Tuy nhiên trên thực tế, có nhiều chủ thể chưa nắm được được hết các quy định của pháp luật về đình công; dẫn đến việc thực hiện cuộc đình công bất hợp pháp.. Theo quy định tại Điều 198 B
Trang 1LUẬT LAO ĐỘNG
ĐỀ BÀI:
“Phân tích thực trạng pháp luật lao động Việt Nam
về đình công bất hợp pháp và đề xuất một số kiến
nghị”
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I Khái quát chung về đình công, đình công bất hợp pháp
1 Đình công
2 Đình công bất hợp pháp
II Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về đình công bất hợp pháp
1 Một số văn bản pháp luật hiện hành quy định về đình công bất hợp pháp
2 Phân tích nội dung quy định về đình công bất hợp pháp
3 Đánh giá những quy định về đình công bất hợp pháp
III Đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật
1 Hoàn thiện pháp luật về đình công bất hợp pháp
2 Khuyến nghị và tổ chức thực hiện
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TCLĐTT Tranh chấp lao động tập thể
Trang 3MỞ ĐẦU
Hiện nay đình công đang là một vấn để nóng bỏng và là một hiện tượng quan hệ lao động tự nhiên trong nền kinh tế thị trường Nó biểu hiện một sự bế tắc trong quan hệ lao động khi có sự xung đột về quyền và lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động mà sự xung đột này không được giải quyết kịp thời Tuy nhiên trên thực tế, có nhiều chủ thể chưa nắm được được hết các quy định của pháp luật về đình công; dẫn đến việc thực hiện cuộc đình công bất hợp
pháp Vậy để tìm hiểu thêm vấn đề này em xin chọn đề số 03: “Phân tích thực
trạng pháp luật lao động Việt Nam về đình công bất hợp pháp và đề xuất một
số kiến nghị” làm đề tiểu luận cuối kỳ.
NỘI DUNG
I Khái quát chung về đình công, đình công bất hợp pháp
1 Đình công
1.1 Khái niệm đình công
Dưới góc độ xã hội: Đình công là hiện tượng xã hội tồn tại khách quan; Dưới góc độ kinh tế thì đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế của người lao động; Dưới góc độ pháp lý, Đình công là quyền cơ bản của người lao động Như vậy, Đình công là việc người lao động nghỉ việc để gây áp lực cho người sử dụng lao động để đòi quyền lợi
Theo quy định tại Điều 198 Bộ Luật Lao động 2019: "Đình công là sự
ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của người lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo"
Các dấu hiệu của một cuộc đình công: có sự ngừng việc của nhiều người lao động; xuất phát từ sự tự nguyện của người lao động; mang tính tập thể; có tính tổ chức và gắn liền với yêu sách mà người lao động quan tâm
Đình công luôn được diễn ra một cách mạnh mẽ, vang dội và được xã hội biết tới rộng rãi, đình công chính là cách mạnh mẽ một cách trực tiếp nhất của
Trang 4những người lao động, từ đó họ có thể thể hiện những nguyện vọng cá nhân về quyền lợi mà lẽ ra họ phải nhận được khi làm việc tại doanh nghiệp - nơi mà họ đang làm việc và tiến hành đình công Thông thường đình công diễn ra với các nguyên nhân chính đó là đình công để đòi quyền lợi về tiền lương, đình công để đòi quyền lợi về những ngày nghỉ không lương trái với quy định của pháp luật, đình công để buộc doanh nghiệp đảm bảo về điều kiện lao động tuân thủ theo quy định của pháp luật, nhìn chung đình công là để đáp ứng các nhu cầu về quyền lợi hợp pháp của người lao động mà doanh nghiệp chưa thể đáp ứng được
1.2 Phân loại đình công
- Căn cứ vào mục đích đình công
+ Đình công yêu sách: đình công để đạt được các yêu sách đặt ra
+ Đình công hưởng ứng: không nhằm mục đích yêu sách, chỉ để tạo sức mạnh về
số đông gây áp lực lên NSDLĐ
- Căn cứ vào nội dung đình công
+ Đình công kinh tế: đình công giải quyết các lợi ích về mặt kinh tế phát sinh từ quan hệ lao động hoặc lợi ích kinh tế ở các quy định pháp luật (BHYT )
+ Đình công chính trị: đình công liên quan đến các đường lối, chính sách
- Căn cứ vào phạm vi đình công
+ Đình công bộ phận doanh nghiệp
+ Đình công doanh nghiệp: cuộc đình công do mọi NLĐ trong doanh nghiệp tiến hành để giải quyết yêu sách của NLĐ trong doanh nghiệp
+ Đình công ngành,khu vực
+ Tổng đình công: xảy ra trong phạm vi toàn quốc hoặc khu vực
- Căn cứ vào tính hợp pháp của cuộc đình công
+ Đình công bất hợp pháp: Thuộc 1 trong 6 trường hợp tại Điều 204 BLLĐ 2019 + Đình công hợp pháp: pháp luật không quy định nhưng được hiểu không thuộc các trường hợp tại Điều 204 BLLĐ 2019
