1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN LUẬT KINH tế thực trạng hộ kinh doanh đủ điều kiện nhưng không đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bình dương

35 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Hộ Kinh Doanh Đủ Điều Kiện Nhưng Không Đăng Ký Thành Lập Doanh Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
Người hướng dẫn Giảng Viên Hướng Dẫn
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 146,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA KINH TẾ TIỂU LUẬN MÔN HỌC LUẬT KINH TẾ ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG HỘ KINH DOANH ĐỦ ĐIỀU KIỆN NHƯNG KHÔNG ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG Sinh viên thực hiện Lớp Khoá Ngành Kinh tế Giảng viên hướng dẫn Bình Dương, tháng 82020) ii Lời cam đoan Xin cam đoan đây là Tiểu luận do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đúng quy định Đề tài tiểu luận của tôi và chưa đượ.

Trang 1

THỰC TRẠNG HỘ KINH DOANH ĐỦ ĐIỀU KIỆN NHƯNG KHÔNG ĐĂNG

KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Trang 2

Lời cam đoan

Xin cam đoan đây là Tiểu luận do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quảtrong khóa luận là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đúngquy định Đề tài tiểu luận của tôi và chưa được công bố trước đây

Tác giả

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ii

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Đất nước ta đang bước những bước dài trong sự nghiệp đổi mới, vớimục tiêu đưa Việt Nam sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiệnđại Sự chuyển dịch từ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu sang nền kinh tế thịtrường với sự đa dạng hoạt động kinh doanh trong các thành phần kinh tế đãthực sự làm “bung” sức sản xuất toàn xã hội, góp phần giải phóng thị trường.Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế được hoàn toàn chủ động và tự do kinh doanhtheo khuân khổ pháp luật Sau 35 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạtđược nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử, nhất là trên lĩnh vực kinh

tế Để đạt được những thành tựu trên, Đảng và Nhà nước luôn có những chínhsách, chủ trương để tạo mọi điều kiện, thu hút các chủ thể tham gia vào hoạtđộng kinh doanh

Đăng ký doanh nghiệp là một trong công đoạn của quá trình thành lậpdoanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có được địa vị pháp lý trên thị trường Hoạtđộng đăng kinh doanh được phát triển theo thời gian và phù hợp với thực tếqua quy định của các Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp 2005,Luật doanh nghiệp 2014, 2020 cùng với đó là những văn bản hướng dẫn thihành… Hệ thống quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp đã tạo ramôi trường thu hút mọi nguồn lực đầu tư và duy trì việc quản lý, giám sátdoanh nghiệp Nhà nước bảo hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp thực hiện hành vi kinh doanh từ khâu đăng ký thành lập, đi vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh và cả khi doanh nghiệp rút khỏi thị trường, đồngthời luôn quan tâm phát triển pháp luật về ĐKDN để quy định đầy đủ cho cácloại hình doanh nghiệp có cơ sở pháp lý khi ra đời hoạt động nhằm đảm bảođầy đủ quyền và lợi ích Ngoài ra, hoạt động đăng ký kinh doanh là một trongnhững hình thức để thực hiện quyền tự do kinh doanh thúc đẩy các chủ thểkinh doanh tham gia vào “một sân chơi chung”

Trang 5

Tuy nhiên, thực tế hiện nay có rất nhiều HKD dù có đủ điều kiện nhưngkhông muốn thành lập doanh nghiệp, mặc dù về bản chất, HKD không khác gìdoanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ nhưng các quy định pháp luật hiện hành chưathật sự tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể này phát triển Cùng với đó, tính tựphát trong hoạt động kinh doanh của HKD gây thất thu rất lớn đối với ngànhthuế, vì rất khó có thể kiểm soát được đối tượng này

