Untitled BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ 1 Chủ đề Số 01 Hãy sưu tầm một quyết định sơ thẩm của Toà án liên quan đến việc tuyên bố một cá nhân bị mất NLHVDS hoặc bị hạn chế NLHVDS mà theo quan điểm của nhóm quyết định đó là chưa phù hợp, và giải quyết các yêu cầu NHÓM 02 LỚP N03 TL1 Hà Nội, 2022 BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM Ngày 1562022 Địa điểm Trường Đại học Luật Hà Nội Nhóm số 02 Lớp N03 TL1 Khóa K46 Tổng số thàn.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM
BỘ MÔN: LUẬT DÂN SỰ 1
Chủ đề: Số 01
Hãy sưu tầm một quyết định sơ thẩm của Toà án liên quan đến việc tuyên bố một cá nhân bị mất NLHVDS hoặc
bị hạn chế NLHVDS mà theo quan điểm của nhóm quyết định đó là chưa phù hợp, và giải quyết các yêu cầu.
NHÓM
:
02
LỚP
:
N03 TL1
Hà Nội, 2022
Trang 2BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ
THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM
Ngày: 15/6/2022 Địa điểm: Trường Đại học Luật Hà Nội
Tổng số thành viên của nhóm: 16
Có mặt: 16
Nội dung: Đánh giá kết quả làm việc nhóm
Môn học: Luật Dân sự 1 Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc
thực hiện bài tập nhóm Kết quả như sau:
Đánh giá của SV
SV kí tên
Đánh giá của GV
(số)
Điểm (chữ)
Chữ kí GV
2 460518 Phạm Thị Thái
4 460520 Trần Thị Thu Hồng X
5 460521 Kiều Thị Thanh
Trang 310 460526 Đặng Thùy Linh X
13 460529 Hà Thị Ngọc
Kết quả điểm bài viết: ……… Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2022
- Giáo viên chấm thứ nhất: ………. NHÓM TRƯỞNG
- Giáo viên chấm thứ hai: ………
Kết quả điểm thuyết trình: ………
Giáo viên cho thuyết trình: ………
Điểm kết luận cuối cùng: ………
Giáo viên đánh giá cuối cùng: ……….
Đề tài 1: Hãy sưu tầm một quyết định sơ thẩm của Toà án liên quan đến việc
tuyên bố một cá nhân bị mất NLHVDS hoặc bị hạn chế NLHVDS mà theo quan điểm của nhóm quyết định đó là chưa phù hợp, và giải quyết các yêu cầu
ở cuối:
1 Từ bản án, quyết định đã sưu tầm được, hãy tóm tắt nội dung vụ việc dưới dạng tình huống dài tối đa 1 trang A4 (giãn dòng 1.5, cỡ chữ 14, không giãn đoạn, không giãn chữ)
Trang 42 Hãy chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong quyết định hoặc bản án
sơ thẩm mà nhóm đã sưa tầm và giải thích vì sao nhóm lại cho rằng chưa phù hợp?
3 Hãy đưa ra quan điểm của nhóm về việc giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật
4 Từ việc phân tích vụ án, nhóm hãy đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5NLHVDS Năng lực hành vi dân sự
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Khái quát về năng lực hành vi dân sự 1
II Giải quyết các yêu cầu 3
Trang 61 Tóm tắt nội dung vụ việc 3
2 Những điểm chưa phù hợp trong quyết định theo quan điểm của nhóm .3
3 Hướng giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật theo quan điểm của nhóm 6
4 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 8
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 7MỞ ĐẦU
Mỗi cá nhân trong công cuộc xây dựng xã hội và phát triển kinh tế đều
ít nhiều phải tham gia vào các quan hệ xã hội, trong đó có một phần không nhỏ là những giao dịch dân sự Tuy nhiên, không phải cá nhân nào cũng đều
có quyền tham gia vào các giao dịch dân sự Nhằm duy trì trật tự xã hội, pháp luật dân sự Việt Nam quy định cá nhân nào có năng lực chủ thể mới có quyền tham gia vào giao dịch dân sự Năng lực chủ thể được cấu thành từ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Trong khi năng lực pháp luật dân
sự của cá nhân có từ khi sinh ra và không ngoại trừ bất kỳ ai thì năng lực hành
vi dân sự của cá nhân phụ thuộc vào lứa tuổi, vào khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân đó Thông thường, người thành niên tức người từ
đủ 18 tuổi trở lên sẽ có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Tuy nhiên, vẫn có một số bộ phận bị mất một phần hoặc hoàn toàn năng lực hành vi dân sự do một số lý do cụ thể về tình trạng thể chất, sức khỏe tinh thần, được quy định tại điều 22, điều 23, điều 24 BLDS 2015
Xuất phát từ đó, đề tài “Hãy sưu tầm một quyết định sơ thẩm của Tòa
án liên quan đến việc tuyên bố một cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà theo quan điểm của nhóm quyết định đó là chưa phù hợp” sẽ làm rõ những hạn chế, bất cập tồn tại trong bản
án cụ thể cũng như pháp luật hiện hành đồng thời kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của những quy định về việc tuyên bố xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân
NỘI DUNG
I Khái quát về năng lực hành vi dân sự.
