PHẦN MỞ ĐẦUKhái niệm biện chứng được dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyểnhóa hoặc vận động phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quátrình trong tự nhiên, xã hộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
⸎⸎⸎⸎⸎⸎⸎⸎⸎⸎
BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Đề tài số 13: “Nêu tính thống nhất giữa ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy
vật và nêu ví dụ minh họa?”
Giảng viên giảng dạy : Đồng Thị Tuyền Năm học : Học kì 2 2021 – 2022 Lớp học phần : Triết học Mác - Lê- nin_1_2(15FS).1_LT
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 4
1 Nội dung , cơ sở lý luận của ba quy luật 4
1.1.Quy luật lượng-chất 4
1.2 Quy luật mâu thuẫn 6
1.3.Quy luật phủ định 8
2 Ví dụ thực tiễn của sự thống nhất giữa ba quy luật 12
2.1 Ứng dụng quy luật mâu thuẫn để phát triển bản thân……… 12
2.2 Ứng dụng quy luật lượng-chất……… 12
2.3 Ứng dụng quy luật phủ định………14
3.Ý nghĩa của sự thống nhất giữa ba quy luật 16
PHẦN KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Khái niệm biện chứng được dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyểnhóa hoặc vận động phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quátrình trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Biện chứng bao gồm hai loại là biện chứng khách quan và biện chứng chủquan
- Biện chứng khách quan: Là khái niệm dùng để chỉ biện chứng của bản
thân thế giới, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người Nóimột cách ngắn gọn, biện chứng khách quan là biện chứng của thế giớivật chất
- Biện chứng chủ quan: Là khái niệm dùng để chỉ biện chứng của sự
thống nhất giữa logic biện chứng, phép biện chứng và lý luận nhậnthức Là tư duy biện chứng và biện chứng của chính quá trình phản ánhhiện thực khách quan vào bộ óc của con người Do đó, biện chứng chủquan một mặt phản ánh thế giới khách quan, mặt khác phản ánh nhữngquy luật của tư duy biện chứng Nói một cách ngắn gọn, biện chứngchủ quan là biện chứng của tư duy, là sự phản ánh biện chứng kháchquan vào đầu óc, ý thức của con người
Sự khác nhau giữa biện chứng chủ quan và biện chứng khách quan thểhiện ở chỗ biện chứng khách quan là cái vốn có của bản thân sự vật, hiệntượng, quá trình, tồn tại độc lập với ý thức của con người Còn biện chứngchủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan Tức là biện chứng của các sựvật, hiện tượng, quá trình vào trong bộ óc của con người Biện chứng kháchquan của bản thân đối tượng được phản ánh quy định biện chứng chủ quan
Trang 4Mặt khác, biện chứng chủ quan có tính độc lập tương đối so với biện chứngkhách quan.
1 Khái niệm quy luật
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến vàlặp lại giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt, các quá trình của sự vật
2 Phân loại quy luật
- Phân loại theo mức độ tính phổ biến:
Quy luật riêng: chỉ tác động trong những lĩnh vực riêng biệt của hiệnthực như hoá vô cơ, hoá hữu cơ, cơ học cổ điển, cơ học lượng tử
Quy luật chung : là những quy luật tác động trong phạm vi rộng hơnquy luật riêng, tác động trong nhiều loại sự vật, hiện tượng khác nhau( quy luật bảo toàn khối lượng , bảo toàn năng lượng )
Quy luật phổ biến: là những quy luật tác động trong tất cả các lĩnh vực
từ tự nhiên , xã hội cho đến tư duy
- Phân loại theo lĩnh vực tác động :
Quy luật tự nhiên : nảy sinh và tác động trong giới tự nhiên , kể cả cơthể con người, không phải thông qua hoạt động có ý thức của conngười
Quy luật xã hội : là những quy luật hoạt động của chính con ngườitrong các quan hệ xã hội những quy luật đó không thể nảy sinh và tácđộng ngoài hoạt động có ý thức con người Như vậy quy luật xã hộimang tính khách quan
Trang 5Quy luật của tư duy: nói lên mối liên hệ nội tại của những khái niệm,phạm trù, phán đoán Nhờ đó, trong tư tưởng của con người hình thành trithức nào đó về sự vật.
Quy luật lượng-chất (quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những
thay đổi về chất và ngược lại )
Quy luật mâu thuẫn (quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập )
Quy luật phủ định.
