1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích hoạt động xuất khẩu và giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu của công ty cổ phần thực phẩm bích chi

90 843 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích hoạt động xuất khẩu và giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu của công ty cổ phần thực phẩm Bích Chi
Người hướng dẫn ThS. Phan Văn Phùng
Trường học Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 413,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị trường là biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó các quyết địnhcủa các tổ chức, đơn vị kinh tế về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định củacác doanh nghiệp về sản xuất

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Việt Nam chính thức gia nhập Tổ Chức Thương Mại WTO, vì vậy nềnkinh tế ngày càng trở nên năng động hơn, nhiều cơ hội để các doanh nghiệp pháttriển hơn Hoạt động kinh doanh xuất khẩu chiếm một vị trí quan trọng hàng đầutrong sự tồn tại và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Đặc biệt ở Việt Nam, xuấtkhẩu có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và xây dựng chủnghĩa xã hội Bởi vì thông qua việc mở rộng thị trường xuất khẩu cho phép nước

ta tăng thu nhập ngoại tệ cho tài chính và cho nhu cầu xã hội, cũng như tạo cơ sởcho quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng Vai trò này đã được Đảng tanhận thức từ rất sớm và nhấn mạnh tại Đại Hội Đảng Toàn Quốc lần thứ VI(1986), Đại Hội Đảng đã khẳng định “Xuất khẩu là một trong ba chương trình cơbản của nhiệm vụ kinh tế - xã hội… không những có ý nghĩa sống còn, đối vớitình hình trước mắt mà còn là điều kiện ban đầu không thể thiếu được để triểnkhai công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong những chặn đường tiếp theo” Hơnthế nữa, xuất khẩu được coi là yếu tố có ý nghĩa “quyết định” để thực hiệnchương trình về lương thực, thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng và các hàng hóakhác Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng gặp không ít khó khăn và thách thức.Đứng trướng thách thức khi mới tham gia vào WTO và nền kinh tế chưa hoàntoàn khôi phục sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, vì vậy một doanh nghiệpmuốn tồn tại và khẳng định vị thế của mình trên thị trường thì đòi hỏi phải khôngngừng thay đổi và luôn hoàn thiện mình để có thể nâng cao lợi thế cạnh tranhhơn so với đối thủ Doanh nghiệp muốn đạt được điều này cần phải nâng cao chấtlượng sản phẩm và có được thị trường rộng lớn

Tổ chức và quản lý tiêu thụ sản phẩm quyết định sự tồn tại và phát triểncủa nhiều doanh nghiệp, là công cụ giúp doanh nghiệp thành công trên thịtrường Bởi vì trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường hiện nay, việc tạo lợi thế

Trang 2

giá,… chỉ đem lại lợi thế trong một thời gian ngắn, xây dựng một hệ thống mởrộng hoàn thiện là một chiến lược lâu dài, đòi hỏi phải tốn nhiều công sức, thờigian, tiền bạc,… mà không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thành công.

Chất lượng sản phẩm của Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Bích Chi cònđược chứng minh qua các giải thưởng lớn tại các kỳ hội chợ triển lãm thành tựukinh tế: Cúp Vàng Thương Hiệu Vì Sức Khỏe Cộng Đồng, Giải Thưởng MaiVàng Hội Nhập,… Sản phẩm của công ty cũng đạt được 10 huy chương vàng vềtiêu chuẩn Chất Lượng và An Toàn vệ sinh thực phẩm như: Cúp Vàng ThươngHiệu Vì Sức Khỏe Cộng Đồng, Giải Mai Vàng Hội Nhập, Thương Hiệu Bạn NhàNông,…

Với phương châm “Uy tín – Chất lượng – Giá cả cạnh tranh”, uy tínthương hiệu đã đưa thực phẩm Bích Chi vươn xa và không ngừng đáp ứng nhucầu nội địa mà sản phẩm Bích Chi đã có mặt tại nhiều thị trường trên thế giớinhư: Đài Loan, Hồng Kong, Singapore, Malaysia, Indonesia, Úc, Hàn Quốc,Nhật Bản, Mỹ, Canada, EU, và một số nước Ả Rập

Nhận thức được tầm quan trọng của việc xuất khẩu và mở rộng thịtrường xuất khẩu, với những kiến thức mà em đã được học và cùng với sự hướngdẫn của các anh chị, cô chú trong công ty, cho nên em đã chọn thực hiện đề tài:PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THỊTRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM BÍCHCHI” Với một chút hiểu biết của mình em hy vọng sẽ giúp công ty tìm ra đượcnhững giải pháp để công ty có thể mở rộng được hơn nữa thị trường xuất khẩucủa mình và đồng thời tăng khả năng phục vụ của công ty đến khách hàng

2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích các hoạt động xuất khẩu và các giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu của Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Bích Chi

Trang 3

Phương pháp thu thập số liệu:

+ Thu thập số liệu sơ cấp: tìm hiểu thông tin từ Công Ty Cổ Phần ThựcPhẩm Bích Chi

+ Thu thập số liệu thứ cấp: từ các bài báo cáo của công ty, trên Internet

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu bài báo cáo còn có bố cục như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thị trường xuất khẩu và mở rộng thị trường.Chương 2: Tổng quan về công ty và phân tích thực trạng xuất khẩu củaCông Ty Cổ Phần Thực Phẩm Bích Chi

Chương 3: Kiến nghị và các giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu củaCông Ty Cổ Phần Thực Phẩm Bích Chi

Kết luận

Tài Liệu tham khảo

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Những vấn đề cơ bản về thị trường

1.1.1 Khái niệm về thị trường

Thị trường ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, nó là môi trường đểtiến hành các hoạt động giao dịch mang tính chất thương mại của mọi doanh nghiệpcông nghiệp Trong một xã hội phát triển, thị trường không nhất thiết chỉ là địađiểm cụ thể gặp gỡ trực tiếp giữa người mua và người bán mà doanh nghiệp vàkhách hàng có thể chỉ giao dịch, thỏa thuận với nhau thông qua các phương tiệnthông tin viễn thông hiện đại Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, kháiniệm thị trường ngày càng trở nên phong phú và đa dạng Có một số khái niệm phổbiến về thị trường như sau:

Thị trường là nơi mua bán hàng hóa, là nơi gặp gỡ để tiến hành hoạt độngmua bán giữa người mua và người bán

Thị trường là biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó các quyết địnhcủa các tổ chức, đơn vị kinh tế về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định củacác doanh nghiệp về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và quyết định của ngườilao động về việc làm là bao lâu, cho ai đều được quyết định bằng giá cả

Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu, trong đó những người mua vàngười bán bình đẳng cùng cạnh tranh Số lượng người mua và người bán nhiều hay

ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ Việc xác định nên mua hay bánhàng hoá và dịch vụ với khối lượng và giá cả bao nhiêu do quan hệ cung cầu quyếtđịnh Từ đó ta thấy thị trường còn là nơi thực hiện sự kết hợp giữa hai khâu sản xuất

và tiêu dùng hàng hóa

Trang 5

Thị trường là phạm trù riêng của nền sản xuất hàng hóa Hoạt động cơ bảncủa thị trường được thể hiện qua 3 nhân tố có mối quan hệ hữu cơ với nhau nhu cầuhàng hóa dịch vụ, cung ứng hàng hóa dịch vụ và giá cả hàng hóa dịch vụ.

Khái niệm thị trường hoàn toàn không tách rời khái niệm phân công lao động

xã hội C Mác đã nhận định: “Hễ ở đâu và khi nào có sự phân công lao động xã hội

và có sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy sẽ có thị trường Thị trường chẳng qua là

sự biểu hiện của phân công lao động xã hội và do đó có thể phát triển vô cùng tận”

Thị trường theo quan điểm Marketing, được hiểu là bao gồm tất cả nhữngkhách hàng tiềm ẩn cùng có nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khảnăng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó

Còn phương diện Nhà nước, từ phía các nhà hoạch định chiến lược đất nước,

từ phía các nhà nghiên cứu thì họ có cách hiểu khác về thị trường Họ cho rằng thịtrường là rất rộng lớn và phức tạp, thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sảnphẩm và thị trường nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu cả hai phía cung và cầu vềmột loại sản phẩm nhất định nào đó theo những thông lệ hiện hành và từ đó xácđịnh rõ số lượng và giá cả của sản phẩm mà cả hai bên cùng chấp nhận được

