1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ CON NGƯỜI. SỰ VẬN DỤNG CỦA QUAN ĐIỂM ĐÓ VỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM

20 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 238,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA SAU ĐẠI HỌC NHÓM 1 Lớp CH28AKT Chuyên ngành Kế toán BÀI THẢO LUẬN NHÓM ĐỀ TÀI QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ CON NGƯỜI SỰ VẬN DỤNG CỦA QUAN ĐIỂM ĐÓ VỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn TS Đặng Minh Tiến DANH SÁCH NHÓM 1 STT HỌ VÀ TÊN MÃ HỌC VIÊN NHIỆM VỤ ĐIỂM GHI CHÚ 1 Phathaithep SIPASEUTH 2 Malisabern SYLAVANH 3 Nguyễn Thị Hương Giang 4 Bùi Hiếu Ngân 5 Nguyễn Thùy Trang 6 Lê Nguyễn Quỳnh Anh 7 Trầ.

Trang 1

ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA SAU ĐẠI HỌC

NHÓM 1 Lớp: CH28AKT Chuyên ngành: Kế toán

BÀI THẢO LUẬN NHÓM

ĐỀ TÀI QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ CON NGƯỜI SỰ VẬN DỤNG CỦA QUAN ĐIỂM ĐÓ VỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA –

HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn: TS Đặng Minh Tiến

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM 1

ST

1 Phathaithep SIPASEUTH

2 Malisabern SYLAVANH

3 Nguyễn Thị Hương Giang

4 Bùi Hiếu Ngân

5 Nguyễn Thùy Trang

6 Lê Nguyễn Quỳnh Anh

7 Trần Mai Anh

8 Phạm Thùy Dung

9 Vũ Thị Ngân Hà

10 Hà Thị Quỳnh Liên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nhóm 1 - chuyên ngành kế toán xin chân thành cảm ơn TS Đặng Minh Tiến- giảng viên môn Triết học đã sát sao, hướng dẫn và gửi tài liệu để chúng em hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này Trong phạm vi kiến thức còn hạn hẹp, đề tài nghiên cứu của nhóm em còn nhiều thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy

Nhóm em xin trân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

LỜI NÓI ĐẦU 4

Chương I Cơ sở lý luận của đề tài 5

1.1.Khái niệm con người 5

1.2 Bản chất con người 5

1.3 Con người trong đời sống xã hội và trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất 7

Chương II Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở Việt Nam 9

2.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là gì? 9

2.2 Yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa 9

2.2.1 CNH-HĐH – phấn đấu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp 9

2.2.2 CNH-HĐH góp phần tăng cường, củng cố khối liên minh công-nông 10

2.3 Con người Việt Nam trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa 10

Chương III Phát huy yếu tố con người trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa 13

3.1 Tình hình, thực trạng nước ta hiện nay trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa 13

3.1.1 Thành tựu 13

3.1.2 Hạn chế 14

3.1.3 Giải pháp đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa cho đất nước 15

3.2 Vận dụng quan điểm triết học Mác – Lênin về phát huy nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam 16

KẾT LUẬN 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Có thể nói vấn đề con người là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế giới từ trước tới nay Đó là vấn đề mà luôn được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc nhất Bên cạnh đó, các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, y học, triết học, xã hội học.v.v Từ rất sớm trong lịch sử đã quan tâm đến con người và không ngừng nghiên cứu về nó Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ý nghĩa riêng đối với sự hiểu biết và làm lợi cho con người Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnh vực triết học lại có nhiều mâu thuẫn trong quan điểm, nhận thức và

nó đã gây nên sự đấu tranh không biết khi nào dừng Những lập trường chính trị trình độ nhận thức và tâm lý của những người nghiên cứu khác nhau và do đó đã đưa ra những tư tưởng hướng giải quyết khác nhau

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã vạch rõ hướng đi đúng cho con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thực tế cho thấy cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam đã làm nên thắng lợi cách mạng giải phòng dân tộc (1945), thống nhất đất nước (1975) Bằng hệ thống giáo dục với các hình thức đào tạo đa dạng, với các hình thức khoa học thấm nhuần tinh thần cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đã hình thành kế tiếp nhau những lớp người lao động mới ngày càng có tư tưởng, trình độ chung, chuyên môn cao ngày nay chúng ta đã có một đội ngũ cán bộ văn hoá khoa học công nghệ với trình độ lý luận và quản lý tốt đồng đều trong cả nước

