1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ án môn học lý THUYẾT tài CHÍNH TIỀN tệ đề tài giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại các NHTM việt nam giai đoạn 2018 – 2020

35 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Môi Giới Chứng Khoán Tại Các NHTM Việt Nam Giai Đoạn 2018 – 2020
Tác giả Phạm Thị Mai Hiền
Người hướng dẫn TS. Dương Thúy Hà
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại đề án
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 648,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định 86/2016/NĐ-CP, Công ty chứng khoán được định nghĩa như sau: “Công ty chứng khoán là doanh nghiệp thành lập và hoạt động

Trang 1

VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH

-*** -

ĐỀ ÁN MÔN HỌC

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

ĐỀ TÀI: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại

các NHTM Việt Nam giai đoạn 2018 – 2020

Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Thúy Hà

Họ và tên: Phạm Thị Mai Hiền

Lớp: NHLT1104_02

Mã sinh viên: 11191871

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG

KHOÁN TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM

1.3 Lý luận về nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán 14

1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động môi giới 14

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán 17 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG

KHOÁN TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018 – 2020

20

2.1 Thực trạng hoạt động môi giới chứng khoán tại các NHTM Việt Nam

giai đoạn 2018 – 2020

21

2.1.1 Thực trạng hoạt động môi giới chứng khoán theo các chỉ tiêu định lượng 21

2.1.2 Thực trạng hoạt động môi giới chứng khoán theo các chỉ tiêu định tính 25 2.2 Đánh giá kết quả hoạt động môi giới chứng khoán tại các NHTM giai

đoạn 2018 – 2020

26

Trang 3

2.2.2 Hạn chế 27

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT

ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM GIAI

ĐOẠN 2018 – 2020

29

3.1.3 Xây dựng các chính sách ưu đãi cho các công ty chứng khoán nói chung

và hoạt động môi giới chứng khoán nói riêng

30

3.1.4 Thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các công ty để nâng cao chất lượng dịch vụ

môi giới

30

3.2 Giải pháp cho các công ty chứng khoán thuộc các NHTM 31

3.2.2 Đầu tư phát triển cơ sở vật chất, hệ thống công nghệ thông tin 32

3.2.4 Nâng cao chất lượng, đa dạng dịch vụ hỗ trợ hoạt động môi giới 32 3.2.5 Tập trung xây dựng chiến lược khách hàng và chiến lược Marketing 33

Trang 4

1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán

Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định 86/2016/NĐ-CP, Công ty chứng khoán được định nghĩa như sau: “Công ty chứng khoán là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo pháp luật chứng khoán để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu

tư chứng khoán và được cung cấp các dịch vụ tài chính theo quy định của pháp luật chứng khoán."

Như vậy, công ty chứng khoán trước hết là một doanh nghiệp, được thành lập tuân theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và pháp luật chứng khoán

1.1.2 Phân loại công ty chứng khoán

1.1.2.1 Theo mô hình tổ chức kinh doanh

Hệ thống ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hầu hết các nước trên thế giới đã có xu hướng gắn kết hai lĩnh vực hoạt động này, xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán dựa trên sự phát triển của ngân hàng Song trong điều kiện cụ thể của mình, pháp luật mỗi nước lại có những quy định khác nhau Hiện nay các công ty chứng khoán tồn tại theo 2 loại mô hình tổ chức kinh doanh Đó là mô hình chuyên doanh (hay mô hình đơn năng) và mô hình đa năng

• Mô hình chuyên doanh

Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác không được phép tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán Hoạt động kinh doanh sẽ

do các công ty chứng khoán là công ty chuyên doanh độc lập đảm nhận

Ưu điểm của mô hình này là hạn chế các rủi ro cho hệ thống ngân hàng do những ảnh hưởng tiêu cực của thị trường chứng khoán Ngoài ra, sự chuyên môn hóa của các công ty chứng khoán độc lập sẽ tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển

Trang 5

Tuy nhiên mô hình này có những nhược điểm như: không tận dụng được nguồn vốn lớn từ các ngân hàng thương mại hay những kinh nghiệm quản lý lâu năm của các ngân hàng trên thị trường tiền tệ

• Mô hình đa năng

Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ Mô hình này được chia thành hai loại:

- Mô hình đa năng hoàn toàn: không có sự tách bạch giữa hoạt động ngân hàng và chứng khoán

Ưu điểm của mô hình này là công ty có thể kết hợp kinh doanh nhiều lĩnh vực, qua

đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và các công ty có khả năng về tài chính để chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán Nhược điểm của mô hình này là làm hạn chế sự phát triển của thị trường chứng khoán do ngân hàng sẽ tập trung vốn ưu tiên hơn cho các hoạt động chính là cấp tín dụng và thanh toán Ngoài ra khi thị trường chứng khoán biến động mạnh, hậu quả có thể tác động tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ do không có sự tách biệt giữa hai loại hình kinh doanh

- Mô hình đa năng một phần: Các ngân hàng muốn hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán phải thành lập công ty con – công ty chứng khoán Công ty này sẽ hoạt động độc lập, tách rời với ngân hàng

Ưu điểm của mô hình này là công ty tận dụng được thế mạnh của ngân hàng về nguồn vốn, kinh nghiệm, tài chính và mạng lưới rộng khắp do kết hợp giữa kinh doanh chứng khoán và kinh doanh các hoạt động khác.Bên cạnh đó có thể hạn chế được các rủi ro nếu có sự biến động từ một trong hai thị trường do hai hoạt động trên được quy định riêng rẽ

1.1.2.2 Theo hình thức tổ chức hoạt động

Hiện nay tại Việt Nam, các công ty chứng khoán hoạt động dưới hai hình thức: Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn

• Công ty cổ phần

Trang 6

Căn cứ theo Luật Doanh nghiệp 2014, công ty cổ phần là một doanh nghiệp độc lập với các chủ sở hữu là các cổ đông Trong đó, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần khác nhau gọi là cổ phần Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa

vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

• Công ty trách nhiệm hữu hạn

Là loại hình công ty mà trong đó các thành viên góp vốn phải chịu trách nhiệm giới hạn trong số vốn mà họ đã góp Công ty TNHH có hai loại hình chính là công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH 2 thành viên trở lên Tuỳ vào lượng vốn góp của các bên sẽ xác định chức Chủ tich hội đồng quản trị

1.1.3 Vai trò của công ty chứng khoán

1.1.3.1 Đối với các tổ chức phát hành

Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng khoán của các tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành Các công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành Và khi thực hiện công việc này, công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông TTCK

1.1.3.2 Đối với thị trường chứng khoán

Các CTCK góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường Giá cả chứng khoán

là do thị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các công ty chứng khoán vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán Các công ty chứng khoán là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá Trên thị trường sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các công ty chứng khoán Ngoài ra các CTCK còn góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính

1.1.3.3 Đối với các nhà đầu tư

Trang 7

Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư Đối với hàng hoá thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán Tuy nhiên, đối với thị trường chứng khoán, sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư Nhưng thông qua các công ty chứng khoán, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả

1.1.3.4 Đối với các cơ quan quản lý thị trường

Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó Các công ty chứng khoán thực hiện được vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động Các thông tin công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư… Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường

1.1.4 Các nghiệp vụ chính của các công ty chứng khoán thuộc các ngân hàng thương mại

1.1.4.1 Nghiệp vụ môi giới

Môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó một công

ty chứng khoán là đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch chứng khoán thông qua

cơ chế giao dịch chứng khoán tại Sở giao dịch hay trên thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó của chính mình

