MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO 8 1 1 Khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo 8 1 1 1 Khái niệm tín ngưỡng 8 1 1 2 Khái niệm tôn giáo 10 1 1 3 Khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo 11 1 2 Đặc điểm tín ngưỡng và tôn giáo tại Việt Nam 15 1 3 Lịch sử hình thành và phát triển quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo tại Việt Nam 17 1 3 1 Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2010 17 1 3 2 Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016 19 1 3 3 Giai đoạn từ nă.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO 8
1.1 Khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo 8
1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng 8
1.1.2 Khái niệm tôn giáo 10
1.1.3 Khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo 11
1.2 Đặc điểm tín ngưỡng và tôn giáo tại Việt Nam 15
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo tại Việt Nam 17
1.3.1 Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2010 17
1.3.2 Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016 19
1.3.3 Giai đoạn từ năm 2016 đến nay 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 26
2.1 Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo theo pháp luật quốc tế và một số quốc gia trên thế giới 26
2.1.1 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn kiện quốc tế 26
2.1.2 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trên thế giới 29 1.2 Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo theo pháp luật Việt Nam 36
2.2.1 Chính sách của Nhà nước trong công tác đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 36
2.2.2 Các quy định đặc thù về hoạt động tôn giáo 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO 46
3.1 Thực trạng quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo tại Việt Nam 46
Trang 23.1.1 Những thành tựu của pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo 46
3.1.2 Những hạn chế của pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 48
3.2 Giải pháp đảm bảo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo tại Việt Nam 53
3.2.1 Giải pháp về mặt pháp lý 53
3.2.2 Giải pháp về mặt xã hội 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 60
KẾT LUẬN CHUNG 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 ICCPR Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính
trị
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Tôn giáo có lịch sử phát triển lâu đời từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên, cho tới nay tôn giáo rất đa dạng về loại hình, đông đảo về số lượng tín đồ và có ảnh hưởng lớn tới đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở tất cả các quốc gia Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo là một quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế: Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền năm 1948, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm
1966 và các Điều ước cốt lõi về quyền con người cụ thể
Tôn giáo là vấn đề nhạy cảm ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Trên thực tế việc đảm bảo quyền này dễ bị các phần tử chống phá nhà nước lợi dụng để thực hiện âm mưu phản động của mình Bên cạnh đó, một số đối tượng cũng có thể lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo vào những mục đích không tốt như là thực hành mê tín dị đoan Chính vì thế, cần có sự hiểu biết đầy đủ
và đúng đắn về quyền này của công dân, việc nghiên cứu chủ động và đầy đủ về các quy định của pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo sẽ là công cụ hữu hiệu
để ngăn cản sự lạm dụng quyền này từ những người có ý đồ không tốt, đồng thời là công cụ để xử lý khi có vi phạm xảy ra Việt Nam là quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo và đông tín đồ, chức sắc, các nhà tu hành Theo kết quả tổng điều tra dân số nhà ở của Tổng cục thống kê vào năm 2019, có 16 tôn giáo được phép hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Tổng số có 13,2 triệu người theo tôn giáo, chiếm 13,7% tổng dân
số cả nước Trong đó, số người theo “Công giáo” là đông nhất với 5,9 triệu người, chiếm 44,6% tổng số người theo tôn giáo và chiếm 6,1% tổng dân số cả nước Tiếp đến là số người theo “Phật giáo” với 4,6 triệu người, chiếm 35,0% tổng số người theo tôn giáo và chiếm 4,8% dân số cả nước Các tôn giáo còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ1 Bởi vậy, tôn giáo không còn là vấn đề nhỏ tập trung vào một nhóm thiểu số nữa mà đã là quan hệ xã hội phức tạp, cần có sự điều chỉnh toàn diện của pháp luật trong nước Ngoài ra, trong quá trình phát triển của xã hội, sự nâng cao về nhận thức của người
1 2019/ truy cập ngày 03 tháng 01 năm 2021
Trang 5https://www.gso.gov.vn/su-kien/2019/12/thong-cao-bao-chi-ket-qua-tong-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-nam-dân, sự hội nhập quốc tế, quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo không đơn giản chỉ là
sự ghi nhận quyền trong các văn bản pháp luật, mà còn cần phải đưa ra những công
cụ bảo đảm nhất điṇh đối với quyền này, đảm bảo cho các hoạt động của các tổ chức tôn giáo theo đúng với khuôn khổ pháp luật
Để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện thì nước ta cần có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về quyền này Việc ban hành một hệ thống pháp luật riêng cho quyền này để giảm thiểu những vấn đề phát sinh trong việc thực hiện Ngày 18 tháng 11 năm 2016 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã chính thức được Quốc hội thông qua thay thế cho Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo 2004 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Luật chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 Với việc thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Việt Nam đã xây dựng một nền tảng pháp
lý vững chắc trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo lần đầu tiên được quy định ở một văn bản luật điều chỉnh riêng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành thể hiện được sự quan tâm của Đảng nhà nước tới vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và đảm bảo quyền này cho mọi công dân, nhưng là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh riêng về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo nên còn tồn tại nhiều bất cập, có nhiều quy định chưa rõ ràng từ đó người dân hiểu sai và thực hiện sai Đồng thời nhận thức của người dân còn chưa cao, ý thức pháp luật còn thấp từ đó dễ bị lợi dụng bởi những người có ý đồ không tốt nhằm thực hiện những việc trái với quy định của pháp luật
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” làm đề tài khóa luận của mình,
với mục đích phân tích tính tương thích của pháp luật trong nước và pháp luât quốc
tế, đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hê ̣thống pháp luật trong nước, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực này bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Trang 6quốc gia Hồ Chí Minh Luận án nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển và những đổi mới của hoạt động tôn giáo qua các thời kỳ Tuy nhiên Luận án chưa thể hiện được sự liên kết giữa pháp luật quốc tế với pháp luật Việt Nam về pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo
Nguyễn Ngọc Huấn (2016) Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay Luận án tiến sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội Hà Nội Công
trình nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chính trị - học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và tham khảo học thuyết chủ quyền nhân dân, lý luận nhà nước và pháp luật và các quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo Luận án đã khái quát, đánh giá quá trình hình thành và phát triển của pháp luật tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam nhưng đề tài chưa đi sâu nghiên cứu mối liên hệ mật thiết giữa pháp luật tôn giáo ở Việt Nam với pháp luật quốc tế
Đặng Văn Tâm (2017) Những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luận văn đã đưa ra cái nhìn tổng thể về tự do tín
ngưỡng, tôn giáo; những bảo đảm pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tiêu chuẩn quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Thêm vào đó, luận văn cũng đã
đi phân tích những quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam thông qua việc làm rõ thực trạng về những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam Tuy nhiên luận văn chưa đi sâu vào phân tích các quy định trong pháp luật quốc tế như: Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1966 về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo
ThS Nguyễn Ngọc Huấn, ThS Nguyễn Văn Hòa, ThS Cát Ngọc Trình (2016) Tìm hiểu pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 167 trang Sách đã nêu ra được tình hình tôn giáo
tại Việt Nam Sách có bao gồm những câu hỏi từ các địa phương được biên soạn và trả lời Sách nêu ra được các văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và thanh tra trong lĩnh vực tôn giáo
Trần Thị Phương Anh (2018) “Một số vai trò cơ bản của hoạt động tín ngưỡng
- tôn giáo ở Việt Nam hiện nay và các yếu tố tác động” Tạp chí Khoa học Xã hội và
Trang 7Nhân văn, Tập 4, Số 6 năm 2018 Bài viết đã làm rõ vai trò của hoạt động tín ngưỡng
