Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định liên quan đến quan hệ tài sản giữa các thành
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THU HÀ
QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THU HÀ
QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Mai Hiên
HÀ NỘI – 2010
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC
THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH
7
trong gia đình
7
gia đình
11
thành viên trong gia đình
trong gia đình trong pháp luật các nước
25
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUAN
HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
32
Trang 4và gia đình năm 2000
2.1.1.3 Quan hệ sở hữu giữa anh chị em, ông bà và các cháu, giữa các thành
viên khác trong gia đình
62
thành viên khác trong gia đình
67
2.1.3.3 Quan hệ thừa kế giữa ông bà và các cháu, giữa anh chị em, giữa các
thành viên khác trong gia đình
75
án đối với các vụ việc liên quan đến tài sản giữa các thành viên trong gia đình
76
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH VỀ QUAN HỆ
TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000
82
giữa các thành viên trong gia đình
82
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện chế định về quan hệ tài sản giữa các
thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
84
viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
84
Trang 53.2.1.2 Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước
hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
86
3.2.1.4 Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi có lý do chính đáng
khác
88
không có văn bản thỏa thuận
89
được việc chia tài sản
91
phát sinh các khoản mục chi tiêu chung khác
91
3.2.1.9 Trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị tòa án tuyên bố là đã chết nay
quay trở về
93
3.2.2 Sửa đổi, bổ sung một số chế định về quan hệ cấp dưỡng giữa các
thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
94
viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
97
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đời sống con người bao gồm hai khía cạnh đời sống vật chất và đời sống tinh thần Đời sống vật chất và tinh thần luôn có mối quan hệ chặt chẽ và phản ánh lẫn nhau Cùng với lịch sử phát triển các chế độ xã hội, vị trí của vật chất và sự phân chia, sở hữu vật chất giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội cũng có những biến đổi ảnh hưởng không nhỏ tới tinh thần của các thành viên trong xã hội Xã hội ngày càng phát triển, những tranh chấp phát sinh từ quan hệ tài sản càng trở nên phức tạp Để giải quyết những tranh chấp này tất yếu đòi hỏi cộng đồng xã hội thiết lập những quy tắc, quy định trong cộng đồng Nhà nước nào cũng thông qua pháp luật để điều chỉnh các quan hệ tài sản Tuy nhiên, tùy thuộc vào các chế độ xã hội và mức độ phát triển kinh tế -
xã hội trong từng thời kỳ của một chế độ xã hội nhất định, hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề này có những nét đặc thù riêng
Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là một quan hệ dân
sự, nó mang những nét chung của quan hệ tài sản giữa các thành viên trong xã hội nói chung Mặt khác, nó mang những đặc thù riêng, bởi giữa các chủ thể trong quan hệ này có mối quan hệ hôn nhân - gia đình Quan hệ tài sản trong gia đình là một vấn đề rất nhạy cảm, rất dễ làm cho các thành viên trong gia đình mâu thuẫn, tranh chấp Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình nếu được giải quyết tốt sẽ là cơ sở cho sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nếu không được giải quyết tốt sẽ dẫn đến những tổn thương của các thành viên trong gia đình và ảnh hưởng to lớn đến hạnh phúc gia đình Do vậy, việc điều chỉnh quan hệ về tài sản giữa các thành viên trong gia đình là rất quan trọng và cần thiết, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, đặc biệt là trong mỗi gia đình - tế bào của xã hội - và hạn chế được nhiều mâu thuẫn tiềm tàng
Trang 7Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định liên quan đến quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình như: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình Với việc ban hành Bộ luật Dân sự năm 2005 và các đạo luật khác về dân sự, các quan hệ tài sản trong lĩnh vực hôn nhân gia đình được xác định là một bộ phận thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự Những quy định của pháp luật hiện hành đã phần nào đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn hiện nay nhưng vẫn còn tản mạn, chưa đồng bộ Quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về việc chia tài sản chung của vợ chồng đã tạo ra sự biệt lập về tài sản vợ và chồng nhưng lại chưa có quy định về cơ sở tài sản chung cho gia đình khi thực hiện mục tiêu chung Bên cạnh đó, đặc thù chế độ sở hữu tài sản trong gia đình thuộc các nhóm dân
cư khác nhau ở thành phố và nông thôn chưa được ghi nhận Một số nội dung đang nổi cộm hiện nay nhưng chưa được quy định cụ thể như: quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình có yếu tố nước ngoài; đối tượng sở hữu tài sản là sở hữu trí tuệ, là cổ phiếu, cổ phần trong doanh nghiệp, lợi nhuận kinh doanh, quyền sử dụng đất Đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam đang trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập nền kinh tế quốc tế thì các quy định của pháp luật nói chung và các quy định của pháp luật về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình còn nhiều nội dung chồng chéo, thiếu cụ thể, không rõ ràng gây khó khăn trong quá trình thực hiện
Xuất phát từ lý luận và yêu cầu thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 là một việc làm vô cùng cấp thiết và mới mẻ Trên cơ sở phân tích những quy định hiện hành trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về quan hệ
Trang 8tài sản giữa các thành viên trong gia đình, góp phần xây dựng một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước
Đề tài luận văn được biểu đạt với tiêu đề "Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo luật Hôn nhân và gia đình năm 2000"
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là một vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu Mỗi tác giả đề cập vấn đề dưới các khía cạnh khác nhau như: tài sản chung, tài sản riêng của các thành viên, quyền và nghĩa vụ tài sản giữa các thành viên, chế định cấp dưỡng trong luật hôn nhân và gia đình, quan hệ thừa kế Tác giả Nguyễn Văn Cừ nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ
và chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cừ, Hà Nội, 2005); tác giả Ngô Thị Hường đã tập trung vào nội dung chế định cấp dưỡng của các thành viên trong gia đình (luận án tiến sĩ của Ngô Thị Hường, Hà Nội, 2006); tác giả Tạ Thị Phúc nghiên cứu chế độ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân…; các nội dung về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhâ (luận văn thạc sĩ của Tạ Thị Phúc, Hà Nội, 2007)
Ngoài ra, có nhiều giáo trình, tài liệu tham khảo và các bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật viết về vấn đề này Như Nguyễn Ngọc Điện -
tác giả của giáo trình Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam (tập 2 - Các quan hệ tài sản giữa vợ chồng, Nxb Trẻ, Hà Nội, 2005); Hà Thị Mai Hiên tác giả của Tập bài giảng tài sản và quyền sở hữu (Đại học Huế, 1999); Tác giả Nguyễn Phương Lan viết bài "Vấn đề cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" đăng trên tạp chí Luật học, số 11 năm
2001
Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tổng quát quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình, được thể hiện trên ba khía cạnh: quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừa kế Cũng như thể hiện cả ba nhóm sở hữu, cấp dưỡng, thừa kế đó trên mối qua hệ giữa vợ
Trang 9và chồng, giữa bố mẹ và con, giữa ông bà và cháu, anh chị em và các thành viên trong gia đình Các nghiên cứu cũng mới dừng lại ở việc phân tích các quy định pháp luật hiện hành tại luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ Chính vì vậy các giải pháp góp phần hoàn thiện các chế định quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong luật hôn nhân và gia đình chưa được đề cập theo một hệ thống toàn diện
