BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ CẨM LỆ NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THU PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường Mã số 60850101 LUẬN VĂN THẠC SĨ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017 ii TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ Luận văn này cải thiện hiệu quả của việc thu phí nước thải công nghiệp nói riêng và góp phần hoàn thiện công tác quản lý các vấn đề về môi trường nó.
Trang 1TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã số : 60850101
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 2TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
góp phần hoàn thiện công tác quản lý các vấn đề về môi trường nói chung của cơ quan Nhà nước Từ đó, nhắm đến việc thúc đẩy nhận thức BVMT của DN
Những nội dung chính gồm có:
- Khảo sát, phân tích công tác thu, quản lý và sử dụng phí BVMT đối với nước thải
- Đánh giá các bất cập về chính sách, thể chế trong việc thu, quản lý và sử dụng phí BVMT đối với nước thải công nghiệp
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu, quản lý và sử dụng phí nước thải công nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN ii
LỜI CAM ĐOAN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH x
DANH MỤC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xi
MỞ ĐẦU 1
1 Giới thiệu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Giới hạn về phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa của luận văn 3
4.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 5
1.1Một số vấn đề chung về phí BVMT 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Nguyên tắc và đối tượng nộp phí thu phí BVMT đối với nước thải 8
1.1.3 Mức phí 8
1.1.4 Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 10
Trang 41.1.5 Phí thải 14
1.1.6 Nguyên tắc cưỡng chế 16
1.2 Kinh nghiệm thu phí BVMT đối với nước thải 17
1.2.1 Kinh nghiệm thu phí BVMT đối với nước thải ở một số nước 17
1.2.2 Kinh nghiệm thu phí BVMT ở nước ta 25
1.2.3 Cơ sở pháp lý về thu phí nước thải tại Việt Nam 26
1.2.4 Một số nghiên cứu về thu phí BVMT 28
1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 29
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 29
1.3.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tại tỉnh QN 31
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
2.1 Nội dung nghiên cứu 47
2.2Phương pháp nghiên cứu 47
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
3.1 Kết quả khảo sát về tình hình thu, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môt trường đối với nước thải công nghiệp tại địa bàn nghiên cứu 50
3.1.1 Kết quả khảo sát mức thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh QN 50
3.1.2 Tình hình quản lý và sử dụng phí BVMT đối với nước thải công nghiệp tại địa bàn tỉnh 57
3.2 Những bất cập về chính sách và thể chế trong công tác thu, nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp 61
3.2.1 Khó khăn và bất cập trong quá trình thu phí 61
3.2.2 Khó khăn và bất cập trong quá trình quản lý, sử dụng phí 64
Trang 53.2.3 Một số bất cập trong quy định trong chính sách và thể chế về phí BVMT đối
với nước thải 66
3.2.4 Nguồn lực cho công tác kiểm soát nguồn thải còn hạn chế 68
3.2.5 Ý thức tuân thủ quy định của pháp luật về phí BVMT đối với nước thải 68
3.3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả thu phí nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh QN 69
3.3.1 Giải pháp quản lý 69
3.3.2 Giải pháp kinh tế 71
3.3.3 Giải pháp kĩ thuật 73
3.3.4 Giải pháp nâng cao nhận thức 74
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 84
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Nước thải công nghiệp xả ra môi trường 7
Hình 1.2 Bản đồ tỉnh QN 30
Hình 1.3 DN chế biến dăm gỗ trên địa bàn tỉnh 38
Hình 3.1 Biểu đồ tình hình thu phí trên địa bàn tỉnh QN 53
Hình 3.2 Biểu đồ biểu thị số phí BVMT đối với nước thải công nghiệp 54
Hình 3.3 Biểu đồ biểu thị kinh phí thu được chuyển về Quỹ BVMT tỉnh QN 59