- tôn giáo ở Việt Nam hiện nay và các yếu tố tác động, đóng góp thêm một góc nhìn
về vai trò của tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Ngô Văn Trân (2021) “Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa” Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 3 năm 2021 Bài viết đã nêu ra
những thực trạng về hoạt động tôn giáo, sự biến đổi về thực hành tôn giáo, xu hướng thực dụng và kinh tế hóa trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế
Nguyễn Anh Cường (2017) “Pháp luật về tôn giáo và tự do tôn giáo ở Việt Nam” Tạp chí Khoa học, số 12 năm 2017 Bài viết đã làm rõ những nhận thức của
Đảng và Nhà nước ta trong việc hoàn thiện pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo và tác giả
đã nêu ra tình hình thực tế đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú ở Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là phân tích, đánh giá, so sánh đối chiếu pháp luật Hoa Kỳ và Pháp cùng các quy định trong pháp luật quốc tế: Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1966 và pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng
và tôn giáo Từ đó đưa ra những thực trạng, vướng mắc của pháp luật Trên cơ sở đó tác giả đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật để đảm bảo cho quyền tự do
tín ngưỡng và tôn giáo
Để thực hiện mục đích trên, tác giả thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, làm rõ vấn đề lý luận về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo
Hai là, phân tích khuôn khổ và nội hàm của quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo
trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Ba là, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật trong lĩnh vực quyền tự do tín
ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Bốn là, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự
do tín ngưỡng và tôn giáo
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài khóa luận là:
Trang 8Vấn đề lý luận, pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo được quy định trong các văn kiện quốc tế như: Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm
1966 và trong pháp luật Việt Nam: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2013; Luật tự do tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Bộ Luật dân sự 2015… Thực trạng thực thi pháp luật, những vấn đề còn tồn tại trong quá trình đảm bảo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam Từ đó đưa ra kiến
nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật
5 Phạm vi nghiên cứu
Trong bài khóa luận này, các quy định trong luật pháp quốc tế được hiểu là những quy định của Liên Hợp Quốc về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Cụ thể là trong Hiến chương Liên hợp Quốc năm 1945, Công ước về quyền dân sự chính trị năm 1966 và các bình luận, khuyến nghị chung, các Công ước và Điều ước khác Đồng thời tác giả đối chiếu với các quy định trong pháp luật Việt Nam, xem xét tình hình thực tế đang diễn ra ở Việt Nam để bổ sung, khắc phục và hoàn thiện những vấn
đề còn bất cập của pháp luật
6 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác nhau, như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tác giả cũng dùng phương pháp này để nêu
khái lược các vấn đề liên quan đến lý luận và pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp này trong suốt quá trình nghiên cứu
đề tài và chủ đạo là ở chương 1
- Phương pháp hệ thống, so sánh, phân tích: Tác giả sử dụng phương pháp này
để so sánh đối chiếu pháp luật hiện hành và quy định của pháp luật các giai đoạn trước đó Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp này trong chương 2 để so sánh phân tích pháp luật một số nước nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt, lý giải pháp luật và đưa ra ý kiến đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Trang 9- Kết hợp lý luận với thực tiễn: Dựa trên các quy định của pháp luật, đối chiếu
với thực tiễn áp dụng, từ đó phân tích những bất cập, vướng mắc của pháp luật hiện hành về thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo thể hiện trong các quy định và
đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Tác giả vận dụng phương pháp này chủ yếu
trong chương 3
7 Tính mới, ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Tính mới của đề tài
Khóa luận là đề tài nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cơ sở lý luận về quyền
tự do tín ngưỡng và tôn giáo Đồng thời khóa luận đã phân tích, bình luận, đánh giá một cách toàn diện và khách quan thực trạng pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo, đối chiếu với nội dung tương ứng của pháp luật một số nước trên thế giới
Từ đó đưa ra kiến nghị cụ thể dựa trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những giải pháp hoàn thiện pháp luật của các tác giả trước đây
Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Về phương diện lý luận, khóa luận góp phần củng cố và hoàn thiện cơ sở lý luận
về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo để các cơ quan có thẩm quyền, các tác giả nghiên cứu khác, tham khảo trong quá trình nghiên cứu hay nhằm nâng cao hiểu biết
về pháp luật của người dân
Về phương diện thực tiễn, khóa luận góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo cũng như hiệu quả của cơ quan quản lý Nhà nước về quyền này Đồng thời, kết quả nghiên cứu của khóa luận
có thể được sử dụng là nguồn tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy pháp luật nhân quyền liên quan đến hệ quả pháp lý khi xảy ra sai phạm liên quan đến quyền này tại Việt Nam
8 Bố cục của khóa luận
Khóa luận được thiết kế thành 3 phần, gồm: Phần mở đầu, nội dung và kết luận, trong đó phần nội dung gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo Chương 2: Cơ sở pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo trên thế giới
và tại Việt Nam
Trang 10Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự
do tín ngưỡng và tôn giáo
Trang 11CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN
NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO 1.1 Khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo
1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng
Vấn đề tín ngưỡng, hiện nay giới khoa học xã hội còn đang có nhiều ý kiến khác nhau khi nói tới khái niệm tín ngưỡng, bởi chúng có mối liên hệ và sự chuyển hóa trong những bối cảnh nhất định Từ sơ khởi, con người đã tôn thờ và tín ngưỡng tất
cả những sức mạnh vô hình hay hữu hình mà họ cho rằng có thể giúp đỡ hoặc làm hại đến họ như: Trời, đất, sấm sét, mưa, nước, lửa Người nguyên thủy sống dựa vào thiên nhiên, họ chưa giải thích được những hiện tượng tự nhiên đó và họ cũng không giải thích được những hiện tượng như sinh, lão, bệnh, tử của con người mà họ không sao tránh khỏi Từ đó con người hình thành nên ý nghĩ những hiện tượng tự nhiên, bản thân con người, xã hội là do có những vị thần thánh tạo ra và họ tôn thờ những
vị thần thánh ấy để mong muốn những vị ấy ban ơn, tác động cho đời sống con người được tốt hơn Từ ấy con người đặt niềm tin vào những vị thần thánh, việc này được hình thành và ngày một lan rộng trong hầu hết cộng đồng dân cư trên thế giới, đó chính là tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một niềm tin có hệ thống như một phần cấp thấp của tôn giáo
mà con người tin vào để giải thích thế giới và vũ trụ mà để mang lại sự thịnh vượng bình yên và thanh cao hạnh phúc cho bản thân và mọi người Tín ngưỡng còn là thể
hiện giá trị của cuộc sống Tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian “Tín ngưỡng có
tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân gian Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc” 2 Tín
ngưỡng ở đây là việc thể hiện sự sùng bái của một người, của một nhóm người hay
là của cả một dân tộc đối với một niềm tin nào đó, họ thể hiện sự tôn trọng trước một thế lực siêu thực Tôn giáo có hệ thống giáo lý, giáo luật riêng và được giảng dạy tại
2 https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%ADn_ng%C6%B0%E1%BB%A1ng truy cập 15 tháng 03 năm 2021
Trang 12các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lý mà tín ngưỡng chỉ có các câu chuyện huyền thoại, truyền thuyết mang tính chất dân gian Tín ngưỡng cũng có
sự hoà nhập giữa thế giới thần linh và con người, nhưng nơi thờ cúng và các nghi lễ còn phân tán, chưa có các quy ước chặt chẽ
Đứng theo góc độ pháp lý: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những nghi lễ gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” 3 Người dân Việt Nam có
truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh của mình Những tín ngưỡng của mỗi dân tộc mang lại cho họ sự bình an, là nguồn động lực về mặt tinh thần của họ
Có quan điểm cho rằng tín ngưỡng với tôn giáo là một, nhưng cũng có những quan điểm khác lại coi tín ngưỡng nằm dưới tôn giáo trong bậc thang phát triển Tín ngưỡng mang tính dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian Trong tín ngưỡng
có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ và nghi lễ còn phân tán, không có những quy định chặt chẽ Tín ngưỡng thường không có tổ chức ở dạng sơ khai nhất định, tín ngưỡng cũng không có hệ thống giáo lý mà chỉ có các vật được tôn thờ như: các hiện tượng thiên nhiên, con người, các vị thần thánh Khi nói đến tín ngưỡng thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một cộng đồng người
