1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh độ lọc cầu thận theo công thức Cockcroft-Gault, MDRD và xạ hình thận có dược chất phóng xạ

6 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 534,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá độ lọc cầu thận theo công thức Cockcroft-Gault, MDRD và độ lọc cầu thận qua xạ hình thận có iod phóng xạ kết hợp với so sánh sự khác nhau cũng như ý nghĩa từng phương thức đối với đo mức lọc cầu thận, hiệu quả rõ rệt thể hiện trên phương pháp xạ hình thận.

Trang 1

SO SÁNH ĐỘ LỌC CẦU THẬN THEO CÔNG THỨC COCKCROFT- GAULT,

MDRD VÀ XẠ HÌNH THẬN CÓ DƯỢC CHẤT PHÓNG XẠ

Nguyễn Đình Vũ 1 , Trần Duy Phúc 1 , Bùi Thị Minh Ngọc 1

Hồ Thị Hồng Nhung 1 , Nguyễn Thị Minh Phương 1 , Đinh Thị Hoài Ngọc 1

TÓM TẮT 43

Đặt vấn đề: Đánh giá độ lọc cầu thận theo

công thức Cockcroft-Gault, MDRD và độ lọc cầu

thận qua xạ hình thận có iod phóng xạ kết hợp

với so sánh sự khác nhau cũng như ý nghĩa từng

phương thức đối với đo mức lọc cầu thận, hiệu

quả rõ rệt thể hiện trên phương pháp xạ hình

thận

Đối tượng và phương pháp: 194 người hiến

thận tự nguyện tại Khoa Thận nhân tạo được tính

mức lọc cầu thận theo công thức

Cockcroft-Gault, MDRD và được làm xạ hình thận tiêm

dược chất phóng xạ Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp mô tả cắt ngang, hồi cứu

Kết quả: Mức lọc cầu thận trung bình theo

các công thức ước đoán và xạ hình thận:

- Theo công thức Cockcroft-Gault: 99,79 ±

14,72 ml/ phút/ 1,73m 2

- Theo công thức MDRD: 87,34 ± 13,10 ml/

phút/ 1,73m 2

- Theo phương pháp xạ hình thận: 128,68 ±

16,15 ml/ phút/ 1,73m 2

- Mối tương quan giữa 2 công thức

Cockcroft-Gault và MDRD rất chặt chẽ (r=

0,77), p <0,001

- Không có mối tương quan giữa hai phương

pháp này với phương pháp xạ hình thận

1

Bệnh viện Trung ương Huế

Liên hệ tác giả: Nguyễn Đình Vũ

Email: dr.dinhvu@gmail.com

Ngày nhận bài: 5/8/2021

Ngày phản biện: 11/9/2021

Ngày duyệt bài: 20/9/2021

Kết luận: Có mối tương quan chặt chẽ về

mức lọc cầu thận giữa 2 công thức Cockcroft-Gault và MDRD Không có mối tương quan giữa hai phương pháp này với phương pháp xạ hình thận Điều này cho thấy ưu thế rõ rệt và sự cần thiết trong việc sử dụng phương pháp xạ hình thận trong lựa chọn thận để ghép

Từ khóa: Mức lọc cầu thận, Cockcroft-Gault,

MDRD, xạ hình thận

SUMMARY COMPARISON OF GLOMERULAR FILTRATION RATE BASED ON COCKCROFT-GAULT, MDRD FOMULA AND RENAL SCINTIGRAPHY WITH RADIOPHARMACEUTICALS

Background: Evaluation of glomerular

filtration rate according to the Cockcroft-Gaultformula, MDRD and glomerular filtration rate by radioiodine renal scintigraphy Combining with comparing the difference as well as the significance of each method for glomerular filtration rate measurement, the obvious effect is shown on the renal scintigraphy method

Material and method: Voluntary kidney

donation patients at the Department of Hemodialysis were calculated glomerular filtration rate according to the Cockcroft-Gaultformula, MDRD and radioiodine injection renal scintigraphy About 194 patients Cross-sectional, retrospective descriptive meth

Trang 2

Results: About the glomerular filtration rate

according to the estimated formulas and renal

scintigraphy

- According to the formula Cockcroft-Gault:

99.79 ± 14.72 ml/min/1.73m2

- According to the MDRD formula: 87.34 ±

13.10 ml/min/1.73m2

- According to renal scintigraphy method:

128.68 ± 16.15 ml/min/1.73m2

The correlation between the two formulas

Cockcroft - Gault and MDRD is very close (r =

0.77), p < 0.001 There is no correlation between

these two methods with the renal function

scintigraphy method

Conclusion: There is a close correlation in

glomerular filtration rate between the two

formulas Cockcroft-Gault and MDRD.There is

no correlation between these two methods with

renal scintigraphy This shows a clear advantage

and necessity in using renal scintigraphy in

kidney selection for transplantation

Cockcroft-gault, MDRD, renal scintigraphy…

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Năm 1976, Cockcroft và Gault đã đưa ra

công thức ước đoán hệ số thanh lọc creatinin

dựa vào creatinin máu, cân nặng và tuổi Từ

đó đến nay có nhiều tác giả khác như Gates,

Jelliffe, Mawer,…đã đưa ra các công thức

tính hệ số thanh lọc creatinin khác[1], [6]

Gần đây Levey A đã phát triển công thức

Modification of Diet in Renal Disease

(MDRD) hiệu chỉnh theo diện tích da cơ thể,

được chứng minh chính xác hơn so với công

thức Cockcroft-Gault dù cả hai đều sử dụng

đến nồng độ creatinin máu, tuổi và giới tính

để ước lượng mức lọc cầu thận Tuy nhiên

công thức tính hệ số thanh thải creatinin

Cockcroft-Gault còn dựa trên cân nặng của

bệnh nhân nên không chính xác ở những bệnh nhân phù, béo phì.Vì vậy, việc ứng dụng công thức MDRD trong đánh giá mức lọc cầu thận chủ yếu dựa trên nồng độ creatinin máu bệnh nhân được đánh giá khá

là hữu ích vì tính toán giản đơn, không phụ thuộc cân nặng và dễ áp dụng rộng rãi trong lâm sàng[1]

Phương pháp xạ hình thận với dược chất phóng xạ có thể đánh giá hình thái, chức năng, hoạt động của từng quả thận riêng biệt

Vì vậy, xạ hình thận được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng để chẩn đoán nhiều bệnh lý thận và tiết niệu như bệnh thận ứ nước do sỏi, tăng huyết áp do hẹp động mạch thận, đánh giá chức năng thận ở người cho thận và bệnh nhân sau ghép thận [2], [7] Hiện nay, thận từ người hiến sống tự nguyện đóng vai trò rất quan trọng trong ghép thận Chính những lý do trên mà chúng tôi tiến hành thực

hiện đề tài So sánh độ lọc cầu thận theo công

thức Cockcroft-Gault, MDRD và xạ hình thận có dược chất phóng xạ với hai mục tiêu

sau:

1 Đánh giá độ lọc cầu thận theo công thức Cockcroft-Gault, MDRD và độ lọc cầu thận qua xạ hình thận có dược chất phóng

xạ

2 So sánh sự khác nhau cũng như ý nghĩa từng phương thức đối với đo mức lọc cầu thận, hiệu quả rõ rệt thể hiện trên phương pháp xạ hình thận

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện trên 194 người hiến thận tự nguyện tại Khoa Thận nhân tạo được tính mức lọc cầu thận theo công thức Cockcroft-Gault, MDRD và được

Trang 3

làm xạ hình thận có dược chất phóng xạ

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

194 người hiến thận tự nguyện tại khoa

Thận nhân tạo từ năm 2018 đến năm 2021

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu: Những

người khỏe mạnh về thăm khám lâm sàng và

cận lâm sàng

2.1.2 Tính hệ số thanh thải creatinin nội

sinh theo công thức ước đoán như sau:

[5],[6]

- Theo công thức Cockcroft-Gault (C – G)

Scr: Nồng độ creatinin huyết thanh

(µmol/l)

BSA: diện tích da cơ thể (m2) theo công

thức Dubois như sau

BSA = 0,20247 × h0,725× P0,425

(với h: chiều cao, P: cân nặng, nếu là nữ

thì nhân 0,85)

- Theo công thức MDRD:

Ccr = 186,3 × -1,154 × (tuổi)-0,203 × K × k

(với Scr: Nồng độ creatinin huyết thanh)

K: hệ số giới tính (K=1 nếu là nam;

K=0,742 nếu là nữ)

k: hệ số chủng tộc (k= 1,212 nếu là da đen; k=1 nếu là chủng tộc khác)

2.1.3 Xạ hình thận để đánh giá chức năng thận như sau:[7]

(GFR: mức lọc cầu thận)

- GFR tổng (ml/ phút) = 9,8127 x

độ tập trung của 2 thận – 6,82519

- GFR thận phải = GFR tổng x (số xung của thận phải/ số xung của 2 thận)

- GFR thận trái = GFR tổng x (số xung của thận trái/ số xung của 2 thận)

- GFR hiệu chỉnh, hiệu chỉnh theo diện tích da của cơ thể (ml/phút/m2)

- GFR hiệu chỉnh = GFR tổng x 1,73/ S (1,73 là diện tích da trung bình của người châu Âu tính bằng m2 S là diện tích da tính bằng m2 theo công thức sau: SBA = 0,20247

× h0,725× P0,425)