Hình 3.4 Biểu đồ sử dụng số phí được để lại đối với nước thải công nghiệp 61
Hình 3.5 Cán bộ Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường lấy mẫu, phân tích hàm lượng các chất gây ô nhiễm có trong nước thải công nghiệp của các cơ sở, DN để phục vụ công tác thu phí 65
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Phí nước thải tại các nước OECD 20
Bảng 1.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) giai đoạn 2012-2016 33
Bảng 1.3 Dân số trung bình phân theo huyện/thành phố 34
Bảng 1.4 Cơ cấu dân số chia theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn… 35
Bảng 1.5 KL chất ô nhiễm do mỗi người hàng ngày đưa vào môi trường 36
Bảng 1.6 Tải lượng chất gây ô nhiễm từ các đơn vị hành chính tỉnh QN 37
Bảng 1.7 Tải lượng ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp tại QN 41
Bảng 1.8 Danh mục các dự án thuỷ điện nhỏ tỉnh QN 43
Bảng 3.1 Tình hình thu phí BVMT đối với nước thải CN địa bàn tỉnh QN 51
Bảng 3.2 Phí BVMT đối với nước thải công nghiệp 54
Bảng 3.3 Kinh phí thu được chuyển về Quỹ BVMT tỉnh QN 58
Bảng 3.4 Sử dụng số phí được để lại đối với nước thải công nghiệp 59
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOD (Biochemical Oxygen Demand): Nhu cầu oxy sinh hoá
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu
Việt Nam đang chủ trương thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nhịp độ ngày càng cao Điều này mang lại những lợi ích vô cùng to lớn về mọi mặt cho đất nước nhưng bên cạnh đó chất lượng môi trường ngày càng xấu đi
Ô nhiễm môi trường – vấn đề mà cả thế giới hiện nay đang quan tâm và đang tìm những giải pháp để phòng chống, hạn chế và khắc phục nó, đặt nó ngang hàng với nhiệm vụ phát triển kinh tế Chỉ trong một thời gian ngắn các lực lượng chức năng
đã phát hiện ra hàng trăm công ty xả nước thải không qua xử lý ra hệ thống sông, hồ xung quanh, biến dòng sông này thành dòng sông chết, tiêu biểu là công ty Vedan, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa… Trước tình hình đó, Chính phủ đã đề ra nhiều biện pháp khác nhau: công cụ về quản lý, công cụ giáo dục và truyền thông, công cụ kinh tế nhằm mục đích xử lý, giảm thải ô nhiễm, BVMT Để bảo vệ, ngăn chặn tối đa các nguyên nhân làm ảnh hưởng xấu đến môi trường trong
đó có việc lồng ghép chi phí BVMT và chi phí sản xuất kinh doanh vào giá thành sản phẩm.Việc lồng ghép này là một thành tựu hết sức quan trọng trong công tác quản lý môi trường ở một nước khi mà ngân sách còn khó khăn, khả năng phân bổ kinh tế cho mục tiêu quản lý và BVMT còn hạn chế như ở nước ta hiện nay Hướng
đi này vừa giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, vừa đạt được mục tiêu BVMT với hiệu quả cao Phí BVMT là một trong những công cụ kinh tế quan trọng được hình thành dựa trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Tại Việt Nam, phí BVMT đối với nước thải được ban hành từ năm 2003, sau một thời gian triển khai thực hiện, quy định về phí BVMT đối với nước thải đã được sửa đổi năm 2013 với các mục tiêu sau: tạo nguồn thu vào ngân sách nhà nước bổ sung cho hoạt động BVMT; tăng cường ý thức trách nhiệm về BVMT của các đối tượng xả thải; quản lý
và kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải; khi mức phí đủ mạnh sẽ tạo động lực để các
DN cải tiến công nghệ, đầu tư xử lý chất thải, giảm thiểu phát thải ra môi trường
Trang 10Phí BVMT là một công cụ kinh tế hữu hiệu trong BVMT, là một bước tiến vô cùng quan trọng trọng trong công tác quản lý môi trường ở nước ta Để hạn chế ô nhiễm
do nước thải Chính phủ ra Nghị định 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 về phí BVMT đối với nước nước thải nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trong công tác thu phíBVMT đối với nước nước thải nên ngày 16/11/2016, Chính phủ ra Nghị định
số 154/2016/NĐ-CP sẽ cơ bảnkhắc phục một số vướng mắc gặp phải trong quá trình thực hiện Nghị định 25/2013/NĐ-CP, cụ thể: tất cả các loại hình sản xuất không phải áp dụng với các chất kim loại nặng có trong nước thải, không đánh giá phân tích bằng cách áp dụng hệ số K; Giảm tải khối lượng công việc cũng như chi phí của DN sản xuất và cơ quan thu phí trong việc kê phai, nộp phí; Đảm bảo công bằng cho các cơ sở sản xuất có nước thải khác nhau