Bên cạnh đó, để bảo đảm tính pháp lý của HKD và bình đẳng với cácloại hình doanh nghiệp cũng như hình thức kinh doanh khác trong nền kinh tếcần thiết phải bổ sung các quy định nhằm làm rõ quyền, nghĩa vụ của hộ kinhdoanh, quy định hệ thống kế toán đơn giản, thuận tiện Như vậy, vấn đề đặt

ra là tìm giải pháp điều chỉnh pháp lý về tổ chức và hoạt động của HKD nhưthế nào cho phù hợp với những điều kiện của nền kinh tế thị trường mới đượcxác lập ở nước ta Để mọi HKD thấy được những thuận lợi cơ bản để tiếnhành ĐKDN, từ đó tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về doanhnghiệp và điều quan trọng nhất là chống thất thu thuế từ các chủ thể kinhdoanh này

Mặt khác, thực tiễn tại Bình Dương, một tỉnh một tính với tốc độ côngnghiệp hóa diễn ra nhanh chóng, số lượng DN và HKD lớn và với đặc thù về

vị trí địa lý, kinh tế xã hội cho thấy lực lượng HKD của tỉnh chiếm tỷ lệ lớn,tập trung đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau như: khách sạn, nhà hàng,các loại hình dịch vụ khác với quy mô sản xuất nhỏ lẻ Trong những nămqua, hoạt động của các HKD trên địa bàn không ngừng lớn mạnh, tuy nhiênviệc ghi nhận các HKD tiến hành thủ tục ĐKDN rất khiêm tốn, vậy đâu lànguyên nhân của vấn đề này, và giải pháp để khuyến khích các HKD tiến

hành đăng ký doanh nghiệp ra sao, tôi chọn đề tài: “Thực trạng hộ kinh

doanh đủ điều kiện nhưng không đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương” làn chủ đề tiểu luận kết thúc môn học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

Trang 6

Vấn đề ĐKDN nói chung và pháp luật về ĐKDN nói riêng đã đượcnhiều nhà khoa học và các tác giả quan tâm nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiềugóc độ Có thể nêu một số công trình tiêu biểu đã xuất bản,công bố sau đây:

Năm 2004, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có “Báo cáo tổng kết thi hànhLuật Doanh nghiệp năm 1999” trên cơ sở khảo sát doanh nghiệp thực hiệnhoạt động đăng ký kinh doanh trong phạm vi cả nước Kết quả thu cho thấy,

cứ trung bình, mỗi tuần lại sản sinh ra được một giấy phép mới Điều này dẫnđến việc xuất hiện ngày càng nhiều các loại giấy phép con, giấy phép trá hìnhđược thể hiện dưới dạng các điều kiện kinh doanh, thậm chí là cả các giấyphép đã bị bãi bỏ nhưng tồn tại dưới hình thức khác Sự ra đời của LuậtDoanh nghiệp năm 2005 đã mở rộng quyền tự do kinh doanh, thành lập doanhnghiệp của nhà đầu tư không phân biệt đó là nhà đầu tư trong nước hay nướcngoài Luật đã đơn giản hóa trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh, áp dụngthống nhất chế độ đăng ký thay cho “cấp phép”, xóa bỏ những quy định “xin-cho”, "phê duyệt”, “chấp thuận” bất hợp lý, gây phiền hà cho doanh nghiệp,hạn chế tối đa rào cản gia nhập thị trường không cần thiết, tạo thuận lợi chonhững người có khả năng thành lập doanh nghiệp, biến nguyện vọng kinhdoanh của mình thành hiện thực

Báo cáo tổng kết thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Bộ Kếhoạch và Đầu tư, trong đó có đánh giá tình hình triển khai thi hành LuậtDoanh nghiệp từ năm 2006 đến năm 2013, phân tích những tác động tích cực

và hạn chế của Luật để làm cơ sở cho sửa đổi bổ sung Luật Doanh nghiệp

Cuốn sách “Tự do kinh doanh và vấn đề đảm bảo quyền con người tạiViệt Nam” do GS.TS Mai Hồng Quỳ chủ biên, được Nhà xuất bản Lao độngphát hành năm 2012 Nội dung của cuốn sách được tác giả phân tích, bìnhluận đánh giá pháp luật về doanh nghiệp Việt Nam trong việc đảm bảo quyền