1.1.4.2 Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán

Trang 8

Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua bán các chứng khoán cho chính mình Ở nghiệp vụ này các công ty chứng khoán đóng vai trò

là các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích thu lợi cho chính công

ty và tự gánh chịu mọi rủi ro từ việc đầu tư của chính mình Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có thể được thực hiện trên thị trường giao dịch tập trung hoặc trên thị trường phi tập trung (thị trường OTC),… Trên thị trường giao dịch tập trung, lệnh giao dịch của các công ty chứng khoán được đưa vào hệ thống và thực hiện tương

tự lệnh giao dịch của các khách hàng và được ưu tiên thực hiện sau lệnh của khách hàng Trên thị trường OTC, các hoạt động này có thể được thực hiện trực tiếp giữa công ty với các đối tác hoạt động thông qua một hệ thống mạng thông tin Tại các thị trường vận hành theo cơ chế khớp giá, hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường Trong hoạt động này, công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng nhất định của một số chứng khoán à thực hiện mua bán với các khách hàng nhằm hưởng phí giao dịch và chênh lệch giá

1.1.4.3 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán

Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh phát hành giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành Ở đây CTCK đóng vai trò là trung gian giữa tổ chức phát hành chứng khoán với ủy ban chứng khoán nhà nước và nhà đầu tư Các hình thức bảo lãnh phát hành bao gồm:

- Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: tổ chức bảo lãnh cam kế sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết số chứng khoán hay không

- Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu

- Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: ở hình thức này tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành, họ cam kết sẽ cố gằng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường nhưng nếu không bán được hết thì họ cũng không bị bắt buộc phải mua mà

sẽ trả lại cho tổ chức phát hành

Trang 9

- Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: công ty chứng khoán khi thực hiện bảo lãnh nếu số không phân phối được hết sẽ hủy toàn bộ đợt phát hành

- Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa: theo phương thức này tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định, nếu đợt phát hành chứng khoán bán được tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ

1.1.4.4 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư

Hoạt động tư vấn đầu tư là việc công ty chứng khoán thông qua các hoạt động phân tích các thông tin, phân tích các tình huống có thể xảy ra trên thị trường chứng khoán để đưa ra các lời khuyên cho khách hàng nhằm giúp cho khách hàng tham gia vào các quá trình phân phối, mua bán, niêm yết chứng khoán trên TTCK nhằm mục đích thu phí hoa hồng Cụ thể như việc cung cấp các dịch vụ tư vấn phát hành cho các

tổ chức phát hành, tư vấn đầu tư và cơ cấu danh mục đầu tư cho các khách hàng Thông thường việc phân loại theo đối tượng của tư vấn là phổ biến nhất, bao gồm: tư vấn đầu tư chứng khoán và tư vấn tài chính

- Tư vấn đầu tư chứng khoán: Là hoạt động tư vấn liên quan đến chứng khoán hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích, đưa ra lời khuyên có liên quan đến chứng khoán hoặc thực hiện một số công việc có tính chất dịch vụ cho khách hàng

- Tư vấn đầu tư bao gồm: Tư vấn mua bán chứng khoán, tạo dựng danh mục đầu tư và quản trị điều hành tài sản đầu tư

- Tư vấn tài chính: Là việc CTCK tư vấn cho các doanh nghiệp trong việc xác định giá trị doanh nghiệp, tái cơ cấu tài chính, phát hành chứng khoán, chia tách, sáp nhập hợp nhất doanh nghiệp

1.2 KHÁI QUÁT VỀ NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN

1.2.1 Khái niệm hoạt động môi giới chứng khoán

Căn cứ theo Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14, hoạt động môi giới chứng khoán được định nghĩa là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng

Trang 10

Như vậy “môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó một công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó”

Môi giới trên sàn giao dịch nghĩa là các nhà môi giới là trung gian giữa các nhà đầu tư, trung gian nhập lệnh vào hệ thống giao dịch Dựa trên hệ thống so khớp giá tự động để các giao dịch được diễn ra nhanh và nhiều nhất tạo công bằng đối với các khách hàng khi tham gia vào hệ thống

