1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (Khảo sát qua Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa)

20 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (Khảo sát qua Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa)
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Chuyên ngành Tiếp nhận văn học và phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 623,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN  BÀI TẬP LỚN A3 Chủ đề 5 Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (Khảo sát qua Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa) Học phần Tiếp nhận văn học và phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học Hà Nội, 2021 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 Chương 1 Cơ sở lý luận 1 1 1 Khái quát chung về tiếp nhận văn học 1 1 1 1 Khái niệm 1 1 1 2 Đặc điểm của tiếp nhận văn học 2 1 2 Khái quát chung về ngôn ngữ 3 1 2 1 Khái niệm 3 1 2 2 Đặc trưng 3 1 3 Khái quá.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

- -

BÀI TẬP LỚN A3

Chủ đề 5: Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

(Khảo sát qua Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê và

Chiếc thuyền ngoài xa)

Học phần: Tiếp nhận văn học và phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

Chương 1: Cơ sở lý luận 1

1.1 Khái quát chung về tiếp nhận văn học 1

1.1.1 Khái niệm 1

1.1.2 Đặc điểm của tiếp nhận văn học 2

1.2 Khái quát chung về ngôn ngữ 3

1.2.1 Khái niệm 3

1.2.2 Đặc trưng 3

1.3 Khái quát về tác giả và tác phẩm 3

1.3.1 Tác giả 3

1.3.2 Tác phẩm 4

Chương 2: Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua 4

Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa 4

2.1 Ngôn ngữ trong truyện ngắn 4

2.2 Biểu hiện của ngôn ngữ qua các truyện ngắn 5

2.2.1 Điểm giống nhau 5

2.2.1.1 Ngôn ngữ trần thuật hiện thực 5

2.2.1.2 Ngôn ngữ đối thoại đậm chất triết lí và suy tư 7

2.2.1.3 Ngôn ngữ độc thoại đậm chất trữ tình 11

2.2.2 Điểm khác biệt 14

KẾT LUẬN 17

Tài liệu tham khảo 17

Trang 3

MỞ ĐẦU

Văn học là một mảnh đất vô cùng phong phú cho người nghệ sĩ khám phá và phát triển Ẩn sau mỗi tác phẩm văn học là triết lí, ý nghĩ sâu sắc Để làm rõ hơn được dựng ý trong tác phẩm ấy, bản thân người tiếp nhận cần đi giải mã và khám phá Và thi pháp học là một bộ phận quan trọng trong quá trình nghiên cứu ấy Bằng

lý thuyết của thi pháp học, kiến thức của bản thân, người tiếp nhận sẽ cảm nhận sâu sắc được những giá trị lớn lao mà tác phẩm đem lại Tìm hiểu, khám phá tác phẩm

từ góc độ nghệ thuật đang được nhà nghiên cứu quan tâm Nghệ thuật là phương thức để tái hiện, biểu đạt đời sống, tạo nên phong cách cho mỗi nhà văn Khám phá nghệ thuật người đọc sẽ thấy được những đặc sắc như nghệ thuật kể chuyện, tổ chức kết cấu, tình huống truyện, và ngôn ngữ là thứ cần được quan tâm hàng đầu

Ngôn ngữ là phương tiện để xây dựng nên tác phẩm văn học Là yếu tố quan vật chất quan trọng, đầu tiên trong xây dựng nên một tác phẩm Bởi một tác phẩm văn học được tạo nên từ việc tổ chức, sắp xếp ngôn ngữ Như M Gorki đã nói:

“Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu và là chất liệu của văn học” [9] Vậy nên, ngôn ngữ là yếu tố góp phần tạo nên thành công của tác phẩm

văn học Từ góc độ thi pháp, trong nghiên cứu này tôi sẽ làm rõ vấn đề: Ngôn ngữ

trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu qua Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa

NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý luận

1.1 Khái quát chung về tiếp nhận văn học

1.1.1 Khái niệm

Văn học là loại hình nghệ thuật, lấy ngôn từ của chính con người làm chất liệu, phương tiện Qua đó tạo tính thẩm mỹ, tái hiện được sự kiện, biến cố có ảnh hưởng đến hành động, số phận của con người Giúp ta cảm nhận chúng, đánh giá chúng mà tự định hướng cho mình theo cái lí tưởng đẹp, lí tưởng cao cả

Theo như định nghĩa trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Tiếp nhận được định nghĩa là quá trình giải mã, chiếm lĩnh các giá trị của tác phẩm, từ việc

