường hợp cụ thể
* Trường hợp kê biên với tài sản là vật, pháp luật THADS quy định về một số loại
tài sản cụ thể sau:
Đối với tài sản bị kê biên là nhà ở, đặc biệt là nhà ở duy nhất của người phải THA và gia đình thì chỉ được thực hiện khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để THA; tuy nhiên việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất vẫn có thể tiến hành trong trường hợp người phải THA đồng ý kê biên căn nhà này Ngoài ra, khi kê biên nhà ở thì phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở Trong trường hợp
6 Nguyễn Thanh Phong, Biện pháp cưỡng chế, kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, TS Lê
Thu Hà hướng dẫn, Hà Nội, 2011, tr 24
Trang 85
nhà ở và quyền sử dụng đất không thuộc về cùng một người thì Chấp hành viên chỉ kê biên nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý; nếu người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ được kê biên nhà ở của người phải thi hành án mà việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.7
Đối với tài sản bị kê biên là phương tiện giao thông thì Chấp hành viên tiến hành thu giữ giấy tờ đăng ký của phương tiện Nếu phương tiện đang được khai thác, sử dụng thì
có thể giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục sử dụng, khai thác mà không được chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp
Bên cạnh đó, pháp luật THADS cũng quy định về biện pháp kê biên áp dụng với một
số loại tài sản khác như tài sản đang cầm cố, thế chấp (Điều 90); kê biên tài sản do người thứ ba giữ (Điều 91); vốn góp (Điều 92); đồ vật bị khóa, đóng gói (Điều 93); tài sản gắn liền với đất (Điều 94); hoa lợi (Điều 97)
* Trường hợp kê biên tài sản là quyền sở hữu trí tuệ
Vấn đề kê biên tài sản là quyền sở hữu trí tuệ được quy định lần đầu tiên tại Điều 84 LTHADS năm 2008 Theo đó, quyền sở hữu trí tuệ bị kê biên phải thuộc quyền sở hữu của người phải THA, trong trường hợp chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên Khi kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải THA, Chấp hành viên tiến hành thu giữ các giấy tờ có liên quan tùy theo từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
Trong trường hợp nhằm đảm bảo mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật sở hữu trí tuệ mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu trí tuệ phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải THA trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao
Với tính chất là loại tài sản vô hình, không dễ dàng nắm bắt, định lượng Do đó việc cưỡng chế kê biên quyền sở hữu trí tuệ mới có một số ít cơ quan THADS trên địa bàn cả nước áp dụng Bởi lẽ, về mặt khách quan rất ít người phải THA có tài sản là quyền sở hữu trí tuệ Về mặt chủ quan quyền sở hữu trí tuệ rất khó định lượng về giá.8
* Trường hợp kê biên tài sản là quyền sử dụng đất
Với tài sản là quyền sử dụng đất, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật đất đai thì khi kê biên loại quyền đặc biệt này cần chú ý các trường hợp kê biên cùng tài sản gắn liền với đất Nếu tài sản gắn liền với đất không thuộc sở hữu của người phải THA thì sau khi kê biên, Chấp hành viên cần xác định tài sản này được hình thành vào thời điểm nào Có 03 trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 113 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 như sau:
Trường hợp tài sản có trước khi người phải THA nhận được quyết định THA thì Chấp hành viên sẽ yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả quyền sử
7 Tham khảo Điều 95 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014
8 Bùi Đức Tiến, Một số vấn đề về cưỡng chế thi hành án quyền sở hữu trí tuệ, Diễn đàn – Đối thoại, số 118 (tháng 10 – 2016), tr.60
Trang 96
dụng đất cho người phải THA; nếu không tự nguyện di chuyển thì Chấp hành viên hướng dẫn cho người có tài sản và người phải THA thỏa thuận bằng văn bản về phương thức giải quyết tài sản Nếu vẫn không thỏa thuận được thì Chấp hành viên sẽ xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất
Trường hợp tài sản có sau khi người phải THA nhận được quyết định THA thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả lại quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án Sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì Chấp hành viên
xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất
Trường hợp tài sản có sau khi kê biên, nếu người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì sẽ bị tháo dỡ; trừ trường hợp người nhận quyền sử dụng đất hoặc người trúng đấu giá quyền sử dụng đất đồng ý mua tài sản
* Trường hợp kê biên tài sản thuộc sở hữu chung
Căn cứ Điều 71, Điều 74 LTHADS; khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, khoản 7 Điều 2 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC- VKSNDTC và một
số luật có liên quan như: Luật Đất đai năm 2013, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì việc kê biên tài sản thuộc sở hữu chung được tiến hành như sau: trước hết cần xác định được phần quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải THA trong khối tài sản chung Nếu chưa xác định được thì các chủ sở hữu chung khối tài sản tự thỏa thuận với nhau; khi không thỏa thuận được thì các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết Nếu tài sản chung đã xác định được phần sở hữu thì đối với tài sản chung có thể chia được, Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải THA; còn đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ Chủ sở hữu chung cũng được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải THA trong khối tài sản thuộc sở hữu chung
2.2 Quy định về xử lý tài sản kê biên
2.2.1 Định giá tài sản kê biên
Sau khi kê biên tài sản, cơ quan thi hành án dân sự tiến hành xác định giá trị tài sản
kê biên Việc xác định giá trị tài sản kê biên có thể được tiến hành theo sự thỏa thuận của các đương sự thông qua tổ chức thẩm định giá hoặc do CHV tự xác định Việc xác định giá trị tài sản kê biên được tiến hành như sau:
Một là, nếu ngay khi kê biên tài sản mà đương sự thoả thuận được về giá tài sản thì
CHV lập biên bản về thỏa thuận đó và giá tài sản do đương sự thoả thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá Trường hợp đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá thì CHV ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó, thức định giá này được kế thừa
từ quy định tại khoản 1 Điều 43 Pháp lệnh THADS năm 2004
Trang 107
Hai là, việc xác định mốc thời gian ký hợp đồng định giá tại khoản 2 Điều 98 Luật
THADS là “05 ngày làm việc kể từ ngày kê biên tài sản” trong thực tế, chấp hành viên phải áp dụng giải pháp linh hoạt để phù hợp quy định về thời hạn này đó là trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với
tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên.9
Việc xác định giá tài sản kê biên mặc dù đã được chuyển giao phần lớn cho các tổ chức có thẩm quyền nhưng tại LTHADS cũng quy định CHV tự xác định giá trong các trường hợp sau đây: Không thực hiện được việc ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá; Tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ mà đương sự không thoả thuận được với nhau về giá
2.2.2 Phương thức xử lý tài sản kê biên
2.2.2.1 Giao tài sản kê biên cho người được thi hành án
Phương thức này thực hiện trong trường hợp đương sự thỏa thuận để người được THA nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được THA Nếu có nhiều người được thi hành án thì người nhận tài sản phải được sự đồng ý của những người được thi hành án khác và phải thanh toán lại cho những người được thi hành án khác số tiền tương ứng tỉ
lệ giá trị mà họ được hưởng10
2.2.2.2 Bán tài sản đã kê biên để thi hành án
Căn cứ vào giá trị, tính chất tài sản và một số trường hợp khác thì tài sản kê biên sẽ được bán qua thủ tục bán đấu giá hoặc không qua thủ tục đấu giá
Đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10 triệu đồng và bất động sản thì
sẽ được bán đấu giá thông qua tổ chức bán đấu giá Tổ chức bán đấu giá do Đương sự thỏa thuận, nếu Đương sự không thỏa thuận được thì CHV lựa chọn tổ chức bán đấu giá Thời hạn cho các loại tài sản này từ 30-45 ngày, việc quy định như vậy là do tài sản có giá trị lớn, phức tạp nên cần được tiến hành bởi tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp, trên thực tiễn việc đấu giá cần nhiều thời gian hơn vậy
Đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ 2 triệu đồng đến 10 triệu đồng hoặc nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản thì CHV chủ động bán đấu giá tài sản kê biên để tiết kiệm chi phí thi hành án