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu mô tả, cắt ngang, hồi cứu Tất

cả số liệu thu thập được ghi vào phiếu điều tra có sẵn và được đưa vào máy tính xử lý theo phương pháp thống kê y học, chương

trình SPSS 20.0 và Excel 2010

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 33,86 0,33 (24-53)tuổi Tỷ lệ nam chiếm 56,7%

nhiều hơn số nữ là 26 người chiếm tỷ lệ 43,3%

Bảng 1 Mức lọc cầu thận theo các cách tính Cockcroft-Gaultvà MDRD

MLCT ước tính (ml/phút/1,73m 2 )

Nhận xét: Mức lọc cầu thận (MLCT) trung bình tính theo công thức Cockcroft-Gaultlà

99,79 ±14,72 ml/phút/1,73m2 lớn hơn MLCT tính theo công thức MDRD là 87,34 ± 13,10 ml/phút/1,73m2

Trang 4

Bảng 2 Phân bố mức lọc cầu thận theo xạ hình thận

MLCT ước tính (ml/phút/1,73m 2 )

Nhận xét: MLCT theo xạ hình thận ở thận Phải là 56,41±7,36 ml/phút/1,73m2 nhỏ hơn thận Trái là 59,98±6,56 ml/phút/1,73m2 và tổng của cả 2 thận là 128,68±16,15ml/phút/1,73m2

Bảng 3 Tương quan mức lọc cầu thận tính bằng công thức Cockcroft-Gaultvà cân nặng

Cân nặng

Biểu đồ 1: Phương trình tương quan giữa mức lọc cầu thận

tính bằng công thức Cockcroft-Gaultvà cân nặng

Nhận xét: MLCT tính bằng công thức Cockcroft-Gaultvà cân nặng tương quan trung bình

theo phương trình y = 0,885x + 42,841 (r=0,47)

Bảng 4 Tương quan mức lọc cầu thận tính bằng công thức Cockcroft-Gaultvà công thức

MDRD

Cockcroft-Gault MDRD Hệ số tương quan r p

MLCT

(ml/phút/m2) 99,79±14,72 87,34±13,10 0,77 0,0000

2 )

2 )

Trang 5

Công thức MDRD (ml/phút/1,73m 2 )

Biểu đồ 2: Phương trình tương quan giữa mức lọc cầu thận

tính bằng công thức Cockcroft-Gault và công thức MDRD

Nhận xét: MLCT tính bằng công thức Cockcroft-Gaultvà công thức MDRD tương quan

chặt chẽ theo phương trình y = 0,8629x + 24,425 (r=0,77)

Bảng 5 Tương quan mức lọc cầu thận tính bằng công thức MDRD và xạ hình thận

MDRD Xạ hình thận Hệ số tương quan r P

MLCT

(ml/phút/1,73m2) 87,34±13,10 128,68±16,15 0,017 0,815

Nhận xét: MLCT tính bằng công thức MDRD và xạ hình thận không có sự tương quan

với nhau (p>0,05)

Bảng 6 Tương quan mức lọc cầu thận tính bằng công thức Cockcroft-Gaultvà xạ hình thận

Cockcroft-Gault Xạ hình thận Hệ số

tương quan r P

MLCT

(ml/phút/1,73m2) 99,79±14,72 128,68±16,15 0,029 0,693

Nhận xét: MLCT tính bằng công thức Cockcroft-Gaultvà xạ hình thận không có sự tương

quan với nhau (p>0,05)

IV BÀN LUẬN

4.1 Về sự phân bố đối tượng nghiên

cứu theo các chỉ số nhân trắc

4.1.1 Sự phân bố theo giới

Giới là một trong những yếu tố có vai trò

quan trọng trong đánh giá MLCT Vì vậy các

công thức tính MLCT ước đoán đều dùng

đến các hệ số khác nhau khi tính toán MLCT

theo giới Nhóm nghiên cứu của chúng tôi gồm 194 người, trong đó nam giới có tỷ lệ cao hơn chiếm 56,7%

4.1.2 Sự phân bố theo tuổi

Tuổi ảnh hưởng rất lớn đến chức năng lọc cầu thận Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 33,86 ± 0,33 Độ tuổi này thấp hơn so với

2 )

2 )

Trang 6

các nghiên cứu khác như nghiên cứu của

Trần Hoàng Thái Dương, Amanda J W

Branten [4], [8]

4.1.3 Về cân nặng và mối liên quan với

MLCT

MLCT của mỗi người sẽ thay đổi tùy theo

khối lượng cơ thể tương ứng với khối lượng

thận Cân nặng là yếu tố ảnh hưởng đến mức

lọc cầu thận Trong nghiên cứu của chúng

tôi, cân nặng trung bình là 64,35 ± 7,73, có

mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa cân

nặng trung bình và các công thức tính MLCT

ước đoán, đặc biệt công thức

Cockcroft-Gault (p<0,001) Kết quả nghiên cứu của

chúng tôi tương tự với kết quả nghiên cứu

của Võ Tam và cộng sự [5]

4.2 Mức lọc cầu thận dựa theo các

công thức Cockcroft-Gault, MDRD, xạ

hình thận

Trong nghiên cứu của chúng tôi, giá trị

MLCT tính theo công thức ước đoán và

phương pháp xạ hình thận lần lượt là: theo

công thức Cockcroft-Gault: 99,79 ± 14,72

ml/ phút/ 1,73m2, theo công thức MDRD:

87,34 ± 13,10 ml/ phút/ 1,73m2, theo phương

pháp xạ hình thận: 128,68 ± 16,15 ml/ phút/

1,73m2 Nghiên cứu của chúng tôi cũng có

kết quả tương tự đối với nhóm bình thường

trong nghiên cứu của Võ Tam và cộng sự

4.3 Mối tương quan MLCT giữa các

công thức ước đoán và xạ hình thận

4.3.1 Tương quan giữa công thức

Cockcroft-Gault và MDRD

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mối

tương quan giữa 2 công thức này rất chặt chẽ

(r= 0,77), p<0,001 Tuy nhiên, do công thức

Cockcroft-Gaultngoài việc dựa vào nồng độ

creatinin máu còn dựa vào trọng lượng cơ

thể của bệnh nhân nên có thể giảm sự chính

xác so với MDRD.Nghiên cứu của chúng tôi

cũng tương tự những nghiên cứu khác như

nghiên cứu của F Buitrago và Cs, Narinder

P Singh, (r= 0,903, p<0,001) hay nghiên cứu của Võ Tam và cs [5], [9], [10]

4.3.2 Tương quan giữa các công thức ước đoán và xạ hình thận

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không

có sự tương quan khi tính MLCT giữa công thức Cockcroft-Gaultvà MDRD với xạ hình thận (r= 0,017, r = 0,029, p>0,05)

V KẾT LUẬN

Về mức lọc cầu thận trung bình theo các công thức ước đoán và xạ hình thận

- Theo công thức Cockcroft-Gault: 99,79

± 14,72 ml/ phút/ 1,73m2

- Theo công thức MDRD: 87,34 ± 13,10 ml/ phút/ 1,73m2

- Theo phương pháp xạ hình thận: 128,68

± 16,15 ml/ phút/ 1,73m2

Tương quan giữa các công thức ước đoán và phương pháp xạ hình thận

- Mối tương quan giữa 2 công thức Cockcroft-Gaultvà MDRD rất chặt chẽ (r= 0,77), p < 0,001

- Không có mối tương quan giữa hai phương pháp này với phương pháp xạ hình thận Điều này cho thấy ưu thế rõ rệt và sự cần thiết trong việc sử dụng phương pháp xạ hình thận trong lựa chọn thận để ghép

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hà Hoàng kiệm (2010), Thận học lâm sàng,

Nhà xuất bản y học, tr 155 – 160, tr 181 –

201, tr 336 – 342

2 Hà Hoàng Kiệm (2010), các phương pháp

chẩn đoán bệnh thận bằng đồng vị phóng xạ , Nhà xuất bản y học, tr 27 - 87

3 Kellerman G, Đỗ Đình Hồ và Nguyễn Thy Khê (hiệu đính) (2011), Đánh giá chức năng

thận, Sổ tay những kết quả xét nghiệm bất

Ngày đăng: 05/07/2022, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

làm xạ hình thận có dược chất phóng xạ. - So sánh độ lọc cầu thận theo công thức Cockcroft-Gault, MDRD và xạ hình thận có dược chất phóng xạ
l àm xạ hình thận có dược chất phóng xạ (Trang 3)
Bảng 2. Phân bố mức lọc cầu thận theo xạ hình thận - So sánh độ lọc cầu thận theo công thức Cockcroft-Gault, MDRD và xạ hình thận có dược chất phóng xạ
Bảng 2. Phân bố mức lọc cầu thận theo xạ hình thận (Trang 4)
Bảng 5. Tương quan mức lọc cầu thận tính bằng công thức MDRD và xạ hình thận. - So sánh độ lọc cầu thận theo công thức Cockcroft-Gault, MDRD và xạ hình thận có dược chất phóng xạ
Bảng 5. Tương quan mức lọc cầu thận tính bằng công thức MDRD và xạ hình thận (Trang 5)
MDRD Xạ hình thận Hệ số tương quan P - So sánh độ lọc cầu thận theo công thức Cockcroft-Gault, MDRD và xạ hình thận có dược chất phóng xạ
h ình thận Hệ số tương quan P (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm