Bài viết trình bày nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh u tuyến thượng thận (UTTT) và đánh giá kết quả điều trị UTTT bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ U TUYẾN
THƯỢNG THẬN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
Trần Đức Dũng 1 , Nguyễn Việt Hải 1 , Trần Đức 1 , Nghiêm Trung Hưng 1 , Dương Hồng Quân 1 ,
Nguyễn Thu Hà 1 , Lê Văn Quyết 2
TÓM TẮT 12
Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm lâm
sàng, cận lâm sàng bệnh u tuyến thượng thận
(UTTT) và đánh giá kết quả điều trị UTTT bằng
phẫu thuật nội soi ổ bụng tại Bệnh viện Trung
ương Quân đội 108
Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu hồi
cứu mô tả cắt ngang trên 47 bệnh nhân (BN)
UTTT được điều trị phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt
u tuyến thượng thận từ tháng 01/2019 đến
04/2021
Kết quả: Tuổi trung bình 50,7 ± 13,4 tuổi
(22-71 tuổi) Tỉ lệ nam/nữ: 1,35/1 u bên phải
68,1% u bên trái 31,9%, kích thước u trung
bình: 38,02 ± 14,4 mm, u tăng tiết aldosterone
8,5%, catecholamin: 23,4%, cortisol: 4,3% Thời
gian phẫu thuật trung bình: 104,2 ± 32,6 phút
(50-190 phút) 2/47 BN (4,3%) chuyển mổ mở,
không có BN truyền máu Ngày nằm hậu phẫu
trung bình: 4,7 ± 1,4 ngày (từ 3 - 7 ngày), không
biến chứng sau mổ Giải phẫu bệnh: 28/47 BN
(59,6%) là u vỏ tuyến thượng thận, u tủy thượng
thận chiếm 23,4%
1
Trung tâm Tiết niệu-Nam khoa, Bệnh viện
TƯQĐ 108
2
Trung tâm Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện
TƯQĐ 108
Liên hệ tác giả: Trần Đức Dũng
Email: dung.tran2412@gmail.com
Ngày nhận bài: 27/7/2021
Ngày phản biện: 23/8/2021
Kết luận: UTTT thường được phát hiện tình
cờ chiếm 63,8%, U vỏ tuyến thượng thận chiếm
đa số 59,6% Phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt UTTT
là phương pháp an toàn, hiệu quả cao, ít xâm lấn
Từ khoá: U tuyến thượng thận, phẫu thuật
nội soi ổ bụng cắt u tuyến thượng thận
SUMMARY CLINICAL AND LABORATORY CHARACTERISTICS AND TREATMENT RESULTS OF ADRENAL GLAND TUMORS BY LAPAROSCOPIC ADRENALECTOMY AT 108 MILITARY CENTER HOSPITAL
Objective: To describe clinical and laboratory characteristics and treatment results of laparoscopic adrenalectomy of adrenal tumors at Military Center Hospital 108 from 01/2019 to 04/2021
Patients and methods: 47 patients were
diagnosis of adrenal tumors who underwent laparoscopic adrenalectomy, since 01/2019 to 04/2021 Results: all patients had successful surgery at 108 Military Center Hospital Mean age: 50.7 ± 13.4 (22-71) year old, ratio of male to female: 1.35/1, right tumor: 68.1%, left tumor: 31.9%, mean tumor size: 38.02 ± 14.4 mm , hyper secrection of aldosteron: 8.5%, catecholamin: 23.4%, cortisol: 4.3% Average surgery time was 104.2 ± 32.6 minutes(50 - 190 minutes) 2/47 patients transopen surgery, no patient required blood transfusion The average postoperative hospital stay: 4.7 ± 1.4 days No
Trang 2postoperative complication Pathology:
pheochromocytoma 23.4%
Conclusion: Adrenal gland tumors are often
detected incidentally, accounting for 63.8%,
adrenocortical tumors account for the majority of