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Quan hệ tài sản (quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừa kế) giữa các thành viên trong gia đình được thể hiện ở: mối quan hệ giữa vợ
và chồng, mối quan hệ giữa bố mẹ và con, mối quan hệ giữa ông bà và cháu, anh chị em, những người thân trong gia đình
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
4.1 Mục đích
Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, vì một mục tiêu
xã hội vững mạnh của mọi người dân
4.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
- Phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về quan
hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và những văn bản pháp luật liên quan
Trang 10- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về các quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, được hình thành từ cơ sở hạ tầng phù hợp Các quy định của pháp luật phải phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật Vì vậy, tính lịch sử cụ thể của phương pháp luận duy vật biện chứng đòi hỏi phải đặt ra và giải quyết các vấn đề này trong bối cảnh đất nước Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, phù hợp với truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam
Phương pháp tiếp cận hệ thống cấu trúc cũng cần được đặt ra trong nghiên cứu quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình Quan hệ tài sản giữa các cá nhân trước hết là quan hệ dân sự Nếu giữa họ có quan hệ gia đình thì các quan hệ tài sản sản này sẽ có những đặc điểm riêng trên nền chung của quan hệ tài sản dân sự Mặt khác, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình chịu sự tác động của yếu tố hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng Và giữa các quan hệ này chịu sự tác động ảnh hưởng hệ thống với nhau
5.2 Phương pháp nghiên cứu
* Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp như phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa, lịch sử Các phương pháp được sử dụng để tổng hợp và phân tích hệ thống các quan điểm, các nghiên cứu về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên
Trang 11thế giới và Việt Nam cũng như quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình qua các thời kỳ phát triển xã hội
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, quan sát, thống kê được sử dụng trong quá trình
mô tả thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành trong hoạt động xét xử quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình của ngành Tòa án
6 Những đóng góp mới của luận văn
6.1 Về lý luận
- Hệ thống hóa lý luận về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
- Phân tích, hệ thống hóa các quy định của pháp luật hiện hành về quan
hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình tại một số nước trên thế giới
6.2 Về thực tiễn
- Nhận diện thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành tại Việt Nam về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình, thực tiễn áp dụng trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án
- Xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện các quy định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong
gia đình
Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về quan hệ tài sản giữa các
thành viên trong gia đình và thực tiễn áp dụng
Trang 12Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về
quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
Trang 13Từ xa xưa, con người đã có ý thức thu lượm thức ăn để sống Họ cũng
ý thức rằng muốn có nhiều thức ăn hơn phải có những công cụ thích hợp Của cải lúc này không chỉ là những sản phẩm tự nhiên mà nhờ có công cụ lao động nó đã trở thành những thứ có giá trị hơn, trở thành tài sản Tài sản là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và đã được thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử phát triển chế độ chính trị - kinh tế - xã hội của mỗi đất nước Theo Điều 163 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì "tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [28]
Quan hệ tài sản
Dưới bất kỳ một xã hội nào, con người muốn tồn tại thì họ phải tham gia vào các quan hệ xã hội, nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần trong cuộc sống Dưới góc độ pháp lý, các quan hệ mà con người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần cho mình được gọi là quan hệ nhân thân, các quan hệ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất gọi là quan hệ tài sản
Tài sản là một khái niệm thay đổi với thời gian vì vậy quan hệ tài sản giữa các thành viên trong xã hội cũng không phải bất biến mà luôn thay đổi với sự phát triển của kinh tế - xã hội Quan hệ tài sản trước hết là quan hệ xã hội giữa người với người về tài sản Nhưng khi xã hội phát triển, của cải vật chất bắt đầu dư thừa, xuất hiện tư tưởng chiếm giữ làm của riêng - đó cũng là
Trang 14giai đoạn sơ khai của chế độ tư hữu tài sản thì cũng nẩy sinh nhu cầu được ghi nhận những tài sản của mình bằng một chế định pháp luật Khi được pháp luật điều chỉnh thì quan hệ tài sản trở thành quan hệ pháp luật
Các thành viên trong gia đình
Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 định nghĩa: "Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc
do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau" [25] Như vậy, có thể hiểu thành viên trong gia đình là những người có quan hệ do hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng
Gia đình có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của một xã hội và từng thành viên trong gia đình Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có tốt thì xã hội mới tốt Gia đình là môi trường gìn giữ và phát huy văn hóa truyền thống, là nơi giáo dục nề nếp, giúp hình thành nhân cách con người Gia đình
là môi trường đầu tiên mà mỗi con người hoàn thiện thể chất và tinh thần, chuẩn bị hành trang hòa nhập với cộng đồng, với đời sống xã hội Hôn nhân
và gia đình là những hiện tượng phát sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người Hiện tượng này cũng chịu sự tác động của các điều kiện kinh tế,
xã hội như các hiện tượng khác Khi xuất hiện Nhà nước, sự liên kết của các
cá nhân nhằm xây dựng gia đình được coi là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ pháp luật Quan hệ hôn nhân và gia đình không chỉ mang ý chí cá nhân mà còn thể hiện cả ý chí của Nhà nước Quan hệ hôn nhân và gia đình khi được pháp luật điều chỉnh trở thành các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình Đó là những quan hệ về nhân thân và quan hệ về tài sản phát sinh giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con Thông thường quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình chỉ giới hạn giữa các thành viên trong gia đình, trừ một số trường hợp chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình không phải là thành viên của gia đình Các chủ thể trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thường gắn kết với nhau bởi quan hệ tình cảm hoặc huyết thống hoặc cả hai yếu tố
Trang 15Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng là mối quan
hệ giữa người với người liên quan tới tài sản nhưng không phải là sở hữu của từng thành viên trong gia đình mà là mối quan hệ ràng buộc, gắn kết bởi quan
hệ hôn nhân và gia đình Trong đời sống hàng ngày, các thành viên trong gia đình tham gia các quan hệ xã hội, sản xuất ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống hàng ngày của bản thân cũng như tạo lập nền tảng kinh tế, vật chất, tinh thần để xây dựng cuộc sống gia đình Như vậy, mỗi thành viên trong gia đình khi tham gia các quan hệ xã hội đều có thể là những chủ thể độc lập của quyền sở hữu cá nhân, nhưng trong quan hệ gia đình mỗi thành viên đều có trách nhiệm đóng góp công sức của mình để tạo lập cuộc sống chung của cả gia đình Mối quan hệ ràng buộc này xuất phát từ quan hệ huyết thống, nhu cầu tình cảm, quan hệ nuôi dưỡng và nó chỉ tồn tại khi có quan hệ hôn nhân và gia đình