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
1 Nội dung, cơ sở lý luận của ba quy luật
1.1.Quy luật lượng-chất
- Khái niệm của quy luật:
Theo quan điểm của triết học Mac-Lênin thì mọi sự vật, hiện tượng trêntrái đất đều tồn tại hai vật là mặt chất và mặt lượng, trong đó:
Chất là một phạm trù của triết học, dùng để xác định tính quy luậtkhách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ củanhững thuộc tính, những yếu tố cấu thành lên sự vật, hiện tượng Chấtcủa sự vật phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu
tố đó vào cấu trúc của sự vật Mỗi sự vật thì đều có rất nhiều các thuộctính trong mỗi thuộc tính thì lại biểu hiện ra một chất khác nhau của sựvật
Lượng cũng vậy, nó cũng được xác định là một phàm trù triết học dùng
để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, biểu thị số lượng, quy mô, trình
độ, nhịp điệu của sự vận động phát triển của sự vật cũng như các thuộctính của nó Lượng của sự vật luôn luôn được xác định bởi những đạilượng chính xác và trừu tượng
- Mối quan hệ giữa chất và lượng:
Trang 7Theo Mac-Lê nin thì chất và lượng là hai mặt đối lập, bản chất của chất thìtương đối ổn định, ngược lại thì lượng thường xuyên biến đổi Tuy nhiênchúng lại không thể tách rời nhau, đổi lại giữa chúng đều luôn có sự tác độngqua lại lẫn nhau Sự thống nhất này được xác định trong một độ nhất định khi
- Nội dung của quy luật:
Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng là sự thống nhất chất và lượng Chất làmặt tương đối ổn định, lượng là mặt thường xuyên biến đổi sự vật Lượngthay đổi dần dần, khi vượt quá giới hạn độ sẽ dẫn tới thay đổi căn bản về chấtcủa sự vật thông qua bước nhảy Chất mới ra đời cùng với lượng mới quyđịnh quy mô, tốc độ Nhịp điệu, phát triển của lượng mới
Quá trình tác động lẫn nhau giữa chất và lượng tạo ra con đường vận độngliên tục, lúc biến đổi dần dần, lúc nhảy vọt rồi lại biến đổi dần dần chuẩn bịcho bước nhảy vọt tiếp theo
- Ý nghĩa của quy luật :
Quá trình vận động và phát triển của sự vật diễn ra theo chiều hướng tíchlũy về lượng đến một giới hạn nhất định, sau đó sẽ chuyển hóa về chất Từ đó
Trang 8đã rút ra được những tư tưởng mang tính định hướng, hạn chế được tư tưởngchủ quan, duy ý chí trong việc thực hiện những bước nhảy vọt Xã hội loàingười đang càng ngày phát triển, đa dạng theo chiều hướng tích cực do rấtnhiều yếu tố tác động thành, từ đó ta cần thực hiện đổi mới thành công trêntừng lĩnh vực của đời sống xã hội để tạo ra các bước nhảy về chất Do đó để
có thể thực hiện các bước nhảy vọt thì trước hết phải thực hiện các bước nhảycục bộ để làm thay đổi từng yếu tố của chất
1.2 Quy luật mâu thuẫn
- Quy luật mâu thuẫn là một trong những quy luật cơ bản trong phép biệnchứng duy vật và biện chứng duy vật lịch sử khằng định về mọi sự vậthay hiện tượng ở trong tự nhiên đều có sự tồn tại và mâu thuẫn bêntrong Quy luật mâu thuẫn còn được gọi là quy luật thống nhất và đấutranh của các mặt đối lập
Mặt đối lập: là những mặt có những đặc điểm, thuộc tính, tính quy định
có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quantrong tự nhiên, xã hội và tư duy
Thống nhất của các mặt đối lập: là sự nương tựa vào nhau, không táchrời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tạimặt kia làm tiền đề
Đấu tranh của các mặt đối lập: là sự tác động qua lại giữa các mặt đốilập theo xu hướng bài trừ phủ định nhau
- Phân loại các mâu thuẫn:
Trang 9Nếu dựa vào quan hệ của sự vật được xem xét, mâu thuẫn sẽ được phânloại thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
Dựa vào ý nghĩa sự tồn tại, phát triển toàn bộ sự vật thì mâu thuẫn được chialàm mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Dựa vào vai trò mâu thuẫn của sự tồn tại, phát triển sự vật ở một giai đoạnnhất định thì mâu thuẫn phân loại là mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn thứ yếu
Dựa vào tính chất của quan hệ lợi ích, mâu thuẫn chia làm mâu thuẫn đốikháng và mâu thuẫn không đối kháng
- Tính chất :