Từ những nhận định như trên, có thể nhận định tín ngưỡng mang tính dân gian, gắn liền với cuộc sống đời thường của con người, gắn liền với những sinh hoạt văn hóa dân gian của con người Có thể hiểu “tín ngưỡng” một cách khái quát như sau:
“Tín ngưỡng là niềm tin, sự sùng bái, ngưỡng mộ của con người vào các vị thần thánh, các đấng ở thế giới siêu thực, có sức mạnh tác động vào đời sống hiện tại của con người” Ở tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người Tín
ngưỡng chính là sự ngưỡng mộ của con người vào những vị thần thánh, vào những thế lực vô hình, những thế lực mang sức mạnh tác động vào đời sống thực tế của họ
3 Khoản 1 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016
Trang 131.1.2 Khái niệm tôn giáo
Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm
lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Tôn giáo được hình thành từ những ý thức, ý niệm mơ hồ của con người vào một thế lực vô hình mãnh liệt và rộng lớn Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau Con người thực hiện những nghi lễ, các buổi tế bái, thờ cúng có tổ chức, họ muốn được ban phước lành từ những hoạt động hữu ích mà
họ thực hiện đối với niềm tin của họ Những hoạt động này cũng giúp họ cảm thấy mình được kết nối với những vị thần thánh, những vị thần thánh sẽ là người giúp họ
có thêm sự tin tưởng vào cuộc sống, lạc quan hơn chờ đợi những phước lành, những
ý muốn mà họ nguyện cầu sẽ xảy ra
Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo tranh luận rất nhiều Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo Với cách nhìn từ góc độ triết học của Mác – Lênin: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần”4 Như vậy theo quan điểm tiếp cận của Mác – Lênin, tôn giáo là tiếng thở dài của quần chúng, là sự bất lực trước bất công của xã hội Tôn giáo là nơi an ủi tinh thần cho quần chúng nhân dân bị áp bức, tôn giáo như là một niềm hy vọng cho cuộc sống của họ, đó là nơi giúp họ quên đi những nỗi đau ở thực tại để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn
Dưới góc độ pháp lý “tôn giáo” được hiểu như sau: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” 5 Niềm tin trong tôn giáo là sự tin tưởng của
con người vào một thế giới thần linh, niềm tin đối với họ là sự động viên, khích lệ
Họ luôn tin vào những vị thần thánh, những người sẽ giúp đỡ họ vượt qua những thử
4 https://vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/Nghien-cuu-ly-luan-ton-giao-132 truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2021
5 Khoản 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016
Trang 14thách khổ ải trong cuộc sống Con người đặt niềm tin nơi những vị thần thánh, niềm tin của họ xuất phát từ những cái nhìn, suy nghĩ có hệ thống và thông qua những hoạt động tôn thờ, lễ nghi, giáo lý, giáo luật thì niềm tin của họ ngày càng mạnh mẽ hơn
Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các thánh đường, tu viện, học viện,… có tổ chức, hội đoàn chặt chẽ Tôn giáo bao gồm những hệ thống quan niệm tín ngưỡng, các quy định về kiêng cữ, cấm kỵ, các hình thức về thờ cúng, lễ bái và những cơ sở vật chất để thực hiện những nghi lễ
tôn giáo: “Tôn giáo có thể được định nghĩa là một hệ thống các văn hoá, tín ngưỡng, đức tin bao gồm các hành vi và hành động được chỉ định cụ thể, các quan niệm về thế giới, thể hiện thông qua các kinh sách, khải thị, các địa điểm linh thiêng, lời tiên tri, quan niệm đạo đức, hoặc tổ chức, liên quan đến nhân loại với các yếu tố siêu nhiên, siêu việt hoặc tâm linh” 6 Tôn giáo là một hệ thống văn hóa, đức tin của con
người, bao gồm trong đó là các hành vi, hành động cụ thể được thể hiện thông qua các kinh sách, niềm tin, các địa điểm thiêng liêng để hướng về một thế giới thần thánh, siêu nhiên
Như vậy, khi nói đến tôn giáo chúng ta phải luôn đề cập tới vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi
chết, thế giới hữu hình và vô hình Do đó có thể hiểu: “Tôn giáo chính là món ăn tinh thần, tôn giáo là niềm hy vọng của con người trong cuộc sống đời thường Tôn giáo mang lại sự an bình cho con người trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải” Với cách tiếp cận như trên thì theo tác giả, tôn giáo được xem là hình thái
biểu hiện đời sống tinh thần của cá nhân với tư cách là chủ thể độc lập trong cộng đồng, xã hội
1.1.3 Khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được nhiều quốc gia cho là một trong những quyền tự do cơ bản của con người Nó được coi là một nguyên tắc thể hiện quyền tự
6 https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B4n_gi%C3%A1o#:~:text=T%C3%ADn%20ng%C6%B0%E1%BB% A1ng%20t%C3%B4n%20gi%C3%A1o%20l%C3%A0,v%E1%BB%81%20t%C3%ADn%20ng%C6%B0% E1%BB%A1ng%20t%C3%B4n%20gi%C3%A1o truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2020
Trang 15do của cá nhân hay cộng đồng trong việc thực hiện các hành vi tôn giáo hay việc theo đuổi một tín ngưỡng
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn bản luật quốc tế về tôn giáo được ghi nhận từ rất sớm trong các văn kiện luật nhân quyền quốc gia và quốc tế Ở cấp độ quốc gia, có thể kể đến Luật của Rhode Island 1647 và Hiệp ước Hòa Bình Augsburg 1555 với những quy định liên quan đến “quyền được thừa hưởng về tự do tôn giáo” Trong Hiệp ước Hòa Bình Augsburg 1555 cho phép hoàng tử chọn Lutheranism hoặc Công giáo làm tôn giáo cho lãnh thổ của mình và cho phép những
cư dân bất đồng chính kiến được tự do di cư7
Ở cấp độ quốc tế, quyền này được khẳng định ngay trong văn kiện quốc tế đầu tiên về nhân quyền là Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền 1948; Điều 18 của Tuyên ngôn thế giới nhân quyền năm 1948 định nghĩa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như sau: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo; quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo và niềm tin, cũng như quyền tự do biểu hiện tôn giáo hay niềm tin của mình, một mình hay cùng chung nhau, ở nơi công cộng hay ở riêng nơi riêng tư, bằng thuyết giảng, tục lệ, thờ cúng và làm các nghi lễ”8 Cũng theo khoản 1 Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR) nêu khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: “Mọi người đều
có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và giảng đạo” Bên cạnh đó, căn cứ khoản 3 Điều 18 ICCPR: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi có sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các
7 Peace of Augsburg (Germany 1555): “The Peace allowed the state princes to select either Lutheranism or Catholicism as the religion of their domain and permitted the free emigration of residents who dissented” written by the Editors of Encyclopaedia Britannica https://www.britannica.com/event/Peace-of-Augsburg,
truy cập 12 tháng 04 năm 2021
8 Điều 18 Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền năm 1948
Trang 16quyền và tự do cơ bản của người khác được quy định theo pháp luật của từng quốc gia.”
Tại Châu Á, Trung Quốc là quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam
cả về văn hóa, phong tục tập quán lẫn thể chế chính trị Trên phương diện pháp luật, các nội dung liên quan đến tôn giáo được thể hiện trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định… Tại Điều 251, Luật Hình sự của Trung Quốc năm 1997 quy định: “Nhân viên các cơ quan Nhà nước tước đoạt trái phép quyền tự do tín ngưỡng của công dân
và xâm phạm phong tục tập quán dân tộc thiểu số, tình tiết nghiêm trọng sẽ bị xử phạt
tù giam dưới hai năm”9
Tại điều 20 Hiến pháp Nhật Bản năm 1947 quy định: “Quyền tự do tín ngưỡng
được bảo đảm cho tất cả mọi người Không đoàn thể tôn giáo nào có thể tiếp nhận
đặc ân của Nhà nước hay được trao quyền lực chính trị Không ai bị ép buộc tham gia các hoạt động tôn giáo, lễ hội, nghi lễ hoặc tụ tập Chính phủ và các cơ quan Nhà
nước không được phép tiến hành nền giáo dục mang tính tôn giáo và các hoạt động tôn giáo khác”10 Theo Điều 20 Hiến pháp Nhật Bản năm 1947 thì quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo không bị phân biệt, quyền này được bảo đảm cho tất cả mọi người Nhưng các đoàn thể tôn giáo thì không được nhận các đặc ân của Nhà nước và không được trao bất cứ quyền lực chính trị nào Tôn giáo tách biệt với chính trị Mọi người
có quyền theo hay không theo bất kỳ tôn giáo nào, việc này sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào sự lựa chọn của cá nhân mỗi người Mỗi người đều có quyền lựa chọn của riêng mình, quyền cao nhất của mỗi người chính là quyền tự do được lựa chọn theo sở thích của mình trong mọi vấn đề và vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo cũng phải là ngoại lệ Mọi người sẽ không ai bị ép buộc phải tham gia bất cứ hoạt động tôn giáo, lễ hội hay các nghi lễ tôn giáo, họ có quyền tự do tham gia hoặc không tham gia các hoạt động đó
9 Criminal Law of the People's Republic of China, Article 251: “Any functionary of a State organ who unlawfully deprives a citizen of his or her freedom of religious belief or infringes upon the customs and
habits of an ethnic group, if the circumstances are serious, shall be sentenced to fixed-term imprisonment of
not more than two years or criminal detention.”