tự do kinh doanh như những quy định về thủ tục ĐKKD Theo tác giả, để

mở rộng đảm bảo quyền tự do theo đúng tinh thần của Hiến pháp, nhà nướccần tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi thông qua hệ thống pháp luật

về doanh nghiệp phải phù hợp không được trái với nguyên tắc tự do kinh

Trang 7

doanh, đồng thời đẩy mạnh việc cải cách quy trình ĐKKD rút ngắn thời gian

và chi phí để doanh nghiệp được thực hiện kinh doanh một cách thuận lợi

Luận văn Thạc sĩ của Lê Thế Phúc của (Khoa Luật, Đại học Quốc gia)về: “Đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp Việt Nam - Thực trạng vàmột vài kiến nghị” đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động ĐKKD, phântích thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về ĐKKD ở ViệtNam hiện nay trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện những quyđịnh của pháp luật về vấn đề này trong tương lai

Ngoài các tác phẩm nghiên cứu pháp luật về đăng ký kinh doanh, trêncác tạp chí chuyên ngành và không chuyên ngành đều có những bài viết trựctiếp hoặc liên quan về đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp như:

Tác giả Trần Huỳnh Thanh Nghị đã có những bài viết:“Cải cách thủ tụcthành lập doanh nghiệp tại Việt Nam: Nhìn từ khía cạnh pháp lý qua báo cáocủa Ngân hàng thế giới”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 07/2011, số 279;

“Cải cách thủ tục thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam trong chặng đường 10năm hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Luật học, 08/2017, số135; “Thựctrạng pháp luật về giấy phép kinh doanh”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số

04, (236), 02/2018 Những bài viết đã phản ánh những thủ tục bất cập trongcông tác ĐKKD tại Việt Nam so với các nước trên thế giới còn tồn tại nhiềubất cập, khó khăn, rào cản gây trở ngại cho các nhà đầu tư

Bài viết:“Luật doanh nghiệp năm 2014 - Tạo thuận lợi tối đa cho doanhnghiệp trong toàn bộ quá trình thành lập, hoạt động” của tác giả Hoàng ThanhTuấn đăng trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia Nội dung bàiviết đề cập đến những điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 được sắp xếptheo thứ tự vòng đời của doanh nghiệp, từ lúc gia nhập thị trường, hoạt độngsản xuất kinh doanh, tổ chức lại cho đến lúc giải thể, rút lui khỏi thị trường.Trong đó, tác giả nhấn mạnh những quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 vềviệc bãi bỏ các yêu cầu về điều kiện kinh doanh tại thời điểm đăng ký thànhlập doanh nghiệp, chuyển hoàn toàn từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, hay LuậtDoanh nghiệp 2014 đã tách bạch thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp với

Trang 8

các thủ tục về đăng ký đầu tư, giảm thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanhnghiệp, rút ngắn thời gian gia nhập thị trường cho doanh nghiệp, xuống còn 3ngày làm việc, trao việc quyết định về hình thức, số lượng và nội dung condấu cho doanh nghiệp

Pháp luật về chủ thể kinh doanh nói chung và pháp luật HKD nói riêng

là một nội dung quan trọng của pháp luật đã và đang được nhiều nhà khoahọc quan tâm nghiên cứu Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, nhiềucông trình nghiên cứu khoa học và bài viết đã được công bố, đề cập tới cácvấn đề pháp lý của HKD tại Việt Nam, cụ thể:

HKD là một bộ phận nằm trong quá trình giảng dạy về luật kinh tế vàquản lý kinh tế mặc dù mức độ nghiên cứu chưa sâu Chúng ta có thể tìmthấy một số vấn đề về HKD trong Giáo trình Luật Thương mại, của TrườngĐại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018; Giáo trình Luậtkinh tế, của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốcgia Hà Nội, Hà Nội, 2011; Chuyên khảo Một số quy định mới về HKDnhỏ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật

học là các công trình: Vũ Thị Ngọc Anh (2014), Địa vị pháp lý của HKD

-Những vấn đề về lý luận và thực tiễn, luận văn thạc sỹ luật học, đại học Luật

Hà Nội, Hà Nội; Đặng Thị Thùy Trang, Hoàn thiện quản lý thuế đối với

HKD cá thể tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa

Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội; Trần Ngọc Hà (2016) Pháp luật về

HKD ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Viện đại học mở Hà Nội, Hà

Nội;…

Các bài viết được công bố trên các tạp chí chuyên ngành pháp lý, nổi

bật như bài viết: Phân tích pháp luật về HKD để tìm ra các bất cập, của

TS Ngô Huy Cương, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 25

(2009), hay bài Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở

nước ta hiện nay, của GS.TS Hồ Văn Vĩnh Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

(2003),…

Trang 9

Hiện nay dự thảo về luật doanh nghiệp có nhiều quan điểm khác nhau vềviệc hoàn thiện khung pháp lý đối với HKD mà nổi bật hai quan điểm: dựthảo bổ sung về HKD với nguyên tắc thừa nhận sự tồn tại của HKD là hìnhthức kinh doanh, trao thêm quyền cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức kinhdoanh phù hợp, cần xem xét để HKD như là một doanh nghiệp, tuy nhiêncũng có ý kiến cho rằng việc hoàn thiện khung khổ pháp lý đối với HKD làcần thiết, song việc đưa HKD vào dự thảo luật là một vấn đề lớn, phạm virất rộng, cần đánh giá kỹ tác động, lấy ý kiến rộng rãi của đối tượng chịutác động (hộ kinh doanh), không ép buộc HKD phải chuyển thành doanhnghiệp.

Đặc biệt, mới đây nhất, PGS.TS Hà Nam Khánh Giao (Trưởng khoaVận tải Hàng không, Học viện Hàng không Việt Nam) và Nguyễn ĐặngThanh Nhật (Chuyên viên Phòng đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch - Đầu tưtỉnh Bình Dương) có nghiên cứu chuyên đề: “Chuyển đổi hộ kinh doanh cáthể thành doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương” Nghiên cứu này đượcthực hiện nhằm xem xét thực trạng chuyển hộ kinh doanh cá thể thành DN)tạitỉnh Bình Dương, bằng việc khảo sát 357 chủ hộ Công cụ Cronbach’s alpha,EFA và phân tích hồi quy bội được sử dụng Kết quả đã đưa ra được mô hình

5 yếu tố tác động đến quyết định chuyển đổi từ HKD thành DN, sắp theo thứ

tự giảm tầm quan trọng: doanh thu bình quân, kinh nghiệm quản lý, ngànhnghề hoạt động, môi trường kinh doanh, tiếp cận tài chính Mô hình binarylogistic tính toán sự tác động của các nhân tố trong việc HKD quyết địnhchuyển đổi thành DN khẳng định giá trị thực tiễn qua kết quả thực nghiệm thuđược Từ đó, đề xuất các gợi ý về giải pháp, kiến nghị đến các bộ phận quản

lý có liên quan, nhằm khuyến khích việc chuyển đổi từ HKD thành DN tạitỉnh Bình Dương.1

Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên đây đều liên quan đến đềtài nghiên cứu của tiểu luận và tác giả có thể kế thừa các kết quả nghiên cứunày trong việc giải quyết nội dung đề tài

1 tinh-binh-duong-74894.htm

Trang 10

http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/chuyen-doi-ho-kinh-doanh-ca-the-thanh-doanh-nghiep-tren-dia-ban-3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Làm rõ về những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật ĐKDN,HKD Phân tích thực trạng chuyển đổi HKD thành doanh nghiệp trên địa bàntỉnh Bình Dương và những tác động của nó đến công tác quản lý nhà nước đốivới các chủ thể kinh doanh Từ đó đưa ra định hướng, luận cứ khoa học nhằmkiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật và đề xuất mô hình chuyển đổiphù hợp với pháp luật Việt Nam và thực tế tại tỉnh Bình Dương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng hộ kinh doanh đủ điều kiện nhưng không đăng ký thành lập