Trang 4

cảm thụ ngôn từ, hình tượng, quan niệm, đến sản phẩm có được sau khi đọc: cách hiểu, ảnh hưởng, ấn tượng”

Hay có định nghĩa: “Tiếp nhận văn học là quá trình người tiếp nhận hòa mình, cảm nhận tác phẩm qua ngôn từ Từ đó nhận ra được cái hay, cái đẹp, tài năng của người nghệ sĩ Bằng tri thức, trí tưởng tượng người đọc khám phá, giải

mã, cảm nhận được hình ảnh, nhân vật theo diễn biến của câu chuyện, khiến cho văn bản thêm sống động, cuốn hút hơn” [3-tr.188]

Có nhiều hướng để ta tiếp nhận một tác phẩm văn học Từ yếu tố trong văn bản (cốt truyện, ngôn ngữ, ), hay từ yếu tố bên ngoài văn bản (biểu tượng, văn hóa,

xã hội học, )

1.1.2 Đặc điểm của tiếp nhận văn học

Đây là quá trình đồng sáng tạo Người nghệ sĩ dùng ngôn từ để tạo nên tác phẩm của mình nhưng lại không thông báo cho người đọc ý nghĩa, tư tưởng trong

đó Với kiến thức, say mê văn học người tiếp nhận tự mình giải mã và hoàn thành tác phẩm Muốn phá vỡ lớp vỏ ngôn từ người đọc cần hiểu được từ, hình ảnh, và liên kết chúng với nhau Khi nào mà người đọc lĩnh hội được kiến thức trong tác phẩm, tác phẩm của nhà văn trở thành tác phẩm của người tiếp nhận thì quá trình đó gọi là đồng sáng tạo

Mang tính khách quan và chủ quan Có nhiều cách tiếp nhận tác phẩm khác nhau, tùy vào trình độ văn hóa và hiểu biết mà mỗi người lại có cách tiếp nhận tác phẩm khác nhau Từ đó tạo nên sự đa dạng trong cách tiếp nhận, khiến cho tác phẩm văn học như khoác lên mình tấm áo mới

Sự đón nhận của độc giả là yếu tố quan trọng của tiếp nhận Người nghệ sĩ khi sáng tác luôn quan tâm đến yếu tố này, làm sao để cho tác phẩm của mình phù hợp nhất với bạn đọc Nếu sản phẩm tạo ra thấp hơn so với mong muốn thì người tiếp nhận sẽ không có hứng thú đọc và ngược lại Sự đón nhận của độc giả kích thích vai trò sáng tạo của nhà văn

Không những vậy, tiếp nhận văn học là một hiện tượng có tính quy luật xã hội Là sản phẩm do nhà văn sáng tạo ra nhưng tác phẩm văn học vẫn gò bó, ảnh hưởng bởi văn bản, văn hóa, ngôn ngữ,

Trang 5

1.2 Khái quát chung về ngôn ngữ

1.2.1 Khái niệm

Ngôn ngữ được định nghĩa: là một hệ thống các đơn vị: âm vị, từ, cụm từ, hình vị, câu được kết hợp theo quy tắc với nhau để tạo thành lời nói

Hay ngôn ngữ là phương tiện trong quá trình giao tiếp của con người, phản ánh ý thức, tư tưởng, tình cảm cụ thể của con người

Ngôn ngữ được hiểu đơn giản đó là hệ thống ác đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người, độc lập và trừu tượng hóa với ý tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người

1.2.2 Đặc trưng

Đầu tiên là tính biểu trưng cao Được thể hiện ở sự ước lệ hóa, khái quát với cấu trúc cân đối, hài hòa Kiến thức, lối tư duy logic đã khiến cho ngôn ngữ cân đối Đây là một đặc trưng điển hình của ngôn ngữ

Thứ hai, giàu chất biểu cảm Về mặt từ ngữ, các từ, bên cạnh yếu tố gốc mang sắc thái nghĩa trung hòa, thường có rất nhiều biến thể Các từ láy là từ mang sắc thái biểu cảm mạnh nhất

Thứ ba, linh hoạt và tính động Được bộc lộ trước hết ở ngữ pháp Ngữ pháp được tổ chức theo lối dùng các từ hư để biểu đạt ý nghĩa Tùy theo ý đồ của người nói có nhiều cách diễn đạt Tính động, linh hoạt của ngôn từ còn bộc lộ trong lời nói

vì linh hoạt trong ngôn ngữ và khi nói ta có thể dùng nhiều kiểu cấu trúc khác nhau