“NLHVDS của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” – Điều 19 BLDS năm 2015.
NLHVDS bao hàm khả năng hành động của chính chủ thể để tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ và năng lực chịu trách nhiệm dân sự khi
1
Trang 8vi phạm nghĩa vụ dân sự.
Pháp luật Việt Nam căn cứ theo tiêu chí độ tuổi để xác định mức độ NLHVDS của cá nhân Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên có NLHVDS đầy đủ trừ trường hợp bị tuyên bố mất NLHVDS hoặc hạn chế NLHVDS Cá nhân dưới 18 tuổi là những người có NLHVDS một phần Những trường hợp cá nhân là người thành niên nhưng vẫn bị không có NLHVDS đầy đủ vì lý do tình trạng thể chất, sức khỏe tinh thần gồm 3 trường hợp: mất NLHVDS; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hạn chế NLHVDS:
“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể
nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.” – Khoản 1 điều 22 BLDS năm 2015
“Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ
khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ” - Khoản 1 điều 23 BLDS năm 2015
“Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.” - Khoản 1 điều 24
BLDS năm 2015
2
Trang 9II Giải quyết các yêu cầu
1 Tóm tắt nội dung vụ việc
Tên quyết định: Quyết định số 13/2019/QĐST-DS ngày 26/09/2019
của TAND thành phố Vũng Tàu về việc yêu cầu tuyên bố một người bị hạn chế NLHVDS
Cơ quan ban hành quyết định: TAND thành phố Vũng Tàu.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Minh X, sinh năm
1977, địa chỉ: phường T, Tp.V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Nội dung việc dân sự: Ông Nguyễn Văn N (chết năm 1993) và bà
Huỳnh Thị A (chết năm 1982) có 6 người con gồm bà Nguyễn Minh H, ông Nguyễn Minh T, ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Minh X, bà Nguyễn Minh
H, và bà Nguyễn Minh M Trong đó, bà Nguyễn Minh H bị tâm thần bẩm sinh
từ nhỏ, không có khả năng nhận thức, không điều khiển được hành vi và không tự chăm sóc bản thân nên bà Nguyễn Minh X (quan hệ em gái ruột với
bà Nguyễn Minh H) yêu cầu Tòa án tuyên bà H bị hạn chế NLHVDS
Nhận định của Tòa án: Các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và Kết
luận giám định pháp y tâm thần kết luận bà H bị bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ vừa và bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi cho thấy lời khai của bà X phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu có trong
hồ sơ, do đó bà X yêu cầu tuyên bố bà H bị hạn chế NLHVDS là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 24 BLDS nên chấp nhận
Quyết định của Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của bà X, tuyên bố bà
Nguyễn Minh H bị hạn chế NLHVDS
2 Những điểm chưa phù hợp trong quyết định theo quan điểm của nhóm
Theo nhóm chúng tôi, quyết định sơ thẩm số: 13/2019/QĐST-DS do Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ra quyết định có hai điểm chưa phù hợp:
Thứ nhất, về nội dung nhận định của Tòa án: “Xét thấy, lời khai của
bà X phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ, do đó bà
3
Trang 10X yêu cầu tuyên bố bà H bị hạn chế NLHVDS là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 24 BLDS nên chấp nhận.”