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Từ năm 2015 đến 2019 Đề tài tập trung nghiên cứu sâu và phân tíchthực trạng cũng như giải pháp áp dụng chủ yếu đối với việc HKD đủ điềukiện nhưng không tiến hành ĐKDN

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở học thuyết Mác-LêNin và tư tưởng HồChí Minh về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là hệ thống các tri thức lý luận

về thực hiện pháp luật Tiểu luận cũng tiếp cận theo phương pháp luận vềkinh tế thị trường Theo đó, sự ra đời của các doanh nghiệp, HKD, dù thuộcthành phần kinh tế nhà nước hay tư nhân vẫn nhận được sự hỗ trợ từ phíachính sách công, nhưng tồn tại và hoạt động theo các quy luật chung của kinh

tế thị trường và pháp luật hiện hành

Tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, thống

kê, so sánh, diễn dịch và quy nạp Phương pháp phân tích, tổng hợp được sửdụng ở cả 02 chương để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, cũng như đánh giáthực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp Phương pháp thống kê, sosánh được sử dụng chủ yếu ở chương 2, nhằm đánh giá đúng và đầy đủ thựctrạng cả về những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài.

Trang 11

Đề tài tập trung nghiên cứu về pháp luật về đăng ký kinh doanh đối với

2 đối tượng cụ thể là DN và HKD gắn với điều kiện thực tiễn tỉnh BìnhDương Đây là nội dung nghiên cứu mới tại địa phương, Kết quả nghiên cứucủa đề tại một mặt góp phần phản án thực trạng, tìm ra những lỗ hổng về mặtpháp lý đối để lý giải vì sao HKD không muốn thành DN, mặt khác tác giảmong muốn đây cũng là những căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền thamkhảo, có được sự nhìn nhận về thực trạng cũng như giải pháp hoàn thiện phápluật DKDN nói chung và tạo ra các cơ chế, chính sách thúc đẩy kinh tế tưnhân tại địa phương phát triển, vươn lên tầm cao mới, để tạo nên sự ra đờingày càng nhiều doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanhnghiệp, đóng góp ngày càng nhiều hơn vào sự phát triển kinh tế - xã hội củađịa phương cũng như của đất nước

7 Bố cục Tiểu luận: Ngoài phân mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, tiểu luận gồm có 2 chương:

Chương 1: một số vấn đề về doanh nghiệp và hkd theo pháp luật Việt Nam

và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năngchính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán Theo Luật Công ty ViệtNam ban hành năm 1999: DN là các đơn vị kinh doanh được thành lập với

Trang 12

mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh, đó là việc thực hiệnmột hay một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuấtđến tiêu thụ hay thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức cótên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thànhlập theo quy định của phập luật nhằm mục đích kinh doanh” [6, Khoản10,Điều 4] Có thể nói, Khái niệm theo nghĩa này được hiểu theo nghĩa khárộng rãi, đầy đủ và chặt chẽ

Như vậy, DN được hiểu là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhânhoặc không, thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật,nhằm đạt được những mục tiêu nhất định

Trước đây, thuật ngữ ĐKDN chưa được sử dụng, mà thường sử dụngthuật ngữ “đăng ký kinh doanh” Thậm chí, thuật ngữ “đăng ký kinh doanh”được áp dụng theo Luật Công ty 1990 đến Luật Doanh nghiệp 2005 Tuy

nhiên, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ hướng

dẫn về đăng ký doanh nghiệp, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đã tạo ra bướcngoặt mới trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chính thức thống nhấtquy trình đăng ký kinh doanh với đăng ký thuế, áp dụng một mã số duy nhất