https://www.cecc.gov/resources/legal-provisions/criminal-law-of-the-peoples-republic-of-china Truy cập ngày 12 tháng 04 năm 2021
10 https://vi.wikisource.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2021
Trang 17Nền giáo dục không được mang tính tôn giáo và không được đan xen các hoạt động
tôn giáo vào nền giáo dục
Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được Nhà nước ta ghi nhận, nó thể hiện bản chất của nhà nước ta là nhà nước dân chủ nhân dân, tôn trọng quyền công dân, quyền con người Theo tinh thần Hiến Pháp 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật Nhà nước tôn trọng
và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để vi phạm pháp luật”11 Quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều này được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Tại khoản 1 Điều 6 Luật tín ngưỡng tôn giáo 2016 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người Mỗi cá nhân có quyền tự do lựa chọn tín ngưỡng, tôn giáo của mình Họ có thể theo hoặc không theo một tôn giáo nào Việc theo hay không theo một tôn giáo nào là sự lựa chọn của mỗi người sẽ không ai có thể bị ép buộc Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được mở rộng cho tất cả mọi người, mọi người đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà không có sự phân biệt về có tư cách công dân hay không Quy định tại Điều 6 của Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 đã thể hiện đúng bản chất quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người theo tinh thần Hiến pháp 2013
Đời sống của mỗi người luôn luôn ở hai khía cạnh là đời sống vật chất và đời sống tinh thần Đời sống tinh thần là đời sống bên trong của con người Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền phục vụ nhu cầu tinh thần của mỗi người Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện ở bậc cao nhất, hiến định rất rõ ràng trong đạo luật gốc - đó là Hiến pháp Hiến pháp với tư cách là đạo luật pháp lý quan trọng nhất đã
bổ sung qua các giai đoạn, có sự kế thừa và phát triển để quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trở thành một trong những quyền cơ bản của con người Quyền này cũng được thừa nhận như là quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam
11 Điều 24 Hiến pháp năm 2013
Trang 18Như vậy có thể thấy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản cần thiết và đặc biệt quan trọng với con người Không ai được xâm phạm hoặc lợi dụng quyền này để vi phạm pháp luật Và quyền này cần được bảo vệ và tôn trọng không chỉ trong Hiến pháp hay pháp luật mà cả trong thực tiễn cuộc sống
1.2 Đặc điểm tín ngưỡng và tôn giáo tại Việt Nam
Tôn giáo là một thực thể khách quan của xã hội, luôn gắn liền với đời sống chính trị, xã hội, văn hóa của một đất nước Tôn giáo là nhu cầu của đại bộ phận nhân dân Tôn giáo do con người sáng tạo ra, sinh ra và tồn tại với xã hội loài người Để đáp ứng nhu cầu tôn giáo, bất cứ một nhà nước nào, tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhằm tạo ra một mối liên hệ giữa cuộc sống thực tại với cuộc sống siêu nhiên siêu thực, cũng phải định ra một thái độ ứng xử đối với tôn giáo cho phù hợp với sự vận hành của xã hội Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc biểu hiện quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau nhưng đều có chung những đặc điểm:
Thứ nhất, tín ngưỡng tôn giáo mang tính lịch sử Ngay từ thời kì sơ khai thì
tín ngưỡng, tôn giáo đã xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của con người
Ở thời kỳ đồ đá, con người chuyển dần từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt và chăn nuôi, các hình thức tôn giáo dân tộc ra đời với sự thiêng liêng hóa các nguồn lợi của con người trong sản xuất và cuộc sống: thần Lúa, thần Khoai, thần Sông… Khi đồ sắt xuất hiện, các quốc gia dân tộc ra đời, các vị thần ấy tồn tại song song cùng dân tộc tạo ra vị thần ấy và dân tộc đó coi vị thần đó là tôn giáo của mình12
Vào thời cận đại, cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một xã hội công nghiệp, xã hội này đòi hỏi phải có một tôn giáo năng động và tự do hơn, khó chấp nhận một tổ chức, một giáo lý với những nghi thức cứng nhắc, phức tạp Tình trạng độc tôn của một tôn giáo trong một quốc gia đã bắt đầu chấm dứt và chấp nhận sự đa dạng trong đời sống tôn giáo Từ đây quan niệm và chính sách tự do tôn giáo ra đời, phát triển và thể hiện khác nhau ở các quốc gia khác nhau Những yếu tố lỗi thời được hủy bỏ hoặc tự thay đổi, thay thế để thích nghi Với xu thế quốc tế hóa ngày càng gia tăng, việc mỗi cá nhân chỉ biết đến tôn giáo của mình đã trở nên lạc hậu Mỗi người
12 https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_t%C3%B4n_gi%C3%A1o truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2021
Trang 19đều rằng trên thế gian có nhiều thánh thần, có nhiều tôn giáo Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa đang chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, sự nâng cao về trình độ học vấn và đặc biệt là những thành tựu của khoa học và công nghệ đã làm cho các tôn giáo ngày càng trở nên đa dạng
Đến thế kỉ XX, thời kỳ hiện đại thì những quyền tự do của con người đã được nâng cao và được đảm bảo hơn qua các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Tín ngưỡng tôn giáo là một phạm trù lịch sử nó sẽ còn tồn tại và lâu dài cùng với sự tồn tại của con người Nó tồn tại song hành cùng
xã hội loài người và có những ảnh hưởng, tác động đến đời sống tinh thần tâm linh, văn hóa của con người nên tín ngưỡng tôn giáo luôn luôn có sự biến đổi phù hợp với thực tại
Thứ hai, tín ngưỡng, tôn giáo mang tính quần chúng Đây là một đặc điểm cơ
bản và đặc thù của tín ngưỡng tôn giáo Nguyên nhân của xuất hiện tín ngưỡng và tôn giáo cũng từ nhu cầu có thực của đại đa số quần chúng trong xã hội Sự ra đời của tín ngưỡng, tôn giáo nhằm xoa dịu nỗi đau, biến cố trong đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội Tín ngưỡng tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Ngược lại thì quần chúng cũng đóng vai trò rất quan trọng và là yếu tố chủ yếu trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo Tín ngưỡng, tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của các tín đồ tôn giáo, tín đồ các tôn giáo thuộc tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội và các tín đồ chiếm tỉ lệ cao trong dân
số thế giới Tín ngưỡng tôn giáo đáp ứng nhu cầu tinh thần của quần chúng, phản ánh khát vọng của những người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng Tín ngưỡng, tôn giáo mang tính nhân văn, nhân đạo hướng đến những điều tốt đẹp Tín ngưỡng tôn giáo thể hiện khát vọng về một cuộc sống an bình, giúp họ có thêm động lực vượt qua được những khó khăn thử thách
Thứ ba, tín ngưỡng tôn giáo mang tính dân tộc Tín ngưỡng, tôn giáo hình
thành trên một vùng lãnh thổ nhất định nhưng theo tiến trình lịch sử sẽ có sự lan truyền ra các vùng lãnh thổ và quốc gia, dân tộc khác Ở mỗi nơi thì tín ngưỡng, tôn giáo đều thích nghi với văn hóa bản địa nên tạo ra tính dân tộc của tín ngưỡng, tôn giáo Cho dù là tín ngưỡng tôn giáo quốc tế hay tín ngưỡng tôn giáo dân tộc cũng đều
Trang 20có những biểu hiện khác nhau ở các vùng miền khác nhau Những sự khác biệt này được tạo nên từ sự khác nhau về phong tục tập quán, nếp sống, bản sắc văn hóa của từng vùng miền trong một quốc gia, hay từng quốc gia của một khu vực trên thế giới
Thứ tư, tín ngưỡng tôn giáo mang tính chính trị Khi xã hội chưa có giai cấp,
với hình thức sơ khai, thì tính chính trị của tín ngưỡng, tôn giáo không được biểu hiện một cách rõ nét hay nói cách khác vấn đề chính trị trong tín ngưỡng, tôn giáo không được đề cập đến Khi mà giai cấp xuất hiện, Nhà nước ra đời, sự đối kháng về quyền lợi giữa các giai cấp khác nhau, giữa các quốc gia dân tộc khác nhau nảy sinh thì tính chính trị của tín ngưỡng, tôn giáo bộc lộ mạnh mẽ Tín ngưỡng tôn giáo tự bản thân
nó không mang tính giai cấp nhưng giai cấp thống trị luôn muốn lợi dụng nó để phục
vụ cho lợi ích của mình Chính vì thế mà tín ngưỡng, tôn giáo mang tính chính trị sâu sắc Ngoài ra tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là niềm tin về mặt tư tưởng mà còn ảnh hưởng đến các vấn đề xã hội, đến quan hệ quần chúng, quan hệ dân tộc và quan hệ quốc tế Điều này tạo nên sự liên kết giữa con người với nhau và có tính triệt tiêu rất cao nên dễ dàng tác động đến các vấn đề nhạy cảm về chính trị
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo tại Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo và có rất nhiều các tín đồ ở các tôn giáo khác nhau Việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thực hiện đại đoàn kết dân tộc là chính sách nhất quán xuyên suốt các giai đoạn lịch sử của đất nước Đảng và Nhà nước luôn đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp; đảm bảo các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo hộ, chống việc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để trục lợi, chia rẽ sự đoàn kết trong nhân dân Để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo, hơn nửa thế kỷ qua,
hệ thống pháp luật ở Việt Nam luôn được điều chỉnh và hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn cũng như bảo đảm sự tương thích quốc tế Tính đến thời điểm hiện nay đã