Trong gia đình, ngoài yếu tố tình cảm, huyết thống, nuôi dưỡng thì cũng cần phải có tài sản để đảm bảo cho cuộc sống của cả gia đình Vì vậy, mỗi thành viên trong gia đình cần nỗ lực đóng góp công sức để phục vụ những nhu cầu chung trong gia đình và khi họ tách ra thì có nghĩa họ đã tạo lập một gia đình mới với những thành viên mới nhưng đồng thời vẫn có nghĩa
vụ với những thành viên trong gia đình vốn có bởi sự ràng buộc nói trên, thêm vào đó là sự ràng buộc với những thành viên trong gia đình mới Trong cuộc sống, mỗi thành viên trong gia đình đều có những quan hệ xã hội khác, ngoài quan hệ hôn nhân và gia đình Họ tham gia vào các quan hệ như giao dịch, trao đổi, mua bán với nhiều người như mua đồ dùng cho gia đình, bản thân họ có được thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh với người khác, được cho tặng riêng một tài sản nào đó Tất cả những quan hệ này diễn ra hàng ngày trong cuộc sống gia đình do đó đòi hỏi cần có quy định nào đó về cách xử sự chung cho phù hợp để các quan hệ này không gây ảnh hưởng đến lợi ích của các thành viên trong gia đình cũng như của người thứ ba Cụ thể,
Trang 16Nhà nước cần ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi của các thành viên trong gia đình, đó là quy tắc xử sự chung và được tổng hợp thành chế định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
Như vậy, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là chế định thể hiện mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình về sở hữu tài sản
và phương thức thực hiện quyền sở hữu tài sản của các thành viên trong gia đình Ở đây, quan hệ tài sản không chỉ thể hiện tài sản thuộc về ai, do ai chiếm hữu, sử dụng mà còn bao gồm cả việc dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác Mỗi quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
có những phương thức thực hiện quyền sở hữu riêng Phương thức này có thể
là ước định (do các bên tự thỏa thuận) hay pháp định (do pháp luật quy định) Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, các thành viên trong gia đình có thể thỏa thuận mức đóng góp về tiền, tài sản, công sức… để đảm bảo cuộc sống chung của cả gia đình, họ có thể phân công lao động cho phù hợp với từng vị trí, vai trò của mỗi thành viên trong gia đình nhằm mục đích duy trì gia đình nói chung và sự tồn tại, phát triển của mỗi thành viên trong gia đình nói riêng Có thể nói, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được xây dựng dựa trên sự thỏa thuận của các bên không trái với pháp luật và đạo đức xã hội Theo đó họ có thể lựa chọn một chế độ tài sản phù hợp để duy trì cuộc sống của cả gia đình đó là chế độ cộng đồng (sở hữu chung của tất cả thành viên)
và phân sản (sở hữu riêng của từng người) Tuy nhiên, ở chế độ cộng đồng thì cần có sự thỏa thuận rõ về những tài sản chung, quyền và nghĩa vụ của mỗi thành viên đối với khối tài sản chung đó, cách thức phân chia tài sản chung Còn đối với chế độ phân sản thì cần dựa trên năng lực thực tế của mỗi thành viên đóng góp nhằm đảm bảo cuộc sống chung của gia đình
Chế độ tài sản pháp định đó là việc quy định về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản, quyền và nghĩa vụ của mỗi thành viên trong gia đình đối với tài sản đó, các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản chung… Thực ra, chế độ tài sản cộng đồng và chế độ tài sản pháp định được
Trang 17thể hiện rõ nét hơn cả ở quan hệ vợ chồng và được pháp luật ghi nhận một cách đầy đủ hơn cả Tuy nhiên, trong quan hệ hôn nhân và gia đình, ngoài quan hệ vợ chồng còn có các mối quan hệ khác như quan hệ giữa cha mẹ và con, quan hệ giữa ông bà nội ngoại và cháu, giữa anh chị em và các thành viên khác trong gia đình Có thể thấy đây là mối quan hệ rất rộng, bao trùm đến ba thế hệ, nó không chỉ nằm ở một gia đình nhỏ mà là đại gia đình Do
đó, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng vô cùng phức tạp Quan hệ này không chỉ xuất phát từ vấn đề huyết thống (liên quan đến cấp dưỡng, thừa kế) mà còn xuất phát từ tình thương, trách nhiệm giữa người nọ với người kia (nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục…)
1.1.2 Phân loại và đặc điểm của quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
1.1.2.1 Phân loại quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình bao gồm ba khía cạnh:
- Quan hệ sở hữu: Quan hệ sở hữu chỉ là một nội dung của quan hệ tài sản nhưng là nội dung quan trọng, quyết định những nội dung sau của quan hệ tài sản Quan hệ sở hữu giữa các thành viên trong gia đình bao gồm hai nhóm: quan hệ sở hữu đối với tài sản chung và quan hệ sở hữu đối với tài sản riêng Tùy thuộc vào chế độ xã hội khác nhau mà hai hình thức sở hữu này có thể cùng được thừa nhận
- Quan hệ thừa kế: Vợ chồng được thừa kế tài sản của nhau, con được thừa kế tài sản của cha mẹ và ngược lại, anh chị em được thừa kế tài sản của nhau khi không còn hàng thừa kế 1, cháu được thừa kế tài sản của ông bà và ngược lại khi không có 2 hàng thừa kế trên
- Quan hệ cấp dưỡng: Cấp dưỡng là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong pháp luật hôn nhân và gia đình để thể hiện mối quan tâm ràng
Trang 18buộc về quyền và nghĩa vụ giữa những người không sống chung với nhau nhưng đang có hoặc đã có quan hệ gia đình trong việc bảo đảm cuộc sống cho những người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng trong tình trạng mất hoặc bị giảm sút khả năng lao động, không có thu nhập và không có tài sản hoặc tuy có nhưng không đủ để bảo đảm cuộc sống của mình Cấp dưỡng còn
là biện pháp chế tài đối với người có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng
Khái niệm này không chỉ nêu rõ mối quan hệ giữa các chủ thể của quan hệ cấp dưỡng, thể hiện bản chất của quan hệ cấp dưỡng mà còn đặt cơ
sở lý luận cho việc quy định nội dung của chế định cấp dưỡng và hoàn thiện luật về cấp dưỡng
1.1.2.2 Đặc điểm của quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
Các thành viên trong gia đình cũng là thành viên của xã hội Vì vậy, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trước hết là quan hệ xã hội, quan hệ dân sự Khi quan hệ này được pháp luật điều chỉnh thì đó là quan hệ pháp luật Như vậy, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng mang những đặc điểm của quan hệ xã hội, quan hệ dân sự và quan hệ pháp luật
Tuy nhiên, do tác động của các yếu tố hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng mà quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình có những điểm khác biệt những quan hệ tài sản khác
- Thông thường là sự đóng góp của cải, vật chất của thành viên nhằm duy trì cuộc sống chung của gia đình Tuy nhiên, có những trường hợp tạo nên khối tài sản chung của các thành viên như được thừa kế, tặng cho chung hoặc mua chung… Trong trường hợp gia đình là một tổ sản xuất cùng tham gia sản xuất mang về lợi nhuận thì lợi nhuận đó thuộc sở hữu chung của các thành viên trong gia đình Sở hữu chung của các thành viên trong gia đình là
có thể phân chia được Bên cạnh những tài sản thuộc sở hữu chung thì mỗi
Trang 19thành viên đều có thể là chủ thể của sở hữu cá nhân Bởi vì, mỗi người có những quan hệ xã hội khác, nghề nghiệp, công việc khác nhau, thu nhập khác nhau
- Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình thực chất là các quy định pháp luật có liên quan đến việc xác lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của các thành viên trong gia đình Quan hệ tài sản này đảm bảo quyền bình đẳng của các thành viên trong gia đình, quyền độc lập của mỗi người, quyền tự do cá nhân vì hạnh phúc chung của cả gia đình, vì sự ổn định, hòa thuận giữa các thành viên trong gia đình Xuất phát từ tính chất và mục đích đặc biệt của quan hệ hôn nhân - gia đình được xác lập, đó là tính cộng đồng của quan hệ này, mặt khác mỗi thành viên trong gia đình vừa là chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình nhưng đồng thời cũng là chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự khác khi tham gia các quan hệ này