Do nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của vấn đề con người đặc biệt là vấn

đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay Việt Nam đã và đang xây dựng và phát triển đất nước toàn diện về nhiều mặt đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, nó phụ thuộc rất nhiều vào nhiều chiến lược con người Cần đào tạo con người một cách có chiều sâu lấy tư tương và chủ nghĩa Mác -Lênin làm nền tảng, cũng như trên thế giới ở nước ta chiến lược con người nó có một ý nghĩa hết sức quan trọng và để phát triển đúng hướng chiến lược đó cần có một chính sách phát triển con người, không để con người đi lệch tư tưởng

Trang 6

Chương I Cơ sở lý luận của đề tài 1.1.Khái niệm con người

Quan điểm về con người trong triết học Phật giáo: Phật giáo phủ nhận vai trò của

Đấng sáng tạo, phủ nhận cái Tôi của con người.Trong quá trình tồn tại, con người

có trần tục tính và phật tính Bản tính con người vốn tự có cái ác và cái thiện Cuộc đời con người do chính con người quyết định qua quá trình tạo nghiệp Con đường

tu nghiệp để trở thành La Hán, Bồ tát hay Phật được coi là đạo làm người

Triết học phương Tây thời nào cũng có tư tưởng duy vật gắn với thực tiễn xã

hội; tuy nhiên, ở bất kỳ thời nào quan điểm duy tâm về con người vẫn là tư tưởng thống trị Đến khi "Thuyết tiến hoá của các loài" của Đácuyn ra đời, các nhà triết học duy vật mới có căn cứ khoa học để chỉ ra nguồn gốc phi thần thánh của con người "Không phải Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa mà chính con người đã tạo ra Chúa theo hình ảnh của con người" (Phoiơbắc) Tuy vậy, do chịu ảnh hưởng bởi phương pháp tư duy siêu hình nên đã giải thích sai lệch về nguồn gốc và bản chất con người Còn các nhà duy vật thế kỷ XVII-XVIII (Hốpxơ) coi con người khi sinh ra đã mang sẵn bản chất tự nhiên (tính đồng loại)

Theo quan điểm của các nhà triết học thần linh: Con người được chia làm

hai phần là phần xác và phần hồn Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo thì cho rằng: Phần hồn là do thượng đế sinh ra; quy định, chi phối mọi hoạt động của phần xác, linh hồn con người tồn tại mãi mãi Chủ nghĩa duy vật thì ngược lại họ cho rằng phần xác quyết định và chi phối phần hồn, không có linh hồn nào là bất tử cả, và quá trình nhận thức đó không ngừng được phát hiện

Theo quan điểm triết học Mác – Lênin: Con người là một thực thể tự nhiên

mang đặc tính xã hội; có sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên

và xã hội

Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người chính là giới tự nhiên, vì vậy bản tính tự nhiên là một trong những phương diện cơ bản của con người, loài người

1.2 Bản chất con người

Theo Mác - Lênin, bản tính tự nhiên của con người được phân tích từ hai giác ngộ sau:

Trang 7

Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự

nhiên Cơ sở khoa học của kết luận này được chứng minh bằng toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyết của Đácuyn về sự tiến hóa của các loài

Thứ hai, con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới tự

nhiên cũng là “ thân thể vô cơ của con người”

Bản tính xã hội của con người được phân tích từ giác ngộ sau đây:

Một là, xét từ giác ngộ nguồn gốc hình thành con người, loài người thì không phải chỉ có nguồn gốc từ sự tiến hóa, phát triển của vật chất tự nhiên mà có nguồn gốc xã hội của nó, mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố lao động Chính nhờ lao động mà con người có khả năng vượt qua loài động vật để tiến hóa và phát triển thành người Đó là một trong những phát hiện mới của chủ nghĩa Mác- Lênin, nhờ đó mà có thể hoàn chỉnh học thuyết về nguồn gốc loài người mà tất cả các học thuyết trong lịch sử đều chưa có lời giải đáp đúng đắn và đầy đủ