để định danh cho doanh nghiệp, khái niệm “đăng ký kinh doanh” được thaythế bằng khái niệm “đăng ký doanh nghiệp” từ Nghị định này

Mặt khác, cơ quan thực hiện quản lý ĐKDN hiện nay theo quy định

của nhà nước là cơ quan đăng ký kinh doanh Theo Luật Đầu tư 2020: “Đầu

tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinhdoanh, Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện cá nhân, tổ chức phải đápứng khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đầu tư kinh

doanh có điều kiện.” [7, Khoản 8, 9 - Điều 3]

Từ đây có thể hiểu: ĐKDN là một thủ tục pháp lý mà theo đó nhà đầu

tư phải khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về dự kiến hoạt độngcủa mình theo đúng quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể, được Nhànước thừa nhận ghi tên vào sổ ĐKKD, đồng thời cấp cho chủ thể ĐKKD giấy

Trang 13

chứng nhận đăng ký kinh doanh Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh làbằng chứng pháp lý chứng minh chủ thể kinh doanh tiến hành các hoạt độngkinh doanh một cách hợp pháp, được nhà nước công nhận và bảo hộ.

Xét về phương diện pháp lý, doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật để nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

- Tên riêng: Mỗi doanh nghiệp đều có tên riêng, bao gồm tên thương mại vàtên pháp lý Theo quy định của pháp luật hiện hành, tên doanh nghiệp phảiđược viết bằng tiếng Việt, có kèm theo chữ số và ký hiệu, phát âm được và có

ít nhất 2 thành tố là loại hình doanh nghiệp và tên riêng Tên doanh nghiệp làyếu tố hình thức nhưng là dấu hiệu đầu tiên xác định tư cách chủ thể doanhnghiệp trên thương trường và là cơ sở để nhà nước thực hiện công tác quản lýđối với doanh nghiệp

- Tài sản: Có hai loại tài sản, tài sản hữu hình và vô hình, bất kỳ DN hoạtđộng trong lĩnh vực kinh doanh nào cũng cần có điều này Tùy theo loại hình

DN và ngành nghề kinh doanh có mức vốn tối thiểu theo quy định của Nhànước

- Trụ sở giao dịch: Là nơi đặt văn phòng doanh nghiệp phục vụ hoạt động giaotiếp với khách hàng và với cơ quan chức năng, được ghi trong giấy chứng nhậnĐKDN

- Đăng ký doanh nghiệp: Doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ việc thành lậpcông ty theo quy định của pháp luật ĐKDN, các thủ tục và quy trình nộp hồ

sơ thành lập được đăng ký với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương, với cơ quan chức năng có thẩm quyền theo luật định

Từ những phân tích trên, tác giả có thể khái quát “Đăng ký doanh

nghiệp là một hoạt động pháp lý trong đó chủ thể kinh doanh thực hiện việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm ghi nhận sự ra đời của một mô hình doanh nghiệp và xác định địa vị pháp lý của chủ thể kinh doanh

đó trên thị trường”.

1.1.2 Ý nghĩa của việc đăng ký doanh nghiệp:

Trang 14

Khi DN kinh doanh, buôn bán bất cứ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ gì đichăng nữa, thì đều cần tiến hành đăng ký với cơ quan chức năng Điều này có

ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình kinh doanh Cụ thể DN sẽ được:

* Sự bảo đảm của nhà nước: DN khi được đăng ký, tức là tồn tại dưới

dạng một tổ chức – được thành lập và hoạt động một cách hợp pháp theo LuậtDoanh nghiệp Khi đó, bất kì một hoạt động kinh doanh nào của tổ chức nàyđều được hợp pháp hóa một cách công khai và minh bạch Tức là mọi quyềnlợi của doanh nghiệp, đều nhận được sự bảo hộ của pháp luật theo đúng quyđịnh