- Về mặt chủ thể: các bên phải có quan hệ hôn nhân và gia đình, có nghĩa là ngoài việc phải đáp ứng các yêu cầu là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nói chung như đủ năng lực hành vi dân sự còn phải đáp ứng các điều kiện cụ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình (độ tuổi, không phạm phải điều cấm, ý chí tự nguyện của các bên ) Đây là đặc điểm riêng có ở quan hệ hôn nhân và gia đình và mối quan hệ ràng buộc giữa các thành viên trong gia đình
là mối quan hệ chỉ duy nhất tồn tại ở quan hệ này
- Xuất phát từ vị trí, vai trò của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, cho nên các nhà làm luật khi quy định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình đều bắt đầu từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình, trong đó có lợi ích của từng thành viên trong gia đình Sở hữu đối với tài sản chung là sở hữu theo phần Sở hữu chung theo phần là quyền sở hữu đối với một tài sản cụ thể thuộc các đồng sở hữu chủ theo từng phần, nghĩa là một sở hữu chủ có một phần quyền nhất
Trang 20đình đối với tài sản tương ứng với tỷ lệ phần quyền đối với toàn bộ tài sản Việc mỗi người trực tiếp sử dụng phần tài sản thực tế không làm thay đổi bản chất quan hệ sở hữu chung theo phần Việc mỗi cá nhân chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt tài sản chung như thế nào được giải quyết theo nguyên tắc thỏa thuận giữa các bên và theo quy định của pháp luật Phần quyền đối với tài sản thuộc sở hữu chung là khách thể quyền sở hữu, có thể là đối tượng của các loại giao dịch như: mua bán, trao đổi, tặng cho, thừa kế và có thể là đối tượng, khách thể quyền yêu cầu của các chủ nợ Mỗi đồng sở hữu chủ có thể
tự mình định đoạt phần tài sản của mình trong khối tài sản chung nhưng vì việc định đoạt này luôn ảnh hưởng đến lợi ích của các đồng sở hữu khác nên
sự định đoạt đó phải do pháp luật quy định Việc tách phần quyền tài sản cho một trong các thành viên được tiến hành khi điều đó không làm ảnh hưởng đến giá trị kinh tế của tài sản đó Nếu không khắc phục được thì người muốn tách phần quyền tài sản chỉ có thể nhận đền bù tương xứng với phần quyền của người đó trong khối tài sản chung
- Căn cứ xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình phụ thuộc vào sự kiện phát sinh và chấm dứt của quan hệ hôn nhân gia đình Tức là chỉ khi nào có quan hệ hôn nhân gia đình thì mới làm phát sinh quan hệ hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
- Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình mang những đặc thù riêng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể Đối với tài sản chung của các thành viên trong gia đình thì bắt buộc mỗi thành viên khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình Khi các thành viên trong gia đình sử dụng tài sản chung để phục vụ mục đích thiết yếu của gia đình thì pháp luật coi là có sự thỏa thuận đương nhiên của các thành viên trong gia đình, trừ những tài sản chung có giá trị lớn Ví dụ: đối với tài sản chung là bất động sản mà các thành viên trong gia đình là đồng
sở hữu thì việc sử dụng và định đoạt khối tài sản này phải có sự thỏa thuận
Trang 21của các đồng sở hữu Trường hợp một thành viên trong gia đình - là một đồng
sở hữu - muốn tách riêng phần tài sản của mình trong khối bất động sản trên trước hết cần có sự đồng ý của các đồng sở hữu khác và phải đáp ứng được những yêu cầu của pháp luật về việc chia tách thì mới có thể thực hiện được
1.2 ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VÀ PHÂN LOẠI CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH
1.2.1 Quá trình điều chỉnh pháp luật về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
Việc điều chỉnh pháp luật về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình xuất phát từ sự thay đổi về quan điểm, về bản chất các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình qua các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội khác nhau
Có thể nói, từ xa xưa, gia đình truyền thống của Việt Nam là mẫu gia đình gồm nhiều thế hệ chung sống dưới một mái nhà, gia đình này không chỉ
có những người cùng huyết thống như vợ - chồng, cha mẹ và con cái mà còn bao gồm nhiều thành phần khác cùng sống chung như dâu, rể, con chung, con riêng, con nuôi, ông bà nội ngoại… Với kiểu gia đình nhiều thế hệ như vậy rất dễ xảy ra xung đột, mâu thuẫn do sự chênh lệch về tuổi tác, cách sống, cách suy nghĩ… dẫn đến nhiều việc đáng tiếc xảy ra như đùn đẩy trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ già, không ai chăm lo cho cuộc sống chung của cả gia đình, ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên bị sao nhãng… Trước thực tế này cần xác định trách nhiệm pháp lý cho các thành viên cùng chung sống trong gia đình để điều chỉnh một cách toàn diện và đầy đủ hơn mối quan
hệ giữa các thành viên trong gia đình Bởi, trong gia đình, ngoài mối quan hệ tình cảm thì giữa các thành viên trong gia đình còn có những mối quan hệ khác rất quan trọng, liên quan đến các quyền và nghĩa vụ pháp lý về mặt nhân thân và tài sản Các thành viên trong gia đình cần quan tâm, chăm sóc, giúp
đỡ lẫn nhau, sự chia sẻ trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình sẽ làm
Trang 22cho quan hệ gia đình ngày càng gắn bó, tạo nên một gia đình hòa thuận, tiến
bộ
Bên cạnh tình cảm, sự quan tâm dành cho nhau, mỗi thành viên trong gia đình cũng cần có trách nhiệm đóng góp công sức, tiền và tài sản khác để duy trì cuộc sống chung của cả gia đình trên cơ sở phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mỗi người Ở đây, sự bình đẳng của các thành viên được đề cập rõ thông qua trách nhiệm đối với việc duy trì cuộc sống chung của gia đình Mỗi thành viên trong gia đình cần ý thức được trách nhiệm vật chất của mình đối với cuộc sống chung của gia đình thì mới có thể duy trì được gia đình đó, đảm bảo hạnh phúc gia đình Đi đôi với trách nhiệm là quyền của mỗi thành viên trong gia đình, họ cũng có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ của thành viên khác Quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Đây là quyền lợi chính đáng của họ và được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự Quy định như vậy thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giữ vững và phát huy truyền thống gia đình tốt đẹp của người dân Việt Nam, khuyến khích các thành viên trong gia đình quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, chung sức xây dựng và duy trì một gia đình hòa thuận, hạnh phúc, là nơi nuôi dưỡng nhân tài, nơi che chở cho người già, trẻ nhỏ và to lớn hơn nữa là tế bào của xã hội
Như trên đã phân tích, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là một dạng của quan hệ dân sự về tài sản Vì vậy nó thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự Tuy nhiên, thực tế quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cơ những điểm khác biệt cơ bản so với quan hệ tài sản thông thường mà luật dân sự điều chỉnh là căn cứ phát sinh quan hệ này là quan hệ nhân thân mà nó được đánh dấu bằng sự kiện kết hôn Còn quan hệ tài sản của luật dân sự xuất hiện hoàn toàn dựa trên yếu tố ý chí của các bên Đây chính là căn cứ để các nhà làm luật tách và đưa luật hôn nhân gia đình trở thành một luật độc lập trong hệ thống pháp luật của nước ta Tuy nhiên, còn
Trang 23rất nhiều nội dung về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được xác định trong luật dân sự Ngay trong các văn bản luật hôn nhân và gia đình, các nội dung về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng luôn được điều chỉnh qua các thời kỳ phát triển của đất nước Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng đã được quy định trong bộ Quốc triều Hình luật thời Lê, bộ Hoàng Việt luật lệ nhà Nguyễn, Dân luật Bắc kỳ, Hoàng việt Trung Kỳ hộ luật… Từ năm 1945 đến nay, Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng Đảng và Nhà nước ta đã ban hành 3 đạo luật hôn nhân và gia đình tương ứng với từng giai đoạn lịch sử là năm 1959, 1986 và 2000 Phát huy tinh thần kế thừa và phát triển, nội dung quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình đã có những thay đổi lớn trong từng văn bản luật Các văn bản sau đã kế thừa hầu hết những quy định tiến bộ của văn bản trước
