1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị u tuyến thượng thận bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng tại Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108

7 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 468,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh u tuyến thượng thận (UTTT) và đánh giá kết quả điều trị UTTT bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ U TUYẾN

THƯỢNG THẬN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG

TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108

Trần Đức Dũng 1 , Nguyễn Việt Hải 1 , Trần Đức 1 , Nghiêm Trung Hưng 1 , Dương Hồng Quân 1 ,

Nguyễn Thu Hà 1 , Lê Văn Quyết 2

TÓM TẮT 12

Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm lâm

sàng, cận lâm sàng bệnh u tuyến thượng thận

(UTTT) và đánh giá kết quả điều trị UTTT bằng

phẫu thuật nội soi ổ bụng tại Bệnh viện Trung

ương Quân đội 108

Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu hồi

cứu mô tả cắt ngang trên 47 bệnh nhân (BN)

UTTT được điều trị phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt

u tuyến thượng thận từ tháng 01/2019 đến

04/2021

Kết quả: Tuổi trung bình 50,7 ± 13,4 tuổi

(22-71 tuổi) Tỉ lệ nam/nữ: 1,35/1 u bên phải

68,1% u bên trái 31,9%, kích thước u trung

bình: 38,02 ± 14,4 mm, u tăng tiết aldosterone

8,5%, catecholamin: 23,4%, cortisol: 4,3% Thời

gian phẫu thuật trung bình: 104,2 ± 32,6 phút

(50-190 phút) 2/47 BN (4,3%) chuyển mổ mở,

không có BN truyền máu Ngày nằm hậu phẫu

trung bình: 4,7 ± 1,4 ngày (từ 3 - 7 ngày), không

biến chứng sau mổ Giải phẫu bệnh: 28/47 BN

(59,6%) là u vỏ tuyến thượng thận, u tủy thượng

thận chiếm 23,4%

1

Trung tâm Tiết niệu-Nam khoa, Bệnh viện

TƯQĐ 108

2

Trung tâm Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện

TƯQĐ 108

Liên hệ tác giả: Trần Đức Dũng

Email: dung.tran2412@gmail.com

Ngày nhận bài: 27/7/2021

Ngày phản biện: 23/8/2021

Kết luận: UTTT thường được phát hiện tình

cờ chiếm 63,8%, U vỏ tuyến thượng thận chiếm

đa số 59,6% Phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt UTTT

là phương pháp an toàn, hiệu quả cao, ít xâm lấn

Từ khoá: U tuyến thượng thận, phẫu thuật

nội soi ổ bụng cắt u tuyến thượng thận

SUMMARY CLINICAL AND LABORATORY CHARACTERISTICS AND TREATMENT RESULTS OF ADRENAL GLAND TUMORS BY LAPAROSCOPIC ADRENALECTOMY AT 108 MILITARY CENTER HOSPITAL

Objective: To describe clinical and laboratory characteristics and treatment results of laparoscopic adrenalectomy of adrenal tumors at Military Center Hospital 108 from 01/2019 to 04/2021

Patients and methods: 47 patients were

diagnosis of adrenal tumors who underwent laparoscopic adrenalectomy, since 01/2019 to 04/2021 Results: all patients had successful surgery at 108 Military Center Hospital Mean age: 50.7 ± 13.4 (22-71) year old, ratio of male to female: 1.35/1, right tumor: 68.1%, left tumor: 31.9%, mean tumor size: 38.02 ± 14.4 mm , hyper secrection of aldosteron: 8.5%, catecholamin: 23.4%, cortisol: 4.3% Average surgery time was 104.2 ± 32.6 minutes(50 - 190 minutes) 2/47 patients transopen surgery, no patient required blood transfusion The average postoperative hospital stay: 4.7 ± 1.4 days No

Trang 2

postoperative complication Pathology:

pheochromocytoma 23.4%

Conclusion: Adrenal gland tumors are often

detected incidentally, accounting for 63.8%,

adrenocortical tumors account for the majority of

59.6% Laparoscopic surgery through abdominal

surgery is a safe method, high efficiency and less

invasive treatments

Keywords: adrena tumor, laparoscopic

adrenalectomy

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tuyến thượng thận là tuyến nội tiết có vai

trò quan trọng đối với hoạt động sống của cơ

thể, hormon của tuyến tham gia các quá trình

chuyển hóa phức tạp Sự tăng tiết các nội tiết

tố do u tuyến thượng thận gây nên nhiều hội

chứng bệnh lý khó có thể điều trị triệt để

bằng nội khoa (1) Khi đó, hướng điều trị tốt

nhất với UTTT là phẫu thuật cắt bỏ u Năm

1992, Gagner là người đầu tiên thực hiện

phẫu thuật nội soi cắt UTTT, khắc phục được

những khó khăn của mổ mở (2), từ đó đến

nay đã có nhiều tác giả công bố những

nghiên cứu về phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt

UTTT, qua đó đều nhận xét và thống nhất:

PTNS có nhiều ưu điểm hơn phẫu thuật mổ

mở kinh điển trong cắt bỏ UTTT, Smith còn

coi PTNS là tiêu chuẩn vàng trong điều trị

UTTT (3) Tại Việt Nam, phẫu thuật cắt

UTTT qua nội soi ổ bụng được thực hiện bắt

đầu từ năm 1998 bởi Trần Bình Giang (4)

Năm 2004, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng thực

hiện thành ca đầu tiên cắt UTTT qua nội soi

sau phúc mạc (3)

Phẫu thuật nội soi qua ổ bụng với ưu điểm

phẫu trường, thao tác dễ dàng hạn chế được

thấp nhất các tai biến, biến chứng Vì vậy,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với 2

mục tiêu sau:

- Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng u tuyến thượng thận tại Bệnh viện 108

- Kết quả phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt UTTT

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Gồm 47 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán UTTT, được điều trị bằng phẫu thuật nội soi

ổ bụng cắt UTTT tại Bệnh viện TƯQĐ 108,

từ 01/2019 đến 04/2021

- Chỉ định phẫu thuật: (5) U tuyến thượng thận > 3cm U tuyến thượng thận < 3cm nhưng chế tiết hormon, hoặc CT có biểu hiện xâm lấn xung quanh, hoặc BN không đồng ý lựa chọn phương pháp theo dõi tích cực

- Chống chỉ định:

Ung thư tuyến thượng thận xâm lấn UTTT có triệu chứng trên phụ nữ có thai

Rối loạn đông máu, tiền sử mổ qua ổ bụng, chấn thương bụng có viêm dính

- Lựa chọn bệnh nhân phẫu thuật nội soi ổ bụng: các trường hợp kích thước lớn nhất của u < 10cm

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Thiết kế: Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca lâm sàng

- Các chỉ tiêu nghiên cứu cơ bản: tuổi, giới, bên bị u, phân chia kích thước u theo tác giả Bùi Chín (2017) (6)

- Các chỉ tiêu đánh giá trong mổ:

Thời gian mổ: tính từ lúc đặt trocar đến lúc đóng vết mổ

Lượng máu mất trong mổ: dựa theo lượng máu trong bình hút và gạc thấm máu Rối loạn huyết động: khi có sự can thiệp dùng thuốc hạ áp của bác sĩ gây mê trong lúc phẫu thuật

Trang 3

Thống kê các tai biến trong mổ: tổn

thương mạch máu, tổn thương tạng, tổn

thương cơ hoành…

- Các chỉ tiêu đánh giá sau mổ: Ngày nằm điều trị; các biến chứng sau mổ

- Xử lý số liệu theo phần mềm SPSS

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Một số đặc điểm của bệnh nhân UTTT trong nhóm nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm tuổi và giới

Tuổi trung bình 50,7 ±13,4 (22-71 tuổi) Nhóm tuổi mắc cao nhất là > 50 tuổi chiếm

51,1% Tỉ lệ nam/nữ: 1,35/1

Vị trí u tuyến thượng thận: UTTT gặp chủ yếu bên phải 32/47 BN chiếm 68,1%, bên trái 15/47 BN (31,9%)

Bảng 2: Chẩn đoán lâm sàng

U vỏ TTT trên lâm sàng là 12,8%, u tuỷ là 23,4%, UTTT không chế tiết là 63,8%

Thay đổi nội tiết bệnh nhân trước mổ: Tăng Aldosteron gặp 4/47 BN chiếm: 8,5%, tăng Cortisol 2/47 BN (4,3%), tăng Catecholamin 11/47 BN (23,4%), U không chế tiết 30/47 BN (63,8%)

Bảng 3: Phân bố bệnh nhân theo kích thước u theo tác giả Bùi Chín (2017)