Mâu thuẫn là sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau của các mặt đối lập bêntrong một sự vật, một hiện tượng Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổbiến Mâu thuẫn có tính chất khách quan vì nó là cái vốn có trong sự vật, hiệntượng, là bản chất chung của mọi sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn có tính phổbiến vì nó tồn tại trong tất cả mọi sự vật hiện tượng, mọi giai đoạn, mọi quátrình, tồn tại trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy
Vì mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ biến nên mâu thuẫn rất đadạng và phức tạp Trong các sự vật, hiện tượng khác nhau thì tồn tại nhữngmâu thuẫn khác nhau, trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng cũng chứa đựngnhiều mâu thuẫn khác nhau, trong mỗi giai đoạn, mỗi quá trình cũng có nhiềumâu thuẫn khác nhau Mỗi mâu thuẫn có vị trí, vai trò và đặc điểm khác nhauđối với sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
- Ý nghĩa của quy luật:
Trang 10Để nhận thức được bản chất của sự vật hoặc tìm ra phương thức, giải phápcho hoạt động thực tiễn cần phải nghiên cứu mâu thuẫn của sự vật Việcnguyên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập hay quyluật mâu thuẫn có ý nghĩa quan trọng đối với nhân thực, hoạt động thực tiễn.Bởi mâu thuẫn là động lực và cũng là nguồn gốc của sự vận động, phát triển,
Quy định phủ định của phủ định là: quy luật nói lên mối liên hệ, sự kếthừa giữa cái bị phủ định và cái phủ định do sự kế thừa đó, phủ định biệnchứng không phải là sự phủ định sạch trơn, bác bỏ tất cả sự phát triển trước
đó, mà là điều kiện cho sự phát triển, nó duy trì và gìn giữ nội dung tích cựccủa các giai đoạn trước, lặp lại một số đặc điểm cơ bản của cái xuất phátnhưng trên cơ sở mới cao hơn do vậy, sự phát triển có tính chất tiến lên khôngphải theo đường thẳng mà theo đường xoáy ốc
- Đặc điểm của phủ định biện chứng
Tính khách quan
Phủ định biện chứng mang tính khách quan do nguyên nhân của sự phủđịnh nằm ngay trong bản thân sự vật Nguyên nhân đó chính là kết quả giảiquyết những mâu thuẫn bên trong sự vật Nhờ việc giải quyết những mâuthuẫn mà sự vật luôn phát triển Vì thế, phủ định biện chứng là một tất yếu
Trang 11khách quan trong quá trình vận động, phát triển của sự vật Đương nhiên, mỗi
sự vật có phương thức phủ định riêng tùy thuộc vào sự giải quyết mâu thuẫncủa bản thân chúng
Phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý muốn, ý chí chủ quan củacon người Con người chỉ có thể tác động mà cho quá trình phủ định ấy diễn
ra nhanh hay chậm trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật
Tính kế thừa
Phủ định biện chứng là kết quả của sự phát triển tự thân của sự vật nên
nó không thể là sự thủ tiêu, sự phá hủy hoàn toàn cái cũ Cái mới chỉ có thể rađời trên nền tảng cái cũ, chúng không thể từ hư vô Cái mới ra đời là sự pháttriển tiếp tục của cái cũ trên cơ sở gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậucủa cái cũ và chọn lọc, giữ lại, cải tạo những mặt còn thích hợp, những mặttích cực, bổ sung những mặt mới phù hợp với hiện thực
- Trong quá trình phủ định biện chứng, sự vật khẳng định những mặt tốt,tích cực và chỉ phủ định những cái lạc hậu, cái tiêu cực Có thể nói, sựphát triển chẳng qua chỉ là sự biến đổi trong đó những giai đoạn saubảo tồn tất cả những mặt tích cực được tạo ra ở giai đoạn trước và bổsung thêm những mặt mới phù hợp với hiện thực
- Phủ định biện chứng không chỉ là sự khắc phục cái cũ, sự vật cũ, màcòn là sự liên kết giữa cái cũ và cái mới, sự vật cũ với sự vật mới, quákhứ và hiện tại
- Phủ định biện chứng là một khâu tất yếu của mối liên hệ và sự pháttriển
Nội dung của quy luật phủ định
Trang 12Sự ra đời và tồn tại của sự vật đã khẳng định chính nó Trong quá trình vậnđộng của sự vật, những nhân tố mới xuất hiện sẽ thay thế những nhân tố cũ,
sự phủ định biện chứng diễn ra Sự vật đó không còn nữa và bị thay thế bởi sựvật mới, trong đó có những nhân tố tích cực được giữ lại Song sự vật mới này
sẽ lại bị phủ định bởi sự vật mới khác
Sự vật mới khác ấy dường như là sự vật đã tồn tại, song không phải là sựtrùng lặp hoàn toàn, mà nó có được bổ sung những nhân tố mới và chỉ bảo tồnnhững nhân tố tích cực, thích hợp với sự phát triển tiếp tục của nó Sau khi sựphủ định diễn ra hai lần thì sự phủ định của phủ định được thực hiện, sự vậtmới hoàn thành một chu kỳ phát triển Sự phát triển biện chứng thông quanhững lần phủ định biện chứng như trên là sự thống nhất hữu cơ giữa lọc bỏ,bảo tồn và bổ sung thêm những nhân tố tích cực mới Do đó, thông qua nhữnglần phủ định biện chứng của bản thân, sự vật sẽ ngày càng phát triển