và có những sửa đổi, bổ sung nhất định và cần thiết đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội về lĩnh vực này Cụ thể ở một số nét cơ bản sau:
- Do những nguyên nhân khách quan và điều kiện lịch sử cụ thể nên Luật Hôn nhân và gia đình trước đây (năm 1959) mới chỉ chú trọng đến vấn
đề kết hôn, ly hôn, quan hệ giữa cha, mẹ và con cái; còn nhiều vấn đề trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chưa được Luật điều chỉnh Kế thừa và phát huy nguyên tắc dân chủ, tiến bộ của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã ra đời trong những năm đầu của thời
kỳ đổi mới đã đề cập đến nhiều vấn đề khác như quan hệ giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em trong gia đình
- Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình chủ động hội nhập kinh tế, quốc tế và khu vực, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nhiều nhân tố mới đã xuất hiện ở Việt Nam Quan hệ giữa ông bà, cha mẹ và con cái không còn mang tính áp đặt như trước Nam nữ bình đẳng hơn trong quan hệ gia đình, đặc biệt phụ nữ ngày
Trang 24càng có nhiều cơ hội tham gia các công tác xã hội Trẻ em được quan tâm hơn
và được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên, bên cạnh những điều đã đạt được thì cũng còn nhiều vấn đề nổi cộm thể hiện mặt trái của cơ chế thị trường Con người sống ích kỷ hơn, cá nhân hơn, xu hướng phủ nhận giá trị lịch sử, chay theo lợi ích kinh tế, thương mại mà ít coi trọng những truyền thống gia đình thể hiện quan quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình ngày càng rời rạc, thiếu gắn kết đặc biệt thiếu sự quan tâm của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, anh chị em với nhau
- Thực tiễn thi hành Luật Hôn nhân gia đình năm 1986 cho thấy một số quy định của Luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình còn mang tính nguyên tắc chung, thiếu cụ thể nên đã gây nên nhiều khó khăn khi vận dụng, thiếu thống nhất khi thi hành Trên cơ sở kế thừa và phát huy những điểm tiến bộ của các luật hôn nhân và gia đình trước, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những quy định mới về quan hệ giữa các thành viên trong gia đình nhằm củng cố quan hệ gia đình vững chắc Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình được quy định rõ hơn với mục đích khẳng định lại các quan hệ vốn thuộc phạm trù đạo đức, văn hóa truyền thống trong pháp luật nhằm thể hiện ý chí của Nhà nước và xã hội trong việc
đề cao, tôn trọng và bảo vệ các truyền thống tốt đẹp vốn có của gia đình Việt Nam
- Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình phát sinh trên cơ sở quan
hệ hôn nhân và gia đình, thể hiện năng lực pháp luật và năng lực hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ này Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình bao gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Quan hệ nhân thân là yếu tố tinh thần, tình cảm không mang nội dung kinh tế Còn quan hệ tài sản luôn gắn liền với nhân thân của mỗi chủ thể nhất định Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình đó là các vấn đề liên quan tới tài sản giữa vợ và
Trang 25chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em với nhau
- Chế độ sở hữu của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình về nguyên tắc là chế độ sở hữu chung hợp nhất pháp định Tuy nhiên, sự thỏa thuận của vợ chồng trong những trường hợp nhất định cũng có thể được thừa nhận khi xác định một tài sản cụ thể thuộc sở hữu chung hay riêng của một người nào đó, hoặc trong trường hợp chia tài sản để xác định nghĩa vụ của một trong hai người đối với người thứ ba Chỉ áp dụng chế độ sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản của vợ chồng
- Trong hệ thống pháp luật Việt Nam có sự thừa nhận tính độc lập và phân định tài sản giữa cha mẹ và các con Do đó, giữa cha mẹ và các con nếu
có quan hệ sở hữu chung thì đó là sở hữu chung theo phần Các con còn ở chung với cha mẹ có quyền có tài sản riêng Vì vậy, khi cha mẹ mở tài khoản cho các con hoặc gửi tiền ngân hàng mang tên con mặc dù đó là thu nhập của hai người trong thời kỳ hôn nhân thì nó vẫn được coi là tài sản thuộc sở hữu riêng của người con đó mà không tính vào tài sản của cha mẹ Khi ly hôn, tài sản đó không bị tính vào tài sản chung của vợ chồng để chia
- Chế độ sở hữu trong hộ gia đình, nhất là hộ nông dân có những đặc điểm riêng của nó Bộ luật Dân sự đã quy định về tài sản chung của hộ và trách nhiệm dân sự của hộ gia đình khẳng định chế độ sở hữu chung hợp nhất của hộ gia đình (Điều 108, 109) Tài sản chung của hộ gia đình bao gồm:
Tài sản do các thành viên tạo lập nên
Tài sản được tặng cho chung
Quyền sử dụng đất hợp pháp
Các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ
Trang 26Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa
vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình Quyền
và nghĩa vụ đó thực hiện bằng tài sản chung của hộ Tuy nhiên, Điều 110 còn quy định nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của
hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình Điều đó nói lên trách nhiệm vô hạn của hộ gia đình với tư cách là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự - kinh tế Mặt khác, xác nhận trong hộ gia đình ngoài tài sản chung của hộ còn có loại tài sản thuộc sở hữu riêng từng cá nhân và tài sản thuộc sở hữu chung của các cặp vợ chồng
- Các cá nhân là thành viên của hộ gia đình chỉ có quyền sở hữu đối với tài sản được tặng cho riêng và thường là tiền tiết kiệm gửi ngân hàng Các loại động sản, bất động sản chủ yếu thuộc về tài sản chung của cả hộ Nếu tài sản riêng của người nào đó nhưng trong quá trình chung sống đã có thời gian duy trì, bảo quản chung của cả hộ với thời gian tương đối dài thì cũng được xem là tài sản chung Việc tách một phần tài sản cho thành viên hộ gia đình dựa vào mức độ tham gia đóng góp vào phát triển, duy trì và củng cố tài sản chung của hộ Nếu sự đóng góp là không đáng kể thì không áp dụng nguyên tắc ngang bằng giữa các chủ thể; hoặc nếu người đó trong khoảng thời gian dài (3 năm trở lên) mà không đóng góp công sức vào việc duy trì, phát triển tài sản chung của hộ mà không có lý do chính đáng thì người đó không có quyền đối với tài sản chung của hộ
- Do đặc điểm của chế độ tài sản của hộ gia đình và thực tiễn đời sống kinh tế xã hội Việt Nam, nhiều trường hợp thành viên của hộ gia đình cùng sinh sống, nhưng không làm việc cùng với hộ thì vẫn được coi là thành viên của hộ và chủ thể quan hệ sở hữu chung của hộ Việc xác lập chế độ pháp lý
về sở hữu chung hợp nhất của hộ nông dân có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn, nhất là làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp về đất đai, nhà cửa, các bất động sản khác nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các thành viên
Trang 27trong hộ và đảm bảo sự ổn định đời sống sản xuất, sinh hoạt ở nông thôn nước ta hiện nay
- Mặt khác, với những hộ gia đình kinh doanh, sản xuất khác, chế độ pháp lý về tài sản chung phải áp dụng quy chế sở hữu chung theo phần, nếu
có thể xác định được tỷ lệ phần quyền về sự đóng góp và sức lao động của mỗi chủ thể khi tham gia vào quan hệ sở hữu chung của hộ
1.2.2 Phân loại chế độ pháp lý về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
Với mỗi tiêu chí phân loại, chế độ pháp lý về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được phân theo các hệ thống khác nhau
1.2.2.1 Dựa trên chủ thể của từng loại quan hệ tài sản
Chế độ pháp lý của quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được phân loại như sau:
- Chế độ pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng:
Chế độ pháp lý này xuất phát từ quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa người nam và nữ Tức là hai bên phải đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật
về mặt chủ thể như đủ năng lực hành vi dân sự, đủ độ tuổi kết hôn, tự nguyện, không phạm điều cấm Chế độ tài sản giữa vợ và chồng được quy định rất rõ ràng, đầy đủ nhằm đào bảo quyền lợi của gia đình và lợi ích của mỗi bên vợ chồng Hình thức sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất Những tài sản do vợ chồng tạo ra, những thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đều được coi là tài sản chung của vợ chồng (trừ trường hợp tài sản đó có nguồn gốc là tài sản riêng của vợ hoặc chồng hay vợ chồng có thỏa thuận khác) Như vậy, tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân chứa đựng cả công sức của vợ lẫn chồng Ở hình thức sở hữu chung hợp nhất không có việc xác định tỷ lệ phần tài sản của mỗi người
Trang 28Các bên trong quan hệ sở hữu chung hợp nhất đều có quyền ngang nhau đối với tài sản chung (không phải là phần tài sản cụ thể) Sở hữu chung không có
sự phân chia và chỉ được phân chia khi chấm dứt quan hệ sở hữu chung Trong sở hữu chung hợp nhất không có sự thay thế vị trí của một đồng sở hữu bằng một chủ thể khác mà chỉ có thể chuyển cho đồng sở hữu kia Sở dĩ như vậy là vì quan hệ sở hữu chung hợp nhất chỉ phát sinh giữa các chủ thể gắn bó với nhau bởi tình cảm gia đình Đặc điểm của sở hữu chung vợ chồng đó là sự bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung dù đó là tài sản gì, và pháp luật cũng dự liệu cả những tài sản mà vợ chồng không chứng minh được đó là tài sản riêng của mình Trên thực tế, đối với hôn nhân hợp pháp việc chia tách tài sản của một trong hai người đồng nghĩa với việc chia tách tài sản chung vì trong quan hệ này chỉ có hai chủ thể tham gia với tư cách là đồng sở hữu chủ Đối với hôn nhân thực tế (được pháp luật thừa nhận) thì tài sản chung cũng thuộc sở hữu chung hợp nhất Đối với hôn nhân không được công nhận là hôn nhân thực tế thì việc chia tách tài sản chung được giải quyết theo hình thức sở hữu chung theo phần Tuy nhiên, sở hữu chung vợ chồng chỉ tồn tại khi có quan hệ hôn nhân tức là chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân và chấm dứt khi không còn quan hệ hôn nhân nữa hoặc một bên chết Việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng phải có sự đồng ý của người kia, trừ những trường hợp
sử dụng tài sản chung để phục vụ các nhu cầu thiết yếu của gia đình
- Chế độ pháp lý về quan hệ tài sản giữa cha mẹ và con:
Thực chất, quan hệ cha mẹ và con cái không nhất thiết phải xuất phát
từ quan hệ hôn nhân (ví dụ: con ngoài giá thú) Đây là mối quan hệ ràng buộc hai bên dù có hôn nhân hay không, dù đang trong thời kỳ hôn nhân hay đã chấm dứt hôn nhân Việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con cái là nghĩa vụ
và cũng là quyền lợi của cha mẹ đã được pháp luật quy định Bên cạnh đó, con cái cũng có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ Điều này được quy định dựa trên cơ sở huyết thống, tình cảm và đạo đức giữa cha mẹ và con cái Khi con
Trang 29cái chưa trưởng thành thì cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con cái
và điều này được quy định cho cả trường hợp con thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự Theo đó, cha mẹ là chỗ dựa cho con, là người đại diện hợp pháp của con cái khi tham gia các quan hệ pháp luật dân sự Điều này thể hiện ở chỗ nếu con cái gây ra thiết hại cho người thứ ba thì không ai khác, cha mẹ là người đứng ra nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của con cái chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ Bên cạnh đó pháp luật cũng quy định trách nhiệm vật chất đối với gia đình của con đã đủ
15 tuổi có thu nhập hợp pháp cần tham gia đóng góp chăm lo đời sống chung của gia đình Quan hệ giữa cha mẹ và con cái là mối quan hệ gần nhất, ruột thịt nhất Ở đây, cha mẹ và con cái có trách nhiệm trực tiếp đối với nhau, trách nhiệm ràng buộc và sẽ không mất đi kể cả khi không còn quan hệ hôn nhân giữa cha và mẹ Điều đặc biệt là khi quan hệ cha mẹ và con là quan hệ giữa những người không cùng huyết thống (cha dượng và con riêng của vợ hay mẹ kế và con riêng của chồng) nhưng cùng sống chung dưới một mái nhà thì giữa họ vẫn có trách nhiệm đối với nhau như đối với trường hợp có quan
hệ huyết thống Có thể nói, việc pháp luật quy định như vậy luôn thể hiện sự coi trọng hạnh phúc gia đình, phát huy truyền thống tương thân tương ái, gia đình luôn là chỗ dựa vững chắc cho mỗi con người, luôn thể hiện tình thương trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình quan tâm, chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau
- Chế độ pháp lý về quan hệ tài sản giữa các thành viên khác trong gia đình (ông bà và cháu, anh chị em với nhau)
+ Ông bà và cháu là những thành viên trong gia đình và pháp luật cũng quy định trách nhiệm quan tâm, chăm sóc nhau giữa những thành viên này Trên thực tế, gia đình Việt Nam thường sống chung ba thế hệ (ông bà, cha mẹ, con cái), đây là kiểu gia đình truyền thống, trong đó thể hiện rõ trật tự trong gia đình kính trên nhường dưới, mọi người quan tâm, chăm sóc, thương
Trang 30yêu, đùm bọc lẫn nhau Có nhiều gia đình ông bà là trụ cột về tinh thần và về kinh tế, chăm lo cho cả gia đình, con cháu đều trong vòng tay che chở của ông
bà Có những gia đình, cha mẹ là lao động chính của gia đình, làm ra của cải vật chất nuôi sống cả gia đình và cũng có trường hợp con cái mới là người chèo chống cho gia đình… Tuy nhiên, ở trong trường hợp nào thì mỗi thành viên đều vì lợi ích chung của cả gia đình, đóng góp công sức, tiền của để duy trì gia đình mình Có thể nói, trách nhiệm chung đối với gia đình không chỉ xuất phát từ những quy định của pháp luật mà chủ yếu là từ quan hệ tình cảm, huyết thống của những người trong gia đình Thế hệ này nâng đỡ, dìu dắt thế
hệ kia tạo nên một gia đình hòa thuận, đầm ấm, mỗi người đều ý thức được trách nhiệm của mình đối với người kia
+ Trong gia đình, anh chị em là mối quan hệ ruột thịt rất gần gũi, họ đều do cha mẹ sinh ra, cùng huyết thống với nhau Do vậy, trách nhiệm quan tâm, chăm sóc lẫn nhau là điều hiển nhiên không chỉ pháp luật ghi nhận mà thực tế không thể phủ nhận Trong gia đình, anh chị lớn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, nhường nhịn em nhỏ - đó là truyền thống của mỗi gia đình dù pháp luật có quy định hay không bởi giữa họ là những điều hết sức thân thuộc "Chị ngã em nâng" thể hiện tinh thần luôn đùm bọc, thương yêu nhau của anh chị em trong gia đình Pháp luật không quy định một cách cụ thể về chế độ tài sản giữa các thành viên trong gia đình, nhưng tựu chung mỗi người đều có trách nhiệm đóng góp sức lực, tài sản, tiền bạc theo khả năng của mình
để đảm bảo cuộc sống chung của gia đình và trong khả năng của mình, mỗi thành viên có trách nhiệm giúp và được quyền giúp đỡ từ những thành viên khác Anh chị em trong gia đình là người trong một nhà, cùng một đấng sinh thành, vì vậy phải biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau - "một giọt máu đào hơn
ao nước lã" Pháp luật cũng quy định anh chị em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền và nghĩa vụ đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái Có thể thấy, ở đây anh chị em ở vị trí của cha mẹ
Trang 31mình chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo ban nhau Mặc dù vậy, giữa họ không thể phát sinh chế độ pháp lý như đối với quan hệ cha mẹ và con và trong quan hệ thừa kế thì anh chị em chỉ thuộc hàng thừa kế thứ hai, tức là chỉ được thừa kế tài sản của nhau khi không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất nữa Như vậy, quan
hệ tài sản của những người trong nhóm này cũng không phải là trực tiếp, và trách nhiệm vật chất giữa họ chỉ phát sinh khi pháp luật quy định
1.2.2.2 Dựa trên đối tượng của từng loại quan hệ tài sản
Chế độ pháp lý về tài sản giữa các thành viên trong gia đình có thể được phân loại theo đối tượng của quan hệ tài sản, bao gồm:
1.3 KHÁI QUÁT MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC
Gia đình là nền tảng của xã hội Sự giàu có của các gia đình, cá nhân mới có một quốc gia vững mạnh Lịch sử cho thấy, ở bất cứ thời điểm nào, trong bất cứ hình thái kinh tế nào, xã hội luôn là tập hợp của các gia đình Với
tư cách là một cộng đồng tổ chức đời sống xã hội, gia đình được hình thành từ rất sớm và đã trải qua quá trình phát triển lâu dài Xuất phát từ nhu cầu bảo tồn, duy trì nòi giống, từ sự cần thiết phải nương tựa vào nhau để sinh tồn, các hình thức quần tụ giữa nam giới và nữ giới, những hình thức cộng đồng tổ
Trang 32chức đời sống gia đình đã xuất hiện Trên cơ sở của sự phát triển kinh tế - xã hội, các kiểu, dạng tổ chức cộng đồng mang tính tự nhiên ngay từ đầu đã chịu
sự quy định của những biến đổi trong sản xuất, trong đời sống kinh tế - xã hội Trước những yêu cầu của sản xuất và sinh hoạt, những đòi hỏi của đời sống, các quan hệ ấy dần trở nên chặt chẽ, giữa các thành viên trong cộng đồng ấy xuất hiện những cơ chế ràng buộc lẫn nhau phù hợp và thích ứng với những điều kiện sản xuất, sinh hoạt của mỗi một nền sản xuất Gia đình dần trở thành một thiết chế xã hội, một hình ảnh của xã hội thu nhỏ Tính chất, bản sắc của gia đình được duy trì, bảo tồn, được sáng tạo và phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mỗi thành viên trong gia đình trong sự tương tác, gắn bó với văn hóa cộng đồng dân tộc, cộng đồng giai cấp và tầng lớp của mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia, dân tộc xác định Như vậy, gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên
Thực tiễn ban hành và áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình của các nước trên thế giới cho thấy các nhà làm luật luôn hướng tới và thông qua luật pháp để duy trì quan hệ hôn nhân và gia đình như một thiết chế vững chắc làm nền tảng cho một xã hội ổn định Do đó, các quan hệ hôn nhân và gia đình ngày càng được điều chỉnh với các chế định pháp luật chặt chẽ hơn, cụ thể hơn
Ở một số nước phương Tây, một trong những đặc thù của pháp luật hôn nhân và gia đình là đề cao quyền tự do cá nhân, tự do thỏa thuận và quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt trong quan hệ vợ chồng, họ quan niệm hôn nhân như một loại hợp đồng dân sự chỉ khác về thủ tục ký kết hợp đồng (đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo nghi thức đặc biệt) và chấm dứt (khi có một bên chết hay quyết
Trang 33định ly hôn của Tòa án theo thủ tục hành chính hoặc tố tụng) Ở đây, quyền tự
do cá nhân được đề cao Quyền tự do lập hôn ước được lựa chọn khi quy định chế độ tài sản của vợ chồng, theo đó vợ chồng có quyền tự lựa chọn, thỏa thuận (pháp luật chỉ can thiệp khi hai bên không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được) Quan điểm này thể hiện rõ trong một số điều luật của pháp luật dân sự một số nước như: Điều 755, 756 Bộ luật Dân sự Nhật Bản; Điều
1465 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan; Điều 1387 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp…
- Theo Bộ luật Dân sự Nhật Bản, khi kết hôn họ chung của vợ chồng
có thể là họ của người chồng hoặc vợ nhưng việc chồng lấy họ của vợ rất hiếm Vợ chồng phải chung sống với nhau, giúp đỡ lẫn nhau và phải cùng quan tâm tới thu nhập và tài sản của mỗi người và những thứ khác, có sự phân chia, gánh chịu những phí tổn đám cưới Ở đây có sự phân biệt rõ ràng giữa tài sản có trước khi kết hôn với tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân Trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái: khi cha mẹ ly hôn thì con dưới 20 tuổi được giao cho một người nuôi dưỡng Ở Nhật Bản không có tập quán mà cha mẹ ly hôn thì cùng hợp tác nuôi dạy con, thường thì đứa trẻ còn nhỏ sẽ được giao cho người mẹ Việc thi hành nghĩa vụ nuôi dưỡng của người cha đối với những đứa con riêng không được thực hiện một cách triệt để Con rể có thể nhận làm con nuôi của bố mẹ vợ, theo đó anh ta có trách nhiệm nuôi dưỡng
bố mẹ của vợ, khi bố mẹ vợ chết thì anh ta cùng với người vợ trở thành người thừa kế Và nếu số người thừa kế tăng thì thuế thừa kế sẽ giảm Ngày nay tại Nhật Bản, nghĩa vụ của con cái nuôi dưỡng bố mẹ bị coi nhẹ hơn nghĩa vụ nuôi dưỡng vợ và con…
- Ở Thái Lan, chế độ tài sản của vợ chồng được Bộ luật Dân sự và Thương mại điều chỉnh khi giữa họ không có sự thỏa thuận đặc biệt về tài sản trước khi kết hôn Tài sản của vợ chồng, trừ số tài sản được để riêng dạng "Sin Suan Tua", thì đều là "Sin Somros" (Điều 1470) "Sin Suan Tua"
Trang 34bao gồm: Tài sản thuộc về vợ hay chồng trước khi kết hôn; Tài sản dung cho
cá nhân, quần áo hoặc đồ trang sức phù hớp điều kiện sống, hoặc những dụng cụ cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của vợ hoặc chồng; Tài sản mà
vợ chồng nhận được trong thời gian hôn nhân thông qua một di chúc hoặc quà tặng; "Khongman" (Điều 1471) - hoa lợi, lợi tức từ "Sin suan Tua" đều thuộc "Sin Suan Tua"
"Sin Somros" bao gồm: Tài sản có được trong thời gian hôn nhân; tài sản mà người vợ hoặc chồng có được trong thời gian hôn nhân thông qua một
di chúc hoặc được trao tặng được làm bằng văn bản nếu trong di chúc hay văn bản trao tặng có tuyên bố đó là "Sin Somros" Trong việc quản lý "Sin Somros" vợ chồng là người quản lý chung, hoặc người này phải được sự đồng
ý của người kia khi sử dụng…
Trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái: Bố mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng con cái và chu cấp việc học hành cho con cái khi chúng chưa trưởng thành Khi chúng đã đủ tuổi thành niên tự lập thì bố mẹ chỉ có trách nhiệm nuôi dưỡng khi chúng bị tàn tật và không thể tự kiếm sống cho mình được (Điều 1564) Trường hợp đứa trẻ có thu nhập thì thu nhập đó phải được dung trước hết vào việc nuôi dưỡng và học hành của đứa trẻ, số tiền dư phải được giữ lại cho đứa trẻ Người thực thi quyền bố mẹ không được tham gia vào bất
cứ hành vi pháp lý nào đối với tài sản của vị thành niên, trừ trường hợp được Tòa án cho phép như: Bán, trao đổi, tặng cho tài sản của vị thành niên
Bộ luật Dân sự Pháp quy định cha mẹ được quản lý và hưởng dụng các tài sản của con khi thực thi quyền của cha mẹ và trong các trường hợp khác, sẽ do cha hoặc mẹ thực hiện dưới sự giám sát của Thẩm phán Việc hưởng dụng theo luật định gắn với việc quản lý theo luật định, việc hưởng dụng thuộc về cả cha và mẹ hoặc người cha hay mẹ có trách nhiệm quản lý Việc hưởng dụng theo luật định không bao gồm những tài sản mà đứa con có
Trang 35được do lao động của mình, những tài sản được tặng cho hay di tặng kèm theo điều kiện rõ ràng là cha mẹ không được hưởng dụng (Điều 382, 383, 387)
Điều 1387 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp quy định: vợ chồng có thể
tự do lập hôn ước, miễn là những thỏa thuận trong hôn ước không trái với thuần phong mỹ tục hoặc không trái với các quy định của pháp luật về điều kiện thừa nhận tính hợp pháp của hôn ước Nghĩa là, tài sản của vợ chồng không nhất thiết do pháp luật quy định mà do chính bản thân vợ chồng tự thỏa thuận tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng Vợ chồng có thể thỏa thuận trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ tài sản được quy định trong pháp luật hoặc họ có thể lựa chọn một chế độ tài sản riêng biệt, hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản theo quy định của pháp luật
Có thể nói, chế định tài sản pháp định trong pháp luật hôn nhân và gia đình của các nước tư bản được quy định bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng phổ biến nhất là chế độ tài sản cộng đồng Chế độ tài sản cộng đồng cũng có nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, song có một đặc điểm đặc thù là trong chế độ tài sản cộng đồng luôn tồn tại khối tài sản chung của vợ chồng, từ đó phát sinh các quyền
và nghĩa vụ cụ thể đối với loại tài sản này, và được đảm bảo bằng tài sản chung của vợ chồng Việc thừa nhận chế độ tài sản cộng đồng là xuất phát từ quan điểm lợi ích của vợ chồng phải chịu sự chi phối bởi tính chất cộng đồng của hôn nhân và lợi ích chung của gia đình
