1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự

93 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Pháp Lấy Lời Khai Của Đương Sự Trong Tố Tụng Dân Sự
Tác giả Nguyễn Phục Hưng
Người hướng dẫn Ts. Nguyễn Văn Tiến
Trường học Trường Đại Học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. HỒ CHÍ MINH
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 9,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN PHỤC HƯNG

BIỆN PHÁP LẤY LỜI KHAI CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

BIỆN PHÁP LẤY LỜI KHAI CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Định hướng ứng dụng

Mã số: 60380103

Người hướng dẫn khoa học : Ts Nguyễn Văn Tiến

Học viên : Nguyễn Phục Hưng

Lớp : Cao học Luật, Cần Thơ khóa 2

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Luật học đề tài “Biện pháp lấy lời

khai của đương sự trong tố tụng dân sự” là công trình nghiên cứu khoa học độc

lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ

công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về các thông tin, ví dụ, trích dẫn,

tính chính xác và trung thực của luận văn này

Tác giả

Nguyễn Phục Hưng

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CÁC PHƯƠNG THỨC LẤY LỜI KHAI CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 8

1.1 Lấy lời khai trực tiếp của đương sự 8

1.2 Lấy lời khai của đương sự bằng phương thức trực tuyến 18

1.3 Lấy lời khai của đương sự thông qua hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2 THỦ TỤC LẤY LỜI KHAI ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 28

2.1 Thẩm quyền lấy lời khai của đương sự 28

2.2 Nội dung hoạt động lấy lời khai của đương sự 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 40 KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, biện pháp lấy lời khai của đương sự là hoạt động thu thập chứng cứ, tìm ra sự thật khách quan của vụ việc dân sự

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, biện pháp lấy lời khai của đương sự rất cần thiết quan trọng Biện pháp lấy lời khai được thực hiện đúng, đầy đủ sẽ giúp việc giải quyết vụ án dân sự được khách quan, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, tránh trường hợp bản án bị hủy, sửa

Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp năm

2013 quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bằng việc đương sự cung cấp lời khai hoặc yêu cầu Tòa án tiến hành lấy lời khai

Tuy nhiên, cho đến này, biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự vẫn còn hạn chế, bất cập:

Thứ nhất, pháp luật tố tụng dân sự chưa có quy định thống nhất về cách thức, nội dung, phạm vi về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân

sự, dẫn đến hệ quả là các Tòa án áp dụng không đồng bộ về biện pháp lấy lời khai

Thứ hai, pháp luật tố tụng dân sự chưa quy định về biện pháp lấy lời khai của đương sự bằng phương thức trực tuyến, đặc biệt là việc áp dụng biện pháp này với quy định tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai

Thứ ba, pháp luật tố tụng dân sự chưa quy định chi tiết về biện pháp lấy lời khai của đương sự áp dụng đối với một số đương sự là người yếu thế hoặc có khó khăn trong việc cung cấp về lời khai

Thứ tư, mối quan hệ giữa Tòa án với các cơ quan liên quan, quy chế phối hợp liên ngành về việc áp dụng biện pháp lấy lời khai của đương sự chưa được thực hiện

Trang 7

Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Biện pháp lấy lời khai của

đương sự trong tố tụng dân sự” làm đề tài luận văn của mình

Với mong muốn làm sáng tỏ về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong

tố tụng dân sự, bằng việc làm rõ về thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành, tác giả đề xuất các giải pháp đề hoàn thiện quy định của pháp luật về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua quá trình tìm hiểu cho thấy đến nay, có nhiều công trình ở các cấp độ khác nhau nghiên cứu liên quan về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự, như sau:

- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình Luật

tố tụng dân sự Việt Nam”, Nhà xuất bản Hồng Đức Trong giáo trình này, các

tác giả giới thiệu những kiến thức cơ bản của Luật tố tụng dân sự như: Khái niệm, các nguyên tắc cơ bản; chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, thẩm quyển giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án; chứng cứ và chứng minh; án phí, lệ phí, các chi phí tố tụng; biện pháp khẩn cấp tạm thời, tạm đình chỉ giải quyết vụ

án dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; về thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân và giải quyết việc dân sự trong tố tụng dân sự Qua đó, nhóm tác giả nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành; so sánh, nhận xét về những đặc thù trong những kiến thức chung đó với các thủ tục tố tụng khác và so sánh với pháp luật tố tụng dân sự của một số mô hình tố tụng trên thế giới Trong giáo trình này, các tác giả có trình bày về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự nhưng về lý luận

- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), “Sách tình

huống Luật Tố tụng dân sự (Bình luận bản án)”, Nhà xuất bản Hồng Đức

Trong công trình này, các tác giả đã phân tích quy định của pháp luật về tố tụng dân sự với các bản án, quyết định cụ thể của Tòa án nhân dân Liên quan đến biện pháp lấy lời khai của đương sự, tác giả nhận thấy các bình luận tại các chủ đề: Chủ đề 20, Chủ đề 23 và một số chủ đề khác Với công trình nghiên cứu này, các tác giả đã nghiên cứu những vấn đề cụ thể trong từng bản án, quyết định để so sánh giữa quy định của pháp luật, thực tiễn thực hiện, pháp luật

Trang 8

nước ngoài và đề xuất kiến nghị Tác giả dựa vào các bình luận này để lấy ý tưởng triển khai đề tài của mình;

- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2016), “Bình luận những

điểm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” (Nguyễn Thị Hoài Phương

chủ biên), Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam xuất bản năm 2016 Với công trình nghiên cứu này, các tác giả đã nêu, phân tích những điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, trong đó có liên quan đến biện pháp lấy lời khai của đương sự Đây là nguồn nhận thức để tác giả triển khai đề tài;

- Đặng Thanh Hoa (Chủ biên), Lưu Tiến Dũng (2020), “Lý giải một số vấn

đề của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 từ thực tiễn xét xử”, Nxb Hồng Đức

Trong công trình này, các nội dung nghiên cứu liên quan đến đề tài tác giả ở Vấn

đề 1, Vấn đề 4 Với việc đặt và lý giải vấn đề trong công trình, tác giả được định hướng triển khai đề tài trong luận văn của mình;

- Trương Việt Hồng (2011), “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ

thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự”, Luận văn Thạc sĩ Luật học,

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Trong công trình này, tác giả nghiên cứu những quy định cụ thể về hoạt động thu thập chứng cứ của chủ thể là Tòa án và ở cấp giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm nhưng không phân tích sâu về biện pháp lấy lời khai của đương sự;

- Trần Anh Tuấn (Chủ biên) (2017), “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng

dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015” NXB Tư

pháp Đây là công trình nghiên cứu mang tính chất bình luận những quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cơ sở lý luận cũng như mối liên hệ với thực tiễn, là nguồn nhận thức quan trọng để tác giả định hướng cho việc nghiên cứu

đề tài của mình

- Nguyễn Thị Thu Sương (2021), “Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng

minh trong tố tụng dân sự”, Luận văn Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học

Luật Thành phố Hồ Chí Minh Trong công trình này, tác giả nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở của việc quy định chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, nội dung các quy định của pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân

Trang 9

sự Tác giả đánh giá các hạn chế trong quy định pháp luật cũng như việc áp dụng các quy định về chuẩn bị xét xử vụ án dân sự, kiến nghị hoàn thiện pháp luật

- Nguyễn Đức Mai (2012), “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2004 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2011”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Đề tài nghiên cứu này, tác giả

tập trung bình luận, diễn giải các quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 một cách đầy đủ và toàn diện, trong đó có thủ tục về việc nhận và xử lý đơn khởi kiện Tuy nhiên, tác giả chỉ mới dừng lại ở việc phân tích và bình luận quy định của pháp luật thủ tục về việc thu thập chứng cứ chứ chưa đi sâu vào biện pháp lấy lời khai của đương sự

Nhìn chung, mỗi công trình có một cách nhìn khác nhau về hoạt động thu thập chứng cứ trong đó có biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân

sự Các công trình này là nguồn tư liệu quan trọng, cần thiết để tác giả triển khai

đề tài Trên cơ sở kế thừa nguồn nhận thức nói trên, tác giả tiếp tục nghiên cứu quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự, từ đó chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập để đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về biện

pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:

- Làm rõ thực trạng pháp luật về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong

tố tụng dân sự;