Kích thước UTTT trung bình: 38,02 ± 14,4 mm, trong đó UTTT có kích thước < 40 mm chiếm 57,4%

Trang 4

3.2 Phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt

UTTT

Thời gian phẫu thuật trung bình: 104,2 ±

32,6 phút (50-190 phút)

Lượng máu mất trung bình là: 145,3 ±

115,2 ml

Tai biến trong và sau phẫu thuật: Có 5

trường hợp, trong đó 4/47 BN (8,5%) chảy máu trong mổ, 2 BN do rách TM thượng thận chính, khó kiểm soát, phải chuyển mổ

mở 2 BN phẫu tích rách 1 phần TMC bụng

do UTTT lớn > 7cm, u bên phải, dính, khâu nội soi cầm máu TMC bụng không mổ mở

1/47 BN (2,1%) có tràn khí dưới da bìu

Bảng 4: Liên quan giữa diễn biến trong phẫu thuật với kích thước u

Yếu tố liên quan

≤ 40mm (n=27)

> 40mm (n=20)

Lượng máu mất trong mổ 126,7±104,5 176,5±121,7

Thời gian mổ trung bình:140,2 ± 32,6 phút (50- 190 phút)

Có 8/47 BN (17,0%) rối loạn huyết động trong mổ

Lượng máu mất trung bình:145,3 ± 11,2 ml

Thời gian rút dẫn lưu trung bình là 2,6± 0,68 ngày (từ 1 - 4 ngày)

Thời gian nằm điều trị sau phẫu thuật trung bình là 4,7 ± 1,4 ngày (từ 3 - 7 ngày)

Bảng 5: Kết quả giải phẫu bệnh lý u tuyến thượng thận

Kết quả thu được 28/47 BN (59,6%) là u vỏ tuyến thượng thận, trong đó có 1 BN carcinoma vỏ thượng thận và 1 BN u vỏ nguy cơ ác tính cao U tủy thượng thận chiếm

23,4%

IV BÀN LUẬN

Đặc điểm lâm sàng trong nghiên cứu:

Tuổi trung bình 50,7 ±13,4 tuổi (22-71 tuổi)

Nhóm tuổi mắc cao nhất là > 50 tuổi chiếm

51,1% Tỉ lệ nam/nữ: 1,35/1 So với tác giả

Bùi Chín (2017) tuổi trung bình là 41,2 ±

12,8 tuổi (20-67 tuổi), nhóm mắc cao nhất là 50-60 tuổi, tỉ lệ nam /nữ: 1/ 2,1.(6), so với

Vũ Văn Hà ( 2015) tuổi trung bình: 46,9 ± 12,9 tuổi (19-77) Tỉ lệ nữ/nam là 3,2/1.(7), nhóm tuổi cao nhất 30- 50 chiếm 50% Theo Gockel và cộng sự tiến hành trên 245 BN

Trang 5

được cắt UTTT nội soi, tỉ lệ nữ/nam là

1,94/1 và hay gặp nhất ở độ tuổi 30-40 (8)

Nghiên cứu chúng tôi UTTT gặp chủ yếu

bên phải chiếm 68,1% so với tác giả Bùi

Chín (2017): UTTT bên phải chiếm 69,8%

(6), với Bùi Văn Hà (2015): UTTT bên phải

chiếm 38,1% (7) Theo Trần Quang Nam

(2011) vị trí thường gặp UTTT phải chiếm

61,8% (9)