2 Đình công bất hợp pháp
Trang 5Đình công bất hợp pháp là cuộc đình công không tuân thủ một trong số các quy định về đình công do pháp luật quy định Các trường hợp đình công bất hợp pháp được quy định tại Điều 204 BLLĐ 2019 Mặc dù là cuộc đình công bất hợp pháp nhưng nó giúp NLĐ giải quyết kịp thời những bức xúc, nguyện vọng Tuy nhiên khi đình công diễn ra sẽ làm gián đoạn sản xuất, ảnh hưởng đến năng suất lao động, uy tín của doanh nghiệp Đình công mặc dù là quyền của người lao động nhưng sử dụng nó một cách bất hợp pháp sẽ khiến NLĐ chịu những hậu quả pháp lý như bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thiệt hại…Điều này sẽ ảnh hưởng đến cả hai bên một cách sâu sắc
II Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về đình công bất hợp pháp
1 Một số văn bản pháp luật hiện hành quy định về đình công bất hợp pháp
Các quy định hiện hành về đình công bất hợp pháp được quy định từ Bộ Luật Lao động 2019 (Điều 198-211); Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 từ Điều
403-413 quy định thủ tục xét tính hợp pháp của cuộc đình; Nghị định
145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về điều kiện lao động và quan hệ lao động; …
2 Phân tích nội dung quy định về đình công bất hợp pháp
2.1 Các trường hợp đình công bất hợp pháp (Điều 204 BLLĐ 2019)
1.Không thuộc trường hợp được đình công quy định tại Điều 199 BLLĐ:
Nếu NLĐ đình công nhưng không thuộc 2 trường hợp: Hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải và Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc thành lập nhưng không
ra quyết định giải quyết tranh chấp…thì cuộc đình công đó bất hợp pháp
2 Không do tổ chức đại diện NLĐ có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công.
Quy định này rất quan trọng trong bối cảnh một doanh nghiệp có thể có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, theo đó chỉ tổ chức có quyền thương lượng tập thể theo quy định của bộ luật lao động mới có quyền tổ chức
và lãnh đạo đình công Tuy nhiên trong trường hợp mà ở đó các tổ chức đại diện
Trang 6người lao động phải kết hợp để có quyền thương lượng tập thể thì quy định này chưa đủ rõ để hiểu rằng đây là quyền chung của các tổ chức đại diện người lao động đã kết hợp với nhau
3 Vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành đình công
Cuộc đình công xảy ra nhưng không tuân thủ về trình tự, thủ tục theo quy định thì đó là đình công bất hợp pháp Quy định này nhằm bảo đảm và thúc đẩy cho cuộc đình công tuân thủ các trình tự, thủ tục theo luật định cũng như bảo đảm rằng việc đình công phản ánh được ý chí, nguyện vọng của tập thể NLĐ, cũng như vai trò đại diện của tổ chức đại diện người lao động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức với thành viên của họ
4 Đình công vẫn diễn ra khi tranh chấp lao động tập thể đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của BLLĐ.
Việc đình công chỉ được thực hiện khi tranh chấp lao động tập thể đã được giải quyết bởi Hòa giải viên lao động và Hội trọng tài lao động Khi tranh chấp này chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết thì tập thể lao động không được tổ chức đình công Nếu vi phạm quy định về thời điểm đình công trên, cuộc đình công được coi là bất hợp pháp Điều này thể hiện quan điểm rằng phải coi đình công là thủ tục cuối cùng trong việc giải quyết tranh chấp lao động, khi các thủ tục trước đó đã được các bên sử dụng mà không thể tiến tới việc đạt được một thỏa thuận; nếu đang hoặc chưa được giải quyết thì đình công bị tuyên bất hợp pháp
5 Tiến hành đình công trong trường hợp không được đình công quy định tại Điều 209 của BLLĐ.
Đơn vị sử dụng lao động không được đình công là doanh nghiệp, cơ quan,
tổ chức hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân
mà việc đình công có thể đe dọa đến an ninh, quốc phòng, trật tự công cộng Những đơn vị nêu trên đều là những đơn vị sử dụng lao động có vị trí vai trò quan trọng và nhạy cảm đối với nền an ninh đất nước, an toàn xã hội, nếu đình công xảy ra, rất có thể an ninh chính trị, KT – XH của quốc gia bị ảnh hưởng
Trang 7hoặc xảy ra những hậu quả nghiêm trọng khó có thể khắc phục.
6 Đình công vẫn diễn ra khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 210 của BLLĐ.