ĐKDN là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước, đồng thời làmột công cụ để thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân Thông qua

cơ chế “đăng ký” để công nhận quyền tự do kinh doanh của công dân, thựchiện một cơ chế quản lý mới của nhà nước, xóa bỏ cơ chế “xin cho”, công dânđược kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không cấm, có quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm trong những hoạt động kinh doanh của mình, được tự do lựachọn hình thức đầu tư kinh doanh phù hợp và được Nhà nước bảo hộ Do đó,

để đạt được mục tiêu gia nhập thị trường cho các chủ thể kinh doanh đượcthuận lợi, công tác ĐKDN phải đơn giản, minh bạch và bình đẳng, thủ tụcnhanh gọn, chi phí thấp…Chính những điều này để nhà nước tôn trọng quyền

tự do kinh doanh hợp pháp của các chủ thể kinh doanh

* Lòng tin của khách hàng: Việc được thành lập DN và hoạt động một

cách hợp pháp còn là bằng chứng về tính chịu trách nhiệm của đơn vị, cánhân kinh doanh đó với khách hàng Bất kì một hoạt động thương mại nàocủa DN nếu có sự vi phạm đều phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước

và khách hàng, điều đó tạo được lòng tin của khách hàng với DN

* Lòng tin của nhà đầu tư: Bất cứ DN nào cũng đều phải tìm kiếm và

phát triển thị trường Để làm được điều đó họ cần phải có một nguồn vốn nhấtđịnh Các nhà đầu tư là đối tượng mà các các công ty – doanh nghiệp hướngđến Điều đầu tiên, các nhà đầu tư quan tâm đó là tư cách tiến hành các hoạtđộng hợp pháp Điều đó, chỉ xảy ra DN đã đăng ký kinh doanh

Trang 15

* Tuân thủ pháp luật, tránh bị xử phạt: Tiến hành đăng ký DN tức là

doanh nghiệp đang hoạt động theo đúng quy định của pháp luật Tránh đượcviệc xử phạt hành chính khi bị cơ quan quản lý có thẩm quyền kiểm tra giấyphép

Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của mình hợp pháp DN sẽ phảitiến hành đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh với toàn bộnhững thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập Khi tiến hành đăng kýthành lập kinh doanh chủ thể kinh doanh mới được phép tiến hành các hoạtđộng kinh doanh như: Sản xuất, trao đổi, mua bán, thực hiện các dịch vụ…Như vậy, thủ tục đăng ký kinh doanh là một thủ tục hành chính, ở đó cơ quanđăng ký kinh doanh sẽ đưa ra một quyết định hành chính cho phép một cánhân hoặc một tổ chức được thành lập doanh nghiệp Quyết định của cơ quan

đăng ký kinh doanh được thể hiện dưới hình thức “giấy chứng nhận đăng ký

doanh nghiệp”.

1.1.3 Thẩm quyền cấp giấy chứng đăng ký doanh nghiệp

Theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày14/09/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định về cơ quan cấpgiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như sau:

1 Cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) và ở quận, huyện, thị xã,thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), bao gồm:

Ở cấp tỉnh: Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư(sau đây gọi chung là Phòng Đăng ký kinh doanh)

Phòng Đăng ký kinh doanh có thể tổ chức các điểm tiếp nhận hồ sơ vàtrả kết quả thuộc Phòng Đăng ký kinh doanh tại các địa điểm khác nhau trênđịa bàn cấp tỉnh Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có thể thành lậpthêm một hoặc hai Phòng Đăng ký kinh doanh và được đánh số theo thứ tự.Việc thành lập thêm Phòng Đăng ký kinh doanh do Ủy ban nhân dân thànhphố quyết định sau khi thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư

1.2 Hộ kinh doanh và đăng ký hộ kinh doanh

Trang 16

Với các nghị định hướng dẫn Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanhnghiệp 2014, hộ kinh tế cá thể được đổi tên thành hộ kinh doanh Hiện nay,theo quy định tại Điều 66 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 vềđăng ký doanh nghiệp đã quy định rõ về khái niệm hộ kinh doanh.