Chẩn đoán lâm sàng chúng tôi thấy: hội

chứng conn (4/47 BN) được chẩn đoán khá

chính xác trước mổ với biểu hiện lâm sàng

và cận lâm sàng rõ rệt: tăng huyết áp, yếu cơ,

hạ Kali máu, tăng Aldosteron Hội chứng

Cushing (2/47BN) có biểu hiện lâm sàng rõ

và tăng tiết Cortisol 11/47 BN được chẩn

đoán là u tủy thượng thận với biểu hiện tăng

huyết áp và tăng Catecholamin máu Còn lại

30/47 BN được phát hiện tình cờ khi kiểm

tra sức khỏe, không có biểu hiện lâm sàng rõ

rệt

Xét nghiệm về nội tiết tố: Tăng

Aldosteron chiếm: 8,5%, tăng Cortisol chiếm

4,3%, tăng Catecholamin chiếm: 23,4% So

với tác giả Bùi Chín (2017) n=43, tỷ lệ tăng

Catecholamin cao nhất chiếm 39,5%, tăng

cortisol 32,6%, tăng aldosterone 16,3% (6),

còn so với Thái Kinh Luân (2014), tăng

catecholamine 40,8%, tăng cortisol 19,1%,

tăng aldosterone 22,8% (10), trong bệnh lý

về UTTT thay đổi nội tiết rất đa dạng, việc

khảo sát trước phẫu thuật có tính chất tham

khảo

Kích thước UTTT trung bình là Kích

thước UTTT trung bình: 38,02±14,4 mm,

trong đó UTTT có kích thước < 40 mm

chiếm 57.4% Có kết quả gần tương đương

so với tác giả Bùi Chín (2017) UTTT có kích

thước trung bình là 45 ± 23 mm (20-80 mm)

(6), so với Vũ Văn Hà (2015) UTTT có kích

thước trung bình 28,0 ± 11,4mm (15 -

60mm) (7)

Chỉ định phẫu thuật: phần lớn các tác giả đều chấp nhận vai trò của phẫu thuật nội soi trong cắt bỏ u tuyến thượng thận Tuy nhiên việc lựa chọn chỉ định là vấn đề quan trọng Winfield HN Cho rằng chỉ nên thực hiện phẫu thuật nội soi cắt bỏ u tuyến thượng thận

≤ 6 cm Godellas CV Lại cho rằng giới hạn này là ≤ 8 cm (11)

Để nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan Smith CD (1999) đã đưa ra một số căn

cứ chống chỉ đinh tuyệt đối với phẫu thuật nội soi cắt u tuyến thượng thận là: kích thước khối u > 10 cm, sự ác tính của khối u, di căn hạch, di căn xa, tình trạng toàn thân và tiền

sử ngoại khoa không cho phép tiến hành phẫu thuật (5)

Chúng tôi lựa chọn chỉ định được căn cứ theo quan điểm của Smith CD (1999) ngay

từ đầu Chúng tôi chỉ định phẫu thuật với UTTT có kích thước < 10 cm và không có dấu hiệu xâm lấn tạng xung quanh trên CT Scan Đối với UTTT phát hiện tình cờ không chức năng bài tiết , một số tác giả đề nghị cắt UTTT khi kích thước > 50 mm, một số tác giả khác lại chọn phẫu thuật khi UTTT > 30

mm Tỷ lệ Carcinoma vỏ thượng thận tăng theo kích thước u, u càng lớn tỷ lệ carcinoma

vỏ TTT càng cao (10) Trong nghiên cứu

này, UTTT không bài tiết 30/47 BN (63,8%)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian phẫu thuật trung bình: 104,2 ± 32,6 phút

(50-190 phút), dài hơn so với tác giả Bùi Chín (2017) thời gian phẫu thuật trung bình: 81.9

± 26,8 phút (50-130 phút) (6), so với Vũ Văn

Hà (2015) thời gian mổ trung bình là 95,4 ± 24,1 phút (60 - 150 phút) (7) Trần Bình Giang (n=100) là 80 phút.(12) tương đương

so với kết quả nội soi trong và sau phúc mạc của một số tác giả khác như Gagner là

123 phút (n =118) (2), Dudley là 120 phút

Trang 6

(13) Thời gian mổ phụ thuộc nhiều vào kinh

nghiệm của phẫu thuật viên, vị trí, kích

thước và bản chất UTTT Những trường hợp

đầu tiên do bước đầu triển khai kỹ thuật nội

soi ổ bụng nên thời gian mổ lâu hơn các

trường hợp về sau Kích thước u lớn > 40

mm chiếm 42,5% U bên phải chiếm 68,1%,

UTTT bên phải thường mổ lâu hơn so với u

bên trái vì có gan che lấp và do sự có mặt

của tĩnh mạch chủ dưới Bản chất u: thời

gian mổ kéo dài gặp nhiều ở u chế tiết, do

khó khăn trong mổ và hồi sức bệnh nhân, u

dễ nhạy cảm khi phẫu thuật, dễ giải phóng

hormon, làm rối loạn huyết động trong mổ

Nghiên cứu của chúng tôi thời gian mổ trung

bình của u ≤ 40 mm: 103,5±30,3 phút so với

u > 40 mm: 102,1±36,1 phút, kết quả tương

đương nhau với p = 0,887

So với Vũ Văn Hà (2015): u > 40mm

thời gian mổ là 134 phút, u ≤ 40mm thời

gian mổ là 87,6 phút với p < 0,001 (7)

