TIỂU LUẬN MÔN LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH HÀNH VI CHÍNH TRỊ Tên đề tài “Vận động bầu cử ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp” HÀ NỘI, 2022 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 5 Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẦU CỬ Ở VIỆT NAM 5 1 1 Một số vấn đề về bầu cử ở Việt Nam 5 1 2 Quyền bầu cử và ứng cử tại Việt Nam 6 1 3 Các nguyên tắc bầu cử ở Việt Nam 7 Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG TRONG VẬN ĐỘNG BẦU CỬ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 10 2 1 Ba nguyên tắc vận động bầu cử ở Việt Nam 10 2 2 Hai hình thức vận động bầu cử.
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN LÝ THUYẾT
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẦU CỬ Ở VIỆT NAM 5
1.1 Một số vấn đề về bầu cử ở Việt Nam 5
1.2 Quyền bầu cử và ứng cử tại Việt Nam 6
1.3 Các nguyên tắc bầu cử ở Việt Nam 7
Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG TRONG VẬN ĐỘNG BẦU CỬ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 10
2.1 Ba nguyên tắc vận động bầu cử ở Việt Nam 10
2.2 Hai hình thức vận động bầu cử 11
2.3 Bảo đảm công bằng giữa các ứng cử viên 13
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VẬN ĐỘNG BẦU CỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 15
3.1 Thực trạng vận động bầu cử ở Việt Nam hiện nay 15
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả vận động bầu cử ở Việt Nam hiện nay 21
KẾT LUẬN 26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo quy định hiện nay, vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động tiếpxúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đạibiểu Quốc hội, đại biểu HĐND báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành độngcủa mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu họ được bầu làm đại biểu Quốchội hoặc đại biểu HĐND; đồng thời trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm, tạođiều kiện để cử tri tiếp xúc và hiểu rõ hơn người ứng cử để cân nhắc bầu chọnnhững người đủ tiêu chuẩn Việc tổ chức vận động bầu cử phải bảo đảm 3 nguyêntắc cơ bản đã được quy định tại Điều 63 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đạibiểu HĐND
Những cuộc bầu cử cạnh tranh trong sự giám sát của cử tri là căn bản để chocác ứng viên và cơ quan tổ chức bầu cử phải chịu trách nhiệm giải trình khi đượcyêu cầu Những cuộc bầu cử tự do và bình đẳng có ý nghĩa bao trùm lên diễn tiếncủa cuộc bầu cử Nghĩa là, những thủ tục cụ thể của một cuộc đầu phiếu phổ thông:
từ việc ghi danh cử tri, tổ chức vận động bầu cử, mở hòm phiếu, để bảo đảm choviệc áp dụng luật lệ một cách chặt chẽ và tránh mọi thủ đoạn gian lận có thể dẫnđến việc nghi ngờ kết quả bầu cử
Các cuộc bầu cử dân chủ thể hiện rằng, quyền lực chính trị xuất phát từ nhândân và được nhân dân tin cậy, đồng thời thể hiện rằng các chính trị gia phải chịutrách nhiệm trước nhân dân về hành vi của mình Bằng giải pháp cuối cùng là khảnăng bị rời khỏi chức vụ sẽ bảo đảm rằng những người được bầu sẽ đạt sự tin cậy
và duy trì tiêu chuẩn của công vụ và bảo đảm rằng những thay đổi về nhân sự vàchính sách của Chính phủ thay đổi theo các điều kiện mà cử tri yêu cầu Và, điều
Trang 4này đến từ các hoạt động thăm dò dư luận, cả trước và sau khi một cuộc bầu cử đãhoàn tất
Để có được những cuộc bầu cử thành công ở Việt Nam trong giai đoạn vừaqua cũng như trong giai đoạn tới cần chú trọng đến hoạt động vận động bầu cử ởViệt Nam hiện nay Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn do vậy em đã chọn đề tài
câu: “Vận động bầu cử ở Việt Nam-Thực trạng và giải pháp” để làm tiểu luận