59.6% Laparoscopic surgery through abdominal
surgery is a safe method, high efficiency and less
invasive treatments
Keywords: adrena tumor, laparoscopic
adrenalectomy
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tuyến thượng thận là tuyến nội tiết có vai
trò quan trọng đối với hoạt động sống của cơ
thể, hormon của tuyến tham gia các quá trình
chuyển hóa phức tạp Sự tăng tiết các nội tiết
tố do u tuyến thượng thận gây nên nhiều hội
chứng bệnh lý khó có thể điều trị triệt để
bằng nội khoa (1) Khi đó, hướng điều trị tốt
nhất với UTTT là phẫu thuật cắt bỏ u Năm
1992, Gagner là người đầu tiên thực hiện
phẫu thuật nội soi cắt UTTT, khắc phục được
những khó khăn của mổ mở (2), từ đó đến
nay đã có nhiều tác giả công bố những
nghiên cứu về phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt
UTTT, qua đó đều nhận xét và thống nhất:
PTNS có nhiều ưu điểm hơn phẫu thuật mổ
mở kinh điển trong cắt bỏ UTTT, Smith còn
coi PTNS là tiêu chuẩn vàng trong điều trị
UTTT (3) Tại Việt Nam, phẫu thuật cắt
UTTT qua nội soi ổ bụng được thực hiện bắt
đầu từ năm 1998 bởi Trần Bình Giang (4)
Năm 2004, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng thực
hiện thành ca đầu tiên cắt UTTT qua nội soi
sau phúc mạc (3)
Phẫu thuật nội soi qua ổ bụng với ưu điểm
phẫu trường, thao tác dễ dàng hạn chế được
thấp nhất các tai biến, biến chứng Vì vậy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với 2
mục tiêu sau:
- Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng u tuyến thượng thận tại Bệnh viện 108
- Kết quả phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt UTTT
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Gồm 47 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán UTTT, được điều trị bằng phẫu thuật nội soi
ổ bụng cắt UTTT tại Bệnh viện TƯQĐ 108,
từ 01/2019 đến 04/2021
- Chỉ định phẫu thuật: (5) U tuyến thượng thận > 3cm U tuyến thượng thận < 3cm nhưng chế tiết hormon, hoặc CT có biểu hiện xâm lấn xung quanh, hoặc BN không đồng ý lựa chọn phương pháp theo dõi tích cực
- Chống chỉ định:
Ung thư tuyến thượng thận xâm lấn UTTT có triệu chứng trên phụ nữ có thai
Rối loạn đông máu, tiền sử mổ qua ổ bụng, chấn thương bụng có viêm dính
- Lựa chọn bệnh nhân phẫu thuật nội soi ổ bụng: các trường hợp kích thước lớn nhất của u < 10cm
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế: Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca lâm sàng
- Các chỉ tiêu nghiên cứu cơ bản: tuổi, giới, bên bị u, phân chia kích thước u theo tác giả Bùi Chín (2017) (6)
- Các chỉ tiêu đánh giá trong mổ:
Thời gian mổ: tính từ lúc đặt trocar đến lúc đóng vết mổ
Lượng máu mất trong mổ: dựa theo lượng máu trong bình hút và gạc thấm máu Rối loạn huyết động: khi có sự can thiệp dùng thuốc hạ áp của bác sĩ gây mê trong lúc phẫu thuật
Trang 3Thống kê các tai biến trong mổ: tổn
thương mạch máu, tổn thương tạng, tổn
thương cơ hoành…
- Các chỉ tiêu đánh giá sau mổ: Ngày nằm điều trị; các biến chứng sau mổ
- Xử lý số liệu theo phần mềm SPSS
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Một số đặc điểm của bệnh nhân UTTT trong nhóm nghiên cứu