- Chỉ ra hạn chế, vướng mắc khi thực hiện biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự;

Trang 10

- Đánh giá nguyên nhân của thực tiễn thi hành biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự;

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là quy định của pháp luật về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự Các quy định này được điều chỉnh trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cụ thể là Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thực tiễn thi hành, vướng mắc, bất cập khi thực hiện biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích: Phương pháp này được sử dụng trong hai chương của luận văn để phân tích về quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng, kiến nghị về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự

Trang 11

- Phương pháp phân tích luật viết: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong hai chương nhằm đánh giá những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự Trên cơ

sở các quy phạm pháp luật, công trình chỉ ra những bất cập của luật và hạn chế trong thực tiễn thực hiện

- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp được sử dụng chủ yếu trong hai chương nhằm đánh giá tình hình thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự, trên cơ sở

đó đưa ra các nhận xét, bình luận Phương pháp này còn được sử dụng trong các kết luận

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng khi so sánh các quy định của pháp luật về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân

sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với các quy định trước đó để chỉ ra những điểm tiến bộ và hạn chế, bất cập

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ quy định của pháp luật

về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự, những bất cập và hướng hoàn thiện

Luận văn làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, học tập về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự

Kết quả nghiên cứu nâng cao nghiệp vụ chuyên môn của tác giả khi thực hiện nhiệm vụ tại cơ quan, đơn vị trong đó có hoạt động lấy lời khai của đương sự

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 02 chương:

Chương 1 Các phương thức lấy lời khai của đương sự trong tố tụng

dân sự

Chương 2 Thủ tục lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự

Trang 12

Đề tài nghiên cứu dựa vào các vụ, việc dân sự đã và đang xảy ra khi được Tòa án nhân dân tiến hành đưa ra xét xử khi không tiến hành lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự theo quy định Vì vậy, đây là một công trình có thể giải quyết được các vướng mắc, kiến nghị về Biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, học tập về biện pháp lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân

sự tại Tòa án nhân dân, qua đó hoàn thiện, bổ sung các quy định của pháp luật hiện hành

Trang 13

CHƯƠNG 1 CÁC PHƯƠNG THỨC LẤY LỜI KHAI CỦA ĐƯƠNG SỰ

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 Lấy lời khai trực tiếp của đương sự

Theo khoản 1 Điều 98 BLTTDS, Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy

đủ, rõ ràng Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương

sự vào biên bản Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án; trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án

Trước đây, theo Điều 6 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng

12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “Chứng minh và chứng cứ” nhằm đảm bảo thi hành đúng và thống nhất các quy định của BLTTDS trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án, khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung của bản khai chưa đầy đủ, thì Thẩm phán yêu cầu đương sự phải tự viết bản khai hoặc bản khai bổ sung và ký tên của mình Chỉ trong trường hợp đương sự không thể

tự viết được, thì Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản Biên bản ghi lời khai của đương sự phải làm đúng quy định của pháp luật

Việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Toà án phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật, quy định đối với cán bộ, công chức của ngành Tòa án nhân dân và bảo đảm khách quan (ví dụ: lấy lời khai của đương sự đang bị tạm giam phải được thực hiện tại Trại tạm giam theo bố trí của Ban Giám thị Trại tạm giam; lấy lời khai của đương sự bị ốm đau nhưng không đi điều trị tại cơ sở y tế phải được thực hiện tại nơi họ đang điều trị và nếu xét thấy cần thiết thì mời người chứng kiến…)

Qua thực tiễn về biện pháp lấy lời khai của đương sự, tác giả nhận thấy có

một số bất cập như sau:

Trang 14

Thứ nhất, về căn cứ lấy lời khai đương sự:

Theo Điều 6 BLTTDS, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ

và hợp pháp Theo quy định này, việc cung cấp lời khai của đương sự về nội dung vụ việc, các tình tiết mà dựa vào đó đương sự đề xuất yêu cầu hoặc phản đối, phản tố yêu cầu của đương sự khác là quyền, nghĩa vụ của đương sự Theo khoản 5 Điều 70 BLTTDS, đương sự có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo khoản 1 Điều

91 BLTTDS, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp

Theo khoản 1 Điều 96 BLTTDS, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở

để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn

cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ việc dân sự Theo khoản 2 Điều 97 BLTTDS, Tòa án có thể tiến hành biện pháp lấy lời khai của đương sự, người làm chứng để thu thập tài liệu, chứng cứ

Với các quy định nêu trên, việc cung cấp thông tin, tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của minh là có căn cứ và hợp pháp là nghĩa vụ của đương sự Nói cách khác, chứng minh là nghĩa vụ của đương sự, trong đó, có hoạt động cung cấp lời khai

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 98 BLTTDS lại quy định Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Với cách lập pháp này có hai cách hiểu:

Cách hiểu thứ nhất, việc lấy lời khai của đương sự là nghĩa vụ của Tòa án Bởi: sau khi thụ lý, muốn nắm được thông tin thì Thẩm phán phải tiến hành lấy lời khai của đương sự vì trong hồ sơ vụ án không có biên bản lấy lời khai của

Trang 15

đương sự Tương tự, Tòa án cấp trên sẽ hủy bản án nếu Tòa án cấp dưới không lấy lời khai của đương sự

Cách hiểu thứ hai, việc lấy lời khai của đương sự không phải là nghĩa vụ của Tòa án Đương sự muốn được Tòa án bảo vệ quyền lợi thì họ phải cung cấp bản khai về nội dung vụ án, tình tiết các sự việc Khi cần thiết, Tòa án có thể tiến hành lấy lời khai của đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS Theo quy định này, việc lấy lời khai là quyền của Tòa án và không phải là căn cứ

để Tòa án cấp trên hủy bản án của Tòa án cấp dưới

Ví dụ: Bản án 1148/2018/DS-PT ngày 30 tháng 11 năm 2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh1

Trong bản án, HĐXX nhận định: “Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất số 243/QSDĐ/Hưng Long ngày 09 tháng 10 năm 2001 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ bà Trần Thị X trong đó thửa 251 tờ bản đồ số 13 có diện tích 858 m 2 Giấy chứng nhận nêu trên được cấp cho Hộ gia đình bà Trần Thị

X theo Quyết định số 113/QĐ-UB của uy ban nhân dân huyện ngày 19 tháng 4 năm 1995 Tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất của bà Trần Thị X ngày 17 tháng 8 năm 1994 thể hiện tại thời điểm xin cấp Giấy chứng nhận số nhân khẩu trong hộ bà Xê là 03 người Tại công văn cung cấp thông tin ngày

01 tháng 12 năm 2017 của Uỷ ban nhân dân xã L và Công văn số

4187/TNMT-PC của Phòng Tài nguyên và Môi trường - Ủy ban nhân dân huyện C thể hiện nguồn gốc đất là cấp cho hộ bà Trần Thị X Tuy nhiên hồ sơ cấp Giấy chứng nhận không thể hiện cụ thể hộ gia đình bà Trần Thị X bao gồm những nhân khẩu nào Theo quy định tại Mục 1 Chương IV Bộ luật dân sự 1995 về hộ gia đình và theo hướng dẫn tại khoản 4 phần 3 Văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 4 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán TANDTC giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ thì trong trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm cần tiến hành xác minh tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ bà

X có bao nhiêu nhân khẩu để đưa những người đó tham gia tố tụng với tư cách

là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ”

dat-98525, truy cập lúc 6h ngày 10.3.2022

Trang 16

Với nhận định trên, trách nhiệm xác định thành viên của hộ gia đình là của Tòa án chứ không phải của đương sự Thực chất, Tòa án khó mà xác định được thành viên hộ gia đình sử dụng đất trong vụ án này HĐXX phúc thẩm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa thu thập đầy đủ chứng cứ mà cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, cần

hủy bản án sơ thẩm và quyết định: “Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: số

124/2018/DSST ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét

xử lại theo thủ tục sơ thẩm”

Theo tác giả, quy định về nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, lời khai chưa nhất quán, rõ ràng và cụ thể Một mặt, khẳng định nghĩa

vụ chứng minh thuộc về đương sự, mặt khác, trách nhiệm thu thập thông tin vụ việc dân sự thuộc về Tòa án Quy định này buộc Tòa án sau khi thụ lý phải lấy lời khai của đương sự thành nghĩa vụ của cơ quan xét xử Quy định tại khoản 1 Điều 98 BLTTDS còn lập lờ, không phân định rõ nghĩa vụ của đương sự, Tòa án trong việc cung cấp, thu thập thông tin về vụ án dân sự

Dưới góc độ nghiên cứu, việc thu thập chứng cứ của Tòa án trong việc lấy lời khai của đương sự, có hai quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng, Thẩm phán có quyền chủ động sử dụng các biện pháp thu thập chứng cứ quy định tại Điều 98, Điều 99 BLTTDS mà không phải chờ đương sự yêu cầu Quan điểm thứ hai cho rằng, căn cứ vào quy định của BLTTDS về việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, Thẩm phán phải xác định được trường hợp nào cần phải có yêu cầu của đương sự Theo tác giả, Tưởng Duy Lượng2, Nguyễn Đức

Mai “chỉ khi đương sự có yêu cầu, thì Tòa án mới tiến hành một hoặc một số

biện pháp thu thập chứng cứ sau đây:…” 3 và “Tòa án chỉ có thể tự mình tiến

hành một hoặc một số biện pháp chứng cứ sau đây…” 4

Về cơ bản, tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai nhưng không hoàn toàn Tùy từng trường hợp vụ, việc cụ thể, Thẩm phán mới thực hiện hoạt động này

Trang 17

Nhiệm vụ chính của Thẩm phán là áp dụng pháp luật, nên nếu giao cho Thẩm phán thực hiện nhiều hoạt động thu thập chứng cứ, ảnh hưởng đến kết quả xét xử của Tòa án nhân dân

Theo khoản 1 Điều 99 BLTTDS, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của đương sự vừa mang tính chất tùy nghị, vừa mang tính chất bắt buộc và có thể nhận định theo ý chí chủ quan của người áp dụng pháp luật Tính chất của sự cần thiết chưa được làm rõ Do không được hướng dẫn, nên trong một số vụ án, tùy từng quan điểm, các cơ quan tư pháp có nhận định khác nhau về vấn đề này

Ví dụ: Kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Pơ tỉnh Gia Lai5

Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2021/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của

Tòa án nhân dân huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai, quyết định: “Không chấp nhận

đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị Đ và anh Trần Đình L về việc yêu cầu anh Nguyễn Phi H và chị Nguyễn Thị Trúc V trả 8,6 m 2 đất tại thôn Tân Định, xã Tân An, huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai Bác yêu cầu của chị Huỳnh Thị Đ và anh Trần Đình L về việc buộc anh Nguyễn Phi H và chị Nguyễn Thị Trúc V tháo dỡ công trình trên phần diện tích đất lấn chiếm Việc xác định lại ranh giới quyền

sử dụng đất giữa chị Đ, anh L với anh H, chị V Hiện trạng sử dụng đất giữa các bên phần ranh giới đất thực tế không có khoảng trống vì các bên đã xây dựng công trình kiên cố nhưng có sự thay đổi so với trích lục giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, đề nghị các bên liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh hiện trạng sử dụng đất theo đúng thực tế sử dụng đất và đúng quy định của pháp luật”

Bản án này bị VKSND huyện Đak Pơ kháng nghị toàn bộ theo thủ tục phúc thẩm và đề nghị TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại

vụ án Căn cứ để VKSND huyện Đak Pơ kháng nghị: Tòa án cấp sơ thẩm chưa lấy lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về các nội dung còn mâu thuẫn; Chưa lấy lời khai các hộ lân cận, liền kề biết rõ nguồn gốc, thực trạng của thửa đất; Chưa lấy lời khai của những người làm chứng biết rõ nguồn gốc, diện

https://vksnd.gialai.gov.vn/VKSND-huyen-thi-xa-thanh-pho/vien-ksnd-huyen-dak-po-ban-hanh-quyet-dinh-khang-nghi-phuc-tham-yeu-cau-huy-ban-an-dan-su-so-tham-1575.html, truy cập lúc 21h ngày 22.3.2022

Trang 18

tích sử dụng, ranh giới cụ thể giữa hai thửa đất; Chưa xác định nguyên nhân vì sao có diện tích đất dư trên thực tế so với sơ đồ địa chính do phòng Tài nguyên môi trường huyện quản lý, lưu trữ

Với căn cứ kháng nghị nêu trên, có thể thấy, đối với các tranh chấp về nhà, quyền sử dụng đất mà nguồn gốc, thực trạng quyền sử dụng đất đã lâu, không có giấy chứng nhận, sang nhượng bằng giấy tay qua nhiều người, bản đồ xác định

vị trí đất không có, nếu Tòa án lấy lời khai tất cả những người biết về nguồn gốc, diện tích đất thì khó khả thi đối với Tòa án Lịch sử đất đai tại Việt Nam, dưới khía cạnh quản lý và sử dụng đất chưa được công khai, minh bạch, dù Tòa án có xác định đến tận cùng thì vẫn không đầy đủ Nguyên nhân của tình trạng này là

do nguồn gốc tạo lập không có chứng cứ chứng minh, cơ quan quản lý đất đai không có hồ sơ, người làm chứng không còn tại nơi có mảnh đất đang tranh chấp Trong khi đó, BLTTDS quy định khi xét xử Tòa án phải tuân thủ về thời hạn do luật định Do đó, việc xác định Tòa án không lấy lời khai của tất cả những người biết về nguồn gốc đất để có nội dung đầy đủ, khách quan về vụ việc là nằm ngoài khả năng của Tòa án

Thứ hai, về xác định phạm vi, nội dung của việc lấy lời khai đương sự Theo khoản 1 Điều 98 BLTTDS, Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng và chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng Mức độ nào được xác định là bản khai của đương sự chưa đầy đủ, rõ ràng; tình tiết khai chưa đầy đủ,

rõ ràng?

Về phương diện thực tế, Thẩm phán lấy lời khai của đương sự theo ý chí chủ quan của người lấy lời khai, cho rằng như vậy là đủ và cần thiết vì luật không quy định rõ Hơn nữa, có những vụ án dân sự mà lời khai của đương sự ở mỗi thời điểm khác nhau (lấy lời khai trước khi xét xử, lấy lời khai tại tòa sơ thẩm và phúc thẩm) đương sự có lời khai khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, đương

sự cung cấp thông tin không đúng như nguyện vọng của họ, làm sai lệch hướng thu thập thông tin khi lấy lời khai của đương sự Đó là, việc lấy lời khai của của đương sự, bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được toàn diện, chính xác, công minh, đúng pháp luật

Trang 19

Ví dụ: Bản án 349/2021/DS-PT ngày 14/04/2021 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản6

Nguyên đơn là Lê Thị Đức T, tranh chấp với bị đơn là bà Nguyễn Thị T, cư trú tại Quận B, TP Hồ Chí Minh về vay tài sản Bản án sơ thẩm số 117/2020/DS-

ST ngày 20 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Đức T Buộc bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lê Thị Đức T số tiền 3.400.280.000 (ba tỷ bốn trăm triệu hai trăm tám mươi ngàn) đồng

Sau khi xét xử, bị đơn là bà Nguyễn Thị T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm Bản án phúc thẩm số: 349/2021/DS-PT ngày 14 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 117/2020/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh

Một trong các căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm hủy án là do Tòa án cấp sơ thẩm không ghi lời khai, không hướng dẫn đương sự viết bản tự khai hoặc có thể

ủy quyền cho cá nhân khác đại diện tham gia tố tụng tại Tòa án

Trong vụ này việc nhận định Tòa án cấp sơ thẩm không hướng dẫn đương

sự viết bản tự khai hoặc có thể ủy quyền người khác đại diện tham gia tố tụng có phần khiên cưỡng vì vi phạm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 và Điều 6 BLTTDS

Thứ ba, về việc lấy lời khai của con trong vụ án ly hôn khi con từ đủ 7 tuổi tuổi đến dưới 18 tuổi

Theo giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số: 01/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 05 tháng 01 năm 2018, phần II, mục 8 về vụ án ly hôn, vợ, chồng có con từ đủ 07 tuổi trở lên nhưng không biết địa chỉ cư trú của con ở đâu nên Tòa án không lấy lời khai của con, trong khi đó, vợ, chồng có yêu cầu được nuôi con, hướng dẫn: “Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia

đình năm 2014 thì: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ,

-san-209651, truy cập lúc 20h ngày 22.1.2022

Trang 20

quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con"

Theo quy định nêu trên thì nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên chỉ

là một trong những yếu tố Tòa án phải xem xét trong quá trình giải quyết vụ án, việc quyết định giao con cho bên nào trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con Mặt khác, theo quy định tại Điều 214 và Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc không lấy được lời khai của các con không phải là căn cứ để đình chỉ hay tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Do vậy, Tòa án giải quyết theo thủ tục chung và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để xem xét, quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng con

Việc lấy lời khai của các con từ đủ 07 tuổi trở lên là căn cứ để Tòa án giải quyết toàn diện vụ án tranh chấp xin ly hôn, có tranh chấp về việc nuôi con sau khi

ly hôn Theo giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07

tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân tối cao “… để bảo đảm quyền lợi của người

con, Tòa án phải lấy ý kiến của người con, xem xét nguyện vọng của người con từ

đủ 07 tuổi trở lên…” Theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS: “Đối với vụ án tranh chấp

về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên …”

Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng pháp luật về việc lấy lời khai của con từ

đủ 07 tuổi trở lên, tác giả nhận thấy có bất cập là về cách lấy lời khai của con

Ví dụ: Vụ án tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung7

Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 21/2019/HNGĐ-ST ngày 17 tháng

5 năm 2019 của Tòa án nhân dân Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyên Về con chung: chị Nguyên được quyền nuôi con chung là cháu Phú, sinh ngày 12/12/2005 và cháu Hào, sinh ngày 26/10/2016 đến trưởng thành, anh Kháng không phải cấp dưỡng nuôi con

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/xac-dinh-tu-cach-to-tung-cua-con-chung-chua-thanh-nien-tu-du-7-tuoi-tro-len-trong-vu-an-ly-hon, truy cập lúc 19h ngày 22.3.2022

Phụ lục 4

Trang 21

Trong vụ án này, tại dòng thứ 07 và dòng thứ 10, trang 01 của Thông báo

về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 35/2019/TB.TA, ngày 02 tháng 04 năm 2019 thì Tòa án xác định người tham gia tố tụng chỉ có nguyên đơn và bị đơn, không có người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan và không có người có quyền, lợi ích được bảo vệ - con chung

Tại Biên bản hòa giải vào lúc 13 giờ 30 phút, ngày 18 tháng 4 năm 2019 thì có sự xuất hiện của người có quyền, lợi ích được bảo vệ - con chung là cháu Nguyễn Hồng Phú, sinh ngày 12/12/2005 và cháu Nguyễn Gia Hào, sinh ngày 26/10/2016 Tính từ thời điểm thụ lý vụ án ngày 21/01/2019 thì cháu Phú đã trên

12 tuổi, còn cháu Hào trên 02 tuổi Cháu Phú có nguyện vọng sống chung với

mẹ là chị Nguyên sau khi cha mẹ ly hôn, không yêu cầu cha cấp dưỡng

Tại dòng thứ 33 - 35, từ trên xuống trang 01 của Bản án Hôn nhân gia đình

sơ thẩm số: 21/2019/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 5 năm 2019 vẫn khẳng định các cháu Phú và cháu Hào là người có quyền, lợi ích được bảo vệ là con chung

Điều 68 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đương sự trong vụ án dân sự

gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Điều 70 BLTTDS năm 2015 quy định về quyền, nghĩa

vụ của đương sự Với các quy định trên, tại Biên bản hòa giải và tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm thì việc Tòa án xác định cháu Phú và cháu Hào là người

có quyền, lợi ích được bảo vệ là chưa phù hợp và không có có cơ sở pháp lý để cho cháu Phú và cháu Hào là con chung chưa thành niên, tham gia kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại Tòa án Tương tự, việc lấy lời khai của các cháu trên không phải là lấy lời khai của đương sự mà chỉ là một trong các thủ tục Tòa án phải thực hiện khi giải quyết vụ án ly hôn có tranh chấp về việc nuôi con từ đủ 07 tuổi trở lên

Từ thực tiễn trên, tác giả kiến nghị Điều 98 BLTTDS cần được sửa đổi theo hướng như sau:

Đương sự có nghĩa vụ cung cấp bản khai cho Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án dân sự Trường hợp đương sự có khó khăn trong việc cung cấp bản khai thì nhờ người khác làm giúp và đương sự ký tên Trường hợp đương sự là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình cung cấp

Trang 22

bản khai, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ bản khai và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng Người làm chứng phải ký xác nhận vào bản khai Đối với đương sự thuộc diện được trợ giúp pháp lý thì điều chỉnh theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 Thẩm phán chỉ lấy lời khai khi đương sự là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, có yêu cầu và không thể nhờ người khác làm hộ bản khai

Thứ tư, việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án

Việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án quy định tại Điều 98 BLTTDS Qua thực tiễn của đương sự, người làm chứng ngoài trụ sở Tòa án, tác giả nhận thấy có những bất cập như sau:

Thứ nhất, hầu hết việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án được thực hiện tại nơi cư trú (nhà) của đương sự Trước khi lấy lời khai của đương sự, Thẩm phán và Thư ký Tòa án luôn báo trước với Ủy ban nhân dân xã, trưởng khu vực, ban nhân dân ấp, công an viên phụ trách ấp, nhưng họ ít khi có mặt trực tiếp Sau khi Thẩm phán và Thư ký hoàn tất biên bản lấy lời khai thì họ mới ký tên chứng kiến

Thứ hai, việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án do Thư ký Tòa

án thực hiện Với việc lấy lời khai của đương sự như trên là vi phạm pháp luật, trái với quy định tại khoản 3 Điều 48, Điều 98 và Điều 99 BLTTDS Đối với các

vụ án phức tạp, việc Thư ký Tòa án tiến hành lấy lời khai của đương sự ngoài trụ

sở Tòa án, sẽ gặp lúng túng trong việc lấy lời khai và xác định không chính xác

về nội dung cần phải thực hiện khi lấy lời khai Thậm chí, có trường hợp, Thư ký Tòa án bị hành hung8

Ví dụ: Quyết định giám đốc thẩm số 60/2021/DS-GĐT ngày 24 tháng 02 năm 2021 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh9

Quyết định này đã chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số

237 ngày 9/10/2020 của Viện trưởng Viện cấp cao 3, hủy toàn bộ Bản án sơ

html, truy cập lúc 22h ngày 12.2.2022

Trang 23

thẩm và Bản án phúc thẩm; giao hồ sơ vụ án cho TAND huyện L, tỉnh ST để xét

xử lại theo thủ tục sơ thẩm

Trong vụ án này, giấy tay chuyển nhượng đất vườn lập ngày 07 tháng 9 năm 1998 có nội dung: Cụ Tr chuyển nhượng cho con là bà M hai công đất vườn với giá 22 chỉ vàng 24kara, có chữ ký xác nhận của bên mua, bên bán và những người làm chứng là anh chị em trong gia đình gồm ông Đặng Văn V, bà Đặng Thị Ph, ông Đặng Văn Nh Ông Nh xác định do bà M, cụ Tr không biết chữ nên nhờ người ký nhận thay và chữ ký của những người làm chứng là đúng Sau khi lập giấy tay chuyển nhượng, bà M đã nhận đất sử dụng và lập lại hợp đồng chuyển nhượng và cụ Tr lăn tay trong hợp đồng nên có cơ sở xác định cụ Tr đã thực hiện việc chuyển nhượng đất trên cho bà M là có thật Theo kháng nghị của Viện cấp cao 3 được Hội đồng giám đốc thẩm, bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm tuyên vô hiệu toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng trên là đánh giá chứng cứ không đúng, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ng, bà M

Từ thực tiễn trên, tác giả kiến nghị:

Một, để bảo đảm cho hoạt động lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa

án đúng pháp luật, Tòa án các cấp bảo đảm việc thực hiện đầy đủ các quy định tại khoản 3 Điều 48, Điều 98 BLTTDS về việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án