Đối với tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng thì CHV bán tài sản mà không cần qua thủ tục bán đấu giá trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc để đảm bảo giá trị sử dụng của tài sản
9 Hoàng Thị Thanh Hoa, Cần hoàn thiện quy định về định giá tài sản kê biên,
https://thads.moj.gov.vn/tuyenquang/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=146 , truy cập ngày 17/10/2021
10 Trường Đại học Luật Hà Nội, Sđd tr.271
Trang 118
2.2.2.3 Trả lại tài sản kê biên cho người phải thi hành án
Trường hợp sau khi đưa ra bán đấu giá nhưng không thể bán được và người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì tiến hành trả lại tài sản cho người phải thi hành án quản lý sử dụng11 và yêu cầu người thi hành án phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo bản án, quyết định của Tòa án Người phải thi hành án không được đưa tài sản này tham gia các giao dịch dân sự cho đến khi họ thực hiện xong nghĩa
vụ thi hành án
2.2.3 Thanh toán tài sản kê biên
Sau khi trừ các chi phí thi hành án và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật THADS, CHV phải thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án theo một thứ tự nhất định mà pháp luật đã quy định dựa vào tính cấp thiết và mục đích của khoản tiền thanh toán12 Thứ tự này không áp dụng với trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể
Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được theo quy định tại khoản 2 Điều 47 LTHADS
III ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THADS HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.1 Những kết quả đạt được
Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện kể từ thời điểm năm 2008 khi LTHADS được thông qua, các quy định về kê biên, xử lý tài sản hiện hành có tính kế thừa, luật hoá pháp luật về thi hành án dân sự, đặc biệt là Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 13/2004/PL-UBTVQH11 năm 2004 về thi hành án dân sự (Sau đây gọi tắt là Pháp lệnh năm 2004 về thi hành án dân sự) và các nghị định hướng dẫn thi hành, đồng thời xây dựng được những quy định mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành án dân sự trong nước qua các thời kỳ, cũng như tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, từ đó xây dựng một khuôn khổ pháp luật có giá trị pháp lý cao, tương đối đồng bộ cho công tác thi hành án dân sự Cụ thể:
Một là tổng thể các quy định liên quan đến kê biên, xử lý tài sản đã được kết cấu hợp
lý hơn; có sự phân chia để đưa ra những quy định riêng điều chỉnh các loại tài sản khác nhau Nếu tại quy định cũ, pháp luật gộp việc cưỡng chế tài sản là tiền, giấy tờ có giá, quyền sử dụng đất và tài sản khác vào một mục thì hiện nay, các quy định này đã được tách ra.13 Việc sắp xếp lại các quy định kể trên là hợp lý bởi pháp luật đã tách các đối
11 Theo Điều 104 Luật THADS
12 Thứ tự được quy định như sau:
Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần Quy định ưu tiên thanh toán các khoản trên mang ý nghĩa nhân văn và để đảm bảo lợi ích tối thiểu của người được thi hành án
Án phí, lệ phí Tòa án;
Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định
13 Mục 3, 4, 6, 8 Chương IV Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014
Trang 129
tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo các phương thức cưỡng chế, từ đó tạo nên sự khoa học, dễ hiểu khi nghiên cứu, áp dụng pháp luật
Hai là các quy định có sự cập nhật, thay đổi thích ứng với sự phát triển của các mối
quan hệ xã hội, phù hợp với các quy định ở các ngành luật khác, đó là quy định về quyền
sở hữu trí tuệ Vấn đề sở hữu trí tuệ ở Việt Nam tại thời điểm pháp luật về thi hành án dân sự mới ra đời còn khá mới mẻ, thậm chí ở thời điểm năm 2004 Luật sở hữu trí tuệ cũng chưa được ban hành Bởi vậy, pháp luật về thi hành án dân sự trước đó chưa quy định về vấn đề kê biên, xử lý đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, để có thể tương thích và kịp thời điều chỉnh các quan hệ mới có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ mới phát sinh, pháp luật thi hành án dân sự hiện hành đã sửa đổi, bổ sung loại tài sản bị