Tóm lại, thị trường được hiểu là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu của một loạihàng hóa, dịch vụ hàng hóa hay cho một đối tác có giá trị Ví dụ như thị trường sứclao động bao gồm những người muốn đem sức lao động của mình để đổi lấy tiềncông hoặc hàng hóa Để công việc trao đổi trên được thuận lợi, dần đã xuất hiệnnhững tổ chức kiểu văn phòng, trung tâm giới thiệu, xúc tiến việc làm cho người laođộng Cũng tương tự như thế, thị trường tiền tệ đem lại khả năng vay mượn, chovay tích lũy tiền và bảo đảm an toàn cho các nhu cầu tài chính của các tổ chức, giúp

họ có thể hoạt động liên tục được Như vậy điểm lợi ích của người mua và ngườibán hay chính là gía cả được hình thành trên cơ sở thỏa thuận và nhân nhượng lẫnnhau giữa cung và cầu

Trang 6

1.1.2 Chức năng và vai trò của thị trường

1.1.2.1 Chức năng của thị trường

Thị trường có một số chức năng cơ bản sau:

- Chức năng thực hiện:

Hoạt động mua bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm cả thị trường Thực hiệnhoạt động này là cơ sở quan trọng có tính chất quyết định đối với việc thực hiện cácquan hệ và hoạt động khác

Thị trường thực hiện: hành vi trao đổi hàng hóa; thực hiện tổng số cung vàcầu trên thị trường; thực hiện cân bằng cung cầu từng thứ hàng hóa; thực hiện giá trị(thông qua giá cả); thực hiện việc trao đổi giá trị… Thông qua chức năng của mình.Giá trị trao đổi là cơ sở vô cùng quan trọng để hình thành nên cơ cấu sản phẩm, cácquan hệ tỷ lệ về kinh tế trên thị trường

- Chức năng thừa nhận:

Hàng hóa được sản xuất ra, người sản xuất phải bán nó Việc bán hàng đượcthực hiện thông qua chức năng thừa nhận của thị trường Thị trường thừa nhậnchính là người mua chấp nhận thì cũng có nghĩa là về cơ bản quá trình tái sản xuất

xã hội của hàng hóa đã hoàn thành Bởi vì bản thân việc tiêu dùng sản phẩm và cácchi phí tiêu dùng cũng đã khẳng định trên thị trường khi hàng hóa được bán

Thị trường thừa nhận: tổng khối lượng hàng hóa (tổng giá trị sử dụng) đưa rathị trường; cơ cấu của cung và cầu, quan hệ cung cầu với từng hàng hóa; thừa nhậngiá thị sử dụng và giá cả hàng hóa, chuyển giá trị sử dụng và giá trị cá biệt thành giátrị sử dụng và giá trị xã hội; thừa nhận các hoạt động mua và bán vv…Thị trườngkhông phải chỉ thừa nhận thụ động các kết quả của quá trình tái sản xuất, quá trìnhmua bán mà thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế trên thị trường mà thịtrường còn kiểm tra, kiểm nghiệm quá trình tái sản xuất quá trình mua bán đó

Trang 7

- Chức năng điều tiết, kích thích:

Nhu cầu thị trường là mục đích của quá trình sản xuất Thị trường là tập hợpcác hoạt động của các quy luật kinh tế cả thị trường Do đó, thị trường vừa là mụctiêu vừa tạo động lực để thực hiện các mục tiêu đó Đó là cơ sở quan trọng để chứcnăng điều tiết và kích thích của thị trường phát huy vai trò của mình

- Chức năng điều tiết và kích thích thể hiện ở chỗ:

Thông qua nhu cầu thị trường, người sản xuất chủ động di chuyển tư liệu sảnxuất, vốn và lao động từ ngành này qua ngành khác từ sản phẩm này sang sản phẩmkhác để có lợi nhuận cao

Thông qua các hoạt động của các quy luật kinh tế của thị trường, người sảnxuất có lợi thế trong cạnh tranh sẽ tận dụng khả năng của mình để phát triển sảnxuất ngược lại những người sản xuất chưa tạo ra được lợi thế trên thị trường cũngphải vươn lên để thoát khỏi nguy cơ phá sản Đó là những động lực mà thị trườngtạo ra đối với sản xuất

Thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế trên thị trường người tiêudùng buộc phải cân nhắc, tính toán quá trình tiêu dùng của mình Do đó thị trường

có vai trò to lớn đối với việc hướng dẫn tiêu dùng

Trong quá trình tái sản xuất, không phải người sản xuất, lưu thông… chỉ racách chi phí như thế nào cũng được xã hội thừa nhận Thị trường chỉ thừa nhận ởmức thấp hơn hoặc bằng mức xã hội cần thiết (trung bình) Do đó thị trường có vaitrò vô cùng quan trọng đối với kích thích tiết kiệm chi phí, tiết kiệm lao động

- Chức năng thông tin:

Trong tất cả các khâu (các giai đoạn) của quá trình tái sản xuất hàng hóa, chỉ

có thị trường mới có chức năng thông tin Trên thị trường có nhiều mối quan hệ:kinh tế, chính trị, xã hội… song thông tin kinh tế là quan trọng nhất

Trang 8

Thị trường thông tin về: tổng số cung và tổng số cầu; cơ cấu của cung vàcầu; quan hệ cung cầu đối với từng loại hàng hóa; giá cả thị trường; các yếu tố ảnhhưởng tới thị trường, đến mua và bán, chất lượng sản phẩm, hướng vận động củahàng hóa; các điều kiện dịch vụ cho mua và bán hàng hóa, các quan hệ tỷ lệ về sảnphẩm vv…

Thông tin thị trường có vai trò quan trọng đối với quản lý kinh tế Trongquản lý kinh tế, một trong những nội dung quan trọng nhất là ra quyết định Raquyết định cần có thông tin Các dữ liệu thông tin quan trọng nhất là thông tin từ thịtrường Bởi vì các dữ kiện đó khách quan, được xã hội thừa nhận

Bốn chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau Mỗi hiệntượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức năng này Vì là nhữngtác dụng vốn có bắt nguồn tư bản chất thị trường, do đó không nên đặt vấn đề chứcnăng nào quan trọng nhất hoặc chức năng nào quan trọng hơn chức năng nào Songcũng cần thấy rằng chỉ khi chức năng thừa nhận được thực hiện thì các chức năngkhác mới phát huy tác dụng

Một trong những bí quyết quan trọng nhất để thành công trong kinh doanh là

sự hiểu biết cặn kẽ tính chất của thị trường Nhận biết được đặc điểm và sự hoạtđộng của từng loại thị trường, các yếu tố tham gia vào hoạt động của thị trường, từ

đó thấy rõ đặc điểm hình thành và vận động của giá cả thị trường do đó cần phảinghiên cứu, phân loại các hình thái thị trường

1.1.2.2 Vai trò của thị trường

Từ các chức năng trên của thị trường ta thấy rằng thị trường có vai trò vôcùng quan trọng đối với sự phát triển không chỉ của nền kinh tế nước ta mà còn với

cả nền kinh tế thế giới nói chung, đặc biệt là giai đoạn phát triển hiện nay Vai tròcủa thị trường được thực hiện ở chỗ nó đã gắn chặt sản xuất với tiêu dùng, thúc đẩy

và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội Thị trường buộc các chủ

Trang 9

thị trường Thị trường ngày càng phát triển, cùng với nó là nhu cầu ngày càng caocủa cuộc sống con người, điều đó đã thúc đẩy con người luôn luôn phát triển và đilên đáp ứng chính những nhu cầu đó của họ Có thể nói rằng thị trường là cơ sở chocuộc sống ngày càng được đáp ứng cao hơn về nhu cầu của con người.

1.1.2.3 Phân loại thị trường

Thị trường được hình thành từ các hệ thống cung cầu, nó là một tổng thể cácmối quan hệ hết sức phức tạp Để dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu cặn kẽ tính chất củathị trường ta có thể phân loại thi trường theo các tiêu thức sau:

Phân loại theo tính chất:

Thị trường thành thị, nông thôn: hình thức phân chia này dựa vào sựa khácbiệt giữa thành thị và nông thôn về các mặt dân cư, thu nhập, địa lý… ở nước ta, tuythị trường thành thị là trọng điểm sôi động song thị trường nông thôn lại rộng lớn và

có nhiều tiềm năng hơn

Phân loại theo đối tượng mua bán:

-Thị trường hàng hóa: Đây là loại thị trường có quy mô lớn, phức tạp, tinh vi.Trong thị trường này diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa với mục đích thỏamãn nhu cầu tiêu dùng về vật chất

-Thị trường lao động: Những người lao động cung ứng sức lao động, còn cácdoanh nghiệp có nhu cầu về lao động Lương là giá cả của lao động Nhiều ngườithất nghiệp sẽ tạo ra sự canh tranh trên thị trường lao động và mức lương tất nhiên

sẽ giảm xuống, ở đây, xuất hiện mối quan hệ về mua bán sức lao động Thị trườngnày gắn bó chặt chẽ với nhân tố con người như: nhân cách, tâm lý, thị hiếu, và chịuảnh hưởng của một số quy luật đặc thù

-Thị trường chất xám: Là nơi diễn ra sự trao đổi về tri thức như: mua bản

Trang 10

-Thị trường vốn: Có thị trường vốn khi ta có cung, cầu và giá cả Thật ra, tạiđây quyền sở hữu vốn không di chuyển nhưng quyền sử dụng vốn được chuyểnnhượng qua sự vay nợ Những thành phần kinh tế sẵn có vốn có thể đưa vốn đó vàothị trường, những người cần vốn lại tới người cho vay Người vay phải trả một tỷ lệlãi xuất, tức là họ phải trả cho quyền sử dụng vốn.