Như vậy, thuật ngữ “hộ kinh doanh” chính thức được sử dụng tạicác văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam từ năm 2006

Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về hướng dẫn thủtục đămg ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp 2014 quy định:

1 HKD do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một

hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.

2 Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương.

3 HKD có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định.

Trang 17

.Chương VI Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 quy định một tổ chức có

tư cách pháp nhân phải đủ 04 điều kiện: (1) Thành lập hợp pháp; (2) Có cơcấu tổ chức chặt chẽ; (3) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịutrách nhiệm bằng tài sản đó và (4) Nhân danh mình tham gia vào các quan hệpháp luật một cách độc lập Do kinh tế hộ không đủ điều kiện về tổ chức vàtài sản nên không phải là pháp nhân

HKD là một đơn vị kinh tế độc lập, trực tiếp kinh doanh hàng hóa và làchủ thể của mọi hoạt động kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạtđộng kinh doanh của mình HKD hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuấtnông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt,buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phảiđăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy bannhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp

áp dụng trên phạm vi địa phương

1.2.2 Đặc điểm của hộ kinh doanh

Hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản

thân và hộ gia đình mình là chính Quy mô nhỏ lẻ, tản mạn, rời rạc, điều kiện

áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến hạn chế

Hộ kinh doanh có tiềm năng về kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất,những bí quyết sản xuất truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ Điều nàycho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩmphục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu

Sự đa dạng trong loại hình sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tếnày cho phép tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ ở mọi nơi, mọi lúc,đáp ứng nhu cầu của xã hội, đóng vai trò vệ tinh cho các doanh nghiệp trongnền kinh tế Trên thực tế, có những ngành nghề nếu tổ chức sản xuất tập thểhoặc do Nhà nước đảm nhiệm với quy mô lớn sẽ không có hiệu quả hoặc hiệuquả thấp hơn so với việc tổ chức sản xuất nhỏ ở các hộ gia đình

Ngoài ra, đặc điểm của hộ cá thể là làm ăn riêng lẻ, tản mạn, rời rạc vàluôn tìm mọi cách để tìm ra những chỗ sơ hở, non yếu trong quản lý kinh tế

Ngày đăng: 04/07/2022, 18:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4. Yêu cầu hộ kinhdoanh báo cáo tình hình kinhdoanh khi cần thiết; - TIỂU LUẬN LUẬT KINH tế thực trạng hộ kinh doanh đủ điều kiện nhưng không đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bình dương
4. Yêu cầu hộ kinhdoanh báo cáo tình hình kinhdoanh khi cần thiết; (Trang 18)
thành viên. Tất cả mô hình doanh nghiệp không hạn chế số lượng người lao động doanh nghiệp sử dụng. - TIỂU LUẬN LUẬT KINH tế thực trạng hộ kinh doanh đủ điều kiện nhưng không đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bình dương
th ành viên. Tất cả mô hình doanh nghiệp không hạn chế số lượng người lao động doanh nghiệp sử dụng (Trang 19)
Bảng 2.1. Số HKD có đăng ký trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017 - TIỂU LUẬN LUẬT KINH tế thực trạng hộ kinh doanh đủ điều kiện nhưng không đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bình dương
Bảng 2.1. Số HKD có đăng ký trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017 (Trang 25)
Bảng 2.2. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Trên địa bàn tỉnh Bình Dương - TIỂU LUẬN LUẬT KINH tế thực trạng hộ kinh doanh đủ điều kiện nhưng không đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bình dương
Bảng 2.2. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Trang 26)
Bảng 1: Thị trường CNTT Việt nam 2000-2007 (triệu USD) - TIỂU LUẬN LUẬT KINH tế thực trạng hộ kinh doanh đủ điều kiện nhưng không đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bình dương
Bảng 1 Thị trường CNTT Việt nam 2000-2007 (triệu USD) (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w