tác thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp tại tỉnh QN” sẽ giúp góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách về vấn đề ô nhiễm trên địa bàn tỉnhvà phù hợp với
xu hướng BVMT tỉnh QN
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
công nghiệp tại tỉnh QN
Mục tiêu cụ thể
với nước thải công nghiệp và hiện trạng quản lý môi trường của thu phí nước thải công nghiệp tại tỉnh QN
- Đề xuất các giải pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu phí nước thải công nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp (tại KCN Quảng Phú, KCN VSIP, KKT Dung Quất)
Cơ quan quản lý nhà nước có chức năng thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp, cụ thể là Chi cục BVMT tỉnh QN
3.2 Giới hạn về phạm vi nghiên cứu
Các cơ sở sản xuất kinh doanh là đối tượng nghiên cứu chủ yếu tập trung tại các KCN Quảng Phú, KCN VSIP, KKT Dung Quất Ngoài ra, một số DN khác nằm rải rác trên địa bàn tỉnh QN
4 Ý nghĩa của luận văn
4.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Từ năm 2013 đến nay, lần lượt các Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013
và Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 liên quan đến thu phí nước thải
ra đời Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giá hoạt động thực tiễn trong quá trình áp dụng các Nghị định trên Luận văn thực hiện sẽ đánh giá dựa trên những hoạt động thực tiễn tại địa bàn tỉnh QN Đây là ý nghĩa khoa học quan trọng nhất của đề tài
Luận văn dựa trên hiện trạng công tác quản lý môi trường từ thu phí BVMT các đối tượng chịu phí Các phương pháp quản lý được đề xuất dựa trên cơ sở công nghệ, các thành tựu và bất cập trong công tác quản lý nhà nước, các văn bản pháp luật liên quan,… mang tính thực tế, nâng cao hiệu quả quản lý môi trường về công tác thu phí BVMT đối với nước thải
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Lợi ích về môi trường của việc áp dụng phí BVMT đối với nước thải nhằm:
Trang 12- Tăng hiệu quả của quản lý nhà nước về hoạt động xả nước thải;
- Tăng hiệu quả của công cụ kinh tế nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường do nước thải;
- Từng bước tiến tới sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách, hạn chế
ô nhiễm môi trường từ nước thải trên địa bàn tỉnh QN Kết quả của luận văn nhắm đến việc nâng cao nhận thức của DN và nâng cao công tác QLMT của cơ quan Nhà nước qua những giải pháp đề xuất mang tính thực tế về BVMT, sức khỏe và cộng đồng và lợi ích kinh tế
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Một số vấn đề chung về phí BVMT
Phí môi trường là một trong những biện pháp mà nhà nước ta đã ban hành để đánh vào lợi ích kinh tế của người dân nói chung và các khu công nghiệp, nhà máy nói riêng để phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải nói chung, nước thải nói riêng
Phí BVMT đối với nước thải nói chung, nước thải công nghiệp nói riêng là một trong những công cụ kinh tế chủ yếu được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường Giống như các loại thuế hay phí môi trường khác, phí nước thải hoạt động theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polutter-Pay-Principle), qua đó tạo động lực để các đơn vị giảm ô nhiễm, đồng thời tạo nguồn thu để chi trả cho các hoạt động BVMT Phí nước thải đã được áp dụng
từ khá lâu ở nhiều nước phát triển, chẳng hạn từ năm 1961 ở Phần Lan, từ năm
1970 ở Thuỵ Điển, từ năm 1980 ở Đức (OECD, 2005) và đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận trong việc quản lý ô nhiễm do nước thải gây ra ở các nước này Tuy nhiên, phí nước thải chỉ mới được áp dụng ở các nước đang phát triển trong thời gian gần đây: từ năm 1978 ở Trung Quốc và Malaysia, từ năm 1996 ở Philippines (Laplante, 2006)
Trang 14Tại Nghị định số 25/2013/NĐ – CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh phí và lệ phí quy định thành các loại sau:
Phí BVMT đối với nước thải
Phí BVMT đối với xăng dầu, khí thải từ việc sử dụng than đá và các nguyên liệu khác
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Nước thải công nghiệp là nước bị thải loại ra bề mặt sau khi đã qua sử dụng trong công nghiệp (với mục đích khác nhau như làm lạnh, vệ sinh và sản xuất)
Hay một định nghĩa khác:Nước thải công nghiệp là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu
Nhưng để có một cái nhìn cụ thể, tổng quan nhất thì có lẽ khái niệm nước thải được quy định rõ ràng chi tiết trong các văn bản như: Nghị định 154/2016/NĐ-CP của Chính phủ về Phí BVMT đối với nước thải, Thông tư liên tịch số 63/2013/ TTLT-
Trang 15BTC-BTNMT,…Với góc nhìn từ các nhà lập pháp Việt Nam, đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải bao gồm nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt
Từ đó ta rút ra nhận xét về bước thải công nghiệp được thải ra từ các công đoạn sản xuất công nghiệp nên nó chứa rất nhiều chất ô nhiễm như COD, chất rắn lơ lửng, thủy ngân, chì, arsenic, cadmium, các chất hữu cơ, dầu mỡ… với nồng độ ô nhiễm khác nhau Nếu không được xử lý mà thải ra môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người (nguyên nhân gây các nên các loại bệnh về hô hấp, về dường ruột, các căn bệnh ung thư…), hủy hoại hệ sinh thái Chính vì vậy, cần phải có hệ thống xử
lý nước thải công nghệp trước khi thải ra môi trường và có công cụ quản lý, công cụ kinh tế, chế tài hợp lý, đủ mạnh để xử lý các cơ sở gây ô nhiễm do thải nước thải ra môi trường Đồng thời có các biện pháp hỗ trợ khuyến khích DN kinh doanh đầu tư công nghệ để giảm lượng nước thải thải ra môi trường
Hình 1.1 Nước thải công nghiệp xả ra môi trường
Trang 161.1.2 Nguyên tắc và đối tượng nộp phí thu phí BVMT đối với nước thải
Các nguyên tắc
Phí nước thải công nghiệp theo Nghị định 154/2016/NĐ-CP của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải được xây dựng theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả”
Đối tượng nộp phí
Nước thải công nghiệp là nước thải ra môi trường từ:
- Cơ sở sản xuất công nghiệp;
- Cơ sở chế biến thực phẩm, nông sản, lâm sản, thủy sản; cơ sở hoạt động giết mổ gia súc;
- Cơ sở sản xuất rượu, bia, nước giải khát; cơ sở thuộc da, tái chế da;
- Cơ sở sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề;
- Cơ sở chăn nuôi công nghiệp tập trung;
- Cơ sở cơ khí, sữa chữa ô tô, xe máy tập trung;
- Cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản;
- Cơ sở nuôi tôm công nghiệp; cơ sở sản xuất và ươm tôm giống;
- Nhà máy cấp nước sạch; hệ thống xử lý nước thải tập trung
Trang 17chất gây ô nhiễm có trong nước thải (mg/l)
nghiệp của chất gây ô nhiễm thải ra môi trường (đồng/kg)
điều này, không áp dụng mức phí biến đổi
trở lên, số phí phải nộp hàng quý được tính theo công thức sau:
F q = (f/4) + C q
Trong đó:
+ f = 1.500.000 đồng;
lượng thông số ô nhiễm và mức thu đối với mỗi chất theo biểu dưới đây:
+ Xác định lượng nước thải ra:
Đối với các cơ sở có đồng hồ đo lượng nước thải, lượng nước thải ra được xác định căn cứ vào số đo trên đồng hồ;
Trang 18Đối với các cơ sở không có đồng hồ đo lượng nước thải thì lượng nước thải được xác định dựa trên kết quả đo đạc thực tế của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường hoặc được tính bằng 80% lượng nước sử dụng hoặc thông tin trong báo cáo đánh giá tác động môi trường theo định kỳ hàng quý
1.1.4 Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là những công cụ chính sách được sử dụng nhằm tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường
Thuế tài nguyên: là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các DN về
việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất
Mục đích của thuế tài nguyên là:
- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên
- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách
Thuế tài nguyên bao gồm một số thuế chủ yếu như thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoáng sản