Môi giới trên thị trường OTC, trên thị truờng OTC các nhà môi giới đóng vai trò tạo ra tính lỏng cho các chứng khoán Hoạt động tạo lập thị trường này được thực hiện bằng cách nhà môi giới chứng khoán nắm giữ một lượng chứng khoán nhất định

để sẵn sàng giao dịch với khách hàng bao gồm cả việc mua và bán các chứng khoán đó

để hưởng chênh lệch giá và phí môi giới Nhờ có các nhà tạo lập thị trường này mà thị trường OTC có thể hoạt động một cách trôi chảy

1.2.2 Phân loại hoạt động môi giới chứng khoán

Tùy theo quy định của mỗi nước và các Sở giao dịch mà môi giới chứng khoán được phân thành các loại khác nhau Tuy nhiên có hai loại chính là môi giới thừa hành (môi giới giao dịch) và môi giới độc lập (môi giới hai đô la)

• Môi giới thừa hành (môi giới giao dịch)

Người thực hiện hoạt động môi giới này là nhân viên của một CTCK thành viên của một sở giao dịch Họ làm việc và hưởng lương của CTCK và được bố trí để thực hiện các lệnh mua bán cho các lệnh mua bán cho các CTCK hay khách hàng của công

ty trên sàn giao dịch Các lệnh mua bán được chuyển đến cho các nhà môi giới thừa hành và có thể là từ văn phòng công ty hay cũng có thể từ các môi giới đại diện

• Môi giới độc lập (môi giới hai đô la)

Hoạt động này do các nhà môi giới làm việc cho chính họ và hưởng hoa hồng (thù lao) theo dịch vụ Họ là thành viên tự bỏ tiền ra thuê chỗ tại sở giao dịch (sàn giao dịch) giống như các CTCK thành viên khác của Sở giao dịch chứng khoán Sở dĩ có điều này là vì tại các sở giao dịch nhộn nhịp, lượng lệnh phải giải quyết cho khách hàng của một CTCK gửi tới nhiều lúc quá tải mà các nhân viên môi giới của công ty

Trang 11

không thể làm xuể, hoặc vì lý do nào đó vắng mặt Lúc đó CTCK sẽ “hợp đồng” với các nhà môi giới độc lập để thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và trả cho người thực hiện hoạt động môi giới này một khoản tiền nhất định Ban đầu, các nhà môi giới độc lập được trả hai đô la cho một lô tròn chứng khoán (100 cổ phiếu) nên các nhà môi giới độc lập được gọi là “môi giới hai đô la”

1.2.3 Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán

1.2.3.1 Đối với các nhà đầu tư

• Tính tiện lợi

Trước tiên, khi sử dụng dịch vụ môi giới chứng khoán, các nhà đầu tư sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí, công sức để thương lượng về vấn đề giao dịch chứng khoán giữa các bên Nhiều nhà đầu tư cho rằng chơi chứng khoán qua môi giới là không cần thiết Tuy nhiên, theo thực tế, giao dịch qua môi giới sẽ giúp tiết kiệm được gần 10 lần chi phí Đặc biệt với những thương vụ lớn, nhà đầu tư sẽ tiết kiệm được nhiều tiền hơn Sự tiện lợi còn thể hiện qua việc tiết kiệm thời gian cho người tham gia vào chứng khoán Bằng việc ký hợp đồng môi giới của công ty chuyên môi giới chứng khoán Cả người mua và người bán dù không biết nhau vẫn giao dịch mua bán hiệu quả Nhờ việc thông qua người đại điện là bên môi giới, và trên thực tế hợp đồng mua bán giữa 2 bên vẫn được xác lập

• Góp phần làm giảm chi phí giao dịch

Đây là một ưu điểm của dịch vụ môi giới chứng khoán vô cùng điển hình Nếu như không sử dụng tới dịch vụ môi giới chứng khoán các nhà đầu tư sẽ mất thời gian