Bảng 1 Đặc điểm tuổi và giới
Tuổi trung bình 50,7 ±13,4 (22-71 tuổi) Nhóm tuổi mắc cao nhất là > 50 tuổi chiếm
51,1% Tỉ lệ nam/nữ: 1,35/1
Vị trí u tuyến thượng thận: UTTT gặp chủ yếu bên phải 32/47 BN chiếm 68,1%, bên trái 15/47 BN (31,9%)
Bảng 2: Chẩn đoán lâm sàng
U vỏ TTT trên lâm sàng là 12,8%, u tuỷ là 23,4%, UTTT không chế tiết là 63,8%
Thay đổi nội tiết bệnh nhân trước mổ: Tăng Aldosteron gặp 4/47 BN chiếm: 8,5%, tăng Cortisol 2/47 BN (4,3%), tăng Catecholamin 11/47 BN (23,4%), U không chế tiết 30/47 BN (63,8%)
Bảng 3: Phân bố bệnh nhân theo kích thước u theo tác giả Bùi Chín (2017)
Kích thước UTTT trung bình: 38,02 ± 14,4 mm, trong đó UTTT có kích thước < 40 mm chiếm 57,4%
Trang 43.2 Phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt
UTTT
Thời gian phẫu thuật trung bình: 104,2 ±
32,6 phút (50-190 phút)
Lượng máu mất trung bình là: 145,3 ±
115,2 ml
Tai biến trong và sau phẫu thuật: Có 5
trường hợp, trong đó 4/47 BN (8,5%) chảy máu trong mổ, 2 BN do rách TM thượng thận chính, khó kiểm soát, phải chuyển mổ
mở 2 BN phẫu tích rách 1 phần TMC bụng
do UTTT lớn > 7cm, u bên phải, dính, khâu nội soi cầm máu TMC bụng không mổ mở
1/47 BN (2,1%) có tràn khí dưới da bìu
Bảng 4: Liên quan giữa diễn biến trong phẫu thuật với kích thước u
Yếu tố liên quan
≤ 40mm (n=27)
> 40mm (n=20)
Lượng máu mất trong mổ 126,7±104,5 176,5±121,7
Thời gian mổ trung bình:140,2 ± 32,6 phút (50- 190 phút)
Có 8/47 BN (17,0%) rối loạn huyết động trong mổ
Lượng máu mất trung bình:145,3 ± 11,2 ml
Thời gian rút dẫn lưu trung bình là 2,6± 0,68 ngày (từ 1 - 4 ngày)
Thời gian nằm điều trị sau phẫu thuật trung bình là 4,7 ± 1,4 ngày (từ 3 - 7 ngày)
Bảng 5: Kết quả giải phẫu bệnh lý u tuyến thượng thận
Kết quả thu được 28/47 BN (59,6%) là u vỏ tuyến thượng thận, trong đó có 1 BN carcinoma vỏ thượng thận và 1 BN u vỏ nguy cơ ác tính cao U tủy thượng thận chiếm
23,4%
IV BÀN LUẬN
Đặc điểm lâm sàng trong nghiên cứu:
Tuổi trung bình 50,7 ±13,4 tuổi (22-71 tuổi)
Nhóm tuổi mắc cao nhất là > 50 tuổi chiếm
51,1% Tỉ lệ nam/nữ: 1,35/1 So với tác giả
Bùi Chín (2017) tuổi trung bình là 41,2 ±
12,8 tuổi (20-67 tuổi), nhóm mắc cao nhất là 50-60 tuổi, tỉ lệ nam /nữ: 1/ 2,1.(6), so với
Vũ Văn Hà ( 2015) tuổi trung bình: 46,9 ± 12,9 tuổi (19-77) Tỉ lệ nữ/nam là 3,2/1.(7), nhóm tuổi cao nhất 30- 50 chiếm 50% Theo Gockel và cộng sự tiến hành trên 245 BN
Trang 5được cắt UTTT nội soi, tỉ lệ nữ/nam là
1,94/1 và hay gặp nhất ở độ tuổi 30-40 (8)
Nghiên cứu chúng tôi UTTT gặp chủ yếu
bên phải chiếm 68,1% so với tác giả Bùi
Chín (2017): UTTT bên phải chiếm 69,8%
(6), với Bùi Văn Hà (2015): UTTT bên phải
chiếm 38,1% (7) Theo Trần Quang Nam
(2011) vị trí thường gặp UTTT phải chiếm
61,8% (9)
Chẩn đoán lâm sàng chúng tôi thấy: hội
chứng conn (4/47 BN) được chẩn đoán khá
chính xác trước mổ với biểu hiện lâm sàng
và cận lâm sàng rõ rệt: tăng huyết áp, yếu cơ,
hạ Kali máu, tăng Aldosteron Hội chứng
Cushing (2/47BN) có biểu hiện lâm sàng rõ
và tăng tiết Cortisol 11/47 BN được chẩn
đoán là u tủy thượng thận với biểu hiện tăng