Thuế/phí môi trường: là công cụ kinh tế nhằm đưa ra chi phí môi trường vào giá
sản phẩm theo nguyên tắc“người gây ô nhiễm phải trả tiền” Thuế/phí môi trường
nhằm hai mục đích chủ yếu là: khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất gây ô nhiễm thải ra môi trường và tăng nguồn thu cho Ngân sách
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (POLUTTER PAYS PRINCIPLE)
Định nghĩa: Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền không có một định nghĩa pháp lý cụ thể
mà được hiểu xuyên suốt thông qua các quy định của pháp luật về môi trường Dưới góc độ khái quát, nguyên tắc này được hiểu là việc sử dụng biện pháp kinh tế để tác động vào chính hành vi của các chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường
Trang 19Nói cách khác, khi một chủ thể gây ô nhiễm môi trường thì họ sẽ phải chịu những nghĩa vụ tài chính do hành vi của họ gây ra
Môi trường được xem như một loại hành hóa đặc biệt được lưu thông trên thị trường Sở dĩ nó là một loại hàng hóa đặc biệt vì nó mang tính cộng đồng (không thuộc sở hữu của một cá nhân nào) và ai cũng phải sử dụng nó trong hoạt động thương mại lẫn phi thương mại Do vậy, việc gán nghĩa vụ tài chính vào môi trường
sẽ giúp quản lý một cách có hiệu quả việc sử dụng và khai thác môi trường
Quy định pháp luật đối với Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Nguyên tắc này được thể hiện thông qua Khoản 7, 8 Điều 4 Luật BVMT năm 2014:
“7 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi
từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho BVMT.” [2]
“8 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật”
[2]
Chủ thể phải trả tiền ở đây được hiểu là chủ thể khai thác, sử dụng những yếu tố môi trường (tài nguyên thiên nhiên) và chủ thể gây ô nhiễm môi trường theo nghĩa rộng Tuy nhiên, trên thực tế, không phải bất cứ chủ thể nào gây ô nhiễm môi trường đều phải trả tiền
Như vậy, Nguyên tắc này đòi hỏi 2 yêu cầu sau:
- Tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tích chất và mức độ gây tác động xấu tới môi trường
- Việc phân loại cụ thể mức độ, tính chất của từng hành vi gây tác động xấu đến môi trường là rất quan trọng Một số chính sách của các địa phương đã từng cào bằng mức tiền đánh vào những hành vi này Việc cào bằng như vậy nhìn chung là dễ dàng cho công tác quản lý Tuy nhiên, hiệu quả của việc BVMT nếu sử dụng sự cào bằng như vậy chỉ là một con số 0 tròn trĩnh
Trang 20- Tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải đủ sức tác động đến lợi ích và hành vi của các chủ thể có liên quan (không mang tính chất tượng trưng)
- Đây có thể được xem là một sự ngang giá Đồng thời yêu cầu này cũng bổ sung cho yêu cầu thứ nhất Mỗi chủ thể tác động đến môi trường ở một mức độ khác nhau thì sẽ phải gánh chịu những nghĩa vụ tài chính khác nhau Do vậy, số tiền phải trả để có thể đủ sức tác động đến lợi ích và hành vi của chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường cũng là hoàn toàn khác nhau
Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền (PRINCIPLE BENEFICIARIES TO PAY)
Nếu như nguyên tắc người gây ra ô nhiễm phải trả tiền đòi hỏi các chủ thể gây ra ô nhiễm môi trường phải chịu chi phí cho hậu quả môi trường mình gây ra thì ngược lại nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền lại cho rằng những người được hưởng lợi từ môi trường phải trả một khoản tiền cho sự hưởng lợi đó Ta thấy rằng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền mang tính chất khắc phục, xử lý cuối đường ống hậu quả của chủ thể hoạt động gây ra ô nhiễm môi trường thì với nguyên tắc BPP lại mang tính chất phòng ngừa là chính
Thực hiện nguyên tắc BPP trong việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường sẽ tạo ra một khoản thu đáng kể cho quỹ BVMT
Hệ thống đặt cọc, hoàn trả: là khoản tiền mà người tiêu dùng sản phẩm nộp nhằm
thực hiện cam kết về BVMT sau khi sử dụng sản phẩm, với điều kiện những chất phế thải sau quá trình sử dụng phải được hoàn trả lại ở một địa điểm nhất định để người ta phân loại, tái chế, tái sử dụng và xử lý với nhiều hoạt động khác nhau Nếu thực hiện đúng cam kết thì toàn bộ số tiền đặt cọc sẽ được hoàn trả lại cho người tiêu dùng