để hẹn gặp, mặc cả thương lượng dai dẳng mà chưa chắc đã đi đến được thống nhất Những cuộc thương thảo triền miên sẽ tiêu tốn rất nhiều thời gian của nhà đầu tư Thời gian là vô giá nên việc tiêu tốn thời gian cũng sẽ dẫn tới nhiều chi phí phát sinh Sự hiện diện của các nhà môi giới - các trung gian tài chính trên thị trường là cầu nối giữa người mua và người bán, giúp họ giảm thiểu chi phí giao dịch Như vậy vai trò của nhà môi giới chứng khoán là tiết kiệm chi phí giao dịch xét theo từng khâu và trên tổng thể thị trường, giúp nâng cao tính thanh khoản cho thị trường

• Cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tài chính giúp khách hàng thực hiện các giao dịch theo yêu cầu vì mục đích của họ

Trang 12

Trong thời đại cách mạng 4.0 hiện nay, mọi công ty đều nâng cao dịch vụ phục

vụ khách hàng Bằng cách cập nhật những chương trình, dự án, dịch vụ Theo đó, các công ty môi giới chứng khoán đưa ra các các dịch vụ có lợi cho khách hàng như sau:

- Tra cứu tài khoản/ lệnh giao dịch qua tin nhắn tự động: Bằng những cú pháp đơn giản trên máy di động Các nhà đầu tư dễ dàng truy vấn thông tin về tài khoản, thực hiện lệnh mua – bán

- Hỗ trợ nhà đầu tư ứng trước tiền bán: Thông thường, sau 2 ngày làm việc, kể

từ khi lệnh bán chứng khoán hoàn tất Tiền thu được từ bán chứng khoán mới được thanh toán cho khách hàng Trong thời gian đó, khách hàng muốn quay vòng vốn, gia tăng tiền lời bằng việc tiếp tục đầu tư Các công ty môi giới chứng khoán sẽ cung cấp dịch vụ ứng trước tiền bán chứng khoán

- Cho vay cầm cố: Để giúp khách hàng sử dụng vốn hiệu quả và sinh lời nhiều hơn trong đầu tư, nhiều công ty còn có dịch cho vay cầm cố chứng khoán đang sở hữu

- Repo cổ phiếu: Repo là hình thức mà nhà đầu tư sẽ được vay tiền Tài sản đảm bảo khoản vay chính là cổ phiếu của mình đang nắm giữ Khoản cho vay này là khoản vay có kì hạn

1.2.3.2 Đối với công ty chứng khoán

Thông qua các lời khuyên của nhà môi giới tới khách hàng dẫn đến các giao dịch, công ty chứng khoán sẽ thu được phí Hoạt động của nhân viên môi giới đem lại nguồn thu nhập lớn cho các công ty chứng khoán Các kết quả nghiên cứu cho thấy, doanh thu từ hoạt động môi giới luôn chiếm tỷ trọng cao so với các hoạt động khác Vậy nên sự phát triển của hoạt động môi giới sẽ góp phần tăng tính cạnh tranh cho công ty, thu hút khách hàng và đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ của công ty

1.2.3.3 Đối với thị trường

• Thực hiện vai trò trung gian huy động vốn, tham gia tạo kênh huy động vốn hiệu quả cho đầu tư và phát triển kinh tế

Với vai trò là tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ tài chính, công ty chứng khoán tạo ra cơ chế huy động vốn bằng cách kết nối người có tiền, nhà đầu tư với những người muốn huy động vốn thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới

Trang 13

chứng khoán Thông qua cơ chế hoạt động của thị trường, công ty chứng khoán, nhà môi giới giúp biến nguồn vốn ngắn hạn thành vốn đầu tư dài hạn để cung cấp một cách tương đối ổn định cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất

• Góp phần phát triển các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trên thị trường

Nhà môi giới chứng khoán khi thực hiện vai trò làm trung gian giữa người mua (nhà đầu tư) và người bán (nhà phát hành) có thể nắm bắt được nhu cầu của khách hàng và phản ánh với người cung cấp sản phẩm và dịch vụ Hoạt động môi giới có thể được coi như là một khâu thăm dò nhu cầu của thị trường về loại hàng hoá đang có mặt trên thị trường, để từ đó đúc kết ra các nhu cầu khách nhau để từ đó cung cấp các