có hơn 100 văn bản pháp luật có nội dung điều chỉnh về tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành qua các giai đoạn cụ thể:
1.3.1 Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2010
Trang 21Ngày 18 tháng 6 năm 2004 Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo 2004 đã được Ủy
ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh ghi nhận: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Không ai được xâm phạm quyền tự
do ấy Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau.” 13 Đây là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp
lý cao nhất điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo Pháp lệnh đã thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta, tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho công dân thực hiện quyền cơ bản về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, pháp lệnh cũng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với quyền này Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo ra đời đẩy lùi những mưu toan lợi dụng tôn giáo để chống phá Nhà nước
Trong thời gian này, Nhà nước ta đã quan tâm đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo 2004 đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành, tạo hành lang pháp lý để ghi nhận, bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân cũng như chính sách của Nhà nước đối với tôn giáo, quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm
2004 đã thể hiện rõ vai trò trong việc bảo vệ sự bình đẳng trong lĩnh vực tôn giáo, tạo điều kiện pháp lý thông thoáng cho sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo Tuy nhiên, các quy định của pháp luật vẫn còn tản mạn, chưa tập trung, một số quy định của Pháp lệnh còn thiếu cụ thể Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo chỉ được đảm bảo với các công dân Việt Nam Về vấn đề tổ chức tôn giáo ở Việt Nam gia nhập tổ chức tôn giáo quốc tế, việc phong chức, bổ nhiệm cho người có quốc tịch nước ngoài hoạt động tôn giáo ở Việt Nam, việc người nước ngoài vào học tập trong các tu viện, học viện tôn giáo, các cơ sở tôn giáo tại Việt Nam chưa được quy định Bên cạnh đó, Pháp lệnh tín cũng chưa có những quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước
về tín ngưỡng, tôn giáo Việc chưa đưa ra những quy định cụ thể sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với vấn đề tín ngưỡng tôn giáo và đối
13 Điều 1 Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo 2004
Trang 22với hoạt động của tổ chức cũng như các cá nhân, tín đồ tín ngưỡng, tôn giáo Những quy định này chưa được nhà nước quy định một cách rõ ràng vì đây là văn bản mới được ban hành quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và cũng chưa có nhiều những tranh chấp liên quan đến vấn đề tôn giáo nên pháp luật về vấn đề tín ngưỡng tôn giáo còn thiếu cụ thể
Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2005 ghi nhận: “Cá nhân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào Không ai được xâm phạm
tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền lợi ích của người khác” 14 Mỗi cá nhân đều có
quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào, mỗi người có quyền tự do lựa chọn tôn giáo mà không bị ép buộc Nhưng tự do tín ngưỡng tôn giáo vẫn phải đảm bảo thực hiện trong khuôn khổ pháp luật Không được lợi dụng quyền này để xâm
phạm quyền và lợi ích của người khác
Ngày 01 tháng 3 năm 2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
22/2005/NĐ-CP, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo Tại Điều 2 của Nghị định ghi nhận: “Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân, không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Nhà nước nghiêm cấm việc ép buộc công dân theo đạo, bỏ đạo hoặc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh
dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác Mọi hành vi vi phạm đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.”
1.3.2 Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016
14 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 47, Bộ luật Dân sự 2005: Quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo
Trang 23Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo được biết đến đầu tiên như là một quyền hiến định Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng Hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã bổ sung các quy định về quyền con người Hiến pháp đã khẳng định rõ hơn việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Đạo luật đã khẳng định và cụ thể hóa chủ trương chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, kế thừa và phát triển toàn diện mọi mặt cũng như vấn đề tín ngưỡng tôn giáo của các bản Hiến pháp trước đó Hiến pháp còn xác định rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm thực hiện quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Đạo luật ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”15 Bên cạnh đó, đạo luật còn ghi nhận: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”16 Sự bình đẳng và không phân biệt trong quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp 2013 được thể hiện thông qua hai phương diện; bình đẳng giữa mọi người với nhau và bình đẳng giữa các tôn giáo Mọi người không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo nào, ai cũng có quyền tự do thực hành tín ngưỡng, tôn giáo của mình Việc thực hành quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác
và không ai được lợi quyền này để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật
Vào ngày 08 tháng 11 năm 2012 Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2012 NĐ-CP, Nghị định này quy định chi tiết về biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 Nghị định một lần nữa khẳng định chính sách nhất quán của Đảng
và Nhà nước ta đối với tôn giáo Với văn bản quy phạm pháp luật này, Chính phủ đã thể hiện tinh thần cởi mở trong cách ứng xử đối với các tôn giáo
Ở giai đoạn này pháp luật tín ngưỡng và tôn giáo đã được Đảng và Nhà nước quan tâm hơn Pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo đã có sự phát triển hơn giai đoạn trước
đó Pháp luật có những quy định mới về quản lý đối với hoạt động tín ngưỡng, về
15 Điều 16 Hiến pháp 2013
16 Điều 24 Hiến Pháp 2013
Trang 24điều kiện để tổ chức được đăng ký sinh hoạt tôn giáo, đăng ký hoạt động, công nhận
tổ chức tôn giáo Đây là những điểm mới nhằm giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định được các loại hình tổ chức đủ điều kiện đăng ký hoạt động tôn giáo Quy định này đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, đảm bảo sinh hoạt tôn giáo được diễn ra trong khuôn khổ pháp luật Tuy nhiên các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chưa được thể hiện một cách cụ thể, một số nội dung chưa phù hợp với thực tiễn gây khó khăn trong quá trình triển khai và thực hiện
1.3.3 Giai đoạn từ năm 2016 đến nay
Vào ngày 18 tháng 11 năm 2016 tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIV đã chính thức thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo và luật này có hiệu lực thi hành từ ngày
ngày 01 tháng 01 năm 2018 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua
đánh dấu bước ngoặt trong việc thực thi quyền tự do tôn giáo của các tầng lớp nhân
dân Như vậy, rõ ràng là nhà nước Việt Nam đã có những bước tiến dài trong việc thể
chế hóa các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng và các hoạt động của các tổ chức tôn giáo Việc ban hành hàng loạt quy định, nghị định, chỉ thị, thông tư
và nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã thể hiện quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo Việc làm này đã nhận được
sự tán đồng và ủng hộ từ chức sắc, tín đồ các tôn giáo và nhân dân nói chung Bằng
chứng là từ nhiều năm nay, đường hướng hành đạo: “Sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” 17 của Công giáo; “Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội” 18 của Giáo hội Phật giáo; hay “Sống phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ tổ quốc và dân tộc” 19 của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đã
và đang được thực hiện có hiệu quả
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 gồm 9 chương, 68 điều, có tính kế thừa từ quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 92/2012/NĐ-CP (năm 2012) của Chính phủ quy định chi tiết về biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo Luật bổ sung các quy định mới nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín
17 Báo điện tử VOV https://vov.vn/xa-hoi/song-phuc-am-giua-long-dan-toc-97240.vov
18 Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam lần thứ nhất tháng 11 năm 1981; dao-phap-dan-toc-chu-nghia-xa-hoi-d37198.html
https://phatgiao.org.vn/phuong-cham-19 Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam, To-quoc-va-Dan-toc-35028
Trang 25https://vanhien.vn/news/Song-phuc-am-phung-su-Thien-Chua-phuc-vu-ngưỡng, tôn giáo Văn bản quy phạm pháp luật này chứa đựng nhiều nội dung mới,
mở rộng phạm vi chủ thể có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ giới hạn
“công dân” như Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo 2004 mà là “mọi người” Quy định này thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người theo
tinh thần Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” 20