Theo nhóm chúng tôi, khi căn cứ vào 2 nội dung:
Lời trình bày của bà X: ngay từ khi sinh ra bà H đã bị tâm thần bẩm sinh, trí tuệ đã chậm phát triển, không có khả năng nhận thức, không làm chủ được hành vi và không tự chăm sóc bản thân được
Kết luận giám định pháp y tâm thần số 3907/2019/KL-GĐTC ngày 31/7/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tp Hồ Chí Minh, kết luận
bà H bị bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ vừa (F71-ICD10); hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi
Nhóm chúng tôi hoàn toàn đồng ý rằng: Lời khai của bà X là phù hợp với kết luận giám định Song không thể lấy đó làm căn cứ để tuyên bố hạn chế NLHVDS đối với bà H Vì căn cứ vào Khoản 1 Điều 24 BLDS thì một người được tuyên bố là bị hạn chế NLHVDS khi người đó nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình Nhưng nguyên nhân dẫn đến hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bà H lại là do nguyên nhân khách quan, bệnh về tâm thần bẩm sinh mà không phải do nghiện ma túy, chất kích thích Do vậy, trường hợp của bà Nguyễn Minh H hoàn toàn không phù hợp với quy định tại Điều 24 của BLDS
Như vậy, việc bà X yêu cầu tuyên bố bà H bị hạn chế NLHVDS là không phù hợp Đồng thời, việc Tòa án nhận định rằng yêu cầu của bà X là có căn cứ nên chấp nhận, do đó cũng chưa phù hợp
Thứ hai, quyết định tuyên bố của Tòa án: “Bà Nguyễn Minh H bị hạn
chế NLHVDS.”
Do có nhận định chưa phù hợp nên dẫn đến quyết định tuyên bố của Tòa án trong vụ việc này cũng chưa chính xác Như đã phân tích ở trên, việc
bà H bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi là do bệnh về tâm thần chứ không phải do sử dụng ma túy, chất kích thích nên việc tuyên bố bà
H bị hạn chế NLHVDS theo Điều 24 của BLDS là chưa phù hợp Việc Tòa án
4
Trang 11tuyên bố sai về NLHVDS của bà H không chỉ dừng lại ở khác biệt về tên gọi, hình thức mà còn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bà H
Trước hết, khi được tuyên bố là người bị hạn chế NLHVDS thì theo Khoản 2 Điều 24, bà H chỉ có quyền thực hiện một số giao dịch nhằm phục
vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày hoặc giao dịch mà luật liên quan có quy định khác, còn việc thực hiện các giao dịch dân sự khác thì phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Tuy nhiên, bà H chỉ bị chậm phát triển tâm thần mức độ vừa, tức là chỉ bị hạn chế một phần trong khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Do đó, bà H vẫn có khả năng thực hiện một số giao dịch khác mang tính chất đơn giản, không phải những giao dịch dân sự phức tạp liên quan đến bất động sản hay động sản phải đăng ký…Vì vậy, việc Tòa án tuyên
bố bà H là người bị hạn chế NLHVDS, đã làm hạn chế phạm vi quyền, tước
đi một số quyền giao dịch dân sự đáng có của bà H
Hơn nữa, căn cứ vào Khoản 1 Điều 24 thì khi được tuyên bố là người
bị hạn chế NLHVDS thì Tòa án sẽ quyết định người đại diện theo pháp luật cho bà H Người đại diện theo pháp luật này sẽ nhân danh và vì lợi ích của bà
H để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện Tuy nhiên, với tình trạng sức khỏe tâm thần của bà H (chậm phát triển tâm thần mức độ vừa), ngoài khó khăn trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự thì bà
H còn gặp khó khăn trong việc tự chăm sóc bản thân Mà người đại diện theo pháp luật như đã trình bày ở trên, chỉ có thể giúp bà H trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự (trong phạm vi đại diện) nhằm đảm bảo quyền và lợi ích về mặt luật pháp của bà Do đó, bà H cần một người giám hộ để có thể thực hiện việc chăm sóc, đảm bảo việc chữa trị, điều trị bệnh, đồng thời quản
lý tài sản và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp Như vậy, việc Tòa án tuyên bố bà