Hoãn đình công hay ngừng đình công là sự can thiệp của Nhà nước nhằm chấm dứt cuộc đình công vì xét nếu thấy đình công diễn ra hay tiếp tục xảy ra sẽ
có ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình chính trị, xã hội của đất nước Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công mà NLĐ vẫn tiếp tục tiến hành thi cuộc đình công đó vẫn bị xác định là đình công bất hợp pháp Quy định này là hợp lý
để bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng trong những trường hợp cần thiết
2.2 Thẩm quyền, thủ tục tuyên bố cuộc đình công bất hợp pháp
Thẩm quyền tuyên bố tính bất hợp pháp của cuộc đình công
Theo quy định tại điểm x Khoản 2 Điều 39 và K1Đ405 BLTTDS 2015, Tòa
án nhân dân có thẩm quyền xét tính hợp pháp hay bất hợp pháp của cuộc đình công là Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra đình công Quy định này sẽ giúp việc giải quyết đình công cũng được thuận lợi và chính xác hơn
Thủ tục tuyên bố cuộc đình công bất hợp pháp
Theo Điều 403 BLTTDS 2015, trong quá trình đình công diễn ra; hoặc trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt đình công; người sử dụng lao động
có quyền nộp đơn ra tòa án; để yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công của người lao động là bất hợp pháp Phiên họp xét tính bất hợp pháp của cuộc đình công được quy định tại Điều 407 BLTTDS 2015
Hậu quả pháp lý trong trường hợp đình công bất hợp pháp: Theo Khoản 2
Điều 217 BLLĐ 2019 quy định về xử lý vi phạm, theo đó:Trong trường hợp đình công diễn ra và đã có quyết định của Tòa án về cuộc đình công là bất hợp pháp
mà người lao động không ngừng đình công, không trở lại làm việc, thì tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật về lao động, có thể là bị khiển trách, kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng, cách chức hoặc sa thải.; Trong quá trình tiến hành đình công bất hợp pháp, người lao động có hành vi gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người sử
Trang 8dụng lao động giá trị thiệt hại.
3 Đánh giá những quy định về đình công bất hợp pháp
3.1 Thực tiễn thực hiện quy định về đình công bất hợp pháp trên thực tế
Trên thực tế, không có đình công của NLĐ trong suốt những năm qua là đình công hợp pháp Quy định để cuộc đình công hợp pháp hầu như không được tuân thủ Bởi hầu hết đều xảy ra tự phát, không tuân thủ trình tự tổ chức đình công mà pháp luật quy định (phải thực hiện qua nhiều bước, mỗi bước kéo dài
5-7 ngày) Thông thường, ngay khi có mâu thuẫn, bất đồng với NSDLĐ thì tập thể lao động đã rời bỏ vị trí làm việc, tụ tập với số lượng lớn và đưa ra các yêu sách
Đa phần NLĐ mong muốn sử dụng đình công để gây hậu quả “tức thời” và nhanh chóng
Bảng Số liệu số lượng các vụ đình công từ năm 2015-2019
Số lượng (vụ) 245 286 317 214 123
Xét về đặc điểm của các vụ đình công xảy ra có thể thấy rõ một đặc điểm nổi trội là tính tự phát của đình công rất cao Kết quả thống kê cho thấy phần lớn các cuộc đình công từ 2004 trở lại đây đều là đình công tự phát Nói cách khác, các cuộc đình công này xảy ra không tuân thủ khung khổ pháp lý về tranh chấp lao động tập thể và không có sự tham gia của tổ chức lãnh đạo
3.2 Một số bất cập khi áp dụng những quy định này
Quy định của pháp luật về đình công bất hợp pháp nhằm xác lập khuôn khổ pháp lý để NLĐ thực hiện quyền đình công, để quyền đình công được sử dụng đúng mục đích, không làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của NSDLĐ Chính vì vậy, việc đình công diễn ra bất hợp pháp cũng một phần do sự bất cập đến từ sự quy định của đình công
Thứ nhất, khái niệm đình công
Với khái niệm đình công tại Điều 198 BLLĐ 2019 vẫn chưa bao quát được
Trang 9các cuộc đình công trên thực tế NLĐ đình công không chỉ để giải quyết TCLĐTT mà còn nhằm thoả mãn các yêu sách về kinh tế, văn hoá, xã hội, thậm chí của các yêu sách có liên quan đến chính trị ( Ví dụ: Năm 2015, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 ra đời nhưng chưa có hiệu lực thì 1000 công nhân đình công
để đòi sửa đổi Điều 60) Còn thiên về khái niệm của các cuộc đình công hợp pháp và chưa phù hợp với quy định Pháp luật quốc tế
Thứ hai, Thời điểm xảy ra đình công
Về nguyên tắc khi có căn cứ cho rằng việc đưa ra yêu sách là hợp lý, hoặc
đề nghị NSDLĐ chấp nhận yêu cầu xác lập các tiêu chuẩn, điều kiện lao động mới là cần thiết, thì tập thể lao động có quyền đình công Thực chất quyền đình công đã phát sinh, nhưng BLLĐ lại chỉ cho phép đình công sau khi vụ việc TCLĐTT về lợi ích đã được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền không giải quyết hoặc giải quyết mà NSDLĐ thực hiện với quyết định giải quyết đó.1 Thời điểm NLĐ có quyền đình công vẫn bị coi là muộn, làm mất “cơ hội vàng” khi NLĐ muốn sử dụng quyền đình công Từ khi phát sinh TCLĐTT về lợi ích đến khi được phép đình công, tập thể lao động tối thiểu phải mất 17 ngày làm việc và
6 ngày thường, tương đương 26 ngày (gần 1 tháng) Cùng với nó, thủ tục chuẩn
bị đình công theo quy định hiện nay còn rườm rà, kéo dài đến mức không cần thiết Đây cũng là lý do tại sao trong nhiều năm qua, tất cả các cuộc đình công
đã xảy ra đều bị coi là bất hợp pháp
Thứ ba, NLĐ không được đình công khi có TCLĐTT về quyền.