Quỹ BVMT: là những khoản thu của các cá nhân, tập thể và các tổ chức kinh tế
khác nhau thong qua sự tự nguyện, không bắt buộc, Những khoản thu này sẽ được
sử dụng để phục vụ cho những hoạt động khác nhau trong lĩnh vực BVMT
Trang 21Nhãn sinh thái: là nhãn hiệu của Nhà nước, sản phẩm không gây ô nhiễm môi
trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình sử dụng sản phẩm đó, từ
Trợ cấp môi trường là công cụ nhằm giúp đỡ các ngành công – nông nghiệp và
các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của DN không chịu đựng được đối với việc xử lý ô nhiễm Trợ cấp còn nhằm khuyến khích các cơ quan nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường hoặc các công nghệ xử lý ô nhiễm
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh tế có tiềm
năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường: yêu cầu các DN, các cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư phải ký gửi một khoản tiền tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng, nhằm bảo đảm sự cam kết về thực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường
Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng: là khái niệm chỉ loại thị trường trong đó
hàng hóa là các giấy phép xả thải, người bán là các đơn vị sở hữu giấy phép và người mua là các đơn vị cần giấy phép để xả thải Thị trường này vận hành theo quy luật cung cầu và nguyên lý cơ bản của thị trường giấy phép thải là việc đặt ra giới hạn tối đa về lượng chất thải ở mức thống nhất với chỉ tiêu môi trường tại một vùng hay khu vực cụ thể Khi tổng lượng thải cho phép thấp hơn lượng thải mà các đơn
vị hoạt động trong vùng muốn thải thì sẽ tạo nên sự khan hiếm về quyền được thải
và làm cho nó có giá ở thị trường này
DN sẽ mua giấy phép xả thải khi mà chi phí mua giấy phép nhỏ hơn chi phí giảm thải và ngược lại
Trang 221.1.5 Phí thải
Lĩnh vực kinh tế: phí thải là những khoản tiền mà người gây ô nhiễm phải trả theo
quy định của cơ quan chức năng và tùy theo lượng thải thực tế thải vào môi trường
Lĩnh vực quản lý: phí thải là khoản thu của ngân sách nhằm bù đắp một phần chi
phí thường xuyên và không thường xuyên về xây dựng, bảo dưỡng, tổ chức quản lý hành chính của nhà nước đối với hoạt động của người nộp phí
Từ các định nghĩa trên ta rút ra được nhận xét: Việc xác định phí thải đều dựa trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và nó là một khoản tiền bổ sung vào ngân sách nhằm mục đích thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực môi trường: phòng chống, khắc phục ô nhiễm, xây dựng hệ thống xử lý ô nhiễm, Và việc thu phí là một hoạt động rất cần thiết để BVMT
Phí thải: là những khoản tiền mà người gây ô nhiễm phải trả theo quy định của cơ quan chức năng và tùy theo lượng thải thực tế thải vào môi trường
Công thức tính phí:
F = f *W Trong đó:
Xét hoạt động sản xuất gây ra ngoại ứng tiêu cực với hàm chi phí thiệt hại cận biên
là MDC Bên cạnh hoạt động sản xuất, DN đầu tư xử lý ô nhiễm với hàm chi phí giảm thải cận biên là MAC
Trang 23Trục tung là mức phí trên mỗi đơn vị thải
Thông thường DN mong muốn thải tại mức thải tối đa là Wm bởi vì tại mức thải này, chi phí DN bỏ ra để giảm thải là thấp nhất nhưng chi phí mà DN áp đặt cho xã hội là lớn nhất Ngược lại xã hội mong muốn DN thải tại mức bằng 0, tương ứng với chi phí giảm thải của DN là lớn nhất
Thật vậy ta có
Dựa vào đồ thị ta xác định được:
Như vậy MAC và MDC cắt nhau tại W* thì đạt được tối ưu xã hội và tối ưu DN
Trang 24 Với MAC = MDC = f là mức phí tối ưu
Và cơ quan quản lý nhà nước về môi trường sẽ căn cứ vào mức thải tối ưu này để định ra phí thải cho các DN
Các DN sẽ căn cứ vào mức phí và khả năng giảm thải của mình để quyết định mức thải sao cho tiết kiệm chi phí giảm thải nhất
1.1.6 Nguyên tắc cưỡng chế
Nguyên tắc cưỡng chế là một loạt những hành động mà Chính phủ hoặc các pháp nhân khác thực hiện để đảm bảo các quy định được tuân thủ và để điều chỉnh hoặc chấm dứt những hành động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người Hoạt động cưỡng chế của Chính phủ bao gồm:
- Thanh tra để xác minh mức độ tuân thủ của đối tượng được điều chỉnh và để phát hiện những hành vi vi phạm
- Thảo luận với các cá nhân hoặc giám đốc các cơ sở không tuân thủ quy định nhằm xây dựng những kế hoạch và biện pháp được nhất trí chung để tuân thủ các quy định đó
- Các biện pháp pháp lý trong trường hợp cần thiết để đôn đốc mọi người tuân thủ quy định và áp đặt những hậu quả đối với những hành vi vi phạm pháp luật hoặc những hành vi đe doạ sức khoẻ cộng đồng hoặc chất lượng môi trường
Nguyên tắc cưỡng chế môi trường có một ý nghĩa quan trọng:
- Đảm bảo sức khoẻ cộng động và môi trường: Sự tuân thủ quy định là yếu tố quyết định việc đạt được những mục tiêu BVMT và sức khoẻ cộng đồng mà các luật môi trường đã đề ra Chúng ta chỉ có thể bảo vệ được sức khoẻ cộng đồng nếu những quy định môi trường có hiệu quả và đẻ đạt được hiệu quả đó cần có những chính sách cưỡng chế thi hành
- Để xây dựng và củng cố lòng tin vào các quy định môi trường: Để đạt được hiệu quả, các quyết định môi trường và các cơ quan Chính phủ chịu trách nhiệm thực
Trang 25nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng lòng tin vào các quy định và thể chế môi trường Khi lòng tin vào pháp luật càng lớn thì mức độ tuân thủ pháp luật càng cao
và nỗ lực BVMT của Chính phủ càng được nhìn nhận nghiêm túc hơn
- Để đảm bảo công bằng: Nếu không có biện pháp cưỡng chế, những cơ sở vi phạm các quy định môi trường sẽ có lợi hơn so với những cơ sở tự giác tuân theo các quy định đó Một chương trình cưỡng chế thống nhất và có hiệu quả sẽ giúp đảm bảo rằng các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh các quy định môi trường sẽ được đối
xử bình đẳng Các cơ sở sẽ sẵn sàng tự giác tuân thủ các quyết định môi trường và
họ hiểu rằng việc đó không làm cho họ chịu những thiệt thòi về mặt kinh tế
- Giảm thiểu chi phí và trách nhiệm pháp lý: Việc tuân thủ các quy định sẽ làm cho môi trường trong sạch hơn và sẽ làm giảm các chi phí cho dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, đồng thời cũng làm giảm những chi phí lâu dài mà xã hội bỏ ra để làm sạch môi trường Một chương trình cưỡng chế có hiệu quả có thể khuyến khích các cơ sở ngăn ngừa ô nhiễm và giảm thiểu chất thải thay vì phải lắp đặt những thiết bị quan trắc và kiểm soát ô nhiễm môi trường đắt tiền
1.2 Kinh nghiệm thu phí BVMT đối với nước thải
1.2.1 Kinh nghiệm thu phí BVMT đối với nước thải ở một số nước
Từ những năm 70, công cụ phí mới chỉ được áp dụng trong một số ít nước có nền kinh tế phất triển hơn như các nước thuộc nhóm OECD, các nước công nghiệp như NIC, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc với phạm vi còn hạn chế trong một số ngành hoặc lĩnh vực
Phí nước thải công nghiệp đã được áp dụng ở một số nước:
Đức và Italia
Hình thức phí đánh vào chất gây ô nhiễm và nguồn gây ô nhiễm lại được sự ủng hộ của quần chúng vì nếu phí đánh vào chất gây ô nhiễm như các chất lắng đọng, các chất có thể bị oxy hóa, Hg, cadimi, COD,…thì sau khi công bố suất lệ phí, nếu DN nào tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn về lượng phát thải, DN đó được giảm 50% phí
Trang 26 Hàn Quốc
Phí nước thải đánh vào nguồn gây ô nhiễm được Hàn Quốc áp dụng từ những năm
1983 Ban đầu phí được áp dụng dưới dạng phạt do không thực hiện đúng cam kết
Cơ quan môi trường (hiện nay là Bộ Môi trường của Hàn Quốc) được quyền phạt tiền các cơ sở gây ô nhiễm nếu như vi phạm các tiêu chuẩn môi trường và sau đó yêu cầu phải có biện pháp xử lý nếu vẫn tiếp tục thải vượt tiêu chuẩn cho phép
Từ năm 1986 biện pháp này đã được thay đổi bằng thu phí với phần thải vượt tiêu chuẩn Mức phí được xác định trên cơ sở nồng độ chất gây ô nhiễm, vị trí thải ô nhiễm, thời gian vượt tiêu chuẩn cho phép và số lần vi phạm tiêu chuẩn
Nhưng sau một thời gian thực hiện biện pháp này đã bộc lộ một số nhược điểm:
- Xuất phí đặt ra quá thấp, trong một số trường hợp thấp hơn cả chi phí vận hành và mua các thiết bị xử lý ô nhiễm nên không có tác dụng khuyến khích giảm ô nhiễm
- Việc chỉ dựa vào nồng độ chất gây ô nhiễm để tính phí có thể không buộc các cơ
sở sản xuất kinh doanh giảm lượng ô nhiễm thải ra môi trường bởi vì họ cố tình lẩn tránh bằng cách pha loãng nồng độ chất thải trong khi đó lượng chất ô nhiễm thải ra không thay đổi
Để khắc phục những nhược điểm trên từ năm 1990, Hàn Quốc đã đánh phí căn cứ lượng thải vượt tiêu chuẩn cho phép và kết hợp nồng độ chất thải trong công thức tính phí Ngoài ra, Hàn Quốc đã điều chỉnh xuất phí cao hơn chi phí vận hành hệ thống xử lý ô nhiễm để khuyến khích giảm ô nhiễm
Trung Quốc
Từ nhiều năm qua, Trung Quốc đã áp dụng một hệ thống phí phạt với hơn 100 mức phí phạt đánh vào các nguồn gây ô nhiễm đối với môi trường nước thải, khí thải, phế thải, tiếng ồn và các loại khác do vi phạm tiêu chuẩn môi trường Hệ thống này được áp dụng theo 3 giai đoạn, bắt đầu từ năm 1979 bằng việc thử nghiệm tại thành phố Suzhou, sau đó được mở rộng ra toàn quốc vào năm 1981 và ba giai đoạn được tiếp tục cho đến ngày hôm nay Kết quả của việc áp dụng hệ thống phí này đã giảm tới 60,4% tổng lượng chất gây ô nhiễm thải ra môi trường trong giai đoạn 1979 –
Trang 27trường Tuy nhiên, hệ thống này cũng bộc lộ nhược điểm là mức phí đặt ra quá thấp nên đã hạn chế tác động tích cực, khiến cho người gây ô nhiễm không thay đổi hành
vi của mình
Mục đích chính của việc áp dụng hệ thống này là tăng nguồn thu cho các ủy ban BVMT ở địa phương Theo quy định, các ủy ban này được phép dữ lại 20% nguồn thu từ phí và 100% tiền phạt để dùng cho ca hoạt động của họ Trên thực tế, nguồn thu được từ phí được sử dụng để trợ cấp cho các xí nghiệp để họ thực hiện biện pháp kiểm soát và xử lý ô nhiễm Hệ thống phí này hiện đã được cải cách theo hướng không dùng nguồn thu để trợ cấp cho công việc kiểm soát và xử lý ô nhiễm nữa mà dùng để cho các xí nghiệp vay ưu đãi nhằm thực hiện các biện pháp xử lý ô nhiễm Ngày nay, 80% nguồn thu từ phí được đưa vào quỹ của địa phương để cho các xí nghiệp vay cho mục đích môi trường, 20% còn lại dùng để duy trì bộ máy kiểm soát và chi phí thực hiện chương trình này bao gồm cả đào tạo cán bộ môi trường, mua sắm và vận hành các thiết bị quan trắc, đo đạc
Bên cạnh đó việc thu phí nước thải công nghiệp ở một số nước cũng chưa đem lại hiệu quả cao điển hình như là tại Pháp Ở Pháp việc sử dụng hệ thống phí nước thải công nghiệp không có tính chất khuyến khích bởi suất phí và lệ phí thấp Việc tăng suất phí và lệ phí đối với các chất gây ô nhiễm nguồn nước bởi các ngành công nghiệp đã bị phản đối kịch liệt bởi vì họ không muốn phải chịu thêm gánh nặng về tài chính Đây là điểm yếu của hệ thống phí và lệ phí của Pháp Người gây ô nhiễm sẵn sàng thực hiện các biện pháp chống ô nhiễm nếu họ được giúp đỡ về mặt tài chính nhưng lại không muốn chịu các khoản đóng góp cao hơn để tạo nguồn cho sự
hỗ trợ tài chính này
Tóm lại so với thế giới việc áp dụng công cụ thu phí nước thải công nghiệp ở nước
ta còn mới mẻ, còn gặp nhiều khó khăn và chưa đem lại hiệu quả cao Chúng ta cần phải nghiên cứu cách thu phí của các nước, xem xét ưu và nhược điểm của họ để đưa ra một cách thu phí hiệu quả nhất đối với tình hình phát triển của nước ta bây giờ
Trang 28Theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế [3] Hệ thống phí ô nhiễm của Bỉ, Cộng Hòa Liên Bang Đức và Hàn Quốc đều đặt mục tiêu tạo khuyến khích
và thay đổi hành vi của người gây ô nhiễm, trong khi tại các quốc gia khác mục tiêu chính là tạo nguồn thu
Bảng 1.1 Phí nước thải tại các nước OECD [3]
Quốc gia Cơ sở
lý và chi phí giám sát
vị ô nhiễm
(cùng với phí nước thải)
Tài trợ cho các chính sách môi trường
số từ 1-1
000
effective only recently)
Chuyển vào quĩ môi trường quốc gia
Trang 29Quốc gia Cơ sở
triệu (2005)
Cơ quan quản lý nước
FF 1 018 triệu (2005)
Cơ quan quản lý nước
DN tuân thủ qui chế môi trường
DM 655 triệu (2007)
Dùng cho các biện pháp bảo trì và nângcao chất lượng nguồn nước