Những khối u có kích thước > 40mm thời

gian mổ lâu hơn do tăng sinh mạch máu,

xâm lấn, chèn ép xung quanh, làm hẹp

trường mổ gây khó khăn khi di động, phẫu

tích giải phóng u, đặc biệt khi kiểm soát TM

thượng thận chính bên phải Nghiên cứu của

Gockel cho thấy thời gian mổ nhóm có u ≤

50mm là 90 phút, của nhóm u > 50mm là

125 phút với p = 0,004[13] Theo Nguyễn

Đức Tiến, thời gian mổ nhóm u ≤ 50 mm là

75 phút, của nhóm u > 50 mm là 96 phút với

p = 0,03 (11)

Trong nghiên cứu này, lượng máu mất

trung bình là: 145,3 ± 115,2 ml (50-500 ml),

so với Vũ Văn Hà (2015) lượng máu mất

trung bình: 90,7 ± 14,5ml (50-500ml) (7) So

với Vũ Phước Khương lượng máu mất trung

bình là: 53,1 ± 28 ml, nhưng không có

trường hợp nào phải truyền máu trong và sau

mổ (14)

Về tai biến: Có 4/47 BN (8,5%) chảy máu trong mổ 2 BN do rách TM thượng thận chính, khó kiểm soát, phải chuyển mổ mở 2

BN phẫu tích rách 1 phần TMC bụng do UTTT lớn > 7cm, u bên phải, dính, khâu nội soi cầm máu TMC bụng, không mổ mở 1/47

BN (2,1%) có tràn khí dưới da bìu sau 3 ngày tràn khí dưới da hết so với Bùi Chín (2017) có 1 BN chảy máu trong mổ (2,3%)

và phải truyền máu nhưng không phải chuyển mổ mở, 1 BN bị thủng cơ hoành do u

có kích thước lớn nằm bên phải (6)

Rối loạn huyết động trong phẫu thuật: hầu hết các trường hợp có u chế tiết đều tăng huyết áp trong khi phẫu tích, trong nghiên cứu này có 17/47 trường hợp u chế tiết trên lâm sàng, sau mổ chỉ có 3/17 trường hợp dùng thuốc hạ áp Tăng huyết áp khi phẫu tích và tụt huyết áp khi kẹp tĩnh mạch trung tâm chính tuyến thượng thận Tác động của bơm hơi trong phúc mạc có ảnh hưởng đến phóng thích catecholamine do UTTT tiết ra, làm ảnh hưởng huyết động trong mổ vì khi bơm hơi áp lực sẽ tăng lên làm cản trở tuần hoàn tĩnh mạch, thậm chí có thể ảnh hưởng tới hệ giao cảm, làm tăng co thắt mạch ngoại

vi Kết quả nghiên cứu cho thấy để giảm tối

đa rối loạn huyết động trong mổ, cần chuẩn

bị BN trước mổ, hạn chế phẫu tích vào u, cần khống chế sớm tĩnh mạch trung tâm tuyến thượng thận Chúng tôi gặp 8/47 BN có rối loạn huyết động trong mổ, phải dùng Nicardipni hạ áp, trong đó 5/47 BN là u tủy thượng thận, 3/47 BN là u vỏ thượng thận

So với tác giả Bùi Chín (2017), rối loạn huyết động gặp 21/43 BN và 5/43 BN tụt huyết áp trong mổ (6) Vũ Văn Hà (2015) tỉ

lệ tai biến chung là 9,6% bao gồm chảy máu trong mổ từ diện bóc tách (4,8%), đây là 2 trường hợp có u > 40mm và tràn khí dưới da

(4,8%).(7)

Trang 7

Nghiên cứu này, thời gian rút dẫn lưu

trung bình là 2,6± 0,68 ngày (từ 1 - 4 ngày)

Có kết quả tương đương với Bùi Chín (2017)

thời gian rút dẫn lưu ổ mổ trung bình: 2,1 ±

0,7 ngày (2-3 ngày) (6)