huyết áp và tăng Catecholamin máu Còn lại
30/47 BN được phát hiện tình cờ khi kiểm
tra sức khỏe, không có biểu hiện lâm sàng rõ
rệt
Xét nghiệm về nội tiết tố: Tăng
Aldosteron chiếm: 8,5%, tăng Cortisol chiếm
4,3%, tăng Catecholamin chiếm: 23,4% So
với tác giả Bùi Chín (2017) n=43, tỷ lệ tăng
Catecholamin cao nhất chiếm 39,5%, tăng
cortisol 32,6%, tăng aldosterone 16,3% (6),
còn so với Thái Kinh Luân (2014), tăng
catecholamine 40,8%, tăng cortisol 19,1%,
tăng aldosterone 22,8% (10), trong bệnh lý
về UTTT thay đổi nội tiết rất đa dạng, việc
khảo sát trước phẫu thuật có tính chất tham
khảo
Kích thước UTTT trung bình là Kích
thước UTTT trung bình: 38,02±14,4 mm,
trong đó UTTT có kích thước < 40 mm
chiếm 57.4% Có kết quả gần tương đương
so với tác giả Bùi Chín (2017) UTTT có kích
thước trung bình là 45 ± 23 mm (20-80 mm)
(6), so với Vũ Văn Hà (2015) UTTT có kích
thước trung bình 28,0 ± 11,4mm (15 -
60mm) (7)
Chỉ định phẫu thuật: phần lớn các tác giả đều chấp nhận vai trò của phẫu thuật nội soi trong cắt bỏ u tuyến thượng thận Tuy nhiên việc lựa chọn chỉ định là vấn đề quan trọng Winfield HN Cho rằng chỉ nên thực hiện phẫu thuật nội soi cắt bỏ u tuyến thượng thận
≤ 6 cm Godellas CV Lại cho rằng giới hạn này là ≤ 8 cm (11)
Để nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan Smith CD (1999) đã đưa ra một số căn
cứ chống chỉ đinh tuyệt đối với phẫu thuật nội soi cắt u tuyến thượng thận là: kích thước khối u > 10 cm, sự ác tính của khối u, di căn hạch, di căn xa, tình trạng toàn thân và tiền
sử ngoại khoa không cho phép tiến hành phẫu thuật (5)
Chúng tôi lựa chọn chỉ định được căn cứ theo quan điểm của Smith CD (1999) ngay
từ đầu Chúng tôi chỉ định phẫu thuật với UTTT có kích thước < 10 cm và không có dấu hiệu xâm lấn tạng xung quanh trên CT Scan Đối với UTTT phát hiện tình cờ không chức năng bài tiết , một số tác giả đề nghị cắt UTTT khi kích thước > 50 mm, một số tác giả khác lại chọn phẫu thuật khi UTTT > 30
mm Tỷ lệ Carcinoma vỏ thượng thận tăng theo kích thước u, u càng lớn tỷ lệ carcinoma
vỏ TTT càng cao (10) Trong nghiên cứu
này, UTTT không bài tiết 30/47 BN (63,8%)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian phẫu thuật trung bình: 104,2 ± 32,6 phút
(50-190 phút), dài hơn so với tác giả Bùi Chín (2017) thời gian phẫu thuật trung bình: 81.9
± 26,8 phút (50-130 phút) (6), so với Vũ Văn
Hà (2015) thời gian mổ trung bình là 95,4 ± 24,1 phút (60 - 150 phút) (7) Trần Bình Giang (n=100) là 80 phút.(12) tương đương
so với kết quả nội soi trong và sau phúc mạc của một số tác giả khác như Gagner là
123 phút (n =118) (2), Dudley là 120 phút
Trang 6(13) Thời gian mổ phụ thuộc nhiều vào kinh
nghiệm của phẫu thuật viên, vị trí, kích
thước và bản chất UTTT Những trường hợp
đầu tiên do bước đầu triển khai kỹ thuật nội
soi ổ bụng nên thời gian mổ lâu hơn các
trường hợp về sau Kích thước u lớn > 40
mm chiếm 42,5% U bên phải chiếm 68,1%,
UTTT bên phải thường mổ lâu hơn so với u
bên trái vì có gan che lấp và do sự có mặt
của tĩnh mạch chủ dưới Bản chất u: thời
gian mổ kéo dài gặp nhiều ở u chế tiết, do
khó khăn trong mổ và hồi sức bệnh nhân, u
dễ nhạy cảm khi phẫu thuật, dễ giải phóng
hormon, làm rối loạn huyết động trong mổ
Nghiên cứu của chúng tôi thời gian mổ trung
bình của u ≤ 40 mm: 103,5±30,3 phút so với
u > 40 mm: 102,1±36,1 phút, kết quả tương
đương nhau với p = 0,887
So với Vũ Văn Hà (2015): u > 40mm
thời gian mổ là 134 phút, u ≤ 40mm thời
gian mổ là 87,6 phút với p < 0,001 (7)
Những khối u có kích thước > 40mm thời
gian mổ lâu hơn do tăng sinh mạch máu,
xâm lấn, chèn ép xung quanh, làm hẹp
trường mổ gây khó khăn khi di động, phẫu
tích giải phóng u, đặc biệt khi kiểm soát TM
thượng thận chính bên phải Nghiên cứu của
Gockel cho thấy thời gian mổ nhóm có u ≤
50mm là 90 phút, của nhóm u > 50mm là
125 phút với p = 0,004[13] Theo Nguyễn
Đức Tiến, thời gian mổ nhóm u ≤ 50 mm là
75 phút, của nhóm u > 50 mm là 96 phút với
p = 0,03 (11)
Trong nghiên cứu này, lượng máu mất
trung bình là: 145,3 ± 115,2 ml (50-500 ml),
so với Vũ Văn Hà (2015) lượng máu mất
trung bình: 90,7 ± 14,5ml (50-500ml) (7) So
với Vũ Phước Khương lượng máu mất trung
bình là: 53,1 ± 28 ml, nhưng không có
trường hợp nào phải truyền máu trong và sau
mổ (14)
Về tai biến: Có 4/47 BN (8,5%) chảy máu trong mổ 2 BN do rách TM thượng thận chính, khó kiểm soát, phải chuyển mổ mở 2
BN phẫu tích rách 1 phần TMC bụng do UTTT lớn > 7cm, u bên phải, dính, khâu nội soi cầm máu TMC bụng, không mổ mở 1/47
BN (2,1%) có tràn khí dưới da bìu sau 3 ngày tràn khí dưới da hết so với Bùi Chín (2017) có 1 BN chảy máu trong mổ (2,3%)
và phải truyền máu nhưng không phải chuyển mổ mở, 1 BN bị thủng cơ hoành do u
có kích thước lớn nằm bên phải (6)
Rối loạn huyết động trong phẫu thuật: hầu hết các trường hợp có u chế tiết đều tăng huyết áp trong khi phẫu tích, trong nghiên cứu này có 17/47 trường hợp u chế tiết trên lâm sàng, sau mổ chỉ có 3/17 trường hợp dùng thuốc hạ áp Tăng huyết áp khi phẫu tích và tụt huyết áp khi kẹp tĩnh mạch trung tâm chính tuyến thượng thận Tác động của bơm hơi trong phúc mạc có ảnh hưởng đến phóng thích catecholamine do UTTT tiết ra, làm ảnh hưởng huyết động trong mổ vì khi bơm hơi áp lực sẽ tăng lên làm cản trở tuần hoàn tĩnh mạch, thậm chí có thể ảnh hưởng tới hệ giao cảm, làm tăng co thắt mạch ngoại
vi Kết quả nghiên cứu cho thấy để giảm tối
đa rối loạn huyết động trong mổ, cần chuẩn
bị BN trước mổ, hạn chế phẫu tích vào u, cần khống chế sớm tĩnh mạch trung tâm tuyến thượng thận Chúng tôi gặp 8/47 BN có rối loạn huyết động trong mổ, phải dùng Nicardipni hạ áp, trong đó 5/47 BN là u tủy thượng thận, 3/47 BN là u vỏ thượng thận
So với tác giả Bùi Chín (2017), rối loạn huyết động gặp 21/43 BN và 5/43 BN tụt huyết áp trong mổ (6) Vũ Văn Hà (2015) tỉ
lệ tai biến chung là 9,6% bao gồm chảy máu trong mổ từ diện bóc tách (4,8%), đây là 2 trường hợp có u > 40mm và tràn khí dưới da
(4,8%).(7)
Trang 7Nghiên cứu này, thời gian rút dẫn lưu
trung bình là 2,6± 0,68 ngày (từ 1 - 4 ngày)
Có kết quả tương đương với Bùi Chín (2017)
thời gian rút dẫn lưu ổ mổ trung bình: 2,1 ±
0,7 ngày (2-3 ngày) (6)
Thời gian sau mổ ngắn do diễn biến trong