1.3 Khái quát về tác giả và tác phẩm

1.3.1 Tác giả

Nguyễn Minh Châu sinh ra và lớn lên ở làng Văn Thai, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ - Huế với bằng thành chung Năm 1950 ông theo học trường Huỳnh Thúc Kháng Nghệ - Tĩnh Nguyễn Minh Châu còn gia nhập quân đội

Nguyễn Minh Châu được coi là cây bút mở đường, ảnh hưởng lớn đến văn

học Việt Nam Nguyên Ngọc từng đánh giá: “Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh anh và tài hoa nhất của văn học” [10] Với phong cách

riêng biệt, độc đáo của mình ông thành công ở nhiều lĩnh vực Sáng tác của ông

Trang 6

khởi đầu bằng truyện ngắn Ngoài viết về cảnh chiến tranh các tác phẩm của ông miêu tả, tái hiện cuộc sống đời thường giản dị, mộc mạc của con người Qua đó, ông gửi gắm nhiều triết lí, ý nghĩa sâu sắc

Tác phẩm: Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa, Mảnh đất tình yêu, Người đàn

bà trên chuyến tàu tốc hành, Mảnh trăng cuối rừng,…

1.3.2 Tác phẩm

Nguyễn Minh Châu viết Mảnh Trăng Cuối Rừng trong những văn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ Tác phẩm được đưa vào tập Truyện ngắn Việt Nam, tên ban đầu là Mảnh trăng in trong tập Những Vùng Trời Khác Nhau Đây là tiêu

biểu cho những đặc điểm bút pháp trước năm 1975 của Nguyễn Minh Châu Truyện ngắn viết về một cuộc hẹn ở trọng điểm đánh phá của giặc Mỹ, giữa rừng già Trường Sơn của đôi trai gái

Truyện ngắn Bến quê viết trước bốn năm nhà văn qua đời, in trong tập truyện

cùng tên (1985) Tác phẩm là trải nghiệm, suy ngẫm của nhân vật Nhĩ về cuộc đời Qua đó thức tỉnh bạn đọc trân trọng, giữ gìn những vẻ đẹp và giá trị bình dị của gia đình, quê hương

Chiếc thuyền ngoài xa được Nguyễn Minh Châu viết vào tháng 8 năm 1983, lúc đầu được in trong tập Bến quê, sau đó được nhà văn dùng để đặt tên cho cả tập

truyện ngắn, xuất bản năm 1987 Đây có thể coi là tác phẩm xuất sắc nhất thuộc giai đoạn thứ hai của Nguyễn Minh Châu Tác phẩm ẩn chứa cách nhìn nhận cuộc sống: cần có cái nhìn đa diện, tránh nhìn đơn giản hời hợt để từ đó phát hiện ra sự thật ẩn sau vẻ bề ngoài

Chương 2: Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua Mảnh trăng cuối

rừng, Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa 2.1 Ngôn ngữ trong truyện ngắn

Nguyên Ngọc đưa ra: “Truyện ngắn là một tác phẩm muôn hình muôn vẻ, ba trùm nhiều phương diện, ta nên sáng tạo đưa truyện ngắn thoát khỏi khuôn khổ nhất định”

Hiểu cách đơn: “Truyện ngắn là một tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, phản ánh các mặt khác nhau, liền mạch trong cách tiếp nhận” [6]

Trang 7

Lý luận văn học có viết: “tác phẩm luôn tồn tại hình thức quen thuộc của thể loại” [8] Truyện ngắn cũng có những đặc trưng riêng của nó: tác phẩm tự sự ngắn,

ít các sự kiện, ít biến cố; nhân vật không nhiều, sự kiện khá đơn giản; chi tiết và giọng điệu, cái nhìn tạo nên đặc sắc Và yếu tố quan trọng, tạo nên hình hài cho truyện ngắn là ngôn ngữ