Hai là, xét từ góc độ tồn tại và phát triển của con người, loài người thì sự tồn tại của nó luôn luôn bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội Xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng do đó mà cũng có sự thay đổi tương ứng và ngược lại, sự phát triển của mỗi cá nhân là tiền đề cho sự phát triển của xã hội Ngoài mối quan hệ xã hội thì mỗi con người chỉ tồn tại với tư cách là một thực thể sinh vật thuần túy mà không thể là “con người” với đầy đủ ý nghĩa của nó

Từ quan niệm khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người có thể thấy:

Một là, để lý giải một cách khoa học những vấn đề về con người thì không thể chỉ đơn thuần từ phương diện bản tính tự nhiên của nó mà điều căn bản hơn, có tính quyết định phải là từ phương diện bản tính xã hội của nó, từ những quan hệ kinh tế – xã hội của nó

Hai là, động lực cơ bản của sự tiến bộ và sự phát triển của xã hội chính là năng lực sáng tạo lịch sử của con người, vì vậy phát huy năng lực sáng tạo của mỗi con người, vì con người chính là phát huy nguồn động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của xã hội

Ba là, sự nghiệp giải phóng con người, nhằm phát huy khả năng sáng tạo lịch sử của nó phải là hướng vào sự nghiệp giải phóng những quan hệ kinh tế – xã hội Trên ý nghĩa phương pháp luận đó có thể thấy: Một trong những giá trị căn bản nhất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chính là ở mục tiêu xóa bỏ triệt để các quan hệ kinh tế – xã hội áp bức và bóc lột ràng buộc khả năng sáng tạo lịch sử

Trang 8

của quần chúng nhân dân – những chủ thể sáng tạo đích thực ra lịch sử tiến bộ của nhân loại; thông qua cuộc cách mạng đó nó cũng có thực hiện sự nghiệp giải phóng toàn nhân loại bằng phương thức xây dựng mối quan hệ kinh tế – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa nhằm xác lập và phát triển một xã hội mà tự do, sáng tạo của người này trở thành điều kiện cho tự do và sáng tạo của người khác

1.3 Con người trong đời sống xã hội và trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất

Sản xuất của cải vật chất là sự tác động của con người vào tự nhiên, biến đổi yếu tố tự nhiên thành sản phẩm phù hợp nhu cầu của mình.

Sản xuất của cải vật chất được xác định là quá trình tác động giữa con người vào thế giới tự nhiên, từ đó làm biến đổi vật thể của tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của bản thân và gia đình

Đây là hoạt động cơ bản nhất trong các hoạt động vốn có của con người, là

cơ sở của đời sống xã hội loài người Theo đó, đời sống xã hội của loài người do nhiều phương diện cấu tạo thành như kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị, xã hội, tôn giáo, công nghệ… Các hoạt động này diễn ra một cách thường xuyên, liên tục

và luôn tác động qua lại lẫn nhau Cùng với sự phát triển không ngừng nghỉ của xã hội thì các mặt này của đời sống cũng ngày càng trở nên đa dạng, phong phú và đạt đến trình độ ngày càng cao hơn trước

Tuy nhiên, dù phát triển ở trình độ cao như thế nào, trong bất cứ tiến trình phát triển nào của xã hội loại người thì con người luôn cần đến những thứ thiết yếu như: thức ăn, nước uống, nhà cửa, quần áo…để đảm bảo duy trì sự tồn tại của con người

Quá trình lao động ngày càng nhiều, kèm theo có sự giúp đỡ từ những máy móc, thiết bị ngày càng hiện đại đã giúp cho quá trình sản xuất đạt được nhiều thành tựu nhất định, không chỉ đủ ăn đủ mặc, con người đã dần tích lũy được những của cải vật chất dư thừa đó, từ đó đem lại nguồn thu nhập mới cho bản thân

và gia đình

Việc sản xuất diễn ra không ngừng nghỉ, kèm theo sự tiến bộ của khoa học, công nghiệp giúp cho quá trình sản xuất vật chất ngày càng nhiều, đạt được chất lượng ngày càng cao, tạo ra được sự phong phú về của hình thức, chủng loại…với những mẫu mã đa dạng, đẹp dẽ