Trong điều kiện kinh tế - xã hội của xã hội truyền thống, một hình thức chế độ tài sản cộng đồng được quy định trong pháp luật hôn nhân và gia đình của một số nước là chế độ cộng đồng toàn sản Chế độ này không thừa nhận quyền sở hữu riêng của vợ chồng mà chỉ thừa nhận quyền sở hữu chung Theo đó, toàn bộ tài sản của vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung Điều đó có nghĩa là quyền có tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không được thừa nhận Điều này xuất phát từ
Trang 36quan niệm nhu cầu chung, lợi ích chung của gia đình là tối cao, tài sản của vợ chồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ là vì mục đích đó, do đó tài sản riêng không được thừa nhận vì mâu thuẫn với lợi ích của gia đình Với những đặc điểm trên thì chế độ tài sản cộng đồng toàn sản phù hợp với quan hệ hôn nhân và gia đình trong xã hội truyền thống Tuy nhiên, chế độ tài sản này không được các nước lựa chọn vì có những hạn chế như: dễ bị lợi dụng cho những cuộc hôn nhân thực dụng, không khuyến khích cho các quan hệ pháp luật khác phát triển khi vợ hoặc chồng tham gia quan hệ đó vì không có tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, quyền tự định đoạt đối với tài sản của mình không được đảm bảo
Ngoài ra, còn có chế độ cộng đồng tạo sản, chế độ này được nhiều nước ghi nhận trong pháp luật hôn nhân và gia đình của mình như: Luật Gia đình Cộng hòa Cu Ba, Luật Gia đình Bungari, Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp,
Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan bởi vì nó phù hợp với tình hình thực tế ở mỗi nước, khắc phục được những hạn chế của chế độ cộng đồng toàn sản trên (chỉ những tài sản có trong thời kỳ hôn nhân mới thuộc tài sản chung của vợ chồng)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
1 Hôn nhân và gia đình là hiện tượng xã hội sinh ra và tồn tại gắn liền với các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người Hôn nhân là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để hình thành gia đình - tế bào của xã hội Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy chế độ hôn nhân và gia đình ở mỗi thời kỳ khác nhau thì cũng có những biểu hiện khác nhau thể hiện tính chất, kết cấu của xã hội thời kỳ đó Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, nhỏ nhất, cơ bản nhất Trong xã hội có giai cấp, các quan hệ pháp luật nói chung, các quan
hệ pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng luôn thể hiện tính giai cấp và đấu
Trang 37tranh giai cấp sâu sắc, luôn chịu sự quy định của những biến đổi trong sản xuất, trong đời sống kinh tế - xã hội
2 Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề tài sản của các thành viên trong gia đình, bao gồm: quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừa
kế giữa vợ và chồng, giữa bố mẹ và con, giữa ông bà và cháu, anh chị em và những người thân trong gia đình Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là quan hệ xã hội, quan hệ dân sự, quan hệ pháp luật nhưng có những nét đặc trưng khác biệt xuất phát từ quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng
3 Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là một chế định quan trọng trong pháp luật hôn nhân và gia đình Luật Hôn nhân và gia đình của các quốc gia trên thế giới đã có những quy định cụ thể về vấn đề này Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được thể hiện qua hai phương thức: sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các thành viên (chế độ tài sản ước định) và theo các quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định) Một trong những đặc thù của pháp luật hôn nhân và gia đình phương Tây là đề cao quyền tự do cá nhân, tự do thỏa thuận và quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt trong quan hệ vợ chồng, họ quan niệm hôn nhân như một loại hợp đồng dân sự chỉ khác về thủ tục ký kết hợp đồng (đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo nghi thức đặc biệt) và chấm dứt (khi có một bên chết hay quyết định ly hôn của Tòa án theo thủ tục hành chính hoặc tố tụng)
4 Ở Việt Nam, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được quy định tại nhiều văn bản pháp luật Nổi bật nhất là luật dân sự và luật hôn nhân gia đình Ngay trong luật hôn nhân và gia đình thì những quy định liên quan đến quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng được bổ sung, sửa đổi qua các thời kỳ để phù hợp với sự phát triển chế độ chính trị - kinh tế - xã hội của Việt Nam Kế thừa và phát triển các văn bản pháp luật
Trang 38trước, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 là văn bản pháp lý quy định cụ thể, rõ ràng và phù hợp nhất trong giai đoạn hiện này về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
Trang 392.1.1.1 Quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng
Quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ và chồng trước hết phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về xác lập quyền sở hữu tài sản, đồng thời phải đặt trong mối quan hệ đặc biệt của các đồng sở hữu tài sản được điều chỉnh bởi pháp luật về hôn nhân và gia đình Hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu nói chung và quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng nói riêng rất đa dạng, trước tiên cần kể đến Bộ luật Dân sự, pháp luật về hôn nhân và gia đình và rất nhiều văn bản pháp luật ở nhiều lĩnh vực khác Quan hệ sở hữu tài sản giữa
vợ và chồng được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định trong 7 điều (từ Điều 27 đến Điều 33 tại chương III)
Trong mỗi điều đều quy định cụ thể các vấn đề có liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng và tài sản riêng, vấn đề thừa kế, cũng như vấn đề chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như trong các luật khác là sự kế thừa, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo hướng thể hiện ngày một toàn diện và sâu sắc nguyên tắc bình đẳng giới trên cơ sở phù hợp điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước ta Trên cơ sở những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 về quyền có tài sản chung, tài sản riêng, quyền thừa kế, quyền chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại
Trang 40giữa vợ và chồng thì luật năm 2000 đã quy định cụ thể hơn các loại tài sản được coi là tài sản chung, quy định rõ quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, các trường hợp chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại, đồng thời dự liệu các trường hợp vợ chồng
sẽ gặp phải khó khăn trong vấn đề thừa kế tài sản của nhau khi một bên chết
và đưa ra giải pháp khắc phục Quy định về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng đã
cụ thể hóa một số quy định về sở hữu của Bộ luật Dân sự, đồng thời bổ sung một
số quy định nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền sử dụng đất của vợ chồng, chế độ pháp lý đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung, tài sản riêng, giúp Tòa án có thêm căn cứ pháp lý khi xét xử các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng
Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
Sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng có sự tham gia của cả vợ và chồng, tài sản thuộc tất cả cùng đồng thời và toàn bộ, nhưng không xác định
tỷ lệ phần tài sản Phần tài sản được xác định chỉ khi chia tài sản chung thành những phần tài sản thực tế, nghĩa là chấm dứt quan hệ sở hữu chung hợp nhất, các đồng sở hữu chủ có quyền ngang nhau đối với tài sản chung của họ
Sở hữu chung hợp nhất là một loại quan hệ phức tạp và phải được pháp luật quy định Một số người cùng đồng thời có quyền ngang nhau đối với một tài sản nhất định Điều đó khẳng định tính không thay đổi về chủ thể của sở hữu chung hợp nhất Trong quan hệ sở hữu chung hợp nhất không cho phép sở hữu chủ bán phần quyền của mình Tài sản của đồng sở hữu chủ hoặc giao cho chính người đó hoặc để lại cho những sở hữu chủ khác, mà không thể chuyển cho người thứ ba, bởi vì người này không thể thay thế vị trí của một trong các đồng sở hữu chủ Vấn đề là ở chỗ quan hệ sở hữu chung hợp nhất chỉ phát sinh giữa các chủ thể gắn bó với nhau bởi tình cảm gia đình