Theo Khoản 1 Điều 204 và Điều 199 BLLĐ 2019 dù đã bỏ quy định về:
"việc đình công chỉ được tiến hành đối với các TCLĐTT về lợi ích…" nhưng vẫn
ghi nhận tổ chức đại diện NLĐ là bên TCLĐTT về lợi ích mới có quyền tiến hành đình công Chính vì vậy, theo quy định trên bản chất đình công vẫn phải xuất phát từ những TCLĐTT về lợi ích Những cuộc đình công không phát sinh
từ TCLĐTT về lợi ích sẽ bị coi là đình công bất hợp pháp.2 Nhà nước không cho
1 Đình công bất hợp pháp theo quy định pháp luật Việt Nam : luận văn thạc sĩ luật học / Cao Xuân Dũng ;
TS Phạm Công Bảy hướng dẫn Trang 66
2 Giáo trình Luật Lao động Việt Nam Tập 1 / Trường Đại học Luật Hà Nội Trang 419
Trang 10phép NLĐ được đình công khi có TCLĐTT về quyền TCLĐTT về quyền phát sinh từ sự vi phạm pháp luật nên khi xảy ra tranh chấp sẽ do Tòa án giải quyết Trong khi đó, nhìn chung, cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền không phát huy hiệu quả trên thực tế Có nhiều doanh nghiệp không thực hiện các nghĩa vụ của NSDLĐ như không đóng hoặc đóng không đủ bảo hiểm xã hội,
nợ lương… đối với NLĐ Đối với những trường hợp này, nếu các cơ quan quản
lý nhà nước hoặc công đoàn cấp trên không xử lý được, dường như đình công là cách hữu hiệu nhất để NLĐ đòi lại quyền lợi cho mình.3
Thứ tư, quy định về các trường hợp không được đình công chưa thực sự hợp lý, làm hạn chế quyền đình công của người lao động.
Việc không cho phép NLĐ đình công ở đơn vị sử dụng lao động hoạt động thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân mà việc đình công có thể đe dọa đến an ninh, quốc phòng, sức khỏe, trật tự công cộng, trên cơ sở đó Chính phủ quy định danh mục các doanh nghiệp NLĐ không được đình công là chưa minh bạch và hợp lý Bởi lẽ, nếu đình công xảy ra tại các doanh nghiệp hoạt động thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân nhưng không đe dọa đến an ninh, quốc phòng, sức khỏe, trật tự công cộng thì sẽ không có cơ sở thuyết phục để cấm NLĐ đình công
Thứ năm, Các cuộc đình công bất hợp pháp thường để lại những hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội và chính trị đối với người sử dụng lao động Nhà,
xưởng, máy móc thiết bị bị hư hỏng do hành vi đập phá bởi sự quá khích của người lao động; các khoản thu nhập lẽ ra có được nhưng đã bị mất do đình công bất hợp pháp;…Sự bất ổn trong quan hệ lao động (thiếu hụt lao động cho dây chuyền sản xuất; khó khăn trong tuyển dụng mới, sử dụng lao động)
III Đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật
1 Hoàn thiện pháp luật về đình công bất hợp pháp
Thứ nhất, cần sửa đổi khái niệm đình công như sau :"Đình công là sự
ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của NLĐ nhằm gây áp lực buộc
3 https://quanhelaodong.gov.vn/thu-ly-giai-nhung-nguyen-nhan-chinh-dan-den-dinh-cong-khong-dung-trinh- tu-thu-tuc/