H là người bị hạn chế năng lực hành vi pháp luật đã tước đi quyền được giám
hộ hợp pháp của bà H
5
Trang 123 Hướng giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật theo quan điểm của nhóm
Qua những phân tích trên, chúng tôi xin đưa ra quan điểm của nhóm mình để giải quyết vụ việc trên theo quy định của pháp luật như sau:
Trước hết, sau khi tiếp nhận đơn của bà Nguyễn Minh X, Tòa án Nhân Dân TP Bà Rịa Vũng Tàu, tỉnh Vũng Tàu cần phải thu thập bằng chứng và xác minh Bằng cách trưng cầu giám định tâm thần của bà H ở Trung tâm pháp y tâm thần để biết được mức độ bệnh của bà H, mất năng lực hành vi hay là hạn chế năng lực hành vi Và theo kết luận giám định pháp y tâm thần
số 3907/2019/KL - GĐTC ngày 31/7/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tp Hồ Chí Minh, kết luận bà H bị bệnh chậm phát triển về tâm thần mức độ vừa (F71 - ICD10); hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi
Theo đó, vụ việc có thể được giải quyết như sau:
Tòa án Nhân dân TP Bà Rịa Vũng Tàu, tỉnh Vũng Tàu cần giải thích cho bà Nguyễn Minh X rằng trường hợp của chị bà, bà H không phải là người
bị hạn chế NLHVDS mà là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi và cần người giám hộ theo quy định của Khoản 1 Điều 23 BLDS Vụ việc
sẽ chuyển theo theo hướng dựa trên ý kiến của người đệ đơn là bà X dựa trên
căn cứ theo Khoản 1 Điều 367 BLTTDS 2015 quy định:“Người có quyền, lợi
ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất NLHVDS hoặc bị hạn chế NLHVDS hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của BLDS”, bà X có muốn tiếp tục
yêu cầu tòa án tuyên bố về trường hợp của bà H như tòa án đã giải thích như trên không
Trường hợp 1: Nếu bà X vẫn muốn tiếp tục yêu cầu tuyên bà H là
người có khó khăn trong nhận thức, điều khiển hành vi Căn cứ theo Khoản 1
Điều 23 BLDS 2015, Tòa án tuyên bố bà H là người có khó khăn trong nhận
thức và điều khiển hành vi Tiếp đó, căn cứ vào các điều 23, 49, 54, 57, 58, 59
6
Trang 13BLDS 2015, Tòa sẽ chỉ định người giám hộ phù hợp với các quy định trên cho
bà H và xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của người giám hộ trong trường hợp này
Trường hợp 2: Nếu bà X rút đơn yêu cầu nhưng những người có quyền
và nghĩa vụ liên quan khác như ông Nguyễn Minh T, ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Minh H, bà Nguyễn Minh M có đệ đơn yêu cầu Tòa tuyên bố bà H là người có khó khăn trong nhận thức, điều khiển hành vi thì Tòa án tuyên bố bà
H là người có khó khăn trong nhận thức, điều khiển hành vi Và căn cứ vào các điều 23, 49, 54, 57, 58, 59 BLDS 2015, Tòa sẽ chỉ định người giám hộ phù hợp với các quy định trên cho bà H xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của người giám hộ trong trường hợp này
Trường hợp 3: Khi bà X rút đơn yêu cầu đồng thời những người có
quyền và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết sự việc dân sự Theo Khoản 3 Điều 218 BLTTDS 2015 quy định về: “Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ” Do đó khi
bà X rút đơn thì khi đó lệ phí 300.000 đồng tiền lệ phí dân sự sơ thẩm sẽ được hoàn trả lại cho bà X
Trong quá trình xét xử, Tòa án cần hỏi ý kiến của bà H Trong trường hợp bà H không thể tự đưa ra ý kiến thì Tòa án xem xét dựa trên ý kiến của người yêu cầu và những người có quyền và lợi ích liên quan Nếu bà H có thể nhận thức và đưa ra ý kiến đồng ý với yêu cầu tuyên bố bản thân có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì dù bà X có rút đơn yêu cầu, chính bà H
có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định tại khoản 2, điều 376, BLTTDS 2015 Nếu bà
H không đồng ý với yêu cầu của bà X, bà hoàn toàn có thể trình bày ý kiến trước tòa Lúc này, Tòa án cần xem xét yêu cầu của bà X (người đệ đơn yêu
7