kết thúc môn để nhằm làm rõ những vấn đề này
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nghiên cứu về “Vận động bầu cử ở Việt Nam-Thực trạng và giảipháp” đã được nhiều nhà nghiên cứu, học giả quan tâm tìm hiểu đưới những khíacạnh khác nhau cũng như đã luận giải, tiếp cận ở những nội dung cụ thể Trong đóchúng ta có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau đây:
Phan Xuân Sơn (2005), Thực trạng và giải pháp đổi mới công tác bầu cử ở
nước ta, Tạp chí Khoa học pháp lý – Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí
Minh, số 3
Lưu Đức Quang (2007), Tự do, công bằng trong bầu cử và liên hệ với bầu
cử ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp – Văn phòng Quốc hội, số 89, năm
Trang 5thời phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng vận động bầu cử
ở Việt Nam trong giai đoạn tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát chung về bầu cử ở Việt Nam;
- Phân tích những quy định chung trong vận động bầu cử ở Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay;
- Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng vận động bầu
cử ở Việt Nam trong giai đoạn tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: “Vận động bầu cử ở Việt Nam-Thựctrạng và giải pháp”
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Việt Nam
- Phạm vi thời gian: trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Cơ sở luận
Đề tài dựa trên cơ sở luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng
và chính sách, pháp luật của nhà nước về bầu cử ở Việt Nam để nghiên cứu trongquá trình thực hiện đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học như duy vật biệnchứng và phương pháp duy vật lịch sử Đồng thời đề tài sử dụng một số phương
Trang 6pháp nghiên cứu chuyên ngành như phương pháp thống kê, phân tích - tổng hợp;phương pháp so sánh và phương pháp quy nạp-diễn dịch
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài bao gồm 3chương và 8 tiết
Trang 7NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẦU CỬ Ở VIỆT NAM
1.1 Một số vấn đề về bầu cử ở Việt Nam
Thông thường, các cuộc bầu cử được tiến hành khi các cơ quan dân cử (hay
cơ quan quyền lực nhà nước) hết nhiệm kỳ Theo quy định của Hiến pháp năm
2013, nhiệm kỳ của Quốc hội mỗi khóa là 5 năm (Điều 71 Hiến pháp năm 2013 vàĐiều 2 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014), tương tự, 5 năm cũng là nhiệm kỳ củaHĐND các cấp Chính vì vậy, 5 năm một lần, ở Việt Nam định kỳ tiến hành bầu cửQuốc hội và HĐND các cấp
Các cuộc bầu cử có tính chất pháp lý rất quan trọng, đó là một khâu quantrọng để thành lập các cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương
Là phương thức quan trọng để nhân dân thực hiện quyền lực của mình Điều
6 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằngdân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân
và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”
Thuật ngữ bầu cử ở Việt Nam được cho là gắn kết mật thiết với khái niệmdân chủ, trong đó những cuộc bầu cử tự do và công bằng là phương thức bảo đảmcho việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ đó Trong một nền dân chủ, quyền lựccủa Nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân (người bị quản lý)
Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu
cử tự do và công bằng
Bầu cử cũng được hiểu là cách thức nhân dân trao quyền cho Nhà nước vàvới tư cách là một chế độ tiên tiến, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 8không thể bằng một phương pháp nào khác hơn là bầu cử để thành lập ra các cơquan của mình Cuộc bầu cử là một trong những hình thức hoạt động xã hội –chính trị quan trọng của nhân dân.