Ngôn ngữ là chất liệu của văn chương Từ một hệ thống tín hiệu giao tiếp cộng đồng cơ bản, qua sự sáng tạo của người nghệ sĩ, nó trở nên sinh sắc, giàu cảm xúc và chứa đựng giá trị thẩm mĩ Trong truyện ngắn ngôn ngữ luôn được gọt giũa sao cho ngắn gọn, cô đọng nhất Vì vậy mà nó có khả năng khái quát, thể hiện mọi mặt của cuộc sống Không những vậy ngôn ngữ trong truyện ngắn còn là ngôn ngữ của đời sống đươc nhà văn nâng lên đến trình độ nghệ thuật, như Maiacopxki đã

nói: “Phải phí tốn hàng cân quạng chữ thì mới thu về một chữ mà thôi” [9] Nội

dung, kết cấu của truyện ngắn chịu ảnh hưởng lớn bởi giọng văn Không những vậy, truyện ngắn cũng chịu sự quy định của văn phong Ngôn ngữ giúp nhà văn xây

dựng, bộc lộ tâm tư của mình Lời văn trong tác phẩm tạo nên nhiều kiểu truyện

ngắn Vì vậy, ngôn ngữ là yếu tố quan trọng trong nghệ thuật truyện ngắn Người

viết cần chú ý “khai thác và xử lý, nhằm đạt hiệu quả mong muốn” [1-tr.1846]

2.2 Biểu hiện của ngôn ngữ qua các truyện ngắn

2.2.1 Điểm giống nhau

2.2.1.1 Ngôn ngữ trần thuật hiện thực

a Ngôn ngữ trần thuật mang tính khách quan

Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu được trần thuật theo hướng khách

quan Trong tác phẩm, người kể hòa mình vào nhân vật, “phó thác” lời trần thuật

cho nhân vật, lời trần thuật có tiếng nói riêng Câu truyện trong tác phẩm là những câu chuyện tự nhiên trong cuộc sống chứ không phải những câu chuyện xa lạ

Trong Mảnh trăng cuối rừng, tác giả hòa mình vào nhân vật của mình để kể

lại sự việc, cuộc đời của họ Câu chuyện có khi được kể theo lời của tác giả nhưng

có khi lại do Lãnh, Nguyệt hay chị Tính kể Chính sự đa dạng trong cách trần thuật câu chuyện làm đa dạng hơn điểm nhìn trần thuật, phong ohus và sinh động hơn giọng điệu của tác phẩm Giọng Nguyệt thì hồn nhiên, tự tin, vững vàng; giọng chị Tính thì chững chạc, chín chắn hơn; còn gióng của Lãm thì thâm trầm, khắc khoải; tác giả thì lại nhẹ nhàng, ấm áp, tất cả đã làm phong phú, đa dạng, tạo nên nét

Trang 8

riêng trong phong cách của nhà văn Mỗi nhân vật có cách trần thuật câu chuyện riêng của mình nhưng ở họ có điểm chung đó là mỗi câu chuyện mà họ kể luôn mang trong đó niềm tin, nhìn sự việc với con mắt lạc quan Không những vậy, mạch truyện còn có sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại Trong đêm tụ họp của các chiến

sĩ lái xe, người đọc có thể dễ dàng hình dung, như được trở lại mười năm trước qua những câu chuyện của Lãm Câu chuyện bị phân tách, đan xen của những dòng hồi tưởng Sự chuyển giao linh hoạt, trở đi trở lại của quá khứ và hiện tại nhắc nhở con người ta không quên thời khắc lịch sử, cuộc chiến của dân tộc mình

Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, trần thuật theo ngôi kể thứ nhất,

đồng thời là lời kể của nhân vật chính Phùng là người nghệ sĩ - nhiếp ảnh gia, hay

là người lính đã giải ngũ sau bao năm cầm súng Phùng kể lại câu chuyện được chứng kiến trong lần đi công tác của mình Phùng không chỉ tận mắt chứng kiến, cảm nhận mà còn có những chiêm nghiệm về cuộc sống và con người nơi đây, về mối quan hệ giữa cuộc sống và nghệ thuật Truyện còn thay đổi điểm nhìn qua trần thuật của người đàn bà hàng chài Nhưng chủ yếu câu chuyện vẫn được kể lại qua lời của Phùng vì người kể của người đàn bà nằm trong lời kể của người kể chuyện Bởi vậy ta mới thấy, ngôn ngữ trong Chiếc thuyền ngoài xa sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với từng nhân vật

