TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN BÀI TẬP LỚN Môn học ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ Đề tài 2 Hà Nội, 2021 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT 1 1 1 Văn bản văn học 1 1 1 1 Khái niệm 1 1 1 2 Đặc trưng 1 1 2 Văn bản thông tin 2 1 2 1 Khái niệm 2 1 2 2 Đặc trưng 2 1 3 Kỹ năng đọc hiểu văn bản từ góc độ ngôn ngữ 3 1 3 1 Từ góc độ từ 3 1 3 2 Từ góc độ câu 3 1 3 3 Từ góc độ phong cách 3 CHƯƠNG 2 NỘI DUNG 4 2 1 Đọc hiểu văn bản thông tin 4 2 1 1 Nộ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
BÀI TẬP LỚN Môn học: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ
Đề tài: 2
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT 1
1.1 Văn bản văn học 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Đặc trưng 1
1.2 Văn bản thông tin 2
1.2.1 Khái niệm 2
1.2.2 Đặc trưng 2
1.3 Kỹ năng đọc hiểu văn bản từ góc độ ngôn ngữ 3
1.3.1 Từ góc độ từ 3
1.3.2 Từ góc độ câu 3
1.3.3 Từ góc độ phong cách 3
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG 4
2.1 Đọc hiểu văn bản thông tin 4
2.1.1 Nội dung 4
2.1.2 Hình thức 4
2.2 Đọc hiểu văn bản “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải 6
PHẦN KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Văn bản là một chiếc gương trong sáng nhất phản ánh rõ nét, chân thực cuộc sống Nó là tiếng lòng của những số phận hắt hiu, bế tắc Sinh ra với nhiệm
vụ như một đại sứ để nâng giấc, tiếp bước cho những người bị dồn vào cái góc cuối cùng của cuộc đời Như bài ca với những giai điệu ngọt ngào nhất Là sản phẩm của quá trình trao đổi, bộc lộ được tài năng của người viết Văn bản được thể hiện dưới dạng hệ thống các kí hiệu ngôn từ với cấu trúc mở Với những quy tắc và cách kết hợp độc đáo, qua đó tác giả gửi gắm nội dung, dụng ý của mình Muốn hiểu được tầng nghĩa, nội dung, tư tưởng của văn bản ấy người đọc cầm nắm được các kiến thức để rồi vận dụng các kỹ năng để khám phá được các khía cạnh về góc độ ngôn ngữ Ở bài này, tôi hướng đến việc đưa ra kiến thức về kỹ năng đọc hiểu văn bản theo góc độ ngôn ngữ và vận dụng vào đọc hiểu văn bản
cụ thể
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT 1.1 Văn bản văn học
1.1.1 Khái niệm
- Văn bản văn học được tạo nên từ việc trao đổi tiếp ứng với lĩnh vực, giao tiếp nghệ thuật Bộc lộ tài năng, sự độc đáo trong việc sáng tạo Nhờ có vậy mà con người thấy được các vấn đề trong cuộc sống
- Muốn đọc hiểu được văn bản văn học từ góc độ ngôn ngữ phải nhận diện được: ý nghĩa; kiểu (loại) văn bản; phương thức biểu đạt; phong cách ngôn ngữ;
có kiến thức về: câu, từ; phép tu từ
1.1.2 Đặc trưng
a, Nội dung
- Đề tài: từ cuộc sống, lĩnh vực tác giả lựa chọn đề tài; chứa đựng ý nghĩa
Trang 42
- Chủ đề: vấn đề được bàn luận, có một hay nhiều chủ đề
- Hình tượng: tạo nên từ ngôn từ, mang tư tưởng, dụng ý của người viết
- Ý nghĩa: từ nhân vật, chi tiết người viết nêu ra ý nghĩa Được chia ra thành nhiều đề tài, tính chất, chủ đề khác nhau
b, Hình thức
- Phương thức biểu đạt: phong phú, đa dạng
- Tính văn chương: yêu cầu cần thiết, để truyền tải vấn đề
- Chủ yếu theo phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1.2 Văn bản thông tin
1.2.1 Khái niệm
- Là văn bản giúp người đọc có kiến thức về nhiều lĩnh vực
- Để đọc hiểu văn bản này người đọc cần nhận diện được: các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt, các phong cách chức năng, phương tiện và các phép liên kết Bên cạnh đó người đọc còn phải xác định được kết cấu và phép tu từ