và sau mổ nhẹ, đây là ưu điểm của nội soi ổ
bụng và giảm chi phí điều trị Ngày nằm viện
trung bình là 4,7 ± 1,4 ngày (từ 3 - 7 ngày)
Tương đương với nghiên cứu Bùi Chín có
thời gian hậu phẫu là 5,2 ± 1,1 ngày ( 4-8
ngày) (6), so với Vũ Văn Hà (2015) là 3,5
ngày (7), Trần Bình Giang là 4,4 ngày (12)
Trong nghiên cứu này, kết quả giải phẫu
bệnh: 28/47 BN (59,6%) là u vỏ tuyến
thượng thận, trong đó có 1 BN carcinoma vỏ
thượng thận và 1 BN u vỏ nguy cơ ác tính
cao U tủy thượng thận chiếm 23,4%
V KẾT LUẬN
U tuyến thượng thận được phát hiện tình
cờ chiếm tỷ lệ 63,8%, tỷ lệ u vỏ tuyến
thượng thận chiếm đa số với 59,6% Phẫu
thuật nội soi ổ bụng cắt UTTT là phương
pháp ít xâm lấn có hiệu quả cao, tỷ lệ tai
biến-biến chứng thấp, thời gian nằm viện
ngắn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hoàng Long Các u tuyến thượng thận Bệnh
học Tiết niệu, Nhà xuất bản Y học, 2007;
trang 614-644
2 Gagner M, Lacroix A, Bolte E
Laparoscopic adrenalectomy in Cushing's
syndrome and pheochromocytoma N Engl J
Med 1992; 327(14):1033
3 Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng, Trần Thanh
Phong Nhân một trường hợp cắt bướu tuyến
thượng thận qua nội soi sau phúc mạc vùng
hông lưng Y học Việt Nam 2005; 313:198 -
204
4 Trần Bình Giang, Lê Ngọc Từ Cắt u tuyến
thượng thận qua nội soi nhân 2 trường hợp Ngoại khoa số đặc biệt - chuyên đề nội soi 2000:16 - 8
5 Smith CD, Weber CJ, Amerson JR
Laparoscopic adrenalectomy: new gold standard World J Surg 1999;23(4):389-96
6 Bùi Chín, Cao Văn Trí và CS Đánh giá tình
hình chẩn đoán và điều trị phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt u tuyến thượng thận Tạp chí y dược học - Trường ĐH Y Dược Huế 2017;số đặc biệt, 8/2017:248-53
7 Vũ Văn Hà, Nguyễn Ngọc Sơn, Hoàng Long Kết quả phẫu thuật cắt u tuyến thượng
thận lành tính qua nội soi sau phúc mạc Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh 2015;tập 19, số 4:47- 51
8 Gockel I, Kneist W, Heintz A, Beyer J, Junginger T Endoscopic adrenalectomy: an
analysis of the transperitoneal and retroperitoneal approaches and results of a prospective follow-up study Surg Endosc 2005; 19(4):569-73
9 Trần Quang Nam Nhận xét các rối loạn nội
tiết của bệnh nhân có u tuyến thượng thận trước phẫu thuật Y học TP Hồ Chí Minh 2011;tập 15, phụ bản của số 1:240-5
10 Thái Kinh Luân Đánh giá tình hình chẩn
đoán và điều trị bướu tuyến thượng thận (TTT) tại Bệnh viện Chợ Rẫy trong năm
2012 Y học TP Hồ Chí Minh 2014;Tập 18,
Số 1
11 Nguyễn Đức Tiến Phẫu thuật nội soi u
tuyến thượng thận Y học Việt Nam 2006; Số đặc biệt chuyên đề phẫu thuật nội soi và nội soi can thiệp: 326 - 31
12 Trần Bình Giang 100 trường hợp cắt tuyến
thượng thận qua nội soi ổ bụng tại bệnh viện Việt Đức Y học thực hành 2004;491:246 - 9
13 Dudley NE, Harrison BJ Comparison of
open posterior versus transperitoneal laparoscopic adrenalectomy Br J Surg 1999; 86(5):656-60
14 Võ Phước Khương Đánh giá kết quả nội soi
sau phúc mạc cắt bướu thượng thận tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương Tạp Chí Y Dược Học 2021; số đặc biệt, 01/2021:266-9