kê biên, xử lý là quyền sở hữu trí tuệ Từ đó, các quy định này đã tạo ra cơ sở pháp lý để
cơ quan thi hành án được tiến hành áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án với loại tài sản đặc biệt này.14
Ba là cách xây dựng các quy định pháp luật cụ thể, chi tiết và chặt chẽ hơn Quy định
về trình tự, thủ tục kê biên, xử lý tài sản được quy định rõ ràng, chặt chẽ, đặc biệt với mỗi loại tài sản đã được phân loại có áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản đều có một
số quy định riêng biệt Bên cạnh đó, đối với vấn đề các tài sản là vật không được kê biên
đã được tập hợp và quy định rõ hơn tại Điều 87 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 mà không rải rác, đơn giản như các quy định pháp luật cũ Theo đó, pháp luật hiện hành chia thành nhóm các tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật hoặc tài sản công; nhóm tài sản của người phải thi hành án là cá nhân; nhóm tài sản của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Quy định đối với từng loại tài sản trong mỗi nhóm này cũng được xây dựng cụ thể hơn theo Khoản 2 Điều 87 LTHADS
Bốn là pháp luật thi hành án dân sự hiện hành đã xây dựng được một số quy định liên
quan đến các trường hợp kê biên, xử lý tài sản trong các trường hợp đặc biệt, đó là kê biên, xử lý tài sản thuộc quyền sở hữu chung, xử lý tài sản cưỡng chế khi có tranh chấp;
kê biên, xử lý tài sản đang thuộc sở hữu của người thứ ba
3.2 Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Nhìn chung, những quy định hiện hành về áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên vẫn còn nhiều bất cập Nhiều quy định của pháp luật THADS chưa cụ thể, rõ ràng, từ đó gây khó khăn cho việc áp dụng vào thực tiễn THA Trong phạm vi bài viết này, nhóm tập trung tìm hiểu sâu cụ thể các vấn đề sau đây:
Thứ nhất, về việc lập kế hoạch cưỡng chế được thực hiện khi “cần huy động lực
lượng” (Khoản 1 Điều 72 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014) Tuy nhiên cụm từ
“cần huy động lực lượng” chưa được giải thích rõ ràng ở các văn bản luật và văn bản dưới luật nên vấn đề áp dụng quy định về lập, thực hiện kế hoạch cưỡng chế kê biên còn nhiều điểm chưa thống nhất trên thực tế
14 Mục 5 Chương Chương IV Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014
Trang 1310
Ví dụ: Theo quyết định thi hành án số 275/TĐYC ngày 03/7/2014 của Chi cục THADS huyện X Ông Vũ Văn A và bà Nguyễn Thị B, trú tại: thôn V, xã Y, huyện X, phải thi hành khoản Thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP HN số tiền là 3.141.861.894 đồng và khoản tiền lãi theo mức lãi suất 0,6%/năm tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án kể từ ngày bản án có hiệu lực và Ngân hàng có đơn yêu cầu THA Quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên đã tiến hành áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên xử lý tài sản để đảm bảo THA với quyền sử dụng thửa đất số 180, tờ bản đồ
số 03, diện tích 400m2 ở thôn V, xã Y, huyện X, và toàn bộ tài sản trên đất Do xác minh người phải thi hành án là ông A, bà B tự nguyện cho kê biên tài sản thế chấp, khi tiến hành cưỡng chế, chấp hành viên không mời lực lượng công an huyện tham gia bảo vệ việc cưỡng chế về chỉ mời các thành phần tham gia cưỡng chế bao gồm: Chấp hành viên, thư ký thi hành án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện, Đại diện phòng Tài nguyên môi trường huyện, cơ quan định giá, đại diện chính quyền địa phương gồm 01 phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, cán bộ địa chính xã, cán bộ tư pháp và 02 công an viên cấp xã
đi tham gia cưỡng chế Chấp hành viên không lập kế hoạch cưỡng chế mà chỉ viết giấy mời các thành phần tham gia
Ở ví dụ này, vì pháp luật không giải thích rõ ràng về việc cần huy động lực lượng nên trên thực tế có hai quan điểm được đưa ra như sau:
Quan điểm thứ nhất: Việc không lập kế hoạch cưỡng chế đối với trường hợp trên của chấp hành viên là đúng vì chấp hành viên có mời các thành phần tham gia cưỡng chế nhưng đó là các thành phần tham gia bắt buộc theo quy định của pháp luật, không phải là lực lượng bảo vệ cưỡng chế do đó đây không phải là việc cưỡng chế có huy động lực lượng và không cần phải lập kế hoạch cưỡng chế