Hay trong truyện ngắn Bến quê, câu chuyện được kể ra rất tự nhiên, xuôi

theo dòng kể của nhân vật Nhĩ Nhân vật kể lại câu chuyện, những tiếc nuối của cuộc đời mình Ngôn ngữ kể chuyện nhẹ nhàng, sâu lắng Đó là cái khoảnh khắc sau bao năm xa quê hương Nhĩ lần đầu tiên thấy quê mình đẹp, bình yên đến vậy Cái không khí, âm thanh yên bình của cuộc sống nơi quê nhà khiến cho nhân vật chính cảm thấy tiếc nuối, ân hận Lần đầu Nhĩ cảm thấy vợ mình vất vả, tần tảo vì gia đình Vậy mà vì cuộc sống mưu sinh anh đã quên đi vợ, quên chăm sóc gia đình

nhỏ bé Câu chuyện trong Bến quê là một câu chuyện đơn giản, bình thường nhưng

ẩn sau đó là những triết lí mà ta khó có thể cảm nhận được

b Ngôn ngữ trần thuật đậm chất đời thường

Với Mảnh trăng cuối rừng, tác giả không chỉ trần thuật lại con đường, cuộc

chiến đấu của người lính mà Nguyễn Minh Châu còn như muốn khẳng định hình con người mộc mạc, giản dị Tác giả dùng từ ngữ gần gũi để tái hiện lại nhân vật của mình Lãm và Nguyệt không hấp dẫn người đọc bởi những chiến tích hào hùng hay số lượng huân chương cài trên áo mà học luôn sống mãi trong lòng bạn đọc bởi cách sống, luôn sống cho mình và cho mọi người

Trang 9

Ở Chiếc thuyền ngoài xa, với ngôn ngữ dung dị đời thường Nguyễn Minh

Châu trần thuật, miêu tả lại sự kiện rất là đơn giản, tự nhiên Phùng là một nhiếp ảnh gia chụp ảnh nghệ thuật, để có được bức tranh đẹp cho tấm lịch anh đã mất rất nhiều công sức Chỉ là một khoảnh khắc tình cờ khi đi dạo trên bãi biển anh đã phát hiện ra “cảnh đắt trời cho” Là bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, kì ảo: hình ảnh con

thuyền thoắt ẩn thoát hiện, thấp thoáng trong sương sớm “mũi thuyền in một nét mơ

hồ, loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào” [3-tr.70] Từ đường nét đến màu sắc đều hài hoà và lại đẹp hơn

nữa khi nhìn qua mắt lưới, tấm lưới Phùng như cảm nhận được chân lý của sự hoàn

mỹ Trước bức tranh thiên nhiên lãng mạn người nghệ sĩ thấy tâm hồn mình trong trẻo, thoải mái hơn

Đây là cảnh thiên nhiên mà khó khăn lắm Phùng mới chụp được Phút giây

mà người nghệ sĩ cảm nhận được vẻ đẹp thì cũng là phút giây Phùng bất ngờ khi chứng kiến cảnh bạo lực gia đình Ẩn sau cảnh đắt trời cho là cảnh người chồng đánh vợ Hình ảnh người vợ lam lũ vất vả, yêu chồng thương con Trong bức chân dung đó vừa có sự thống nhất vừa đối lập, mong muốn gia đình hạnh phúc nhưng bản thân lại không thấy hạnh phúc chút nào, ngày ngày bị đánh đập Nguyễn Minh Châu để người đàn bà kể lại cuộc sống, vất vả của bản thân mình Trần thuật lại chính câu chuyện của cuộc đời mình Không ai có thể hiểu được những gì người đàn bà ấy phải trải qua, tất cả vì gia đình, vì những đứa con

Trong Bến quê trần thuật qua dòng nội tâm nhân vật Nhân vật Nhĩ cảm nhận

được thời tiết, cảnh sắc qua ô cửa sổ Sau bao như xa quê, lần đầu Nhĩ cảm nhận

được cảnh sắc đẹp đến vậy Sông Hồng “màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra” [9-tr.101], tia nắng chan hòa như đang phô ra “thứ màu vàng thau xen với màu xanh non” và dường như bầu trời như cao hơn Phải chăng chính cuộc sống bận rộn, tất

bật mà anh lãng quên đi quê hương mình Với ngôn ngữ đậm chất đời thường, giản

dị Nguyễn Minh Châu đã miêu tả sâu đậm cảnh sắc quê hương Cùng với đó tác giả còn sử dụng khẩu ngữ khiến cho ý văn thêm sâu sắc, là nguồn tư liệu giúp tác giả tái hiện ra những tình tiết, tính cách nhân vật Nguyễn Minh Châu cũng đã sử dụng ngôn ngữ truyền miệng để nói lên tâm sự, bày tỏ những tâm tư, tình cảm của mình