-Thị trường tiền tệ tín dụng: Là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bántiền tệ, trái phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá trị khác Với sự phát triển của nềnkinh tế, đây là một loại thị trường rất quan trọng quyết định sự phát triển của xã hội.Trên thị trường vốn và tiền tệ trung gian là các ngân hàng

Phân loại theo phạm vi:

-Thị trường thế giới: Là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán giữa cácquốc gia Hiện nay khi xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế, thị trường thế giới pháttriển mạnh mẽ hơn bao giờ hết với sự tham gia của hầu hết toàn bộ nền kinh tế quốcgia trên toàn cầu Thị trường thế giới là các công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốcgia tham gia kinh doanh, là nơi giao lưu kinh tế chính trị, xã hội và là nơi quyết địnhgiá cả quốc tế Ngoài các quy luật thị trường ra, thị trường thế giới còn chịu sự tácđộng của các thông lệ quốc tế và biến đổi theo từng quốc gia đặc thù

-Thị trường quốc gia: Là nơi diễn ra mọi hoạt động mua bán trong phạm viquốc gia Thị trường này là thị phần của thị trường quốc tế, chịu sự biến động cũngnhư chi phối của tình hình thị trường khu vực cũng như của thị trường thế giới.Ngày nay, rất ít thị trường quốc gia tồn tại độc lập Với xu thế hợp tác bình đẳng,mọi nền kinh tế quốc gia đều đã ít nhiều hội nhập vào thị trường thế giới

Phân loại theo khả năng biến nhu cầu thành hiện thực:

-Thị trường thực tế: Là khả năng mà người mua thực tế đã mua được hànghóa để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình

Trang 11

-Thị trường tiềm năng: Là môt thị trường thực tế trong đó một bộ phận kháchhàng có nhu cầu và có khả năng thanh toán nhưng vì một lí do nào đó mà chưa muađược hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu.

-Thị trường lý thuyết: Là thị trường tiềm năng trong đó một bộ phận kháchhàng có nhu cầu nhưng không hoặc chưa có khả năng thanh toán

Phân loại theo vai trò của từng thị trường trong hệ thống thị trường:

-Thị trường chính (trung tâm): là thị trường mà bên bán tập trung chủ yếumọi nguồn lực của mình vào khai thác

-Thị trường phụ (nhánh): là thị trường mà bên bán ít tập trung nguồn lực vào

để khai thác

Phân loại theo số lượng người mua và người bán trên thị trường:

-Thị trường độc quyền: là thị trường chỉ có một chủ thể bán chi phối tất cảmọi hoạt động của thị trường

-Thị trường cạnh tranh:

Cạnh tranh hoàn hảo: là thị trường trong đó có nhiều chủ thể bên bán và bênmua về một loại sản phẩm tương tự nhau, không có ai làm chủ thị trường và có khảnăng chi phối giá cả của sản phẩm

Cạnh tranh không hoàn hảo: là thị trường có ít nhất một chủ thể bên bán lớntới mức có thể chi phối và khống chế giá cả trên thị trường

Theo mức độ công khai của các hoạt động thị trường thị trường được chiathành:

+ Thị trường hiện

Trang 12

1.1.2.4 Phân đoạn thị trường

Người làm thị trường cả tiêu dùng và công nghiệp từ lâu đã nhận thấy rằng:thị trường không chỉ bao gồm những khách hàng hiện đại và những khác hàngtương lai với những nhu cầu và mong muốn như nhau Một công ty marketing côngnghiệp có thể bán hàng hóa và dịch vụ cho hàng trăm các nhà sản xuất khác trongcùng một ngành công nghiệp Vì vậy, phân đoạn thị trường là yếu tố chủ chốt, xácđịnh một chiến lược marketing lâu dài và có hiệu quả

Phân đoạn thị trường là việc căn cứ vào mục đích nghiên cứu và các tiêuthức cụ thể để phân chia thị trường hay phân chia khách hàng vào các đoạn phânbiệt và đồng nhất với nhau (khác biệt giữa các đoạn và đồng nhất trong một đoạn).Người ta gọi phân đoạn thị trường là quá trình phân chia đối tượng tiêu dùng thànhnhóm, trên cơ sở những điểm khác biệt nhu cầu, tính cách hay hành vi

Đoạn thị trường là một nhóm đối tượng tiêu dùng có phản ứng như nhau đối vớicùng tập hợp những kích thích của marketing

Và như vậy, các doanh nghiệp cần phải phân đoạn thị trường bởi vì thịtrường là một thể thống nhất nhưng không đồng nhất, trong đó có nhiều người mua

và người bán có trình độ, nhu cầu, mong muốn, đặc điểm, thói quen tiêu dùng khácnhau Khả năng của các doanh nghiệp có hạn,do vậy bất kì một doanh nghiệp nàocũng cần phải tìm cho mình một đoạn thị trường nào đó phù hợp với đặc điểm vàchiến lược marketing để thích ứng với từng thị trường

Thị trường rất phong phú, đa dạng do đó không phải bất cứ thị trường nàocũng cần phải phân đoạn Việc phân đoạn thị trường đòi hỏi chúng ta phải thu thậpđầy đủ thông tin và phân tích, lựa chọn dựa vào những tiêu thức chủ yếu sau:

- Phân đoạn theo địa lý: Thị trường tổng thể sẽ được chia cắt thành nhiều đơn

vị địa lý: Vùng, miền, tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường xã Đây là cơ sở phân

Trang 13

đoạn được áp dụng phổ biến vì sự khác biệt về nhu cầu thường gắn kết với yếu tốđịa lý.

- Phân đoạn theo hành vi tiêu dùng: Thị trường người tiêu dùng sẽ được phânchia thành các nhóm đồng nhất về các đặc tính như: lý do mua sắm, lợi ích tìmkiếm, lòng trung thành, số lượng và tỉ lệ sử dụng, cường độ tiêu thụ, tình trạng sửdụng (đã sử dụng, chưa sử dụng, không sử dụng)

Nếu doanh nghiệp thực hiện trọn vẹn việc phân đoạn thị trường sẽ là đònbẩy, có nghĩa là thông số sử dụng để phân đoạn thị trường phải liên quan đến nhucầu mong muốn của người mua và ảnh hưởng đến việc mua Phân đoạn thị trườngkhiến cho khách hàng thỏa mãn nhu cầu và ngươc lại sẽ dẫn đến mối quan hệ tốt,lâu dài hơn giữa người mua và người bán Vì vậy phân đoạn thị trường là yếu tố cầnthiết để thực hiện quan điểm marketing có hiệu quả

Việc phân đoạn thị trường có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khácnhau Một số phương pháp thường dùng đó là:

+ Phương pháp bằng kẻ ô: ta dựa vào dấu hiệu quan sát khác nhau phântheo từng cặp đôi trên bảng ma trận để phân đoạn thị trường

+ Phương pháp sức hút thương mại (do W.J.Reilley đề xuất): phương phápnày dùng để tìm phạm vi khu vực mà doanh nghiệp dự kiến chọn từ các vùng cónhu cầu xung quanh

+ Phương pháp mômen lực: phương pháp này có thể giúp xác định đượcvùng ảnh hưởng có thể có mà doanh nghiệp dự kiến chọn từ các vùng có nhu cầuxung quanh

+ Phương pháp đồ thị: nhờ phương pháp này mà doanh nghiệp có thể xácđịnh được khoảng trống có lợi để tham gia cung ứng sản phẩm trên thị trương

Trang 14

1.1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường

Trong quá trình hoạt động, thị trường chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tốvới các mức độ khác nhau, đó là các nhân tố:

Cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước: đó chính là các chủ chương,quan điểm phát triển kinh tế, các chính sách kinh tế xã hội của chính phủ và các cơquan chức năng như chính sách các thành phần kinh tế, chế độ sở hữu, chính sáchngân hàng, tài chính,… Trong đó bao gồm cả hệ thống cơ quan công quyền của Nhànước như hải quan công an… Nều cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước pháthuy được hiệu quả tốt thì thị trường hoạt động tương đối ổn định thị trường sẽ pháthuy được mọi vai trò của nó trong nền kinh tế