1.2.2 Đặc trưng
a, Nội dung
- Văn bản thông tin có tính chất gần gũi, cập nhật, bức thiết
- Đề tài: vấn đề cơ bản trong cuộc sống, hay lâu dài của lịch sử luôn được cập nhật thường xuyên
- Được đông đảo mọi người chú ý, có tác động đến cá nhân
- Còn bao gồm nội dung: chỉ thị, nghị quyết,…
b, Hình thức
- Phương thức biểu đạt: phong phú, đa dạng
- Tính văn chương: không đòi hỏi cao nhưng nhờ đó mà thông tin được
Trang 53
nêu rõ ràng, rành mạch
- Phong cách ngôn ngữ: thuộc một trong số phong cách chức năng: chính luận, hành chính công vụ, khoa học, sinh hoạt, báo chí
1.3 Kỹ năng đọc hiểu văn bản từ góc độ ngôn ngữ
1.3.1 Từ góc độ từ
- Là khai thác các lớp từ để thấy được giá trị, ý nghĩa mà người viết gửi gắm
- Giúp người đọc phân tích, nhận diện các lớp từ
- Nhiều lớp từ như: từ Hán - Việt, từ địa phương, từ thi ca, từ nhiều nghĩa,
từ láy,…
1.3.2 Từ góc độ câu
- Là khai thác các kiểu câu để thấy được ý nghĩa, giá trị mà người viết gửi gắm
- Linh hoạt các kiểu câu:
+ Cấu tạo ngữ pháp: câu phức, câu ghép, câu đơn
+ Theo mục đích nói: câu cảm thán, câu nghi vấn, câu tường thuật, câu cầu khiến
1.3.3 Từ góc độ phong cách
- Để người tiếp nhận có thể nhận diện, phân tích được các phép tu từ
- Biện pháp tu từ cần chú ý sau:
+ Về ngữ âm: điệp vần, điệp thanh, điệp âm đầu, điệp nguyên âm, tượng thanh
+ Về văn tự: chữ hoa tu từ, chữ in tu từ, dấu câu tu từ
+ Từ vựng ngữ nghĩa: ấn dụ, nhân hóa, so sánh, hoán dụ, nói ngoa, nói
Trang 64
giảm, phản ngữ, lộng ngữ
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG 2.1 Đọc hiểu văn bản thông tin
2.1.1 Nội dung
- Văn bản đề cập đến EQ – trí thông minh cảm xúc Việc mà chúng ta có thể nắm rõ, kiềm chế được cảm xúc cá nhân Từ đó hiểu người khác, biết cách
xử lý mọi việc thuận lợi hơn
- Nội dung: tầm quan trọng của EQ đối với sự thành đạt của cá nhân
+ Tính cập nhật: được đông đảo mọi người chú ý Là yêu cầu, có tác động đến sự hoàn thiện của cá nhân
+ Tính bức thiết: bàn về sự quan trọng của EQ tác giả muốn người đọc thấy được ảnh hưởng tích cực của nó
+ Tính gần gũi: văn bản nêu biểu hiện, sự hình thành, ảnh hưởng tích cực của EQ
- Đề tài: văn bản đề cập đến sự thông minh trong cảm xúc, vấn đề được quan tâm, có tác động đến sự hoàn thiện của cá nhân
2.1.2 Hình thức
* Phương thức biểu đạt: nghị luận và thuyết minh Sử dụng phương thức biểu đạt nghị luận để nói đến vấn đề cần bàn luận Sau đó kết hợp nghị luận và thuyết minh để rõ các luận điểm
- Căn cứ:
+ Vấn đề: tầm quan trọng của EQ đối với sự đạt của cá nhân
+ Đưa ra thuật ngữ: EQ
Người viết phân tích và bàn luận:
Trang 75
+ Đưa ra dẫn chứng: “EQ hơn cả logic toán học qua việc phân tích cấu tạo của não bộ”
+ Biểu hiện: biết nhận diện, kiềm chế cảm xúc theo hướng nhất định
+ Lí lẽ cho thấy EQ có tầm quan trọng: “Người có EQ cao do vậy dễ thích nghi,… “thiên tài đơn độc”
+ Nói đến quá trình hình thành: “EQ một phần là bẩm sinh nhưng…”
Muốn hòa nhập được, cần cải thiện, nâng cao chỉ số EQ bằng việc giáo dục và rèn luyện Có rất nhiều biện pháp giáo dục để thay đổi chỉ số EQ: sự quan tâm, thương yêu, giáo dục kĩ năng sống, mỗi cá nhân cũng cần rèn luyện để tự xem xét nội tâm và để lắng nghe, thấu cảm
+ Bình luận, khẳng định lại: Tuy nhiên, để thành đạt cần có kiến thức về công việc, kỹ thuật vững vàng Do đó, việc phát triển song song cả hai năng lực