Một trong những vấn đề được đề cập đầu tiên trong Luật tín ngưỡng tôn giáo
2016 là trách nhiệm của nhà nước đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận tại Điều 3 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 Cụ thể, Nhà nước tôn trọng và bảo
hộ quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của mọi người, đảm bảo các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật Tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo
Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 có những quy định hoàn toàn mới so với Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo 2004 Cụ thể ghi nhận: “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ
sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo”21 Đồng thời Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 còn quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam Họ được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Họ có quyền sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt
20 khoản 1 Điều 6 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2013
21 Khoản 5 Điều 6 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016
Trang 26tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam Chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam22 Với quy định này, lần đầu tiên pháp luật về quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài được ghi nhận trong pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo của nước ta Điều này thể hiện sự bình đẳng bằng việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tất cả mọi người, không phân biệt với những người bị tước đoạt quyền công dân, người nước ngoài không phải là công dân Việt Nam Những quy định mới này chính là bước tiến lớn và mới mẻ trong việc hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng và tôn giáo của Nhà nước ta
Tuy nhiên Luật tín ngưỡng tôn giáo cũng có những bất cập, hạn chế, gây khó khăn cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cụ thể: Luật tín ngưỡng, tôn giáo có những quy định về quy trình và điều kiện để công nhận tổ chức tôn giáo, đăng ký sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo thì người dân chưa được phổ cập về pháp luật liên quan đến vấn đề này, những quy định chưa
rõ ràng cụ thể người dân tiếp cận thì gặp nhiều khó khăn
Về khái niệm “tổ chức tôn giáo trực thuộc” Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 cho rằng: “Tổ chức tôn giáo trực thuộc là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo”23 Quy định này bộc lộ một số khó khăn trong triển khai thực hiện Hiện nay ở Việt Nam có nhiều tổ chức tôn giáo với mô hình, hệ thống cơ cấu tổ chức từ trung ương đến cơ sở rất khác nhau Đối với Công giáo, mô hình cơ cấu tổ chức được quy định trong Bộ giáo luật thực hiện từ Giáo triều Vatican đến giáo xứ, với nhiều tầng nấc hành chính đạo, trung gian liên kết, nhiều bộ phận cấu thành trong mỗi tầng nấc Chính vì thế, chính quyền địa phương gặp khó khăn trong việc xác định đâu là tổ chức tôn giáo trực thuộc, đâu là
bộ phận cấu thành của tổ chức tôn giáo trực thuộc để làm cơ sở thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước trên địa bàn
Về quản lý chức sắc, chức việc, nhà tu hành thuyên chuyển nơi hoạt động: Điều 35, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 ghi nhận khi thuyên chuyển chức sắc, chức
22 Điều 8 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016
23 Khoản 13, Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016
Trang 27việc, nhà tu hành chỉ cần thông báo bằng văn bản đến cơ quan chuyên môn làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh nơi đi và nơi đến, không gửi kèm lý lịch cá nhân và
lý lịch tư pháp Quy định này dẫn đến cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo không quản lý được chức sắc, chức việc, nhà tu hành, nhất là những trường hợp thuyên chuyển từ tỉnh thành khác đến
Về quản lý nhà nước lĩnh vực tín ngưỡng: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 dành riêng chương III để quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng Tuy nhiên, Luật chỉ quy định những vấn đề liên quan đến nhân sự của cơ sở tín ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng mà chưa có những quy định về hoạt động xây dựng, đất đai của cơ sở tín ngưỡng Chính vì thế, chính quyền địa phương gặp không ít khó khăn khi giải quyết những vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của tổ chức, cơ sở tín ngưỡng trong thực hiện quản lý nhà nước đối với các vấn đề nhân sự, hoạt động, đất đai, xây dựng của cơ sở tín ngưỡng
Tóm lại, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo là công cụ quan trọng để bảo
vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Là cơ sở pháp lý để đấu tranh chống lại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo xâm phạm độc lập, chủ quyền đất nước Đồng thời góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đoàn kết đồng bào theo đạo
và không theo đạo trong khối đại đoàn kết toàn dân, hướng các tôn giáo đồng hành cùng dân tộc Cần tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam để tìm ra những bất cập, hạn chế trong pháp luật hiện hành nhằm hoàn thiện hơn, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
là vấn đề đặc biệt được các chuyên gia quan tâm và nghiên cứu
Trang 28Số lượng tín đồ tăng lên theo thời gian, để đáp ứng nhu cầu tôn giáo, các quốc gia đều định ra một thái độ ứng xử đối với tôn giáo cho phù hợp với sự vận hành của
xã hội Ở chương 1 tác giả đã đi sâu nghiên cứu khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo; quyền
tự do tín ngưỡng tôn giáo; đặc điểm của quyền này và đã khái quát lịch sử phát triển quyền này tại Việt Nam qua từng giai đoạn Những nghiên cứu về phần lý luận tại chương 1 này sẽ là cơ sở nền tảng, để tác giả đi sâu nghiên cứu các quy định cụ thể
về quyền này tại các văn kiện và tại một số nước cụ thể trên thế giới trong chương tiếp theo
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người Qua nhiều giai đoạn khác nhau thì Nhà nước luôn xem xét ban hành những văn bản pháp luật để điều chỉnh quyền này cho phù hợp với sự phát triển của xã hội Tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng, muôn màu sắc thông qua các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của các tổ chức trên khắp vùng miền Nhưng nó luôn được quản lý và giám sát bởi Nhà nước thông qua những quy định pháp luật để đảm bảo được phát triển một cách đồng đều và theo hướng tốt đẹp
Trang 29CHƯƠNG 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN
GIÁO TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 2.1 Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo theo pháp luật quốc tế và một số quốc gia trên thế giới
2.1.1 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn kiện quốc tế
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những tư tưởng được nhận thức rất sớm trong lịch sử phát triển của loài người Ở cấp độ quốc gia, một số nước đã ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật từ rất sớm Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XX thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mới được ghi nhận trong phạm
vi quốc tế Sau khi tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời thì quyền này đã được nâng lên dưới góc độ pháp lý Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo vệ và bảo đảm thực hiện bằng hệ thống pháp luật và có thể đi kèm cùng với sự cưỡng chế Tại Điều 1 của Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được nhắc đến: “Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”24 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã có ảnh hưởng đến pháp luật quốc tế từ những năm 1945 Với mục đích nhằm tạo những điều kiện ổn định và những điều kiện đem lại hạnh phúc cần thiết để duy trì những quan
hệ hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, dựa trên sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng
về chủ quyền và quyền tự quyết của các dân tộc, Liên Hợp Quốc khuyến khích: “Sự tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền và các tự do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo.”25
Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo trong Hiến chương Liên Hợp Quốc chỉ được nhắc đến một cách chung chung, chưa có điều khoản cụ thể Nhưng vài năm sau đó,
cụ thể ngày 10 tháng 12 năm 1948, khi Liên Hợp Quốc công bố tuyên ngôn quốc tế
về Nhân quyền (UDHR) thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mới chính thức trở thành một quyền mang tính tự do quốc tế Có thể nói Tuyên ngôn quốc tế về Nhân
24 Khoản 3 Điều 1 Hiến Chương Liên Hợp Quốc năm 1945
25 Điểm c Điều 55 Hiến Chương Liên Hợp Quốc năm 1945
Trang 30quyền là văn kiện quốc tế đầu tiên ghi nhận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mang tính tự do quốc tế Những quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quy định một cách chặt chẽ Sự bình đẳng đối với tôn giáo với các quyền khác được thể hiện ngay tại Điều 2 của tuyên ngôn như sau: “Ai cũng được hưởng những quyền tự
do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác” UDHR đã dành riêng Điều 18 với mục đích cụ thể hóa quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo: “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm
cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.”