Do vậy có thể thấy quá trình sản xuất của cải vật chất không chỉ là quá trình tạo ra sự phát triển vượt bậc cho xã hội mà còn được coi là quá trình nhằm giúp cho bản thân con người ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, với những kinh nghiệm, vốn kiến thức thực tế cũng trở nên đa dạng hơn, các phương tiện sản xuất được cải

Trang 9

tiến, các lĩnh vực khác cũng phát triển, kéo theo đó là sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của xã hội loài người

Sản xuất của cải vật chất là điều kiện tồn tại của xã hội loài người

Hoạt động sản xuất ngày càng mở rộng theo hướng phát triển cả về số lượng và chất lượng, mẫu mã đa dạng, tính tiện ích cao…không những giúp cho đời sống vật chất được nâng cao mà qua đó còn giúp cho đời sống tinh thần của con người cũng được đáp ứng như sự ra đời, phát triển của các hoạt động mang tính nghệ thuật, văn hóa, thể thao…theo đó cũng ngày càng trở nên phổ biến và thịnh hành hơn

Sản xuất của cải vật chất mở rộng là tiền đề, cơ sở để thúc đẩy cho quá trình mở rộng các hoạt động khác trong xã hội

Như đã phân tích ở trên, đời sống xã hội được gộp thành từ nhiều mặt hoạt động khác nhau như kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị, khoa học công nghệ, thể thao, du lịch, tôn giáo… Các hoạt động này không những thường xuyên có quan hệ

mà còn tạo ra sự tác động qua lại lẫn nhau

Trong bất kì lĩnh vực nào của đời sống xã hội và tiến trình phát triển của con người thì con người luôn đòi hỏi những nhu cầu thiết yếu về quần áo, nhà cửa, thức

ăn, tư liệu sản xuất…đây đều là những yếu tố quan trọng để duy trì sự tồn tại của loài người, đồng thời nó là còn phương tiện vật chất cho các hoạt động thường ngày của họ

Thông qua các hoạt động sản xuất của cải vật chất, bản thân con người

sẽ ngày càng trở nên phát triển và hoàn thiện hơn nữa

Bởi lẽ trong quá trình tồn tại và lao động sản xuất, không những tạo ra được những của cải vật chất mà qua đó còn giúp cho con người có thêm được kinh nghiệm và kiến thức trên tất cả các lĩnh vực, từ đó sẽ tìm ra những giải pháp, phương hướng giúp hoàn thiện thêm các phương tiện sản xuất theo hướng cải tiến, các lĩnh vực khoa học, công nghệ từ đó cũng lần lượt ra đời và phát triển đã giúp ích rất nhiều cho con người trong công cuộc sản xuất ra của cải vật chất như ngày nay

Trang 10

Chương II Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở Việt Nam 2.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là gì?

Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi cơ bản và toàn diện hầu hết các hoạt động sản xuất từ việc sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động phổ thông dựa trên sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí

Còn hiện đại hóa được hiểu là quá trình ứng dụng, trang bị những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội

=> Vì vậy, công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay là quá trình chuyển đổi căn bản

và toàn diện các hoạt động kinh tế và kinh tế- xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động phổ thông cũng như công nghệ, phương tiện

và phương pháp tiên tiến, hiện đại để tạo ra năng suất lao động xã hội lớn

Có thể thấy rằng công nghiệp hóa hiện đại hóa theo tư tưởng mới không còn bị giới hạn về phạm vi trình độ những lực lượng sản xuất và kỹ thuật đơn thuần mà chỉ nhằm chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí giống như các quan niệm trước đây vẫn nghĩ

2.2 Yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.2.1 CNH-HĐH – phấn đấu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp

Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá của nước ta được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tại Đại hội lần thứ VIII là “Xây dựng nước ta trở thành một nước công nông nghiệp có cơ sở vật chất -kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”

Theo tinh thần của Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta phải ra sức phấn đấu, về cơ bản, nước ta trở thành nước công nghiệp

Ở đây, nước công nghiệp cần được hiểu là một nước có nền kinh tế mà trong

đó lao động công nghiệp trở thành phổ biến trong các ngành và các lĩnh vực của nền kinh tế Tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế cả về GDP cả về lực lượng lao động đều vượt trội hơn so với nông nghiệp

Ngày đăng: 06/07/2022, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w