Mặt độ tăng trưởng hay suy giảm của nền kinh tế như: Tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ

nợ nước ngoài, tỷ lệ thất nghiệp, mật độ tham nhũng của các cán bộ công chức nhànước Quốc gia nào trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế thì mọi hoạt động của thịtrường sẽ diễn ra và ngược lại

Các nhân tố có tính kinh tế: các nhân tố này có tác động về mỗi phía bêncung và bên cầu Đó là các yếu tố: mức sống của dân cư được thể hiện qua mức thunhập và cơ cấu chi tiêu, tình trạng kết cấu hạ tầng được biểu hiện thông qua hệthống đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới dân cư, chợ búa,…,các quan hệ kinh tế đối ngoại, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức độ sửdụng khoa học cộng nghệ vào trong sản xuất, tỷ giá hối đối… Các nhân tố này ngàycàng phát triển ở mức độ cao thì hoạt động của thị trường càng đa dạng và phongphú

Các nhân tố về thể chế chính trị: đó chính là sự ổn định hay biến động củathể chế chính trị trong mỗi quốc gia, tình trạng chiến tranh hay hoà bình của đấtnước… Một quốc gia có sự ổn định về chính trị, có hòa bình, nằm trong khu vực ít

có sự biến động thì sẽ dễ dàng phát triển được một thị trường vững mạnh

Trang 15

1.2 Những lý luận chung về xuất khẩu

1.2.1 Các khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm về hàng hoá xuất khẩu

Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động kinh doanh ngoại thương mà hàng hóa dịch

vụ của quốc gia này bán cho quốc gia khác

Xuất khẩu hàng hoá thường diễn ra dưới các hình thức sau:

+ Hàng hóa nước ta bán ra nước ngoài theo hợp đồng thương mại được kýkết của các thành phần kinh tế của nước ta với các thành phần kinh tế ở nước ngoàikhông thường trú trên lãnh thổ Việt Nam

+ Hàng hóa mà các đơn vị, dân cư nước ta bán cho nước ngoài qua cácđường biên giới, trên bộ, trên biển, ở hải đảo và trên tuyến hàng không

+ Hàng gia công chuyển tiếp

+ Hàng gia công để xuất khẩu thông qua một cơ sở ký hợp đồng gia côngtrực tiếp với nước ngoài

+ Hàng hóa do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bán cho ngườimua nước ngoài nhưng giao hàng tại Việt Nam

+ Hàng hoá do các chuyên gia, người lao động, học sinh, người du lịchmang ra khỏi nước ta

+ Những hàng hóa là quà biếu, đồ dùng khác của dân cư thường trú nước tagửi cho thân nhân, các tổ chức, hoặc người nước ngoài khác

+ Những hàng hóa là viện trợ, giúp đỡ của chính phủ, các tổ chức và dân cưthường trú nước ta gửi cho chính phủ, các tổ chức, dân cư nước ngoài

Trang 16

1.2.1.2 Khái niệm về hoạt động xuất khẩu hàng hóa

Xuất khẩu hàng hóa là một hoạt động buôn bán diễn ra giữa các doanhnghiệp của các quốc gia khác nhau với nhau với phương diện thanh toán là nhữngđồng tiền chung hoặc những đồng tiền mạnh trên thế giới, hoạt động xuất khẩu hànghoá chính là sự phản ánh các mối quan hệ giữa các quốc gia và sự phân công laođộng quốc tế, chuyên môn hóa sản xuất quốc tế dựa trên lợi thế so sánh của cácquốc gia Hoạt động xuất khẩu hàng hóa cũng chúng ta thấy rõ sự phụ thuộc lẫnnhau ngày càng chặt chẽ giữa các quốc gia trên thế giới Do đó hoạt động xuất khẩuhàng hóa đòi hỏi cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng trong bản thân mỗi nước vàgiữa tất cả các nước với nhau

1.2.1.3 Khái niệm thị trường xuất khẩu hàng hóa

Thị trường xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ chongười nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương thức thanh toán Trong xuấtkhẩu luồng tiền tệ dịch chuyển từ nước nhập khẩu sang nước xuất khẩu và có mộtluồng hàng hóa dịch chuyển theo hướng ngược lại từ nước xuất khẩu sang nướcnhập khẩu Xuất khẩu là sự mở rộng của hoạt động buôn bán trong nước là một bộphận của thương mại quốc tế

Một hoạt động giao dịch hàng hóa và dịch vụ được gọi là xuất khẩu khiphải thỏa mãn một số điều kiện nhất định:

+ Trụ sở kinh doanh của bên mua và bên bán ở hai nước khác nhau

+ Đồng tiền thanh toán thường là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc cảhai bên

+ Hàng hóa - đối tượng của giao dịch phải di chuyển ra khỏi biên giới mộtnước

Trang 17

+ Xuất khẩu đã được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của kinh tế đốingoại Nó được ra đời trên cơ sở sự phân công lao động xã hội và lợi thế so sánhgiữa các nước khác nhau, xuất khẩu càng trở nên cần thiết và không thể thiếu đượcđối với các quốc gia trên thế giới Ngày nay người ta đã nhận thấy không một quốcgia nào có thể tồn tại và phát triển mà không có bất kỳ mối quan hệ nào với nướckhác, đặc biệt là về kinh tế Nhà nước ta đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩycác ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu khuyến khích các khu vực tư nhân mở rộngxuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng ngoại tệ cho đất nước Đẩy mạnhxuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển phát triển và thựchiện quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước.

1.2.1.4 Phân loại thị trường xuất khẩu hàng hóa

Để có thể vạch ra được chiến lược xuất khẩu hàng phù hợp, chúng ta phảitìm được những khu vực thị trường thích hợp với điều kiện quy mô và sản phẩm củanước xuất khẩu Do việc phân loại thị trường xuất khẩu là hết sức cần thiết Phânloại thị trường xuất khẩu có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau:

Căn cứ vào vị trí địa lý chúng ta có thể phân loại thị trường xuất khẩu rathành các thị trường khu vực có quy mô lớn nhỏ khác nhau

Trang 18

+ Thị trường mới.

+ Thị trường tiềm năng

Căn cứ vào mật độ quan tâm và tính ưu tiên trong chính sách phát triển thịtrường xuất khẩu của mỗi quốc gia có lợi thế xuất khẩu hàng hóa thị trường, thịtrường xuất khẩu được phân làm hai loại:

+ Thị trường xuất khẩu trọng điểm hay thị trường xuất khẩu chính: là thịtrường mà nước xuất khẩu sẽ nhằm khai thác chủ yếu và lâu dài

+ Thị trường xuất khẩu tương hỗ: đó là thị trường mà trong đó nước xuấtkhẩu và nước nhập khẩu sẽ dành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng tươngxứng với nhau

Căn cứ vào kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại giữa các nước,thị trường được chia thành:

+ Thị trường xuất siêu

Trang 19

+ Thị trường xuất khẩu không có ưu thế cạnh tranh.

Căn cứ vào các thỏa thuận thương mại cấp chính phủ giữa các quốc gia vềxuất nhập khẩu hàng hóa và các yêu cầu của các đối tác thương mại về việc có hạnchế hay không về nhập khẩu hàng hóa có các loại thị trường sau:

+ Thị trường xuất khẩu theo hạn ngạch

+ Thị trường xuất khẩu không theo hạn ngạch

Căn cứ vào các loại hình cạnh tranh trên thị trường tại nước nhập khẩu hànghóa, thị trường được phân thành các loại:

+ Thị trường độc quyền

+ Thị trường độc quyền “nhóm”

+ Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

+ Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo

1.2.2 Các hình thức xuất khẩu của công ty

Trong xuất khẩu hàng hóa, các doanh nghiệp có thể xây dựng rất nhiều cáchình thức xuất khẩu khác nhau Nhưng trong ngành thực phẩm nói chung và ở công

ty Cổ Phần Thực Phẩm Bích Chi nói riêng về đặc thù ngành nghề riêng đã lựa choncho mình một số hình thức xuất khẩu phù hợp đó là:

1.2.2.1 Xuất khẩu trực tiếp

Xuất khẩu trực tiếp: là hình thức xuất khẩu mà trong đó Công ty kinh doanhquốc tế trực tiếp bán sản phẩm ra thị trường nước ngoài thông qua các bộ phận xuấtkhẩu của mình