Hai, để bảo đảm cho việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án hiệu quả, trước khi thực hiện việc lấy lời khai, Thẩm phán và Thư ký Tòa án, cần trao đổi và xác định trước về những nội dung cần lấy lời khai, các tình huống có thể phát sinh trong quá trình ghi lời khai để khi ghi lời khai của đương sự, Thư

ký Tòa án không bị động trong việc ghi lời khai Nội dung của việc lấy lời khai cần tập trung vào việc những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng, yêu cầu, phản tố, phản đối của đương sự, căn cứ pháp lý và chứng cứ để giải quyết vụ án, yêu cầu của đương sự

1.2 Lấy lời khai của đương sự bằng phương thức trực tuyến

Theo khoản 2 Điều 173 BLTTDS, việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố

Trang 24

tụng khác phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử Theo khoản 6 Điều 4 Luật Giao dịch diện tử năm 2005, giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử

Theo Điều 19 Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm

2016 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn việc gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử, người khởi kiện, người tham gia tố tụng đã gửi tài liệu, chứng cứ qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án phải nộp bản chính hoặc bản sao hợp pháp tài liệu, chứng cứ đó chậm nhất là tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại Đối với tài liệu, chứng cứ là vật chứng; tài liệu nghe được, nhìn được hoặc những tài liệu, chứng cứ khác mà không thể định dạng dưới dạng thông điệp dữ liệu điện tử thì Tòa án, người khởi kiện, người tham gia tố tụng không được gửi bằng phương thức điện tử mà phải giao nộp bằng phương thức khác theo quy định của pháp luật tố tụng

Theo Điều 1 Nghị quyết số: 33/2021/QH15 ngày 12 tháng 11 năm 2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến, Tòa án nhân dân được tổ chức phiên tòa trực tuyến để xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, dân sự, hành chính

có tình tiết, tính chất đơn giản; tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án rõ ràng

Để triển khai Nghị quyết số: 33/2021/QH15, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định 512A/QĐ-TANDTC ngày 19 tháng 11 năm 2021 triển khai Nghị quyết 33/2021/QH15 về tổ chức phiên tòa trực tuyến

Về phòng xử án, khoản 1 Điều 5 Thông tư 01/2017/TT-TANDTC ngày

28/7/2017 của Tòa án nhân dân tối cao quy định:“Căn cứ vào điều kiện cụ thể

của mỗi Tòa án mà phòng xử án có thể được trang bị thêm thiết bị ghi âm, ghi hình, màn hình ti vi, máy tính, mạng internet, mạng truyền hình trực tuyến và các trang thiết bị khác phục vụ cho công tác xét xử”

Với quy định như trên, có thể khẳng định:

Một, cho đến nay, việc lấy lời khai của đương sự chỉ có thể bằng hình thức quy định tại Điều 98 BLTTDS Việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm chỉ có hình thức là phiên tòa trực tuyến

Trang 25

Hai, việc lấy lời khai của đương sự không tuân theo quy định tại Điều 98 BLTTDS là không đúng luật

Để phòng chống dịch Covid-19, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Chỉ thị

Số: 02/2020/CT-CA ngày 10/03/2020 về phòng, chống dịch Covid - 19 trong hệ

thống Tòa án nhân dân Trong Chỉ thị này, TANDTC yêu cầu tạm dừng việc nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ và tiếp công dân trực tiếp tại trụ sở Tòa án Tòa án thông báo, hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình thông qua các phương thức khác như: Gửi đến Tòa án thông qua dịch vụ bưu chính; gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án

Trường hợp vụ, việc đã hết thời hạn giải quyết (kể cả thời gian gia hạn) và bắt buộc phải mở phiên tòa, phiên họp thì thực hiện theo quy định của pháp luật

tố tụng nhưng phải thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống dịch

Khi bắt buộc phải mở phiên tòa, phiên họp thì chỉ triệu tập những người tham gia tố tụng tham dự phiên tòa, phiên họp Tăng cường xét xử, giải quyết các vụ án, vụ việc bằng phương thức trực tuyến khi có đủ điều kiện Tăng cường làm việc trực tuyến qua các phương tiện điện tử như: Điện thoại, email, zalo, viber và các hình thức khác (facebook, vmeet, zoom)

Theo Chỉ thị này, việc lấy lời khai của đương sự đối với vụ việc đã hết thời hạn giải quyết (kể cả thời gian gia hạn) có thể tiến hành nhưng hạn chế Về thực hiện hoạt động này có những quan điểm khác nhau10

Việc lấy lời khai của đương sự theo Điều 98 BLTTDS là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ để dùng cho việc giải quyết vụ án và là công việc thường xuyên của các Thẩm phán khi giải quyết các vụ án dân sự nói chung Tuy nhiên, lấy lời khai qua mạng là vấn đề mới nảy sinh Về vấn đề này hiện nay đang có những quan điểm khác nhau

Quan điểm thứ nhất, việc lấy lời khai của đương sự qua mạng bằng các hình thức Zalo, facebook, điện thoại, email là việc Thẩm phán dùng phương tiện điện tử cá nhân, giới thiệu chức danh, trình tự và được sự đồng ý của

-hay-khong, truy cập lúc 22h ngày 22.3.2022

Trang 26

đương sự, người làm chứng tiến hành lấy khai Sau khi việc lấy lời khai hoàn

tất, Thẩm phán chuyển biên bản lấy lời khai cho đương sự xem và thống nhất nội dung Thẩm phán đề nghị đương sự ký vào biên bản và chuyển cho Tòa án

để lưu vào hồ sơ Thẩm phán có thể in ra và gặp đương sự để ký xác nhận Theo quan điểm này, cách lấy lời khai như trên là không vi phạm pháp luật TTDS, bởi các lý do:

Một, việc Thẩm phán lấy lời khai qua mạng được sự đồng ý và nhất trí của

đương sự và đương sự, người làm chứng xác nhận nội dung của việc lấy khai

Hai, hình thức và nội dung của biên bản lấy lời khai đương sự phù hợp

với nguồn chứng cứ và xác định chứng cứ theo quy định tại Điều 94 và Điều 95 BLTTDS Theo Điều 94 BLTTDS, lời khai của đương sự là nguồn chứng cứ Theo khoản 5 Điều 95 BLTTDS, lời khai của đương sự được coi

là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh hoặc khai bằng lời tại phiên tòa

Ba, việc việc lấy lời khai của đương sự qua mạng bằng các hình thức như trên tương đồng với quy định tại Điều 98 BLTTDS Điểm khác là đương sự không phải đến trụ sở Tòa án để cung cấp lời khai

Quan điểm thứ hai, việc lấy lời khai của đương sự qua mạng bằng các hình thức Zalo, facebook, điện thoại, email là hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật TTDS về lấy lời khai Quan điểm này dựa vào các lý do:

Một, về địa điểm và sự xác nhận là không đúng với quy định tại Điều 98 BLTTDS Theo quy định này, Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án; trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa

án Nếu Thẩm phán lấy lời khai ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản

Hai, việc việc lấy lời khai của đương sự qua mạng không bảo đảm sự trực tiếp khi lấy lời khai, thông qua trung gian và bằng phương tiện điện tử của Thẩm phán Vì vậy, việc lấy lời khai như vậy là vi phạm nghiêm trọng pháp luật TTDS

Trang 27

Quan điểm thứ ba, ủng hộ quan điểm thứ nhất nhưng việc lấy lời khai của đương sự qua mạng phải thực hiện bằng video11 Nghĩa là giữa Thẩm phán và

đương sự phải thực hiện việc giao tiếp, tương tác trực tiếp như lấy lời khai

trực tiếp tại trụ sở Tòa án Việc lấy lời khai theo phương thức này được xem

là lấy lời khai ngoài trụ sở Tòa án Để bảo đảm cho quy định tại khoản 2 Điều

98 BLTTDS là “phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản” thì khi lấy lời khai những người này phải cùng tham gia vào cuộc gọi video lấy lời khai Sau khi hoàn tất biên bản, Thẩm phán chuyển cho những người này

ký xác nhận

Tác giả ủng hộ quan điểm thứ ba Việc lấy lời khai của đương sự qua mạng phải thực hiện bằng video đảm bảo sự tương tác trực tiếp nhưng còn phải kèm theo điều kiện nữa là ghi lại việc lấy lời khai nêu trên Điều này có những bất cập sau:

Một, Thẩm phán, Thư ký Tòa án khi lấy lời khai phải có trang thiết bị cần thiết để ghi âm, ghi hình, phần mềm, internet tốc độ cao và thiết bị lưu trữ