Bầu cử thu hút sự tham gia đông đảo của cử tri đại diện cho các giai cấp,tầng lớp, tôn giáo, giới tính… Bởi vậy, để đạt được kết quả, các cuộc bầu cử phảiđược tiến hành có tổ chức, theo những trình tự chặt chẽ nhất định
Những trình tự thủ tục này được pháp luật quy định rất chặt chẽ, ở Việt Nam
có hàng loạt các văn bản pháp luật điều chỉnh về bầu cử từ Hiến pháp – văn bản cóhiệu lực pháp luật cao nhất đến các đạo luật như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hộinăm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2001, 2007, 2010; Luật Bầu cửđại biểu HĐND năm 2003 Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND cáccấp diễn ra vào ngày 22/5/2016 được thực hiện theo đạo luật thống nhất về bầu cử,
đó là Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015
1.2 Quyền bầu cử và ứng cử tại Việt Nam
Quyền bầu cử và ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là mộttrong những quyền cơ bản về chính trị của công dân Pháp luật hiện hành đã quyđịnh công dân có quyền bầu cử, có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND Theo đó,công dân Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươimốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội (Điều 27 Hiến pháp năm
2013 và Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND năm 2015) Những côngdân này không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo,trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú đều được ghi tên vào danh sách cửtri để bầu cử
Những công dân không được ghi tên vào danh sách cử tri là các trường hợpngười đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực
Trang 9pháp luật hay người đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc người đang bị tạmgiam (những bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự, tuy chưa phải là những người
bị tòa án kết án, nhưng họ bị hạn chế quyền tự do để điều tra, xét xử hoặc để bảođảm thi hành án phạt tù) và người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 30 Luật Bầu
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015)
1.3 Các nguyên tắc bầu cử ở Việt Nam
Các nguyên tắc bầu cử là các quy tắc, nguyên lý chỉ đạo được áp dụng choquyền bầu cử của chủ thể (quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động).Nguyên tắc bầu cử là điều kiện được quy định bởi pháp luật bầu cử của mỗi quốcgia, mà việc thực hiện và tuân thủ quy định đó trong quá trình bầu cử quyết địnhtính hợp pháp của cuộc bầu cử
Ở Việt Nam, các nguyên tắc bầu cử dân chủ được kế thừa, bổ sung và pháttriển để làm một căn cứ thực hiện một chế độ bầu cử mới thực sự dân chủ Cácnguyên tắc bầu cử theo quy định của pháp luật gồm bốn nguyên tắc, đó là:
Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu: đây là nguyên tắc rất quan trọng đượckhẳng định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 Theo đó, công dân đủ mười tám tuổitrở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốchội và HĐND các cấp Nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho tất cả công dân, khôngphân biệt thành phần dân tộc, tín ngưỡng, địa vị xã hội, giới tính đều có quyền bầucử
Nguyên tắc bình đẳng: được thể hiện ở một số khía cạnh, như mỗi cử trikhông phân biệt đều có số lần bỏ phiếu như nhau, giá trị lá phiếu của mỗi cử triđều như nhau, số lượng dân cư như nhau thì bầu được số lượng đại biểu bằng nhau
Nguyên tắc trực tiếp: nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho người dân trực tiếpthể hiện ý chí của mình trong lựa chọn người đại biểu Cụ thể: cử tri được trực tiếp
Trang 10bỏ phiếu vào thùng phiếu mà không qua người trung gian, cử tri cũng trực tiếp lựachọn người mình bỏ phiếu, không được nhờ người khác bầu hộ, không bầu bằngcách thức gửi thư.
Nguyên tắc bỏ phiếu kín: nguyên tắc này nhằm bảo đảm tôn trọng quyền tự
do thể hiện ý chí của cử tri, tạo điều kiện để quá trình lựa chọn của mỗi cử trikhông bị tác động, ảnh hưởng của các cá nhân khác hoặc tổ chức
Sắc lệnh đầu tiên về nguyên tắc bầu cử ở Việt Nam được Chủ tịch Hồ ChíMinh ban hành là Sắc lệnh số 14-SL ngày 08/9/1945 về mở cuộc tổng tuyển cử bầuQuốc dân đại biểu Tiếp theo là Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945 ấn định thể lệtổng tuyển cử Trên cơ sở đó, ngày 06/01/1946, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên đãdiễn ra Ngày 02/3/1946, Quốc hội đã họp kỳ họp đầu tiên Đây là Quốc hội đầutiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, gồm 403 đại biểu với nhiều thành phần,như: công nhân, nông dân, viên chức, quân nhân cách mạng Quốc hội khóa I cũng
đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) của Việt Nam, ghi nhận nhữngnguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử ở Việt Nam mà trước đó được thông qua bởicác sắc lệnh nói ở trên Đáng chú ý, Hiến pháp năm 1946 ghi nhận bốn nguyên tắccủa bầu cử có những khác biệt so với giai đoạn sau, đó là: chế độ bầu cử là phổthông đầu phiếu, tự do, trực tiếp và bỏ phiếu kín (Điều 17)
Trong giai đoạn từ năm 1959 – 1980, nguyên tắc bầu cử ở Việt Nam đượcquy định trong Hiến pháp năm 1959 Các nguyên tắc trực tiếp, phổ thông, bỏ phiếukín vẫn tiếp tục được ghi nhận trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1959 vàPháp lệnh Bầu cử đại biểu HĐND Tuy nhiên, cũng từ giai đoạn này trở đi, nguyêntắc bầu cử tự do được thay thế bằng nguyên tắc bình đẳng, mà bình đẳng thì đã cótrong nội hàm của nguyên tắc phổ thông
Chế độ bầu cử giai đoạn 1980 – 1992 được quy định tại Điều 7 Hiến phápnăm 1980 và cụ thể trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1980, Luật Bầu cử
Trang 11đại biểu HĐND năm 1983, 1989 với một số điểm đáng lưu ý Là quy định về hiệpthương, một thủ tục nhằm cơ cấu, lựa chọn ra ứng cử viên, quy định này vẫn chiphối tiến trình bầu cử ở Việt Nam cho đến hiện nay Ngoài ra, việc miễn nhiệm đạibiểu khi họ không còn xứng đáng với cử tri cũng được cụ thể hóa trong Luật Bầu
cử đại biểu Quốc hội năm 1980 và Luật Bầu cử đại biểu HĐND năm 1983
Từ năm 1992 đến nay, nguyên tắc bầu cử được quy định tại Điều 7 Hiếnpháp năm 1992: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dântiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Đại biểuQuốc hội bị cử tri hoặc quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử trihoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tínnhiệm của nhân dân”
Các nguyên tắc này được cụ thể hóa trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hộinăm 1992, 1997 (sửa đổi các năm 2001, 2007, 2010); Luật Bầu cử đại biểu HĐNDnăm 1994, 2003.Các nguyên tắc bầu cử trong giai đoạn này rõ ràng chú trọng vàotính tập trung Các đại biểu được bầu theo định hướng của tổ chức hơn là ý chíthực sự của cử tri Hệ thống bầu cử cũng chưa tạo ra được sự bình đẳng giữa cácứng viên, nhất là đối với các ứng viên tự ứng cử, chỉ có quy định về vận động bầu
cử mà chưa có quy định về vận động tranh cử
Hiến pháp năm 2013 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND năm
2015 tiếp tục giữ nguyên các nguyên tắc của bầu cử, đó là: việc bầu cử đại biểuQuốc hội và đại biểu HĐND được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng,trực tiếp và bỏ phiếu kín Đặc biệt, các điểm mới được nêu rõ trong Luật là rất cầnthiết và có ý nghĩa quan trọng để phục vụ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV
và bầu cử đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2016 – 2021 thành công tốt đẹp, góp phầnquan trọng cho việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa
Trang 12Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG TRONG VẬN ĐỘNG BẦU CỬ Ở
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Ba nguyên tắc vận động bầu cử ở Việt Nam
Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặcthông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử ĐBQH, đại biểuHĐND báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thựchiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND và trao đổinhững vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử,hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủtiêu chuẩn làm ĐBQH, đại biểu HĐND
Điều 64, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định: “Thời gian vậnđộng bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách chính thức những người ứng
cử và kết thúc trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ” Như vậy, những ngườiứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-
2026 sẽ có hơn 3 tuần vận động bầu cử
Theo Điều 63 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND thì việc vận độngbầu cử phải bảo đảm 3 nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, vận động bầu cử được tiến hành dân chủ, công khai, bình đẳng,đúng pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
Thứ hai, người ứng cử ĐBQH, ứng cử đại biểu HĐND ở đơn vị bầu cử nàothì thực hiện vận động bầu cử tại đơn vị bầu cử đó
Trang 13Thứ ba, các tổ chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức nàykhông được vận động cho người ứng cử.