Phạm trù phủ định biện chứng mới nói lên một giai đoạn, một mắt khâu,một nấc thang trong quá trình phát triển nhất định Với tư cách là cái phủ định(lần 1), cái mới cũng chứa đựng trong mình xu hướng dẫn tới sự phủ định lầnthứ hai (phủ định của phủ định)
Trong sự vận động vĩnh viễn của thế giới vật chất, dây chuyền của nhữnglần phủ định biện chứng là vô tận, cái mới phủ định cái cũ, nhưng rồi cái mớilại trở nên cũ và lại bị cái mới sau phủ định Cứ như vậy, sự phát triển của sựvật, hiện tượng diễn ra theo khuynh hướng phủ định của phủ định từ thấp đếncao một cách vô tận theo đường “xoáy ốc” hay “vòng xoáy trôn ốc” Sau mỗichu kỳ phủ định của phủ định, cái mới được ra đời lặp lại cái cũ nhưng trên
cơ sở cao hơn.Sự phát triển theo đường “xoáy ốc” là sự biểu thị rõ ràng, đầy
đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa,
10
Trang 13tính lặp lại, tính tiến lên Mỗi vòng của đường “xoáy ốc” thể hiện sự lặp lạinhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao hơn của sự phát triển
Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là domâu thuẫn trong bản thân sự vật quyết định Mỗi lần phủ định là kết quả đấutranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật giữa mặtkhẳng định và mặt phủ định Sự phủ định lần thứ nhất diễn ra làm cho sự vật
cũ chuyển thành cái đối lập với cái khẳng định ban đầu Sự phủ định lần thứhai, sự vật mới với tư cách là cái phủ định của phủ định đối lập với cái phủđịnh và trở lại cái ban đầu nhưng không giống nguyên vẹn như cái cũ mà trên
cơ sở cao hơn, tốt hơn
Phủ định của phủ định là sự thống nhất biện chứng của cái khẳng định vàphủ định, là kết quả của sự tổng hợp tất cả nhân tố tích cực của cái khẳng địnhban đầu và cái phủ định lần thứ nhất, cũng như các giai đoạn trước đó Cáitổng hợp này là sự lọc bỏ những giai đoạn đã qua, vì vậy, nó có nội dungphong phú hơn, toàn diện hơn
Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu kỳphát triển và cũng là điểm khởi đầu cho chu kỳ phát triển tiếp theo Sự vật lạitiếp tục biện chứng chính mình để phát triển Cứ như vậy sự vật mới ngàycàng mới hơn Theo triết học Mác-Lênin thì quy luật phủ định của phủ định làquy luật phổ biến của sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy
2 Ví dụ thực tiễn của sự thống nhất giữa ba quy luật
2.1 Ứng dụng quy luật mâu thuẫn để phát triển bản thân
Trong mỗi con người đều có những mặt đối lập tự nhiên như ăn uống vàbài tiết Đối với sinh vật sẽ xảy ra quá trình đồng hóa và dị hóa, đối lập nhau
11
Trang 14Mâu thuẫn biện chứng: Mâu thuẫn biện chứng là trạng thái mà các mặt đốilập có quan hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, nhờ đó mà mâu thuẫn biệnchứng tồn tại khách quan và phổ biến trong xã hội, tư duy và bản chất Trong
tư duy biện chứng mâu thuẫn phản ánh mâu thuẫn về hiện thực, là nguồn gốccủa sự phát triển nhận thức
Sự thống nhất của các mặt đối lập: là sự phụ thuộc lẫn nhau, tồn tại nhưngkhông thể tách rời nhau, của các mặt đối lập, tự nó phải lấy sự tồn tại của mặtkia làm tiền đề
2.2 Ứng dụng quy luật lượng-chất
Quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh, sinh viên đóng vai trò vô cùngquan trọng trong sự phát triển của xã hội, của đất nước Bởi chính quá trìnhnày tạo ra những con người có đủ năng lực để tiếp quản đất nước, đưa đấtnước phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu Vì vậy, mỗi học sinh,sinh viên cần phải có nhận thức rõ ràng, đúng đắn về vấn để này, phải tích đủlượng tới giới hạn điểm nút thì mới được thực hiện bước nhảy, không đượcnôn nóng, đốt cháy giai đoạn
Như vậy, có thể thấy việc áp dụng đúng đắn quy luật chuyển hóa từ những
sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại vào cáchoạt động trong đời sống là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong hoạt động tíchlũy kiến thức của học sinh, sinh viên Bởi có như vậy hoạt động đó mới cóhiệu quả, góp phần đào tạo ra những con người cú đủ cả chất và lượng để đưađất nước ngày một phát triển hơn
2.3 Ứng dụng quy luật phủ định
12