Thời gian sau mổ ngắn do diễn biến trong

và sau mổ nhẹ, đây là ưu điểm của nội soi ổ

bụng và giảm chi phí điều trị Ngày nằm viện

trung bình là 4,7 ± 1,4 ngày (từ 3 - 7 ngày)

Tương đương với nghiên cứu Bùi Chín có

thời gian hậu phẫu là 5,2 ± 1,1 ngày ( 4-8

ngày) (6), so với Vũ Văn Hà (2015) là 3,5

ngày (7), Trần Bình Giang là 4,4 ngày (12)

Trong nghiên cứu này, kết quả giải phẫu

bệnh: 28/47 BN (59,6%) là u vỏ tuyến

thượng thận, trong đó có 1 BN carcinoma vỏ

thượng thận và 1 BN u vỏ nguy cơ ác tính

cao U tủy thượng thận chiếm 23,4%

V KẾT LUẬN

U tuyến thượng thận được phát hiện tình

cờ chiếm tỷ lệ 63,8%, tỷ lệ u vỏ tuyến

thượng thận chiếm đa số với 59,6% Phẫu

thuật nội soi ổ bụng cắt UTTT là phương

pháp ít xâm lấn có hiệu quả cao, tỷ lệ tai

biến-biến chứng thấp, thời gian nằm viện

ngắn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hoàng Long Các u tuyến thượng thận Bệnh

học Tiết niệu, Nhà xuất bản Y học, 2007;

trang 614-644

2 Gagner M, Lacroix A, Bolte E

Laparoscopic adrenalectomy in Cushing's

syndrome and pheochromocytoma N Engl J

Med 1992; 327(14):1033

3 Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng, Trần Thanh

Phong Nhân một trường hợp cắt bướu tuyến

thượng thận qua nội soi sau phúc mạc vùng

hông lưng Y học Việt Nam 2005; 313:198 -

204

4 Trần Bình Giang, Lê Ngọc Từ Cắt u tuyến

thượng thận qua nội soi nhân 2 trường hợp Ngoại khoa số đặc biệt - chuyên đề nội soi 2000:16 - 8

5 Smith CD, Weber CJ, Amerson JR

Laparoscopic adrenalectomy: new gold standard World J Surg 1999;23(4):389-96

6 Bùi Chín, Cao Văn Trí và CS Đánh giá tình

hình chẩn đoán và điều trị phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt u tuyến thượng thận Tạp chí y dược học - Trường ĐH Y Dược Huế 2017;số đặc biệt, 8/2017:248-53

7 Vũ Văn Hà, Nguyễn Ngọc Sơn, Hoàng Long Kết quả phẫu thuật cắt u tuyến thượng

thận lành tính qua nội soi sau phúc mạc Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh 2015;tập 19, số 4:47- 51

8 Gockel I, Kneist W, Heintz A, Beyer J, Junginger T Endoscopic adrenalectomy: an

analysis of the transperitoneal and retroperitoneal approaches and results of a prospective follow-up study Surg Endosc 2005; 19(4):569-73

9 Trần Quang Nam Nhận xét các rối loạn nội

tiết của bệnh nhân có u tuyến thượng thận trước phẫu thuật Y học TP Hồ Chí Minh 2011;tập 15, phụ bản của số 1:240-5

10 Thái Kinh Luân Đánh giá tình hình chẩn

đoán và điều trị bướu tuyến thượng thận (TTT) tại Bệnh viện Chợ Rẫy trong năm

2012 Y học TP Hồ Chí Minh 2014;Tập 18,

Số 1

11 Nguyễn Đức Tiến Phẫu thuật nội soi u

tuyến thượng thận Y học Việt Nam 2006; Số đặc biệt chuyên đề phẫu thuật nội soi và nội soi can thiệp: 326 - 31

12 Trần Bình Giang 100 trường hợp cắt tuyến

thượng thận qua nội soi ổ bụng tại bệnh viện Việt Đức Y học thực hành 2004;491:246 - 9

13 Dudley NE, Harrison BJ Comparison of

open posterior versus transperitoneal laparoscopic adrenalectomy Br J Surg 1999; 86(5):656-60

14 Võ Phước Khương Đánh giá kết quả nội soi

sau phúc mạc cắt bướu thượng thận tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương Tạp Chí Y Dược Học 2021; số đặc biệt, 01/2021:266-9

Ngày đăng: 05/07/2022, 16:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w