IQ và EQ là điều cần thiết
* Phong cách ngôn ngữ: khoa học
Căn cứ:
- Về ngữ âm: gắn với đặc trưng, quy tắc của ngôn ngữ khoa học
- Về từ ngữ: Dùng nhiều thuật ngữ
+ Thuật ngữ khoa học: EQ, IQ, logic
+ Thuật ngữ: cảm xúc, lý trí, tình cảm,
+ Thuật ngữ sinh học: xung thần kinh, não bộ, neocortex, bẩm sinh, hệ
thần kinh
+ Thuật ngữ môn học: tâm lý học, toán học, giáo dục
- Ngữ pháp:
+ Quan hệ từ: “và”, “hoặc”, “mà”, “như”
+ Sử dụng kiểu câu đẳng thức “A là B”: “chính phần neocortex là nhạc trưởng,…”, “nó còn là khả năng chế ngự…”
Trang 86
+ Quan hệ từ “nhưng”: “EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng …”
+ Quan hệ từ tăng tiến “càng… càng”: “Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ…”
+ Phép nối “hơn thế”, “sau đó”: “Hơn thế, nó còn là khả năng…”, “Sau
đó, nhà tâm lí học Daniel Goleman…”
- Biện pháp so sánh hơn: “cảm xúc chỉ đạo trí thông minh có lẽ còn hơn…”
- Cách diễn đạt:
+ Lập luận, lí lẽ: logic, chặt chẽ,
+ Trình bày theo kết cấu tổng – phân – hợp Phần mở đầu nêu nên được vấn đề: tầm quan trọng của EQ trong cuộc sống, công việc Các đoạn tiếp theotriển khai luận điểm để làm rõ hơn cho vấn đề Kết thúc, khái quát lại tầm quan trọng của EQ
+ Cách diễn đạt logic, đủ các luận điểm, dẫn chứng, các câu nối với nhau nhằm làm nổi bật được vấn đề Các nội dung ở các đoạn có sự liên kết chặt chẽ
2.2 Đọc hiểu văn bản “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải
Mùa xuân đi vào thơ ca như nguồn cảm hứng vô tận Có nhiều nhà thơ
viết về mùa xuân, ta bắt gặp “Một chiều xuân” của Anh Thơ hay “Mùa xuân xanh” của Nguyễn Bính,… và Thanh Hải cũng góp vào đó một mùa xuân của xứ Huế - “Mùa xuân nho nhỏ” Bài thơ là cảm xúc, tâm nguyện về khát vọng sống
cống hiến của tác giả
Nhan đề “Mùa xuân nho nhỏ” mang nhiều nét nghĩa Đầu tiên là nét nghĩa
tả thực đó là một mà trong năm, mùa khởi đầu cho sự phát triển của mọi vật Mùa đem lại sự hứng khởi, tươi mới để bắt đầu một năm mới Nét nghĩa thứ hai
là một nét nghĩa ẩn dụ, ẩn dụ cho sự đẹp đẽ nhất của cuộc sống Là lòng nhiệt
huyết, sức trẻ của mỗi người Danh từ “mùa xuân” kết hợp với tính từ “nho
Trang 97
nhỏ” làm cho mùa xuân giản dị hơn Nhan đề thể hiện quan niệm, ước muốn của
tác giả
Nếu như Nguyễn Bính miêu tả mùa xuân với sắc xanh:
“Mùa xuân là cả một mùa xanh Giời ở trên cao, lá ở cành”
(Mùa xuân xanh)
Hàn Mặc Tử khoác lên cho mùa thu của mình tấm áo mơ màng:
“Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi má nhà tranh lấm tấm vàng”
(Mùa xuân chín) Với Thanh Hải, mùa xuân lại được miêu tả bằng sắc tím – sắc màu thơ mộng:
“Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc”
Bài thơ mở đầu là cách viết mới lạ Với cách viết mới lạ đảo động từ
“mọc” lên đầu tác giả khẳng định vị trí, sức sống của bông hoa Giữa cái nền
xanh là một bông hoa tím, dường như bông hoa đó mọc lên, nở rộ trên làn nước xuân Màu tím ở đây là màu của hoa lục bình – có nhiều ở xứ Huế:
“Con sông nhỏ tuổi nơi ta tắm Vẫn còn đây nước chẳng đổi dòng Hoa lục bình tím cả bờ sông…”
(Trở về quê nội)
Sắc tím hoa lục bình đã trở thành nét đặc trưng cho xứ Huế, nét tím mà không đâu có được Khung cảnh mùa xuân hiện lên thật nhẹ nhàng, tự nhiên,
Trang 108
mang nét đẹp riêng với hai gang màu xanh và tím Không chỉ có sắc xanh, tím
mà còn có:
“Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời.”