ý tưởng thiết kế sản phẩm, dịch vụ theo thị yếu cảu khách hàng và nhờ đó đa dạng hoá sản phẩm trên thị trường

1.2.4 Quy trình hoạt động môi giới CK

1.2.4.1 Quy trình hoạt động môi giới của Nhân viên môi giới khi gặp gỡ khách hàng Bước 1: Mở tài khoản cho khách hàng

Để thực hiện mua bán chứng khoán thông qua hoạt động môi giới, trước hết khách hàng phải mở tài khoản giao dịch tại công ty dưới sự hướng dẫn của các nhân viên môi giới Dưới đây là quy trình mở tài khoản cho khách hàng:

Nhân viên môi giới gặp khách hàng mở tài khoản

Khách hàng điền giấy yêu cầu mở tài khoản và ký hợp đồng giao dịch, sao chụp giấy tờ liên quan

Nhân viên môi giới cấp số hợp đồng, số tài khoản (không trùng số đã cấp), viết, ký thẻ giao dịch

Tập hợp hồ sơ khách hàng (hợp đồng, giấy yêu cầu mở tài khoản, bản sao CCCD, thẻ giao dịch)

Phó trưởng phòng môi giới kiểm soát và ký Trưởng phòng môi giới kiểm tra, ký duyệt giấy yêu cầu mở tài khoản và hợp đồng

Nhân viên môi giới chuyển thẻ tài khoản, hợp đồng cho khách hàng -> lưu hồ sơ và khai báo trên

Trang 14

Sau khi giúp khách hàng mở tài khoản, nhân viên môi giới hướng dẫn các nhà đầu tư nộp tiền ký quỹ và giải đáp các thắc mắc cùng với các yêu cầu của khách hàng

Bước 2: Nhận lệnh của khách hàng

Khi nhận lệnh của khách hàng, nhân viên môi giới có trách nhiệm kiểm tra số

dư tài khoản tiền và chứng khoán cho khách hàng để xem nhà đầu tư có đặt mua bán vượt quá số tiền hay số chứng khoán mình có hay không Nếu phiếu lệnh hợp lệ, nhân viên môi giới có trách nhiệm nhập lệnh của khách hàng vào hệ thông giao dịch của thị trường Trong trường hợp lệnh của khách hàng không nhập kịp trong đợt giao dịch thì phải thông báo cho khách hàng và trả lại phiếu lệnh cho khách hàng Việc nhận lệnh của khách hàng có thể do khách hàng trực tiếp đến các công ty chứng khoán để đặt lệnh hoặc là thông qua các công cụ như điện thoại, máy fax, hoặc là qua hệ thống thư điện tử tùy thuộc vào khả năng cung cấp dịch vụ của từng công ty chứng khoán

Bước 3: Thực hiện lệnh của khách hàng

Khi phiếu lệnh được kiểm tra hợp lệ và nhập thành công vào hệ thống máy nội

bộ của công ty thì nhân viên môi giới có trách nhiệm thực hiện lệnh của khách hàng vào hệ thống của thị trường Trên thị trường giao dịch tập trung, lệnh giao dịch của khách hàng được chuyển đến Sở giao dịch tập trung Các lệnh được khớp với nhau để hình thành giá cả cạnh tranh tốt nhất trên thị trường tuỳ theo phương thức khớp giá của thị trường

Bước 4: Xác nhận kết quả thực hiện lệnh

Sau khi thực hiện nhập lệnh xong trên cơ sở số lệnh được khớp do Sở giao dịch chứng khoán chuyển tới, công ty chứng khoán có trách nhiệm lập thông báo kết quả giao dịch và gửi tới khách hàng