Hai, việc nhận dạng Thẩm phán, Thư ký Tòa án của đương sự rất khó

khăn và khó xác thực vì thông qua phương tiện điện tử

Ba, chưa có sự thống nhất về hình ảnh, video và việc lưu trữ, đối chiếu, xác nhận

Bốn, nếu đương sự không ký xác nhận thì giải quyết như thế nào về kết

quả lấy lời khai của đương sự, người làm chứng qua mạng

Từ bất cập trên, tác giả kiến nghị:

Một, để việc lấy lời khai của đương sự qua mạng được khách quan, phù

hợp với Điều 98 BLTTDS, Thẩm phán chỉ lấy lời khai qua mạng internet nếu

đương sự không thể tự viết được, không thể đi đến Tòa án với các lý do khách quan (sự kiện bất khả kháng, ốm đau bệnh tật, hạn chế về thể chất)

Hai, khi Thẩm phán lấy lời khai của đương sự qua mạng phải thực hiện

bằng hình thức video, có người làm chứng, đại diện của Ủy ban nhân dân cấp xã

Trang 28

hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản tham gia Sau khi hoàn tất biên bản, việc xác nhận thực hiện theo Điều 98 BLTTDS Việc lấy lời khai theo hình thức này phải được lưu trữ, bảo quản cẩn thận

1.3 Lấy lời khai của đương sự thông qua hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ

Khoản 1 Điều 105 BLTTDS quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc

dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự”

Khoản 4 Điều 105 BLTTDS quy định: “Trường hợp việc thu thập chứng

cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này”

Theo Điều 10 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 quy định: “Phạm vi tương

trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài bao gồm: 1 Tống đạt giấy tờ,

hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự; 2 Triệu tập người làm chứng, người giám định; 3 Thu thập, cung cấp chứng cứ; 4 Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự”

Khoản 1 Điều 6 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 quy định: “Uỷ thác tư

pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” Theo quy định này, ủy thác tư pháp là

hoạt động mà chủ thể có thẩm quyền của quốc gia này yêu cầu chủ thể có thẩm quyền của quốc gia khác, thực hiện một hoặc một số hoạt động tư pháp, dựa vào các thỏa thuận trong các điều ước quốc tế mà giữa các nước đã ký kết hoặc là thành viên

Ủy thác tư pháp trong tố tụng dân sự gồm hai loại: Ủy thác giữa các Tòa

án Việt Nam với nhau và giữa Tòa án Việt Nam với Tòa án nước ngoài Theo

Trang 29

luật tố tụng dân sự Việt Nam, thẩm quyền của Tòa án được xây dựng theo đơn vị hành chính - lãnh thổ nên quyền hạn của Tòa án được xác định theo địa hạt quản

lý Các hoạt động tố tụng nằm ngoài địa hạt của mình, Tòa án phải thực hiện hoạt động ủy thác12

Trong tố tụng dân sự, ủy thác tư pháp là hoạt động tố tụng có tính thường xuyên, phổ biến của Tòa án nhân dân đối với việc giải quyết các vụ việc dân sự

có yếu tố nước ngoài Việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài được áp dụng khi việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài

Qua thực tiễn lấy lời khai thông qua hoạt động ủy thác tư pháp, tác giả

nhận thấy có một số bất cập như sau:

Thứ nhất, thời hạn nhận kết quả của ủy thác tư pháp về lấy lời khai của

đương sự, người làm chứng ảnh hưởng đến thời hạn chuẩn bị xét xử và việc áp dụng các biện pháp tố tụng

Theo Điều 203 BLTTDS, thông thường thời hạn chuẩn bị xét xử là 04

tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều

32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án Trong khi

đó, kết quả của ủy thác tư pháp để lấy lời khai của đương sự, người làm chứng,

có những vụ án dài hơn thời hạn chuẩn bị xét xử

Ví dụ: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản13

Vào ngày 30/6/2017 anh Đệ cho bà Nhu vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 5%/01 tháng Quá trình vay bà Nhu đã trả được 05 tháng tiền lãi, đến tháng 01 năm 2018 thì bà Nhu không trả nữa nên anh Đệ yêu cầu Tòa án buộc bà Nhu có trách nhiệm trả số tiền vốn 100.000.000 đồng và tiền lãi

Tòa án không tiến hành hòa giải được, do bà Nhu đang bị tạm giam về tội phạm khác, nên Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ đã ban hành Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số: 47/2020/QĐ-UTTA ngày 22 tháng 6 năm 2020 về việc yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành lấy lời khai của đương sự cụ thể là bà Nhu Tại quyết định ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều

Trang 30

thực hiện công việc được ủy thác trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác Và yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều gửi kết quả thực hiện được hoặc không thực hiện được công việc ủy thác bằng văn bản cho Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ biết

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 98/2020/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ, xét xử vắng mặt bà Nhu, quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đệ, buộc bà Nhu trả số tiền đã vay 100.000.000 đồng và tiền lãi cho anh Đệ

Trong vụ án này, Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ ban hành ngày 22 tháng 6 năm 2020, căn cứ vào phiếu báo phát thì Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nhận quyết định ủy thác và hồ sơ liên quan là ngày 23 tháng 6 năm 2020, tức là một ngày sau đó Tuy nhiên, đến ngày

17 tháng 8 năm 2020 Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều mới thực hiện công việc

ủy thác lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án Tức là 01 tháng 26 ngày sau thì Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều mới thực hiện xong kết quả ủy thác, quá thời hạn 01 tháng mà Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ đã yêu cầu

Từ vụ án này, việc áp dụng có bất cập sau:

Một, khi Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều quên hoặc thực hiện công việc ủy thác quá thời hạn 06 tháng thì Tòa án ủy thác sẽ tiến hành giải quyết

vụ án theo hướng tạm đình chỉ chờ kết quả ủy thác hay gia hạn cho Tòa án nhận ủy thác

Hai, do lượng án mà Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý quá nhiều so với các quận, huyện khác (Tòa án huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ, huyện Thới Lai, quận Thốt Nốt, quận Cái Răng, huyện Phong Điền, quận Bình Thủy và Tòa

án thành phố Cần Thơ), nên không có thời gian thực hiện đúng việc ủy thác, xin gia hạn thêm, Tòa án ủy thác nếu chấp nhận thì khi tiến hành đưa vụ án ra xét xử

sẽ quá thời hạn chuẩn bị xét xử và Viện kiểm sát kiến nghị khắc phục thời hạn chuẩn bị xét xử, sẽ giải quyết như thế nào?

Ba, Tòa án nhận ủy thác thông báo cho Tòa án ủy thác cung cấp thêm tài

liệu, chứng cứ liên quan đến việc ủy thác thu thập chứng cứ lấy lời khai của đương sự nhưng Tòa án ủy thác không cung cấp theo thời gian yêu cầu, Tòa án

Trang 31

nhận ủy thác có quyền trả toàn bộ hồ sơ, thông tin liên quan đến việc nhận ủy thác cho Tòa án ủy thác không?

Bốn, kết quả thực hiện việc ủy thác tốn nhiều thời gian, công sức nhưng

không được tính trong việc xét thi đua, khen thưởng cuối năm của Thẩm phán và Thư ký, nên Tòa án nhận ủy thác không nhiệt tình thực hiện việc nhận ủy thác

Từ bất cập trên, tác giả kiến nghị như sau:

Một, Điều 105 BLTTDS bổ sung như sau: Trường hợp thực hiện việc ủy

thác quá 01 tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác mà Tòa án nhận ủy

thác không thực hiện được việc ủy thác vì có sự kiện bất khả kháng, thì việc ủy

thác được gia hạn Thời gian gia hạn là 01 tháng, kể từ ngày gia hạn

Hai, khi Tòa án nhận ủy thác không kịp thực hiện ủy thác về việc lấy lời

khai vì có sự kiện bất khả kháng, thì phải thông báo cho Tòa án ủy thác biết, để

Tòa án ủy thác ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Ba, Tòa án nhân dân tối cao phải tính số lần mà Thẩm phán và Thư ký thực hiện việc nhận ủy thác bằng vụ, việc hoặc được xét thi đua, khen thưởng cuối năm như việc giải quyết các vụ, việc dân sự khác