Tiếng chim như lời ca reo mừng báo hiệu cho mùa xuân đang sắp tới Từ
cảm thán “ơi”, “chi” nghe sao ngọt ngào, tha thiết, gần gũi đến vậy Tiếng gọi
thân thương cất lên từ tấm lòng say đắm, từ tình yêu của nhà thơ với âm thanh vui tươi Trong cái không gian bao la ấy tiếng chim như làm sống dậy mọi vật Bức tranh mùa xuân Huế được chấm phá bằng hình ảnh chọn lọc và giàu sức
gợi: “hoa tím biếc”, “dòng sông xanh”, “chim chiền chiện” Tất cả khiến cho
mùa xuân xứ Huế thơ mộng, nhẹ nhàng Thanh Hải đón nhận mùa xuân bằng cả trái tim:
“Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng”
“Giọt long lanh” có phải là giọt nắng, giọt mưa rơi bên thềm,… hay
chính là giọt âm thanh? Chim chiền chiện hót, tiếng hót ấy đã ngưng đọng thành hình, thành khối, thành sức sống mùa xuân có sắc màu lóng lánh Cảm nhận tiếng chim bằng thính giác nhưng ở đây tiếng chim vang vọng, đọng lại thành
từng giọt “đưa tay hứng” - ẩn dụ chuyển đổi cảm giác Âm thanh vô hình nhưng lại trở nên hữu hình, đọng lại trong tâm hồn nhà thơ Đại từ “tôi” được điệp lại hai lần và đi liền với hành động “hứng”, là trân trọng giọt long lanh, giọt quý
của mùa xuân
Trong bài thơ của Tố Hữu:
“Tôi nện gót trên đường phố Huế Dửng dưng không một cảm tình chi…”
(Dửng dung)
Trang 119
Đó là một xứ Huế với quá khứ đau thương, đêm đen nô lệ Nhưng giờ đây
xứ Huế đó đang hối hả xây dựng cuộc sống:
“Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ”
Nhà thơ lại một lần nữa rung động trước mùa xuân của đất nước Hai hình
ảnh đẹp “người cầm súng”, “người ra đồng”, là người đóng góp tuổi xuân của mình cho đất nước Phép điệp cấu trúc “mùa xuân người…” tác giả nhấn mạnh
hai lực lượng nòng cốt của đất nước Họ sát cách bên nhau cùng vượt qua gian
nan, khó khăn vì một nhiệm vụ chung “Lộc” không chỉ là cành non, chồi biếc
mà còn là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng Người cầm súng, lộc là những cành lá ngụy trang, nơi ẩn mình, bảo vệ người lính trong chiến đấu Người nông dân, lộc
chính là mầm non, mầm sống của lương thực hoa màu ngoài đồng ruộng “Lộc”
là ẩn dụ cho tuổi trẻ, sức sống đầy hoài bão và khát vọng của người dân Anh dũng chiến đấu kiên cường vì ngày mai tươi sáng của đẩt nước
“Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao”
Tất cả như hối dục, thôi thúc mọi người “Tất cả” được lặp lại với động từ
“hối hả”, “xôn xao” khiến cho nhịp thơ nhanh, gấp gáp
“Đất nước bốn ngàn năm Vất vả và gian lao”
Đất nước được nhân hóa như người mẹ tảo tần, vất vả xây dựng mình
Tính từ “vất vả”, “gian lao” đúc kết chặng đường 4000 năm gây dựng với bao khó khăn, thử thách “Đất nước như vì sao” gợi ra nhiều liên tưởng Gợi nguồn