Bước 5: Thực hiện thanh toán bù trừ giao dịch

Sau khi hoàn tất các thủ tục giao dịch cho khách hàng, các giao dịch đã được thực hiện công ty chứng khoán sẽ bắt đầu việc thanh toán bù trừ giao dịch trong tài khoản của các khách hàng Việc thanh toán bù trừ các giao dịch dựa tên số tài khoản của các công ty chứng khoán tại ngân hàng chỉ định thanh toán Việc phải thanh toán tiền mua bán chứng khoán cộng với một khoản phí giao dịch và hạch toán sẽ được thực hiện trực tiếp trên tài khoản của khách hàng Đối với việc thanh toán bù trừ về

Trang 15

chứng khoán do Trung tâm lưu ký quốc gia thực hiện thông qua hệ thống tài khoản lưu

ký tại Trung tâm

Bước 6: Thanh toán và giao nhận chứng khoán

Bước này được thực hiện bởi hệ thống máy nội bộ của công ty, nó tự đối chiếu

và thực hiện ghi nợ hay ghi có đối với tài khoản chứng khoán và thực hiện ghi có hay ghi nợ đối với tài khoản tiền mặt

1.2.4.2 Quy trình hoạt động môi giới của Nhân viên môi giới khi là đại diện cho khách hàng khi giao dịch

Bước 1: Nhân viên môi giới nhận lệnh từ khách hàng theo các hình thức: nhận lệnh

trực tiếp tại công ty, từ các đại lý hoặc nhận lệnh từ xa qua Internet hoặc qua điện thoại

Bước 2: Nhân viên môi giới ghi số lệnh, giờ nhận lệnh Sau đó nhập lệnh vào hệ thống

Ibroker, đối chiếu thông tin về khách hàng và kiểm tra số dư

Bước 3: Nhân viên môi giới duyệt lệnh theo hình thức uỷ quyền

Bước 4: Trưởng hoặc phó phòng duyệt lệnh vượt mức uỷ quyền cho nhân viên môi

giới

Bước 5: Nhân viên môi giới truyền lệnh đến đại diện giao dịch của công ty tại sàn Bước 6: Đại diện giao dịch nhận lệnh và nhập vào hệ thống của Trung tâm Giao dịch

chứng khoán

Bước 7: Nhân viên môi giới lập xác nhận kết quả khớp lệnh, thông báo kết quả giao

dịch trình Phó trưởng phòng kiểm soát

Bước 8: Trưởng phòng ký duyệt xác nhận kết quả khớp lệnh và thông báo kết quả giao

Trang 16

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng của các công ty chứng khoán nói chung và nghiệp vụ môi giới chứng khoán nói riêng Những người môi giới có kiến thức, có các mối quan hệ thành công, có những lời khuyên tốt sẽ mang lại những khoản tiền khổng lồ cho công ty

Để đạt được hiệu quả và nâng cao chất lượng hoạt động môi giới, các công ty chứng khoán nói chung và các nhà môi giới nói riêng phải luôn thực hiện chiến lược cạnh tranh và phải luôn tự làm mới mình để tồn tại và phát triển Ngoài hiểu biết về chứng khoán và TTCK thì người môi giới vẫn cần thêm nhiều yêu cầu khác như: kỹ năng tìm kiếm khách hàng, truyền đạt và khai thác thông tin, kỹ năng bán hàng, Người môi giới cũng cần có tác phong làm việc nghiêm túc, có tư cách đạo đức, có khả năng chịu áp lực công việc cao và đặc biệt họ phải say mê với công việc của một nhà môi giới

• Mức độ uy tín và tiềm lực tài chính của công ty

Uy tín là điều kiện quyết định sự thành công trong kinh doanh của bất cứ một doanh nghiệp nào, đặc biệt trong lĩnh vực chứng khoán Khi có nhu cầu đầu tư vào chứng khoán, khách hàng mong muốn tìm được người môi giới, đại diện có uy tín để

tư vấn và thay mặt họ lựa chọn, thực hiện các quyết định đầu tư đảm bảo an toàn và hiệu quả nhất