Quan điểm thứ hai: Việc chấp hành viên không lập kế hoạch cưỡng chế trong trường hợp trên là sai Bởi vì, chấp hành viên vẫn tiến hành mời các thành phần của các cơ quan hữu quan bên ngoài tham gia cưỡng chế nên vẫn xem là có huy động lực lượng tham gia cưỡng chế Do vậy chấp hành viên vẫn phải lập kế hoạch cưỡng chế
Chính vì vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về điều luật trên nên nhiều chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự vẫn chưa thống nhất khi áp dụng quy định này Theo
ý kiến của nhóm, nhà làm luật nên nhanh chóng sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng như sau: đối với những vụ việc cưỡng chế mà tình hình thực tế không phức tạp, chấp hành viên chỉ mời những thành phần bắt buộc tham gia, không huy động lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế thì không cần phải lập kế hoạch cưỡng chế Từ đó cũng góp phần giảm tải khối lượng công việc cho chấp hành viên theo đúng tinh thần của điều luật
Thứ hai, áp dụng quy định về kê biên nhà ở trên đất của người khác trong
THADS còn chỗ chưa phù hợp với thực tiễn Điều 95 Luật THADS sửa đổi, bổ sung
năm 2014 đã quy định nếu người phải thi hành án có tài sản là ngôi nhà xây trên đất của người khác thì vẫn được quyền kê biên, bán đấu giá để thu nợ, tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định trên vẫn còn có một số vướng mắc Trường hợp tại bản án số 255/DSST
Trang 1411
ngày 26/6/2016 là một ví dụ, cụ thể, TAND huyện X tuyên: bà Nguyễn Thị A phải thanh toán trả ông Nguyễn Văn B số tiền 95.000.000 Kết quả xác minh, bà Nguyễn Thị A kê khai có 01 căn nhà 2 tầng đã cũ do bà A xây dựng từ năm 2000 trên thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị C (là mẹ chồng bà A) Ước tính căn nhà có giá trị khoảng 100.000.000đ Ngoài ra, bà Nguyễn Thị A không có tài sản hay thu nhập nào khác
Có 02 quan điểm khác nhau về việc kê biên tài sản đối với vụ việc nêu trên:
Quan điểm thứ nhất cho rằng cơ quan THADS vẫn tiến hành kê biên tài sản của bà
Nguyễn Thị A Lập luận của quan điểm này cho rằng căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật THADS thì “Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành
án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án” Trong tình huống này, Bà Nguyễn Thị A không còn tài sản nào khác và không có thu nhập nào khác ngoài tài sản là nhà ở duy nhất trên Do đó, trong trường hợp này tài sản của bà Nguyễn Thị A có thể bị kê biên để đảm bảo thi hành
án
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật THADS: Khi kê biên nhà ở phải
kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử
dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý Trong trường hợp người
có quyền sử dụng đất (bà Nguyễn Thị C) không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người
phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà
Cụ thể, vấn đề đặt ra là việc xác định như thế nào là “việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà” Cơ quan THADS căn cứ vào tiêu chí nào để xác định, định lượng được việc “tách rời nhà ở và đất” mà không làm giảm đáng kể giá trị của căn nhà?15 Giá trị căn nhà phụ thuộc vào nhiều yếu tố (chủ quan và khách quan), bao gồm cả
sự biến động của giá cả thị trường bất động sản trước và sau kê biên Bên cạnh đó, do tâm lý e ngại của người mua và nhiều yếu tố nhạy cảm khác, vốn dĩ tài sản thi hành án vốn là một loại tài sản rất khó lưu thông và giao dịch trên thị trường Đơn giản, không ai
muốn mua ngôi nhà không gắn liền với đất, việc định giá, bán đấu giá tài sản lại càng
khó khăn gấp nhiều lần, nếu như không muốn nói là không thể
Quan điểm thứ hai cho rằng Chấp hành viên không thể thực hiện được việc kê biên
tài sản là nhà ở của bà A Xuất phát từ những vướng mắc từ thực tiễn trong nhiều năm
sở pháp lý chưa rõ ràng, đầy đủ như đã nêu trên, quan điểm này lựa chọn không kê biên
15 Hoàng Thị Thanh Hoa, Nguyễn Văn Nghĩa, Kê biên nhà ở trên đất của người khác để thi hành án - Một số vấn đề pháp lý đặt ra từ thực tiễn,
15/10/2021
16 Thu Hằng, Bế tắc khi kê biên nhà Thi hành án dân sự trên đất của người khác
https://baophapluat.vn/be-tac-khi-ke-bien-nha-thi-hanh-an-dan-su-tren-dat-cua-nguoi-khac-post176403.html , truy cập ngày 15/10/2021