Trang 20

Xuất khẩu trực tiếp thường đòi hỏi chi phí cao và ràng buộc nguồn lực lớn đểphát triển thị trường Tuy vậy xuất khẩu trực tiếp đem lại cho công ty những lợi íchlà: Có thể kiểm soát được sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối ở thị trường nướcngoài Vì được tiếp xúc với thị trường nước ngoài nên công ty có thể nắm bắt được

sự thay đổi nhu cầu thị hiếu các yếu tố môi trường và thị trường nước ngoài để làmthích ứng các hoạt động xuất khẩu của mình Chính vì thế mà nỗ lực bán hàng vàxuất khẩu của công ty tốt hơn

Tuy nhiên bên cạnh thu được lợi nhuận lớn do không phải chia sẻ lợi íchtrong xuất khẩu thì hình thức này cũng có một số nhược điểm nhất định đó là: Rủi

ro cao, đầu tư về nguồn lực lớn, tốc độ chu chuyển vốn chậm

Chính vì những đặc điểm kể trên mà hình thức này phải được áp dụng phùhợp với những công ty có quy mô lớn đủ yếu tố về nguồn lực như nhân sự, tài chính

và quy mô xuất khẩu lớn

1.2.2.2 Xuất khẩu ủy thác

Xuất khẩu ủy thác là hình thức xuất khẩu trong đó đơn vị được cấp giấy phépxuất khẩu không có điều kiện đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện hợp đồng xuấtkhẩu, phải ủy thác cho đơn vị khác có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu tiếnhành xuất khẩu hộ Và đơn vị giao ủy thác phải trả một khoảng hoa hồng cho đơn vịnhận ủy thác theo một tỷ lệ nhất định đã được thoả thuận trong một hợp đồng gọi làphí ủy thác Doanh thu của đơn vị nhận ủy thác trong trường hợp này là số hoa hồngđược hưởng

Hình thức xuất khẩu này đem lại cho công ty những lợi ích đó là:

Không cần đầu tư về nguồn lực lớn, rủi ro thấp tốc độ chu chuyển vốn nhanh.Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế nhất định là: Doanh nghiệp giao ủy thác sẽkhông kiểm soát được sản phẩm, phân phối, giá cả ở thị trường nước ngoài Dodoanh nghiệp không duy trì mối quan hệ với thị trường nước ngoài cho nên không

Trang 21

nắm bắt được sự thay đổi nhu cầu thị hiếu các yếu tố môi trường, thị trường nướcngoài nhằm làm thích ứng các hoạt động marketing đặc biệt là làm thích ứng cácsản phẩm với nhu cầu thị trường Do phải trả chi phí ủy thác nên hiệu quả xuất khẩucũng không cao bằng so với xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp có hiệu quả vớinhững công ty hạn chế về nguồn lực, quy mô xuất khẩu nhỏ.

1.2.2.3 Hoạt động xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu

Buôn bán đối lưu (Couter - trade): Là một phương thức giao dịch trao đổihàng hóa, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời

là người mua, lượng hàng hóa giao đi có giá trị tương đương với lượng hàng hóanhập về Ở đây mục đích xuất khẩu không phải nhằm thu về một khoảng ngoại tệ

mà nhằm thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương

- Đặc điểm của buôn bán đối lưu:

+ Việc mua sẽ làm tiền đề cho việc bán và ngược lại

+ Vai trò của đồng tiền sẽ bị hạn chế đi rất nhiều

+ Mục đích trao đổi là giá trị sử dụng chứ không phải giá trị

- Ưu điểm của buôn bán đối lưu:

+ Tránh được sự kiểm soát của Nhà nước về vấn đề ngoại tệ và loại trừ sựảnh hưởng của biến động tiền tệ

+ Khắc phục được tình trạng thiếu ngoại tệ trong thanh toán

Có nhiều loại hình buôn bán đối lưu nhưng có thể kể đến hai loại hình buônbán đối lưu hay được sử dụng đó là:

+ Hàng đổi hàng

Trang 22

- Yêu cầu trong buôn bán đối lưu:

+ Phải đảm bảo bình đẳng tôn trọng lẫn nhau

+ Cân bằng trong buôn bán đối lưu:

- Cân bằng về mặt hàng: Nghĩa là hàng quý đổi lấy hàng quý, hàng tồn kho,khó bán đổi lấy hàng tồn kho, khó bán

- Cân bằng về trị giá và giá cả hàng hóa: Tổng giá trị hàng hóa trao đổi phảicân bằng và nếu bán cho đối tác giá cao thì khi nhập cũng phải nhập giá cao vàngược lại

- Cân bằng về điều kiện giao hàng: nếu xuất khẩu CIF thì nhập phải CIF, nếuxuất khẩu FOB thì nhập khẩu FOB

1.2.2.4 Hoạt động xuất khẩu theo hình thức gia công quốc tế

Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên

- bên nhận gia công nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khácgọi là bên đặt gia công để chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công vànhận thù lao gọi là phí gia công Như vậy trong gia công quốc tế hoạt động xuấtnhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất

Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương củanhiều nước Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ

về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công Đối với bên đặt gia côngphương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao động trongnước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình nhằm xây dựng mộtnền công nghiệp dân tộc Nhiều nước đang phát triển đã nhờ vận dụng phương thứcnày mà có được một nền công nghiệp hiện đại chẳng hạn như: Hàn Quốc, Thái Lan,Singapore…

Trang 23

Hiện nay trên thế giới có các hình thức gia công quốc tế:

+ Xét theo sự quản lý nguyên vật liệu:

* Gia công quốc tế bán nguyên vật liệu - mua sản phẩm: Bên đặt gia côngbán đứt nguyên vật liệu cho bên nhận, sau thời gian sản xuất, chế tạo sẽ mua lạithành phẩm

* Gia công quốc tế giao nguyên liệu nhận sản phẩm: Bên đặt gia công sẽ giaonguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công, sau thời gian sản xuất,chế tạo sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công

+ Xét theo giá gia công:

* Gia công theo giá khoán: Trong đó người ta xác định một mức giá địnhmức cho mỗi sản phẩm bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức

* Gia công theo giá thực tế: Trong đó bên nhận gia công thanh toán với bênđặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thu lao gia công

1.2.2.5 Hoạt động xuất khẩu theo nghị định thư

Là hình thức xuất khẩu mà chính phủ giữa các bên đàm phán ký kết với nhaunhững văn bản, hiệp định, nghị định về việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ Và việcđàm phán ký kết này vừa mang tính kinh tế vừa mang tính chính trị Trên cơ sởnhững nội dung đã được ký kết Nhà nước xây dựng kế hoạch và giao cho một sốdoanh nghiệp thực hiện

1.2.2.6 Xuất khẩu tại chỗ

Đây là hình thức kinh doanh mới nhưng đang phát triển và có xu hướng pháttriển rộng rãi do nó có những ưu điểm sau:

Trang 24

Đặc điểm của loại hình này là hàng hoá không vượt qua biên giới quốc gia

mà khách hàng vẫn có thể mua được hàng hóa Do vậy, nhà xuất khẩu không cầnđích thân ra nước ngoài để đàm phán trực tiếp với người mua mà chính người mualại đến trực tiếp đàm phán với người xuất khẩu

Mặt khác, doanh nghiệp cũng không cần phải tiến hành các thủ tục như: thủtục hải quan, mua bảo hiểm hàng hoá, thuê phương tiện vận tải vận chuyển Do đógiảm được một số chi phí khá lớn

Trong thời kỳ nền kinh tế ta mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới, đầu tưnước ngoài và kinh tế du lịch ngày càng phát triển, khách du lịch và dân di cư tạmthời ngày càng tăng nhanh Các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả có thể liên hệ trựctiếp với các hoat động cung cấp dịch vụ hoặc bán hàng để thu ngoại tệ Ngoài radoanh nghiệp có thể sử dụng chính sách khách du lịch này làm nhân tố quảng cáo

và khuếch trương sản phẩm của doanh nghiệp

Sản xuất trong nước phát triển và mở rộng các hình thức đầu tư, xuất hiệnmột loạt khu chế xuất ra đời, cần sử dụng rau quả, việc đáp ứng được nhu cầu cho tổchức này cũng chính là hình thức xuất khẩu có hiệu quả và đang được nhiều doanhnghiệp chú ý sử dụng Việc thanh toán tiền theo phương thức này cũng rất nhanhchóng, có thể là đồng nội tệ hoặc ngoại tệ do hai bên tự thỏa thuận trong hợp đồngthương mại

1.2.2.7 Một số loại hình xuất khẩu khác

- Tạm nhập - tái xuất: Là việc xuất khẩu trở lại nước ngoài những hàng hoátrước đây đã nhập khẩu về nước nhưng chưa hề qua gia công chế biến, cải tiến lắpráp

- Chuyển khẩu hàng hóa: Là việc mua hàng hóa của một nước (nước xuấtkhẩu) bán cho nước khác (nước nhập khẩu) mà không làm thủ tục xuất khẩu

Trang 25

1.2.3 Vai trò của xuất khẩu

Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, không một quốc gia nào cóthể tự sản xuất tất cả các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước

Vì vậy tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế là điều kiện cần thiết cho mỗiquốc gia Mỗi quôc gia phải thông qua trao đổi, mua bán với các quốc gia nhằmthoả mãn nhu cầu của mình Như vậy, hoạt động xuất khẩu góp phần quan trọng vào

sự phát triển hay suy thoái, lạc hậu của quốc gia so với thế giới Ích lợi của hoạtđộng xuất khẩu được thể hiện như sau:

1.2.3.1 Đối với nền kinh tế thế giới

Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia tham gia vào phân công laođộng quốc tế Các quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất và sản xuất những hàng hóa vàdịch vụ mà mình không có lợi thế Xét trên tổng thể nền kinh tế thế giới thì chuyênmôn hóa sản xuất và xuất khẩu sẽ làm cho việc sử dụng các nguôn lực có hiệu quảhơn và tổng sản phẩm xã hội toàn thế giới tăng lên Bên cạnh đó xuất khẩu gópphần thắt chặt thêm quan hệ quốc tế giữa các quốc gia

1.2.3.2 Đối với nền kinh tế quốc dân

Xuất khẩu tạo nguồn vốn quan trọng, chủ yếu để quốc gia thỏa mãn nhu cầunhập khẩu và tích luỹ để phát triển sản xuất

Mỗi quốc gia muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế lại rất cần những tư liệusản xuất để phục vụ cho công cuộc CNH - HĐH Để có những tư liệu sản xuất đó,

họ phải nhập khẩu từ nước ngoài và để bù đắp nguồn vốn bị thiếu hụt họ sẽ lấy từxuất khẩu

Ở các nước kém phát triển vật ngăn cản chính đối với nền kinh tế là thiếutiềm lực về vốn trong quá trình phát triển Nguồn vốn huy động từ nước ngoài đượccoi là cơ sở chính nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài thấy được

Trang 26

khả năng xuất khẩu của đất nước đó, vì đây là nguồn chính để đảm bảo nước này cóthể trả nợ.

Đẩy mạnh xuất khẩu được xem như một yếu tố quan trọng kích thích sự tăngtrưởng kinh tế

Việc đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, nhiềungành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu, gây phản ứng dây chuyền giúp chocác ngành kinh tế khác phát triển theo, dẫn đến kết quả tăng tổng sản phẩm xã hội

và nền kinh tế phát triển nhanh

Xuất khẩu có ích lợi kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghiệp sảnxuất

Để có thể đáp ứng được nhu cầu cao của thế giới về qui cách phẩm chất sảnphẩm thì một sản phẩm sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công nghệ, mặt khácngười lao động phải năng cao tay nghề, học hỏi những kinh nghiệm sản xuất tiêntiến

Đẩy mạnh xuất khẩu có ích lợi đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành theohướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước

Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào chosản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước

Xuất khẩu tạo những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao nănglực sản xuất trong nước Điều này có ý nghĩa là xuất khẩu là phương tiện quan trọngtạo vốn, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài vào trong nước nhằmhiện đại hóa nền kinh tế của đất nước, tạo ra năng lực sản xuất mới

Thông qua xuất khẩu, hàng hóa trong nước sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranhtrên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi các nhàsản xuất trong nước phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất phù hợp

Trang 27

với nhu cầu thị trường Ngoài ra, xuất khẩu còn đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phảiluôn đổi mới công hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chấtlượng sản phẩm và hạ giá thành.

Xuất khẩu có tác động trực tiếp đến việc giải quyết công ăn việc làm và cảithiện đời sống của nhân dân

Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm nhiều mặt

Ngoài ra một phần kim ngạch xuất khẩu còn dùng để nhập khẩu những vậtphẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ cho đời sống và đáp ứng ngày càng phong phúhơn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy kinh tế đối ngoại giữa các quốcgia

Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫnnhau Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động chủ yếu, cơ bản là hình thức ban đầucủa hoạt động kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác như du lịchquốc tế, bảo hiểm, vận tải quốc tế, tín dụng quốc tế… phát triển theo Ngược lại sựphát triển của các ngành này lại là những điều kiện tiền đề cho hoạt động xuất khẩuphát triển

1.2.3.3 Đối với doanh nghiệp

Ngày nay xu hướng vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng chungcủa tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp Việc xuất khẩu hàng hóa dịch vụ đemlại lợi ích sau:

Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vàocuốc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Những yếu tố đó đòihỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường

Trang 28

Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới và hoàn thiện côngtác quản lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành.

Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộngquan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ sở hai bêncùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro, mấtmát trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy tín kinh doanh của doanh nghiệp

Xuất khẩu khuyến khích việc phát triển các mạng lưới kinh doanh của doanhnghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển các hoạt động sảnxuất, marketing… cũng như sự phân phối và mở rộng trong việc cấp giấy phép

Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng sáng tạo của cán bộ xuất nhập khẩucũng như các đơn vị tham gia như: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong khảnăng xuất khẩu các thị trường mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập

Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động cóthu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên và tăng thêm thu nhập ổnđịnh cho đời sống cán bộ và công nhân viên và tăng thêm lợi nhuận

1.3 Khái niệm và vai trò của duy trì và mở rộng thị trường

1.3.1 Khái niệm và các chỉ tiêu đánh giá mở rộng thị trường

1.3.1.1 Khái niệm về mở rộng thị trường

Mở rộng thị trường là tổng hợp các cách thức biện pháp của doanh nghiệp đểđưa khối lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp đạt mức tối đa

Như vậy theo quan điểm marketing hiện đại “Mở rộng thị trường của doanhnghiệp không chỉ là việc phát triển thêm các thị trường mới mà còn là cả tăng thịphần của các sản phẩm ở các thị trường cũ”

Trang 29

1.3.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng thị trường

Để đánh giá mức độ mở rộng thị trường chúng ta có thể dựa vào một số chỉtiêu như xét theo bề rộng là phạm vi địa lý của thị trường, tạo được những kháchhàng mới Mức độ mở rộng thị trường nếu xét theo số tuyệt đối đó là số khu vực thịtrường mới khai phá, số thị trường thực mới tăng bình quân Xét theo chiều sâu đó

là việc tăng được khối lượng hàng hóa bán ra vào thị trường hiện tại

Chỉ tiêu mở rộng thị trường theo chiều rộng chỉ thấy phạm vi mở rộng theokhông gian chứ không thấy nỗ lực của doanh nghiệp trong việc tăng doanh số bán vìvậy phải xét cả chỉ tiêu mở rộng thị trường theo chiều sâu

1.3.1.3 Sự cần thiết phải mở rộng thị trường xuất khẩu

- Mở rộng thị trường là yếu tố tất yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triểntrong nền kinh tế thị trường

Ngày nay trên thế giới trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế khi mà hàngrào thuế quan được hạ bỏ các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắttrên thị trường, doanh nghiệp không những phải cạnh tranh với các doanh nghiệptrong nước mà còn phải cạnh tranh gay gắt với các công ty bên ngoài Do vậy để tồntại và phát triển công ty phải không ngừng duy trì và mở rộng thị trường của mình

- Mở rộng thị trường là cần thiết trong việc thực hiện chính sách của Đảng

và nhà nước

Đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa để xuất khẩu, mở rộng thịtrường đồng nghĩa với việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Đây cũng là chính sáchchung của Đảng và nhà nước nhằm thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạocông ăn việc làm cho người lao động, giải quyết các vấn đề xã hội đồng thời tăngthu ngoại tệ cho đất nước, nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ nhằm phục vụ cho

Trang 30

- Mở rộng thị trường là tất yếu khách quan nhằm lưu thông hàng hóa giatăng lợi nhuận

Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay tình hình cạnh tranh diễn ra ngàycàng gay gắt, các doanh nghiệp phải đối đầu với nhiều đối thủ cạnh tranh do vậy lợinhuận bị chia sẻ Để đạt được lợi nhuận cao đồng thời hạn chế được sự cạnh tranhcác doanh nghiệp phải vươn đến những thị trường mới

- Mở rộng thị trường giúp cho doanh nghiệp khẳng định được vị trí củamình trên thị trường thế giới

Mỗi quốc gia không thể phát triển một cách độc lập riêng rẽ mà phải thamgia vào phân công lao động xã hội trên toàn thế giới và hợp tác quốc tế Do đó mởrộng thị trường giúp doanh nghiệp cọ sát với thế giới bên ngoài có điều kiện để pháttriển hoạt động sản xuât kinh doanh của mình khẳng định vị thế mới của mình trêntrường quốc tế

1.3.2 Nội dung duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu

1.3.2.1 Nghiên cứu thị trường quốc tế

Để có thể thâm nhập vào thị trường thì điều đầu tiên doanh nghiệp cần làm

là phải tìm hiểu thị trường Nghiên cứu thị trường là điều kiện cần thiết để doanhnghiệp phát triển đúng hướng, là xuất phát điểm để các doanh nghiệp xác định vàxây dựng kế hoạch kinh doanh, nâng cao khả năng thích ứng với thị trường của cácsản phẩm của doanh nghiệp

Các bước nghiên cứu bao gồm bốn bước:

- Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

Trong giai đoạn đầu doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu phải xác định rõmục tiêu nghiên cứu Ở cấp công ty các mục tiêu đề ra có thể chung nhất chỉ nêu

Trang 31

tiêu phải được cụ thể hóa để các nhà lãnh đạo xác định được hướng cần tập trungvào nghiên cứu.

- Thu thập thông tin

Sau khi xác định chính xác vấn đề cần nghiên cứu người ta cũng cần xácđịnh nhu cầu về thông tin Do số lượng thông tin trên thị trường rất nhiều nhưngkhông phải thông tin nào cũng có giá trị nên doanh nghiệp phải thu thập các thôngtin thích hợp thỏa mãn được yêu cầu Để đảm bảo cho công tác nghiên cứu thịtrường được tốt các thông tin thường tìm kiếm là: các điều kiện của môi trường kinhdoanh, điều kiện của các nhân tố chủ quan, thông tin về đối thủ cạnh tranh, về kháchhàng và người cung cấp hàng hóa Doanh nghiệp có thể dựa vào hai nguồn thông tin

là thông tin sơ cấp và thông tin thứ cấp

- Xử lý thông tin

Đây là thời điểm quan trọng nhất trong việc nghiên cứu thị trường Mụctiêu được đặt ra lúc này dựa trên thông tin đã thu nhận về tình hình thị trường, cácdoanh nghiệp phải tìm ra cho mình thị trường mục tiêu, tìm ra thời cơ phát triển đểđưa vào các chiến lược kế hoạch của doanh nghiệp để xử lý thông tin, người nghiêncứu thường tổng hợp các số liệu thành biểu bảng, phân tích các chỉ tiêu như sự phân

bố các tần suất, mức trung bình và mức độ phân tán để đưa ra quyết định

Trang 32

* Nội dung của nghiên cứu thị trường.

Thị trường nước ngoài không bao giờ đồng nhất, nó bao gồm nhóm kháchhàng khác nhau về mọi đặc trưng kinh tế xã hội văn hóa Vì thế nhà kinh doanh cầnphải phân tích cơ cấu khách hàng theo độ tuổi, giới tính nơi cư trú, nghề nghiệptrình độ văn hóa, giai cấp tầng lớp trong xã hội…Việc xác định cơ cấu thị trườngcho phép doanh nghiệp định vị được từng đoạn thị trường mục tiêu với những tậptính tiêu dùng cụ thể nhằm xác định những đoạn thị trường có triển vọng nhất vàkhả năng chiếm lĩnh các thị trường đó

- Nghiên cứu hành vi hiện thực và tập tính tinh thần của khách hàng

Hành vi hiện thực của khách hàng được thể hiện qua sự biến động nhu cầutheo nhân tố ảnh hưởng, những thói quen mua hàng và thu thập thông tin về sảnphẩm Hành vi hiện thực còn được biểu hiện thông qua mức độ co dãn theo cầu củagiá cả, theo thu nhập của nhóm khách hàng, cơ cấu tiêu dùng theo kênh phân phối,

cơ cấu khách hàng tìm thông tin về sản phẩm theo các kênh thông tin khác nhau

Tập tính tinh thần của khách hàng là những suy nghĩ cách lựa chọn sảnphẩm và ra quyết định mua hàng, ý kiến thái độ của khách hàng và mức độ ảnhhưởng của gia đình, các nhóm tham khảo người tư vấn chỉ dẫn trong mỗi quyết địnhmua hàng, những ý kiến khen chê của khách hàng đối với các yếu tố chất lượng củasản phẩm, giá cả và mức giá được chấp nhận

- Nghiên cứu cách thức tổ chức thị trường nước ngoài

Các nhà phân phối và các nhà chỉ dẫn là những yếu tố tạo nên sự khác biệtgiữa các thị trường nước ngoài Số lượng các các nhà trung gian phân phối trongchu trình phân phối sản phẩm và tầm quan trọng của mỗi trung gian trong chu trình

đó có thể rất khác nhau giữa các nước Vì thế cần tìm hiểu kỹ trước khi ra quyếtđịnh về cách thức thâm nhập thị trường Các đại lý quảng cáo, các tổ chức xúc tiến

Trang 33

cũng có quy mô và hiệu quả hết sức khác nhau giữa các thị trường khác nhau Cuốicùng là điều kiện tín dụng, các phương thức thanh toán và các vấn đề tài chính kháccũng được các nhà kinh doanh xem xét kỹ lưỡng trước khi có quyết định thâm nhậpthị trường Ngoài ra còn một số yếu tố khác hết sức quan trọng ảnh hưởng đến quyếtđịnh lựa chọn và thâm nhập thị trường nước ngoài như mức độ phát triển của kếtcấu hạ tầng kinh tế xã hội: Giao thông vận tải, liên lạc viễn thông, các dịch vụ vàcác điều kiện sinh hoạt.

* Phương pháp nghiên cứu

Để có thể nghiên cứu thị trường nước ngoài doanh nghiệp có thể dựa trênnhiều phương pháp nghiên cứu và nguồn khác nhau

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn

- Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường

- Phương pháp bán thử

1.3.2.2 Dự báo thị trường nước ngoài

Sau khi tiến hành nghiên cứu thị trường các doanh nghiệp cần thực hiệnphân tích số liệu và dự báo phân tích thị trường nước ngoài Để có được hình ảnhđầy đủ về thị trường tương lai của doanh nghiệp thì lý tưởng nhất là dự báo mọikhía cạnh của thị trường từ các đặc trưng khái quát đến đặc điểm chi tiết của nó.Tuy nhiên trên thực tế khó có thể dự báo chính xác mọi động thái của thị trường, do

đó doanh nghiệp chỉ cần tập trung dự báo những đặc trưng quan trọng nhất của thịtrường, như mức tổng nhu cầu thị trường, tổng mức nhập khẩu, cơ cấu sản phẩm sẽ

có nhu cầu trong tương lai Doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp nhưphương pháp chuyên gia, phương pháp thống kê, phương pháp thống kê kinh tế,phương pháp ngoại suy…

Trang 34

1.3.2.3 Lựa chọn thị trường nước ngoài

Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai chiến lược mở rộng thị trườngnước ngoài là chiến lược tập trung và chiến lược phân tán

Chiến lược tập trung là chiến lược trong đó doanh nghiệp tập trung thâmnhập vào một số ít thị trường trọng điểm giúp doanh nghiệp tập trung nguồn lực đểquản lý dễ dàng hơn, ưu thế cạnh tranh cao hơn nhưng tính linh hoạt trong kinhdoanh bị hạn chế, mức độ rủi ro tăng do doanh nghiệp khó có thể đối phó với nhữngbiến động của thị trường

Chiến lược phân tán là chiến lược mở rộng đồng thời hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp sang nhiều thị trường khác nhau Chiến lược này có ưu điểmchính là tính linh hoạt trong kinh doanh cao hơn song do hoạt động kinh doanh bịdàn trải nên khó thâm nhập sâu vào thị trường, hoạt động quản lý phức tạp hơn, chiphí thâm nhập thị trường lớn hơn

Doanh nghiệp có thể sử dụng hai thủ tục để mở rộng hoặc thu hẹp để tiếnhành lựa chọn thị trường xuất khẩu Thủ tục mở rộng sự nghiên cứu tương đồnggiữa cơ cấu thị trường giúp doanh nghiệp mở rộng hoạt động sang các khu vực thịtrường có mức tương đồng cao so với thị trường nội địa Một khi đã tìm ra nhữngnước có đặc điểm tương đồng nhau thì những thông tin về thị trường tiềm năng củamột hay một số nước trong nhóm sẽ sử dụng để đánh giá các nước khác trong nhómđó

1.3.2.4 Thâm nhập thị trường nước ngoài

Khi doanh nghiệp đã lựa chọn một số thị trường nước ngoài làm mục tiêu

mở rộng hoạt động hoạt động kinh doanh của mình thì cần tìm ra được phương thứctốt nhất để thâm nhập vào thị trường đó Việc lựa chọn phương thức thâm nhậpđược thực hiện trên cơ sở hoạt động nghiên cứu đánh giá thị trường tuỳ vào khảnăng của doanh nghiệp

Trang 35

Vì mỗi thị trường chỉ phù hợp với một hoặc vài phương thức thâm nhập dovậy doanh nghiệp phải lựa chọn phương thức thâm nhập hiệu quả nhất đối vớidoanh nghiệp mình.