Khi hiến chương Liên Hợp Quốc ra đời chưa đề cập rõ ràng đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng các quyền tự do cơ bản của con người cũng đã được đề cập tới Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng là một trong các quyền cơ bản của con người nên cũng được quan tâm và chú trọng UDHR ra đời có các điều kiện ban hành các quy định cụ thể nhằm đảm bảo tôn trọng và thực thi các quyền con người nói chung và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng
Tại Công ước quốc tế về các Quyền dân sự - chính trị năm 1966(ICCPR) Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được cụ thể hóa tại Điều 18 của ICCPR: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tôn giáo Quyền này bao gồm
tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo
vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền
và tự do cơ bản của người khác Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng
Trang 31quyền tự do của các bậc cha mẹ, và của những người giám hộ hợp pháp nếu có, trong việc giáo dục về tôn giáo và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện của riêng họ”26
Công ước đã quy định Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo bao gồm: tự do theo một tôn giáo và tự do theo tín ngưỡng mà mình lựa chọn Mọi người được thực hiện quyền này một mình hay trong cộng đồng với những người khác, cách công khai hay kín đáo thông qua việc thờ cúng, tuân thủ nghi thức tôn giáo, thực hành giáo lý, truyền giảng Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện sự gắn kết cá nhân với tôn giáo hay tín ngưỡng dưới tư cách cá nhân hay tập thể Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ, cấm việc cưỡng ép làm ảnh hưởng tới quyền tin hoặc theo tôn giáo, tín ngưỡng, bao gồm việc đe doạ bằng vũ lực hoặc hình phạt để buộc những tín đồ hoặc người không phải tín đồ phải trung thành với tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc chính thức từ bỏ tín ngưỡng, tôn giáo Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là quyền chỉ bị giới hạn bởi pháp luật vì những lý do nhất định như để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ các quyền tự do cơ bản của người khác Quy định này của Công ước cũng đã xác định quyền tự do của bố mẹ hoặc những người giám hộ pháp lý định hướng giáo dục đạo đức và tôn giáo phù hợp với đức tin của họ mà vẫn đảm bảo được việc giáo dục đạo đức và tôn giáo cho con trẻ Công ước cũng tạo điều kiện cho các quốc gia có đặc thù riêng được thực hiện quyền theo nhu cầu và tính chất của tín ngưỡng, tôn giáo tại quốc gia mình
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, quyền này là một trong mười một quyền về dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới27 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền của con người, nhưng không thể tách rời các quyền khác của con người và trong khi thực hiện quyền
tự do của cá nhân hay tập thể của mình, không được phép xâm phạm quyền tự do của người khác, của cộng đồng xã hội Các văn bản trên đều phân định rõ ràng giữa quyền
26 Khoản 1234 Điều 18 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự - chính trị năm 1966(ICCPR)
27 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự - chính trị năm 1966(ICCPR), 11 quyền về dân sự chính trị: quyền sống; quyền đời tư; quyền tự do và an ninh cá nhân, không bị tra tấn, truy bức, nhục hình; quyền tự do cư trú,
đi lại; quyền bình đẳng giới; quyền bầu cử, ứng cử; quyền tự do ngôn luận; quyền hội họp hòa bình; quyền bình đẳng giữa các dân tộc và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 32tự do tôn giáo với tự do thực hành tôn giáo, cho phép hạn chế quyền tự do thực hành tôn giáo theo pháp luật khi cần thiết nhằm bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe, đạo đức
xã hội hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác Quyền lựa chọn tôn giáo là tuyệt đối, còn quyền thực hành tôn giáo không phải là tuyệt đối Con người
có quyền tự do có tôn giáo và tự do về tôn giáo Nó thể hiện ở sự chấp nhận hay
không chấp nhận, lựa chọn hay thay đổi một tôn giáo nào đó Tự do tôn giáo của mỗi
người nằm trong sự bảo vệ tự do về tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo Tự do về tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo được áp dụng như nhau cho các tín ngưỡng hữu thần hoặc vô thần Tự do tôn giáo được pháp luật quốc tế bảo vệ vô điều kiện Không ai có thể bị
ép buộc theo hay không theo một tôn giáo Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật
2.1.2 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trên thế giới 2.1.2.1 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Mỹ
Hoa Kỳ được biết đến là quốc gia siêu cường quốc về kinh tế, chính trị, quân
sự, ngoại giao, giáo dục Những vấn đề này đều phản ánh những phương diện quan trọng về nước Mỹ, nhưng thế vẫn chưa đủ để phác họa về một nước Mỹ hoàn chỉnh Khi nói đến nước Mỹ không thể không nhắc đến một vấn đề chủ đạo đó chính là Tôn giáo
Đối với nhân quyền, Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa nguyên về tôn giáo Ngoài việc có tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới, Hoa Kỳ thực sự còn là đất nước của những nhóm dân tộc thiểu số Người Mỹ đề cao các tín ngưỡng và nghi lễ tôn giáo cơ bản, một nét đặc thù trong đời sống dân tộc trước đây cũng như ngày nay Ngoài việc có tất cả các giáo phái tôn giáo lớn trên thế giới, quốc gia này còn là đất nước của những nhóm tôn giáo thiểu số với nhiều loại quan điểm, khuynh hướng Ở đây tất cả các tôn giáo thế giới cũng như các tín ngưỡng bản địa cùng chung sống, đó
là các Giáo hội Tin lành, Giáo hội Công giáo, Chính Thống giáo, Do Thái giáo, Islam giáo, Ấn Độ giáo, Sikh giáo, Phật giáo, Baha’i giáo, Đạo giáo, tôn giáo tín ngưỡng bản địa của người Indian, các tôn giáo mới
Tôn giáo tại Mỹ đặc trưng bởi sự đa dạng các niềm tin và thực hành tôn giáo Theo các cuộc thăm dò ý kiến 76% tổng dân số nhận họ theo Kitô giáo trong đó: 52%
Trang 33theo Tin Lành, 24% theo Công giáo Rôma, 1% theo Do Thái giáo và 1% theo Hồi giáo Theo một cuộc khảo sát khác, 40% nói rằng họ tham dự các buổi lễ gần như mỗi tuần hoặc nhiều hơn, và 58% nói rằng họ cầu nguyện ít nhất mỗi tuần28 Đa số công dân Hoa Kỳ cho biết tôn giáo giữ một vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của mình Tôn giáo ở Mỹ ảnh hưởng rất sâu đến đời sống xã hội29 Với họ, tôn giáo không chỉ là một loại tín ngưỡng tinh thần của thế giới nội tâm mà còn là sự tồn tại được cảm nhận thông qua thực tiễn đời sống của mình Tôn giáo ở quốc gia này mang đặc điểm là hướng đến toàn bộ xã hội, mang vai trò phục vụ xã hội Đại đa số công dân quốc gia này có tín ngưỡng, tôn giáo, gia nhập tổ chức tôn giáo, tham gia hoạt động tôn giáo Đối với họ tôn giáo mang lại sự giúp đỡ cụ thể, sự giúp đỡ ấy vừa là tinh thần, vừa là vật chất, nó giúp điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với nhau, hòa giải các mâu thuẫn xã hội, duy trì xã hội ổn định, đảm bảo đời sống cho cá nhân, gia đình và xã hội
Xuất phát từ đặc thù về sự đa nguyên trong tôn giáo tại Hoa Kỳ, cần có những những quy định pháp luật để quản lý và đảm bảo thực hiện tốt quyền này Trước khi Hợp Chủng Quốc ra đời thì các nhà làm luật không đứng trên lập trường khoan dung tôn giáo, mỗi bang có một quy định khác nhau về quyền này:
Năm 1780, Hiến pháp bang Massachusetts được phê duyệt Trong các điều khoản của bản Hiến pháp này quy định thống đốc và phó thống đốc bang, hạ nghị sĩ
và thượng nghị sĩ của Quốc hội trước khi nhậm chức phải ký một tuyên bố mình là tín đồ Kitô giáo và có đức tin vững chắc vào tính xác thực của tôn giáo này
Theo Hiến pháp bang New Hampshire được thông qua năm 1784, những người không phải là tín đồ Tin Lành giáo thì không thể trở thành nghị sĩ của Hạ viện hoặc Thượng viện bang này
Bên cạnh đó, hiến pháp bang Delaware được thông qua năm 1776 có điều khoản quy định khi được bầu vào Hạ viện hay được bổ nhiệm vào một chức vụ chính quyền nào đó, người được bầu phải tuyên thệ mình tin vào Chúa Ba Ngôi – Chúa
Trang 34Cha, Chúa Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần, đồng thời xác tín Kinh Thánh Cựu ước
và Tân ước Điều khoản này tồn tại trong Hiến pháp của bang cho tới năm 1972
Ngoài ra, theo luật của bang Virginia, nếu người nào không đi lễ nhà thờ thì
có thể bị phạt lao động khổ sai Khi cuộc Cách mạng Mỹ bắt đầu nổ ra, bang Virginia cũng như nhiều bang khác không công nhận Giáo hội Anh giáo vì người dân ở các vùng di dân đồng nhất Giáo hội này với Chính phủ Hoàng Gia Anh Đến năm 1776, Hiến pháp của bang Virginia đã đảm bảo sự bình đẳng cho mọi người được tự do hành đạo, nhưng việc tuyên bố Giáo hội hoàn toàn tách biệt khỏi Nhà nước đã bất ngờ bị dừng lại
Vào năm 1786, bang Virginia đã thông qua dự luật về tự do tôn giáo với tên
gọi Đạo luật Virginia do Thomas Jefferson soạn thảo Trong đạo luật Virginia có
điều khoản quy định: “Không ai bị buộc phải thường xuyên lui tới một địa điểm tôn giáo nào hoặc ủng hộ việc hành đạo hay bất cứ một mục sư đoàn nào”30 Hay: “Không một người nào bị ép buộc phải duy trì sự sùng bái một tôn giáo nào đó…tất cả mọi người tự do tin theo, bảo vệ ý kiến của mình trong các sự việc tôn giáo, và điều này trong mọi trường hợp đều không được giảm bớt, không được mở rộng hoặc xúc phạm đến các quyền của họ”31
Năm 1789, Luật về các quyền hay Tuyên ngôn nhân quyền đã được Quốc hội
Hoa Kỳ thông qua và có hiệu lực vào năm 1791 Luật về các quyền gồm 10 điều sửa đổi (10 tu chính án) đề cập tới quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo
và các quyền cơ bản khác32 Từ đây nó trở thành một phần không thể tách rời của Hiến pháp Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ Khi đề cập tới tự do tôn giáo điều sửa đổi
đầu tiên (Tu chính án I) viết: “Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào liên quan đến việc thành lập một tôn giáo, hoặc cấm tự do tín ngưỡng”33
Trang 35Đến năm 1868, Hoa Kỳ thông qua sửa đổi lần thứ 14 Hiến pháp nước này, trong đó có điều khoản quy định rằng: “Không một bang riêng lẻ nào được ban hành hay sửa đổi các điều luật nhằm hạn chế đặc quyền và tự do của công dân” Đến lúc này, điều sửa đổi lần thứ nhất Hiến pháp Hoa Kỳ mới thực sự trở thành luật chung cho toàn Liên bang34
Tiếp đó, năm 1993 Quốc hội Hoa Kỳ thông qua điều khoản khôi phục quyền
tự do tôn giáo nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các điều luật về tự do tôn giáo, chấn chỉnh những điều luật của Liên bang cũng như của các bang trái với điều sửa đổi đầu
tiên (Tu chính án I) trong Luật về các quyền hay Tuyên ngôn nhân quyền
Ngày 2 tháng 6 năm 2020 Tổng thống Donald Trump đã ký ban hành Lệnh
hành pháp về việc thăng tiến tự do tôn giáo quốc tế Tại Điều 1 của Lệnh hành pháp
này viết: “Tự do tôn giáo, quyền tự do đầu tiên của Hoa Kỳ, là một lệnh truyền luân
lý và có tính quốc gia về an ninh Tự do tôn giáo cho mọi người khắp thế giới là ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Hợp Chúng Quốc và Hợp Chúng Quốc sẽ tôn trọng và mạnh mẽ cổ vũ quyền tự do này” “Chính sách của Hợp Chúng Quốc là vận động mạnh mẽ và liên tục để các tổ chức và xã hội dân sự, kể cả các tổ chức tại các nước bên ngoài, chịu thông báo cho Chính phủ Hợp Chúng Quốc các chính sách, chương trình và hoạt động liên quan tới tự do tôn giáo quốc tế”35
Người Mỹ quan niệm rằng, tự do tôn giáo là một trong những quyền tự do giá trị nhất của công dân Hoa Kỳ và họ cũng cho rằng tôn giáo không thiếu vắng trong cuộc sống hằng ngày Nhưng quyền tự do tôn giáo ở Hoa Kỳ được hiểu một cách đơn chiều là quyền tự do tin theo tôn giáo, chứ không được hiểu bao gồm cả quyền tự do không tin theo tôn giáo
34 L.N Veljkovic Tôn giáo và giáo hội ở Hoa Kỳ Nxb Khoa học, Moskva, 1978
35 Vũ Văn An Lệnh hành pháp về việc thăng tiến tự do tôn giáo quốc tế của Tổng thống Donald Trump http://vietcatholic.org/News/Html/256847.htm
Trang 362.1.2.2 Quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo tại Pháp
Pháp một đất nước từ lâu đã cĩ vị thế là một trung tâm của thế giới về nghệ thuật, khoa học và triết học Quốc gia này cĩ số di sản thế giới UNESCO nhiều thứ
ba tại châu Âu Là một quốc gia phát triển, Pháp cĩ thành tích cao trong các xếp hạng quốc tế về giáo dục, y tế, tuổi thọ dự tính, và phát triển con người
Quốc gia này sử dụng hệ thống tư pháp dân luật36, theo đĩ luật bắt nguồn chủ yếu từ các đạo luật thành văn; các thẩm phán khơng tạo ra luật mà đơn thuần là diễn giải nĩ (song mức độ diễn giải tư pháp trong một số lĩnh vực nhất định khiến nĩ tương đương với luật phán lệ) Các nguyên tắc cơ bản của pháp quyền dựa theo bộ luật Napoléon (bộ luật này lại dựa phần lớn vào luật hồng gia được soạn dưới thời Louis XIV) Phù hợp với các nguyên tắc trong Tuyên ngơn Nhân quyền và Dân quyền, luật
sẽ chỉ cấm các hành động cĩ hại cho xã hội
Pháp luật của Pháp được chia thành hai khu vực chính: Luật tư và luật cơng Luật cơng gồm cĩ luật hành chính và luật hiến pháp Tuy nhiên, trong khái niệm thực tiễn, pháp luật của nước này gồm cĩ ba lĩnh vực chính: Luật dân sự, luật hình sự và luật hành chính Pháp khơng cơng nhận luật tơn giáo là một động cơ thúc đẩy ban hành các cấm đốn Theo một cuộc khảo sát của Institut Montaigne về Tơn giáo tại quốc gia này năm 2016: Kitơ giáo (51.1%), Khơng tơn giáo (39.6%), Hồi giáo (5.6%), Do Thái giáo (0.8%), Tơn giáo khác (2.5%), Khơng xác định (0.4%)37
Pháp là một quốc gia thế tục, và tự do tơn giáo là một quyền lợi theo hiến pháp
Chính sách tơn giáo của Pháp dựa trên quan niệm lạcité Quan niệm lạcité là tách
biệt nghiêm ngặt nhà thờ và nhà nước, theo đĩ sinh hoạt cơng cộng đi theo hướng hồn tồn thế tục Ở đây tơn giáo và xã hội tách biệt nhau Vai trị của tơn giáo đối với xã hội là vơ cùng hạn chế, là quốc gia cĩ rất ít tơn giáo nhưng tơn giáo đối với cơng dân nước này là lựa chọn cá nhân Quan niệm Lạcité khơng cĩ nghĩa là nhà
36 “The World Factbook: France” Central Intelligence Agency Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm
2010 factbook/geos/fr.html Truy cập ngày 14 tháng 04 năm 2021.
https://www.webcitation.org/5nXdBl0QT?url=https://www.cia.gov/library/publications/the-world-37 french-islam-is-possible-report.pdf, trang 13, truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2021