Tiềm lực tài chính là điều kiện tiên quyết khi bất kỳ một công ty nào muốn tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán Do đây là một lĩnh vực có nhiều rủi

ro nên các công ty chứng khoán có vốn hoạt động càng lớn sẽ càng đứng vững trên thị trường Vì các công ty có vốn lớn sẽ có khả năng điều chỉnh hoạt động hay phản ứng môt cách nhanh nhạy hơn trước các biến động phức tạp thất thường của thị trường Hơn nữa một công ty chứng khoán khi hoạt động trên thị trường với tiềm lực tài chính lớn thì có thể tham gia cung cấp nhiều loại dịch vụ tài chính có thể phục vụ cho khách hàng của mình một cách chu đáo, thỏa mãn tối đa trong mức có thể nhu cầu của họ

• Trình độ công nghệ thông tin và cơ sở vật chất

Hệ thống công nghệ thông tin và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại giúp công ty

có thể tiếp nhận và xử lý nhanh và chính xác các lệnh của khách hàng Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động của công ty chứng khoán đặc biệt là trong giai

Trang 17

đoạn 4.0 với sự bùng nổ của công nghệ số Cơ sở vật chất hiện đại là một nhân tố giúp củng cố niềm tin của các nhà đầu tư vào khả năng thực hiện lệnh nhanh chóng Điều này cũng giúp cho nhân viên môi giới có đủ điều kiện để tiếp cận các thông tin mới nhất để thực hiện tư vấn cho khách hàng và cung cấp các dịch vụ tài chính khách phục

vụ yêu cầu của khách hàng

• Sự phát triển của các nghiệp vụ khác

Tại các CTCK thì hoạt động của các phòng ban bộ phận có sự tương tác với nhau, sự phát triển của nghiệp vụ này là động lực, tiền đề cho sự phát triển của các nghiệp vụ khác Để có thể phát triển nghiệp vụ môi giới các CTCK cần phát triển các nghiệp vụ phụ trợ như: Repo chứng khoán, cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay ứng trước tiền bán… Vì khi dịch vụ phụ trợ phát triển sẽ hỗ trợ cho khách hàng rất nhiều trong quá trình đầu tư, khách hàng có thể tăng vòng quay vốn để đầu tư khi có cơ hội đầu tư Do đó, khách hàng thường có xu hướng chọn các CTCK có nghiệp vụ phụ trợ

đa dạng Ngoài ra, các công ty cũng cần phát triển các nghiệp vụ song song với nghiệp

vụ môi giới như nghiệp vụ tư vấn, bảo lãnh phát hành, maketing, phân tích,… vì các

bộ phận khác hoạt động tốt sẽ là điều kiện cho hoạt động môi giới phát triển

1.3.1.2 Các nhân tố khách quan

• Sự phát triển của nền kinh tế vĩ mô và sự ổn định chính trị - xã hội

Nền kinh tế phát triển là yếu tố thúc đẩy TTCK phát triển kéo theo hoạt động môi giới phát triển và ngược lại Môi trường kinh tế chính trị ổn định sẽ tạo công ăn việc làm, giảm tình trạng thất nghiệp, tăng thu nhập, kích thích tiêu dùng và đầu tư trong dân chúng Khi nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng tăng lên, họ bắt đầu quan tâm hơn đến các phương thức đầu tư khác bên cạnh gửi ngân hàng, dự trữ bằng vàng hay ngoại tệ Đây là một nguồn vốn tiềm năng đáng kể cho TTCK Ngoài ra kinh tế chính trị ổn định còn thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào các hoạt động trong nền kinh tế Nguồn vốn đầu tư vào TTCK được tăng lên về chất lượng và

số lượng sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động môi giới chứng khoán

• Sự phát triển của thị trường chứng khoán

Khi thị trường chứng khoán phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự phát triển của các nghiệp vụ trên thị trường trong đó có nghiệp vụ môi giới Sự phát triển của thị trường

Ngày đăng: 06/07/2022, 00:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm