Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế". Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn do vậy em đã chọn đề tài câu: “Công tác đối ngoại Việt Nam trong quá trình đổi mới hiện nay- Thực trạng và giải pháp” để làm tiểu luận kết thúc môn để nhằm làm rõ những vấn đề này.
Trang 1TIỂU LUẬN
MÔN CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
quá trình đổi mới hiện nay- Thực trạng và giải pháp”
HÀ NỘI, 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2NỘI DUNG 6Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ VỀ TRUYỀN THỐNG, TRIẾT LÝ VÀ NỀNTẢNG CỦA NỀN ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ 61.1 Truyền thống đối ngoại đấu tranh ngoại giao giữ nước của các triều đại phongkiến Việt Nam trong lịch sử 61.2 Triết lý và cội nguồn của bản sắc ngoại giao Việt Nam 101.3 Ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh - nền tảng cốt lõi của bản sắc ngoại giao ViệtNam hiện đại 16Chương 2: CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI, THÀNH TỰU VÀ BÀI HỌC KINHNGHIỆM VỀ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔIMỚI 192.1 Chủ trương, đường lối đối ngoại trong thời kỳ mới của Việt Nam 192.2 Kết quả, thành tích công tác đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 202.3 Những bài học thiết thực được rút ra từ công tác đối ngoại của Việt Nam tronggiai đoạn vừa qua 24Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐỐINGOẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN MỚI 263.1 Yêu cầu cần phát huy giá trị trường tồn của bản sắc ngoại giao Việt Nam trongbối cảnh mới 263.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạnmới 28KẾT LUẬN 32DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trong quá trình hình thành và phát triển củamình cũng đều phải xử lý hai vấn đề cơ bản là đối nội và đối ngoại Hai vấn đề này
có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau như hai cáicánh của một con chim, tạo thế và lực cho nhau, gắn kết và đan xen ngày càng chặtchẽ với nhau, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ và sâu rộng.Đối ngoại ngày nay không chỉ là sự nối tiếp của chính sách đối nội, mà còn là mộtđộng lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các quốc gia, dân tộc
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, độclập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc luôn luôn là nguyên tắcbất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động của chúng ta Bên cạnhcác cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ giang sơn, độc lập, chủ quyền của đấtnước, ông cha ta đã luôn luôn chú trọng hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên nhữngtruyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và hoạt động đốingoại Việt Nam: Đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý
và chính nghĩa: "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn; Lấy chí nhân mà thay cườngbạo!"; "Dập tắt muôn đời lửa chiến tranh; Mở nền muôn thủa thái bình!" ("BìnhNgô đại cáo" - Nguyễn Trãi) Dùng đối ngoại để phòng ngừa, ngăn chặn chiếntranh hoặc để sớm kết thúc chiến tranh trong vị thế có lợi nhất; đối ngoại phải luônluôn phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp đối nội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó lànhững tư tưởng, triết lý vượt thời đại của cha ông ta, mãi mãi vẫn còn nguyên giátrị
Những truyền thống và bản sắc tốt đẹp ấy càng được bồi đắp, phát huy vàtỏa sáng trong thời đại Hồ Chí Minh, đã phát triển lên thành nền ngoại giao Việt
Trang 4Nam hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc Là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đầu tiên củanước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ngay sau Cách mạng ThángTám thành công năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng, trựctiếp chỉ đạo và dẫn dắt sự phát triển của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.Trong hơn 36 năm đổi mới vừa qua, kế thừa và phát huy truyền thống đối ngoại vẻvang của Dân tộc, nhất là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móngcho nền ngoại giao Thời đại Hồ Chí Minh, Đảng ta đã kế thừa và không ngừng bổsung, phát triển, hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở vì hòabình, hợp tác và phát triển, thực thi chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạnghóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng mới đây, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
ta đã thống nhất rất cao về nhận thức và quyết tâm "Thực hiện nhất quán đường lốiđối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa,
đa phương hóa quan hệ đối ngoại Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên
cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế,bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đốitác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế" Từ
những vấn đề lý luận và thực tiễn do vậy em đã chọn đề tài câu: “Công tác đối
ngoại Việt Nam trong quá trình đổi mới hiện nay- Thực trạng và giải pháp” để
làm tiểu luận kết thúc môn để nhằm làm rõ những vấn đề này
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nghiên cứu về công tác đối ngoại Việt Nam trong quá trình đổi mới
đã được nhiều nhà nghiên cứu, học giả quan tâm tìm hiểu đưới những khía cạnhkhác nhau cũng như đã luận giải, tiếp cận ở những nội dung cụ thể Đặc biệt lànhững công trình nghiên cứu của các chuyên gia trong lĩnh vực đối ngoại và đây là