sáng lấp lánh tồn tại vĩnh hằng, có ý nghĩa trong suốt lịch sử Đất nước phát triển, trường tồn với thời gian:
Trang 1210
“Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”
(Đi trên mảnh đất này)
Dù có vất vả, gian nan nhưng không gì có thể ngăn được đất nước ta đi lên, không gì cản ý chí của người dân Hai khổ thơ tiếp theo, tác giả nêu nên lí tưởng, khát vọng sống của mình Cảm xúc, rung động trước bức tranh mùa xuân giờ đây chuyển thành suy ngẫm:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
Với ước nguyện sống và cống hiến cho đời, với thanh bằng liên tiếp tác
giả đem đến những giai điệu nhẹ nhàng Đại từ “ta” sử dụng một cách trực tiếp
để bộc lộ tâm nguyện của nhà thơ Đó còn là ước mơ khát vọng cống hiến của tất
cả mọi người Khẳng định khát vọng của mình qua điệp cấu trúc “ta làm”, “ta nhập” ở đầu mỗi câu thơ Nhịp điệu thơ như trở nên nhẹ nhàng, khiến cho câu
thơ như lời tâm tình về ước nguyện hóa thân, hiến dâng của nhà thơ Kết hợp độc
đáo giữa “cành hoa”, “con chim hót”, “nốt trầm xao xuyến” là giản dị, thật hàm
xúc Ta bắt gặp sự đồng điệu giữa tâm hồn thơ Thanh Hải với tâm hồn nhạc sĩ Trương Quốc Khánh:
“Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương…”
(Tự nguyện)
Nhà thơ dù gần đất xa trời nhưng trong ông vẫn cháy lên ngọn lửa của khát vọng để rồi đỉnh cao của mong ước ấy:
“Một mùa xuân nho nhỏ”
Trang 1311
Hình ảnh ẩn dụ độc đáo cùng với láy “nho nhỏ” thể hiện ước muốn khát
vọng khiêm tốn, giản dị, đẹp đẽ nhất mong muốn đóng góp cho mùa xuân đất nước Nó như đã khắc sâu trong tâm hồn mỗi người:
“Mỗi cuộc đời đã hoá núi sông ta”
(Nguyễn Khoa Điềm)
Không bồng bột nhất thời, mà đó còn là một đời người:
“Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
Vẫn luôn “lặng lẽ” dâng hiến cho cuộc đời những gì tươi trẻ, nồng nhiệt nhất Điệp ngữ “dù là” kết hợp với cặp từ trái nghĩa “hai mươi”, “tóc bạc”
khẳng định sự trường tồn của khát vọng, lí tưởng sống là cống hiến, hi sinh Tình yêu đời, yêu cuộc sống trỗi dậy mãnh liệt, trở thành khúc hát tâm tình trong những dòng thơ cuối Khúc hát đó thật cảm động và sâu lắng
Thanh Hải kết thúc bài thơ của mình bằng những lời ca, tình yêu thương đối với làn điệu truyền thống:
“Mùa xuân – ta xin hát Khúc Nam ai, Nam bình”
Điệu Nam ai, Nam bình là làn điệu truyền thống của xứ Huế Trải qua bao nhiêu năm làn điệu truyền thống ấy vẫn vang vọng mãi Điệu hát chứa đựng âm điệu ai oán, buồn đau hay âm thanh trong trẻo của cuộc sống
“Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phách tiền đất Huế”
Phách tiền là nhạc cụ tấu lên âm thanh rộn ràng cho bài ca xứ Huế Giai điệu ngọt ngào để lại dư âm về cuộc sống, sức sống mới Thể hiện niềm tự hào, hát vang mãi giai điệu của xứ Huế