Có như vậy, việc lấy lời khai thông qua hoạt động ủy thác thu thập chứng

cứ sẽ hiệu quả và động viên Tòa án nhận ủy thác nhiệt tình trong việc thực hiện việc nhận ủy thác thu thập chứng cứ

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua việc chỉ ra các bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thực tiễn áp dụng pháp luật; về các phương thức lời khai trong tố tụng dân sự, tác giả rút ra một số kết luận như sau:

Một, việc lấy lời khai trực tiếp của đương sự, tuy pháp luật điều chỉnh cụ

thể hơn so với trước đây nhưng vẫn còn bất cập và chưa cụ thể

Hai, việc lấy lời khai của đương sự bằng phương thức trực tuyến vẫn còn vướng mắc về quy định và điều kiện thực hiện

Ba, việc lấy lời khai của đương sự thông qua hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ, tuy đã có điều chỉnh hoàn thiện hơn so với quy định trước đây nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong việc gia hạn ủy thác thu thập chứng cứ, các thủ tục

tố tụng áp dụng khi ủy thác thu thập chứng cứ

Bốn, từ bất cập trên, trong chương hai, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về các phương thức lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỦ TỤC LẤY LỜI KHAI ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 2.1 Thẩm quyền lấy lời khai của đương sự

Theo Điều 98 BLTTDS, Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án; trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa

án Theo Điều 99 BLTTDS, theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án

Theo Điều 47 BLTTDS, Chánh án Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn quyết định phân công Thẩm phán thụ lý vụ việc dân sự, Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sự, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ việc dân sự bảo đảm đúng nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 16 của BLTTDS

Theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS, đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án

Với quy định trên, Thẩm phán được Chánh án hoặc Phó Chánh án phân công giải quyết vụ việc dân sự, tự chịu trách nhiệm về việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng Tùy vụ, việc dân sự cụ thể, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai đương sự hoặc hướng dẫn đương sự viết bản tự khai, Thư ký Tòa án giúp Thẩm phán ghi nhận nội dung lấy lời khai vào biên bản Nếu Thẩm phán đi công tác, tập huấn hoặc hội họp, Thư ký Tòa án giúp Thẩm phán lấy lời khai của đương sự nếu đương sự đồng ý và Thẩm phán ủy quyền

Trường hợp đương sự có thể viết được bản tự khai thì Thẩm phán để đương sự viết nhưng những nội dung để đương sự khai và chịu trách nhiệm về

Trang 34

bản khai của mình Trường hợp đương sự không thể viết tự khai hoặc che giấu việc hiểu biết của mình liên quan đến vụ án, Thẩm phán sẽ tiến hành lấy lời khai

Qua thực tiễn về thẩm quyền lấy lời khai của đương sự, tác giả nhận thấy một số bất cập như sau:

Thứ nhất, hiện nay hầu hết các vụ, việc dân sự, người tiến hành lấy lời khai là Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án Lý do của tình trạng trên là do lượng án hàng năm thụ lý theo chiều hướng tăng lên, năm sau nhiều hơn năm trước, nên Thẩm phán, bên cạnh việc tham gia xét xử nhiều hơn, các công tác khác cũng đòi hỏi Thẩm phán phải tham dự (hội họp, học tập), nên việc tham gia lấy lời khai ít đi Thông thường, Thư ký Tòa án lấy lời khai của đương sự, sau đó Thẩm phán ký vào biên bản

Ví dụ: Hội đồng Thẩm phán giữ nguyên quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự14

“Tại Thông báo số 89/TB-VKS-DS ngày 04 tháng 01 năm 2019, Thông báo số 543/TB-TA ngày 04/6/2019, Thông báo số 81/TB-TA ngày 26 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và TAND tối cao đều trả lời cho ông Nguyễn Quốc Hoàng biết là không có căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 14/2017/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2017 của TAND huyện Ninh Phước

Tại Văn bản số 541/VKSTC-C1(P 5) ngày 26 tháng 5 năm 2020, Cơ quan điều tra VKSND tối cao kiến nghị VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xem xét kháng nghị đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận trên đây với lý do: Thư ký Tòa án lập các Biên bản họp kiểm tra việc giao nộp chứng

cứ, Biên bản hòa giải, Biên bản hòa giải thành cùng ngày 19 tháng 6 năm 2017 không có mặt các đương sự và Thẩm phán, cho đương sự ký khống vào các biên bản này Tự ý ghi thêm một đoạn vào biên bản lấy lời khai của ông Hoàng ngày 19 tháng 6 năm 2017; không sao gửi Biên bản hòa giải thành và Quyết định công nhận sự thỏa thuận cho các đương sự Thời gian này Thẩm phán giải

-cong-nhan-su-thoa-thuan-cua-cac-duong-su-do-tham-phan-han-van-nhuan-giai-quyet6079.html, truy cập lúc 21h ngày 2.4.2022

Trang 35

quyết vụ án đang ở Hà Nội để thi Thẩm phán trung cấp, không có mặt tại thời điểm họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng Thư ký Bình vẫn tiến hành lập Biên bản về việc kiểm tra giao nộp chứng cứ, Biên bản hòa giải, Biên bản hòa giải thành ngày 19 tháng 6 năm 2017 với nội dung Thẩm phán Hứa Văn Nhuận là chủ trì cuộc họp là không đúng quy định tại Điều 209, 210 BLTTDS năm 2015 Khi về, Thẩm phán Hán Văn Nhuận ký hoàn tất thủ tục để ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Hành vi của Thẩm phán Hứa Văn Nhuận và Thư ký Quảng Thị Thái Bình có dấu hiệu của tội “Ra quyết định trái pháp luật” Hậu quả thi hành án đã bán đấu giá căn nhà của ông Hoàng, bà Oanh hơn 1,6 tỷ đồng”

Trong vụ án này, Thẩm phán không tiến hành chủ trì việc lấy lời khai của đương sự do hoàn cảnh khách quan và ký biên bản hoàn tất việc lấy lời khai của đương sự Theo quy định tại Điều 98 BLTTDS là không đúng nhưng phù hợp với thực tế giải quyết các vụ án dân sự tại TAND

Thứ hai, rất ít Thẩm phán ủy quyền bằng văn bản cho Thư ký Tòa án lấy lời khai của đương sự Nhiều trường hợp Thẩm phán chỉ nói miệng hoặc Thư ký Tòa án ngầm hiểu đó là sự ủy quyền

Thứ ba, một số trường hợp, Thẩm phán lấy lời khai xong, đương sự có yêu cầu xin sao chụp biên bản lấy lời khai, nhưng Thẩm phán có công tác đột xuất, nên không thể giải quyết yêu cầu của đương sự Do Thẩm phán chưa ký tên, TAND chưa đóng dấu, nên không thể cấp cho đương sự theo yêu cầu ngay và liền được

Từ những bất cập nêu trên, tác giả kiến nghị, sửa đổi Điều 98, Điều 99 BLTTDS theo hướng như sau:

Thư ký Tòa án được lấy lời khai của đương sự trong một số vụ án nhất định Những vụ án mà Thư ký Tòa án có thẩm quyền lấy lời khai, gồm: Những

vụ án có tính phổ biến (hợp đồng vay tài sản có giá trị nhỏ, ly hôn không có tranh chấp về tài sản, giải quyết nuôi con), chứng cứ rõ ràng, tình tiết đơn giản

và có hướng xử lý cụ thể

Lý do của đề xuất:

- Hoạt động lấy lời khai của đương sự trong tố tụng dân sự là một trong các hoạt động thu thập thông tin nhưng chưa chắc kết quả của việc lấy lời khai

Trang 36

của đương sự là chứng cứ để giải quyết vụ án Nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự Tại phiên tòa, đương sự có quyền tranh luận, người làm chứng có thể xác nhận lại thông tin đã cung cấp hoặc làm sáng tỏ hơn thông tin mà họ biết

- Theo khoản 1 Điều 92 Luật Tổ chức Tòa án ngày 24/ tháng 11 năm

2014, Thư ký Tòa án là người có trình độ cử nhân luật trở lên, được Tòa án tuyển dụng, đào tạo nghiệp vụ Thư ký và bổ nhiệm vào ngạch Thư ký Tòa án Thư ký Tòa án là chức danh tư pháp nên đối với một số vụ, việc dân sự, Thư ký Toà án có thể nắm được và thực hiện tốt việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng

- Người ký xác nhận trong các biên bản lấy lời khai là Thẩm phán, với trách nhiệm của mình, Thẩm phán nắm được nội dung, tình tiết, diễn biến của vụ

án nên Thẩm phán xác định được vụ án nào mình phải trực tiếp lấy lời khai của đương sự và vụ án nào giao cho Thư ký Tòa án tiến hành lấy lời khai

2.2 Nội dung hoạt động lấy lời khai của đương sự

Theo Điều 98 BLTTDS, trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án; trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án

Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ Đương sự có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án; nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai Trường hợp biên bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản

Việc lấy lời khai của đương sự là người chưa đủ sáu tuổi, từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì phải có

Trang 37

người đại diện hợp pháp của họ thực hiện phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện hợp pháp của đương sự đó Việc lấy lời khai của đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải có mặt của người đại diện hợp pháp theo quyết định của Tòa án tham gia

Đối với đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi

đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó Trong trường hợp này, Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng Đối với những việc khác, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự tại Tòa án

do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện

Theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con

Theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS, đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên, trường hợp cần thiết có thể mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em chứng kiến, tham gia ý kiến Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên và các thủ tục tố tụng khác đối với người chưa thành niên phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa thành niên, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, giữ bí mật cá nhân của người chưa thành niên

Với các quy định trên về thủ tục lấy lời khai của đương sự, tác giả nhận thấy có những bất cập như sau:

Thứ nhất, về cách thức, số lần lấy lời khai đương sự:

Theo quy định tại Điều 98 BLTTDS, Thẩm phán và Thư ký phải lập biên bản lấy lời khai của đương sự Sau khi kết thúc biên bản lấy lời khai, đương sự

Trang 38

có quyền đọc, nghe đọc, xem lại nội dung mà mình đã trình bày, đồng ý với nội dung đã khai ký tên, hoặc lăn tay điểm chỉ Nếu đương sự nhận thấy biên bản lấy lời khai chưa đúng, không chính xác hoặc thiếu nội dung, họ có quyền yêu cầu Thẩm phán và Thư ký Tòa án sửa đổi, bổ sung nội dung trong biên bản lấy lời khai, ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản lấy lời khai sửa đổi, bổ sung Biên bản lấy lời khai phải được Thẩm phán ký tên, Thư ký Tòa án ghi biên bản ký tên, đóng dấu của Tòa án Nếu biên bản lấy lời khai được lập thành nhiều trang thì đương sự phải ký từng trang giấy (mỗi dấu đóng tối đa 05 tờ văn bản, được quy định tại điểm đ Điều 33 của Nghị định 30/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ quy định về công tác văn thư) Tuy pháp luật quy định như trên, nhưng việc lấy lời khai của đương sự còn tồn tại một số hạn chế như:

Một, đương sự có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, biết đọc, biết viết, có trình độ học vấn 12/12 lại khai không đúng yêu cầu của câu hỏi, không theo hướng mà Thẩm phán yêu cầu nên phải viết bản khai nhiều lần, thậm chí vẫn không đúng

Hai, đương sự biết đọc, biết viết nhưng ngại chữ viết xấu, viết chậm, sợ không đúng nội dung vụ án nên nhờ Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của đương sự

Ba, hiện nay pháp luật TTDS không quy định số lần lấy lời khai nên Thẩm phán có thể lấy lời khai nhiều lần Tuy nhiên, nội dung của các lần khai của đương sự lại có sự không thống nhất Có trường hợp, lời khai tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai cung cấp trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử

Bốn, Thẩm phán không tiến hành lấy lời khai đương sự

Ví dụ: Thông báo rút kinh nghiệm những vấn đề rút ra từ việc giải quyết

vụ án kinh doanh thương mại15

Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2016/KDTM-ST ngày 30 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh HN quyết định: 1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A: Buộc Công ty cổ phần B thanh toán cho Công ty TNHH A 7.409.000.000đ theo hợp đồng 2 Không chấp nhận các yêu cầu khác của bị đơn

Trang 39

Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 522/2018/KDTM-PT ngày 07/11/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội căn cứ Điều 308; Điều 310

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quyết định: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn

là Công ty TNHH B, hủy toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm, giao

hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân tỉnh HN để giải quyết lại theo quy định của pháp luật

Trong vụ án này có những thiếu sót:

- Căn cứ Điều lệ của Công ty D tại Hàn Quốc thì ông Lee là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH B nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Lee vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án và không ghi lời khai của ông Lee để làm rõ ông Lee có được Hội đồng quản trị Công ty TNHH B chấp thuận cho kí hợp đồng lắp đặt phòng sạch với Công ty TNHH A hay không Vi phạm này là nghiêm trọng và ảnh hưởng đến việc xác định bản chất khách quan của vụ án

- Có việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ tố tụng giữa Công ty TNHH B

và Công ty TNHH C song Tòa án không lấy lời khai, không mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bị đơn là Công ty TNHH C

là vi phạm thủ tục tố tụng

Ví dụ: Cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, hủy án sơ thẩm để xét xử lại16

Cụ Trịnh Văn Kiểm và cụ Nguyễn Thị Hiến (Nguyễn Thị Nhỡ) có 7

người con là: Trịnh Thị Hiện, Trịnh Thị Hiền, Trịnh Văn Đức, Trịnh Thị Bình, Trịnh Văn Tân, Trịnh Văn Soát, Trịnh Thị Bưởi Khi còn sống cụ Kiểm và cụ Hiến có thửa đất số 124, 169 tờ bản đồ số 06 diện tích 808 m2 (số đo hiện trạng

là 797,2 m2 ) tại xã Thanh Thủy, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đã được UBND tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/09/1993 Thửa đất hiện nay gia đình ông Trịnh Văn Tân đang sử dụng, ông Tân cho con là anh Trịnh Ngọc Tùng và Trịnh Quyết Tiến xây nhà ở trên đất Ông Đức có yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại là 797,2 m2 đất và đề nghị được hưởng bằng hiện vật Ông Tân không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

http://vienkiemsat.haiduong.gov.vn/ArticleDetail/5047/cap-phuc-tham-chap-nhan-khang-nghi-huy-an-so-tham-de-xet-xu-lai.aspx, truy cập lúc 22h ngày 25.1.2022

Trang 40

Ngày 14 tháng 10 năm 2020 Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà thụ lý vụ

án và xét xử sơ thẩm vào ngày 12 tháng 3 năm 2021 Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà có quyết định kháng nghị số 01 ngày 26 tháng 3 năm 2021 kháng nghị bản án sơ thẩm với nội dung: Anh Tùng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đang chấp hành án tại Trại giam Nam

Hà, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, chữ ký trong giấy uỷ quyền của anh Tùng nội dung anh Tùng ủy quyền cho bà Sữa tham gia tố tụng là do chị Hiền tự ký Tòa án không tiến hành các thủ tục tống đạt, ghi lời khai của anh Tùng, trong bản án xác định ông Tân, bà Sữa là người đại diện theo pháp luật là không phù hợp Tại phiên tòa phúc thẩm anh Trịnh Ngọc Tùng xác nhận nội dung trên

Hội đồng xét xử phúc thẩm đã quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà để xét xử lại theo thủ tục chung

Trong vụ án này, từ việc xác định không đầy đủ đương sự trong vụ án nên Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà không tiến hành lấy lời khai của đương sự

Từ thực tiễn trên, tác giả kiến nghị hướng dẫn về việc lấy lời khai của đương sự theo quy định tại Điều 98 BLTTDS theo hướng như sau:

Một, đương sự là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, biết đọc, biết viết, không bị khuyết tật nhìn, phải tự mình làm bản khai theo quy định tại Điều

98 BLTTDS

Hai, số lần lấy lời khai đương sự do Thẩm phán quyết định Trường hợp nội dung các khai của đương sự có sự không thống nhất, mâu thuẫn, Thẩm phán yêu cầu đương sự xác nhận về nội dung lời khai Trường hợp đương sự không xác nhận, Thẩm phán giải quyết vụ án theo thủ tục chung

Thứ hai, lấy lời khai của đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Theo Điều 98 BLTTDS, khi lấy lời khai của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc lấy lời khai của

họ phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật

Ngày đăng: 05/07/2022, 23:30

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w