- Đầu tư trực tiếp:

Là phương thức mở rộng thị trường cao hơn của doanh nghiệp ra thị trườngnước ngoài nhằm xây dựng các xí nghiệp của mình đặt tại nước đó, trực tiếp thiếtlập các kênh phân phối, thiết lập các quan hệ với khách hàng, các nhà cung cấp vàcác nhà phân phối bản xứ Đầu tư trực tiếp có thể sử dụng các hình thức cơ bản sau:hợp đồng hợp tác kinh doanh (BOT, BT, ), doanh nghiệp chìa khoá trao tay và cácbiến tướng của nó, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Trang 36

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM BÍCH CHI

2.1 Tổng Quan Về Công Ty

2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển công ty

Với thập niên 90, công ty đã đầu tư nhập dây chuyền và công nghệ sản phầm

hủ tiếu – phở của Trung Quốc Các công đoạn sản xuất đã được tự động hóa nên đãnăng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đã đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu và các sảnphẩm bánh phở, hủ tiếu bột lọc mang nhãn hiệu Bích Chi đã chinh phục đượcnhững khách hàng khó tính ở những thị trường: Anh, Pháp, Nhật Bản, Hàng Quốc,

… có thể xem đây là bước đột phá trong ngành thực phẩm hồi bấy giờ Các mặthàng hủ tiếu – phở chủ yếu bằng thủ công, năng suất rất thấp, chất lượng không cao,xuất khẩu khó khăn sẽ không còn nữa

Từ những năm 2000, theo chủ chương của Chính Phủ, các doanh nghiệp đãtiến hành cổ phần hóa và chuyển các doanh nghiệp Nhà Nước thành công ty cổphần, hòa theo không khí chung đó Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Bích Chi đã rađời, căn cứ theo Quyết định số 968/QĐ.UB.HC ngày 18/10/2000 của Ủy Ban NhânDân Tỉnh Đồng Tháp

Công ty hoạt động theo Điều lệ của công ty và Luật doanh nghiệp do QuốcHội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa X kỳ hợp thứ 5 thông quangày 15/06/1999

Tên doanh nghiệp: CÔNG TY CỔ PHẦN THỰCPHẨM BÍCH CHI

Tên giao dịch: BICH CHI FOOD COMPANYLĩnh vực hoạt động chính: sản xuất cung ứng lươngthực thực phẩm và kinh doanh xuất nhập khẩu các loại thực

Trang 37

Tên: CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM BÍCH CHI Địa chỉ: 45X1 Nguyễn Sinh Sắc, Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp Điện thoại: 84.67.3861910 - 3770873 - 3773606

Fax: 84.67.3864674 Email: bchi-bfc@hcm.vnn.vn - bfctradeptdt@vnn.vnWebsite: www.bichchi.com.vn

Mã số thuế: 1400371184Lĩnh vực kinh doanh: Chế biến thực phẩmNgày thành lập doanh nghiệp: Thành lập năm 1996, chính thức hoạtđộng theo loại hình công ty Cổ Phần vào ngày 01/01/2001

Tổng giám đốc: Phạm Thanh Bình ĐTDĐ:0918.301.759Tên người liên lạc: Trang Sĩ Đức Chức vụ: Phó TổngGiám Đốc ĐTDĐ:0913.705.253

Giới thiệu:

h

Công ty Cổ Phần Thực Phẩm Bích Chi là doanh nghiệp hoạtđộng hiệu quả trong lĩnh vực chế biến thực phẩm ở Việt Nam Tiềnthân là Nhà máy Bột Bích Chi thành lập từ năm 1966 là đơn vịchuyên sản xuất bột gạo lứt, bột đậu các lọai cung cấp cho thị trườngtiêu thụ trong nước

Thừa hưởng lợi thế vùng nguyên liệu đặc sản nổi tiếng cùng làng nghề bộtlọc Sa Đéc, nằm ngay vựa lúa ĐBSCL, với diện tích nhà xưởng sản xuất khoảng

Trang 38

Cổ Phần Thực Phẩm Bích Chi đã có ngay thế mạnh trongviệc sản xuất ra các sản phẩm chất lượng cao mang thương hiệuBích Chi.

Chiến lược đầu tư tổng thể về cơ sở hạ tầng, công nghệ, thiết

bị máy móc, nguồn nhân lực đã đưa năng lực sản xuất của công ty ngày càng tăngvọt Với một bộ phận quản lý năng động, cán bộ kỹ thuật giỏi về chuyên môn, cùng

độ ngũ công nhân lành nghề công ty đã xây dựng và áp dụng thành công hệ thốngquản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và công ty đang hướng tới kếhoạch xây dựng và áp dụng chương trình HACCP

2.1.2. Chuyên ngành hoạt động chính của công ty

Sản xuất, chế biến lương thực - thực phẩm

Kinh doanh, xuất nhập khẩu các loại thực phẩm

2.1.3. Sản phẩm của công ty

Thực phẩm Bích Chi gồm trên 100 sản phẩm, phù hợp với nhu cầu ẩm thực

đa dạng của người tiêu dùng Trong đó phải kể đến các sản phẩm truyền thống nổi

tiếng của Bích Chi như:

+ Bột dinh dưỡng+ Bột gạo lứt

+ Bánh phở, hủ tiếu bột lọc, bánh tráng

+ Phở, hủ tiếu, bún, miến, cháo ăn liền Sau khi chế biến, các sản phẩm này giữ nguyên hàm lượng vitamin tronggạo đậu đáp ứng tốt nhu cầu về dinh dưỡng cho người tiêu dùng Trước tình hìnhyêu cầu thị trường, những sản phẩm mới phục vụ các bữa ăn công nghiệp lần lượtđược triển khai sản xuất như phở, bún, miến, hủ tiếu đóng gói đa dạng, phong phúchủng loại mang đến sự tiện lợi, đảm bảo vệ sinh, bổ dưỡng, với hương vị đặctrưng thuần chất Việt Nam

Bánh phồng tôm là mặt hàng đặc sản vùng Sa Đéc, sản phẩm này được rấtnhiều nhiều khách hàng nước ngoài biết đến Đầu năm 2003, Công ty Bích Chi đã

Trang 39

đầu tư xây dựng một nhà máy chuyên sản xuất báng phồng tôm với công suất 2.500tấn/năm và đến cuối năm 2003 đã đưa ra thị trường nhiều mặt hàng:

Với phương châm " Uy tín - Chất lượng - Giá cả cạnh tranh”, uy tín thươnghiệu đưa thực phẩm Bích Chi vươn xa không những đáp ứng được nhu cầu nội địa

mà sản phẩm Bích Chi Đã Có Mặt Tại Nhiều Thị Trường Trên Thế Giới Như: Đài

Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Indonesia, Úc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ,Canada, EU và một số nước Ả Rập…

Sản phẩm của công ty chia thành 5 nhóm sản phẩm:

Trang 40

 Nhóm sản phẩm ăn liền: Hủ tiếu ăn liền, Cháo ăn liền, miến ăn liền,

 Nhóm sản phẩm bánh phồng tôm: Bánh phồng tôm hải sản, Bánh phồng

tôm cá, Bánh phồng tôm cua, Bánh phồng tôm mực,…

 Nhóm bánh bột: Bột gạo, Bột nếp,

 Nhóm sản phẩm bột dinh dưỡng: Bột gạo lứt, Bột đậu xanh, Bột mè đen,

Bột 5 thứ đậu,

Ngày đăng: 24/02/2014, 23:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của cộng ty Cổ Phần Thực Phẩm Bích Chi - phân tích hoạt động xuất khẩu và giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu của công ty cổ phần thực phẩm bích chi
Bảng 2.1 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của cộng ty Cổ Phần Thực Phẩm Bích Chi (Trang 45)
Bảng 2.2: Kim Ngạch Xuất Khẩu Hàng Thực Phẩm Theo Thị Trường - phân tích hoạt động xuất khẩu và giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu của công ty cổ phần thực phẩm bích chi
Bảng 2.2 Kim Ngạch Xuất Khẩu Hàng Thực Phẩm Theo Thị Trường (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w