để những tác phẩm của mình đến gần hơn với độc giả

2.2.1.2 Ngôn ngữ đối thoại đậm chất triết lí và suy tư

a Đậm chất triết lí

Trang 10

Truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng, tác giả làm rõ hơn về vấn đề “sức

mạnh” trong chiến tranh Lãm và Nguyệt yêu nhau nhưng họ chưa từng gặp qua

nhau, chỉ biết nhau qua lời giới thiệu Họ vượt qua khó khăn của chiến tranh để đi tìm tình yêu đích thực Lãm có ý định đưa chuyến hàng vào thật nhanh để gặp Nguyệt, Nguyệt là một cô thanh niên xung phong cũng đã trở lại chỗ học để yêu Lãm Nguyệt xin đi nhờ xe và thật có duyên xe đó chính là xe của Lãm Trên đường

đi họ không nhân ra nhau Chính con đường đầy những hố bom, gập ghềnh đã trở thành con đường đến với tình yêu của cặp trai gái Mọi khó khăn, nguy hiểm đều

mờ đi trong mắt của người yêu nhau Máy bay ném bom, dội đạn xuống cũng chỉ

làm “gãy được cây cầu đá xanh, một góc chiếc xe bị cháy và vết thương trên vai cô gái” [13] nhưng không làm mất đi ý chí, tinh thần dũng cảm của họ Tình yêu của

họ vẫn hồn nhiên, trong sáng và thật đẹp Dường như, trong cái hoàn cảnh ấy chỉ có tình yêu mới giúp họ quên đi cái khó khăn, lạc quan hơn bước về phía trước Tình

yêu mới là mối bận tâm của họ chứ không phải “tiếng máy bay gầm rú, trận bom trút xuống điên cuồng” [13] Qua đó Nguyễn Minh Châu một lần nữa khẳng định

được sức mạnh của tình yêu Một bên là sự hủy diệt với một bên là sự sống Phải chăng tác giả muốn luận bàn: Tình yêu - sự sống mạnh hơn sự hủy diệt - cái chết Ở

bất cứ đâu, ở hoàn cảnh nào thì tình yêu vẫn nở hoa trên đau thương, khốc liệt

Truyện ngắn Bến quê như một nhận thức, thấu hiểu cuộc sống, con người

Đến khi nằm trên giường bệnh, nhân vật Nhĩ dương như mới nhận ra, mới chiêm nghiệm được quy luật của đời người: con người ta dù có làm gì, đi đâu thì cũng khó

có thể tránh được những cái điều vòng vèo hay chùng chình Triết lí thật giản dị nhưng để nhận ra được nó con người cần có thời gian để trải nghiệm, cảm nhận

Trong cuộc đối thoại Nhĩ đã hỏi com:“Đã bao giờ Tuấn sang bên kia chưa hả?” [9-tr.103] Với câu hỏi của bố, anh con trai ngạc nhiên, hững hờ đáp “chưa” Cảnh

bên sông thật yên bình thân thuộc nhưng chính Nhĩ cũng chưa sang đó bao giờ và

để thực hiện mong muốn cuối cùng: “Bây giờ con sang bên kia sông hộ bố Để làm

gì ạ? Chẳng để làm gì cả.” [9-tr.103] Tự cảm thấy điều mình nói ra có chút kì quặc

“đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh rồi ngồi xuống nghỉ chân ở đó một lát, rồi về ” [9-tr.103] Đứa con trai chưa hiểu được tâm ý của Nhĩ “mải mê xem cuốn truyện dịch” Nhĩ muốn con trai của mình cảm nhận được vẻ đẹp thân thương,

bình dị - cái mà suốt cuộc đời bố đã lãng quên Nhĩ luôn theo dõi con trai và suy

nghĩ, lo lắng vẩn vơ “không khéo thằng con trai anh lại trễ mất một chuyến đò trong ngày” [9-tr.103] Những trò chơi, việc làm vô ích rõ làm “trễ mất chuyến đò trong ngày” [9-tr.103] Vấn đề mà tác phẩm mang lại gợi cho ta nhiều suy ngẫm

Ngày đăng: 05/07/2022, 17:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân (2004), Từ điển Văn học, Bộ mới, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
[2] Lê Bá Hán (2010), Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2010
[3] Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ văn lớp 12, tập hai, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn lớp 12, tập hai
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
[4] Nguyễn Xuân Nam, Từ điển Văn học, tập 2, NXB KHXH, Hà Nội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học, tập 2
Nhà XB: NXB KHXH
[5] Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên), Ngữ văn lớp 9, tập hai, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn lớp 9, tập hai
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w