2.2 Hai hình thức vận động bầu cử
Điều 65 và Điều 66, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, quy định haihình thức vận động bầu cử cho người ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND Một là,gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại các cuộc tiếp xúc ở địa phương nơi mình ứng cử Hai
là, vận động bầu cử thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Điều 66 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định về cách thức
tổ chức vận động bầu cử với cử tri nơi ứng cử Theo đó, ban thường trực Ủy banMặt trận Tổ quốc Việt Nam (UBMT TQ) cấp tỉnh chủ trì phối hợp với UBND ởđơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho những người ứng cử ĐBQH, ứng
cử đại biểu HĐND cấp tỉnh Thành phần tham dự hội nghị tiếp xúc cử tri gồm đạidiện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương Ban thường trựcUBMTTQ cấp huyện, cấp xã phối hợp với UBND cấp xã tại đơn vị bầu cử tổ chứchội nghị tiếp xúc cử tri cho những người ứng cử đại biểu HĐND cấp mình Thànhphần tham dự hội nghị tiếp xúc cử tri gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và
cử tri ở địa phương UBND nơi tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có trách nhiệmthông báo về thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị để cử tri tham dự đông đủ
Trong hội nghị tiếp xúc cử tri để vận động bầu cử có đại diện ban thườngtrực UBMTTQ cấp tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri giới thiệu và đọc tiểu sử tóm tắtcủa người ứng cử Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về chương trình hànhđộng của mình nếu được bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND Cử tri nêu ý kiến, đềđạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử Người ứng cử và cử tri traođổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm
Trang 14Sau hội nghị tiếp xúc cử tri, ban thường trực UBMTTQ cấp tỉnh lập báo cáotình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri của người ứng cử ĐBQH, ứng cử đại biểuHĐND ở địa phương, ý kiến của cử tri về từng người ứng cử ĐBQH gửi đến Hộiđồng Bầu cử quốc gia và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.Ban thường trực UBMTTQ các cấp lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc
cử tri của người ứng cử đại biểu HĐND ở địa phương mình gửi đến ủy ban bầu cửcùng cấp và ban thường trực UBMTTQ cấp trên trực tiếp
Hình thức vận động bầu cử thông qua phương tiện thông tin đại chúng đượcquy định rõ tại Điều 67 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND Theo đó,người ứng cử ĐBQH trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động củamình nếu được bầu làm ĐBQH khi trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thôngtin đại chúng ở địa phương nơi mình ứng cử và trên trang thông tin điện tử về bầu
cử ĐBQH của Hội đồng Bầu cử quốc gia
Người ứng cử đại biểu HĐND trình bày với cử tri về dự kiến chương trìnhhành động của mình nếu được bầu làm đại biểu HĐND khi trả lời phỏng vấn trêncác phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử vềbầu cử của ủy ban bầu cử (nếu có)
Hội đồng Bầu cử quốc gia, ủy ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quanquản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việcđăng tải nội dung vận động bầu cử
UBND cấp tỉnh tổ chức việc đăng tải chương trình hành động của người ứng
cử ĐBQH, ứng cử đại biểu HĐND trên các phương tiện thông tin đại chúng củađịa phương
Tại Điều 62, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND cũng quy định rõ tráchnhiệm của cơ quan thông tin đại chúng trong công tác vận động bầu cử Cụ thể, các
Trang 15cơ quan báo chí ở Trung ương có trách nhiệm đưa tin về quá trình tổ chức công tácbầu cử, tình hình vận động bầu cử trong phạm vi cả nước Các cơ quan thông tinđại chúng của địa phương có trách nhiệm đưa tin về hội nghị tiếp xúc cử tri, trả lờiphỏng vấn của những người ứng cử ĐBQH, ứng cử đại biểu HĐND và việc vậnđộng bầu cử ở địa phương.
2.3 Bảo đảm công bằng giữa các ứng cử viên
Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm việc lợi dụng vận động bầu cử để tuyêntruyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm,
uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác Cấm việc lợi dụngvận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổchức, cá nhân mình
Để bảo đảm công bằng khi vận động bầu cử giữa các ứng cử viên, Luật Bầu
cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định rõ: Kinh phí tuyên truyền, vận động bầu cửđược bảo đảm bằng ngân sách nhà nước Mọi công dân có quyền khiếu nại, tố cáo,kiến nghị liên quan đến người ứng cử ĐBQH, ứng cử đại biểu HĐND Cấm lạmdụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vậnđộng bầu cử Việc sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vậtchất để lôi kéo, mua chuộc cử tri cũng là hành vi bị nghiêm cấm trong vận độngbầu cử
Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND hiện hành chưa quy định cụ thể sốcuộc tiếp xúc cử tri vận động bầu cử của những người ứng cử Thực tế, trongnhững lần bầu cử trước, có địa phương tổ chức nhiều cuộc tiếp xúc cử tri, có địaphương lại tổ chức ít đã gây ra sự so sánh giữa các ứng cử viên Vì thế, theo ý kiếncủa một số chuyên gia pháp luật, trong cuộc bầu cử lần này, Hội đồng Bầu cử quốcgia nên có sự thống nhất, hướng dẫn có tính chất “khung” cho phù hợp với đặc thù
về phạm vi địa lý (xa, gần, lớn, nhỏ), số lượng cử tri của đơn vị (nhiều, ít) để các