Trang 5những công trình nghiên cứu góp phần giúp cho tác giả thực hiện tốt nhất đề tàinày
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề cơ sở về truyền thống, triết lý và nền tảngnền đối ngoại Việt Nam trong lịch sử từ đó đề tài phân tích chủ trương, đường lối,thành tựu và bài học kinh nghiệm về công tác đối ngoại của Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới từ đó đưa ra yêu cầu, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đối ngoạicủa Việt Nam trong giai đoạn mới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề cơ sở về truyền thống, triết lý và nền tảng nền đối ngoạiViệt Nam trong lịch sử từ đó đề tài;
- Phân tích chủ trương, đường lối, thành tựu và bài học kinh nghiệm về công tácđối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới từ đó;
- Đưa ra yêu cầu, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại của Việt Namtrong giai đoạn mới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Công tác đối ngoại Việt Nam trong quátrình đổi mới hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Việt Nam
- Phạm vi thời gian: thời kỳ đổi mới
Trang 65 Cơ sở luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Cơ sở luận
Đề tài dựa trên cơ sở luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước liên quan đếncông tác đối ngoại
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học như duy vật biệnchứng và phương pháp duy vật lịch sử Đồng thời đề tài sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu chuyên ngành như phương pháp thống kê, phân tích - tổng hợp;phương pháp so sánh và phương pháp quy nạp-diễn dịch
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài làm rõ được những vấn đề cơ sở trong công tác đối ngoại của ViệtNam như truyền thống, triết lý cũng như cơ sở nền tảng của nền đối ngoại ViệtNam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài được thực hiện sẽ góp phần là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhữngsinh viên quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài bao gồm 3chương và 8 tiết
Trang 7NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ VỀ TRUYỀN THỐNG, TRIẾT LÝ VÀ NỀN TẢNG CỦA NỀN ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ 1.1 Truyền thống đối ngoại đấu tranh ngoại giao giữ nước của các triều đại phong kiến Việt Nam trong lịch sử
Đấu tranh ngoại giao là một trong những nội dung quan trọng, xuyên suốtchiều dài lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, góp phần giữ yên bờ cõi, bảo
vệ nền độc lập, khẳng định chủ quyền quốc gia Đây là những bài học quý vẫn cònnguyên giá trị, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổquốc Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, do đặc điểm là quốc gianhỏ, ở cạnh một số nước lớn, luôn ngự trị tư tưởng “bành trướng, thôn tính, mởmang bờ cõi”, “tranh bá, đồ vương”, “bình thiên hạ”, tự cho mình có quyền cấtbinh đi “điếu phạt”, buộc các quốc gia xung quanh phải trở thành “chư hầu” lệthuộc,… nên Việt Nam liên tục phải đấu tranh, đương đầu với các đế chế hùngmạnh, lăm le xâm chiếm, quy phục và thực hiện chính sách cai trị, nô dịch, v.v.Trải qua những thăng trầm đó, hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn kiêncường, bất khuất giữ vững nền độc lập, thái bình, thịnh trị Tuy nhiên, một số triềuđại có tư tưởng nhu nhược, để đất nước bị lệ thuộc, không có nền độc lập, tự chủ,nhân dân chịu cảnh lầm than Trong những hoàn cảnh khó khăn đó, nhân dân tadưới sự lãnh đạo của những thủ lĩnh, anh hùng các triều đại lại đứng lên giươngcao ngọn cờ độc lập dân tộc, cố kết cộng đồng đánh đuổi xâm lăng, bảo vệ bờ cõi,giữ vững sự bình yên để gây dựng giang sơn, cơ đồ nước Việt
Cùng với đấu tranh quân sự, cha ông ta còn vận dụng hết sức linh hoạt, hiệuquả các chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo nhưng kiên quyết, khẳng định
tư duy, trí tuệ, khí phách của một dân tộc không chịu khuất phục, không chịu làm
Trang 8chư hầu, lệ thuộc, bảo đảm “trong ấm, ngoài êm”, giữ yên bờ cõi Các chính sáchngoại giao của nước ta được thực thi một cách thiên biến vạn hóa, đa dạng, phùhợp với từng thời kỳ lịch sử, mang đậm nét đặc trưng, bản sắc văn hóa dân tộc, sắcthái chính trị của mỗi chế độ, triều đại phong kiến Việt Nam, nhưng đều nhằm giữvững độc lập, tự chủ, ngăn chặn họa xâm lăng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, xâydựng nền thái bình lâu bền cho muôn dân.
Nghệ thuật đấu tranh ngoại giao của các triều đại phong kiến Việt Nam được
đề cập trong bài viết tập trung vào thời kỳ từ khi hình thành triều đại phong kiến tựchủ thời nhà Ngô (938) đến khi có Đảng Cộng sản Việt Nam Với chiều dài lịch sửgần một nghìn năm, trải qua sự trị vì, cai quản của các triều đại phong kiến ViệtNam từ nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần đến nhà Hồ, Lê Sơ, Mạc, Tây Sơn vànhà Nguyễn, nghệ thuật ngoại giao của nước ta được nghiên cứu, phát triển, vậndụng khá hiệu quả, trở thành nội dung cốt lõi, xuyên suốt, đóng góp quan trọng vàobảo vệ, khẳng định nền độc lập, tự chủ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không bịđồng hóa bởi sự thống trị của các nền văn hóa ngoại bang
Qua nghiên cứu lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, chúng ta thấy nổilên một số vấn đề cơ bản trong đấu tranh ngoại giao như sau:
Đấu tranh ngoại giao nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹnlãnh thổ Trong lịch sử quan hệ với các nước láng giềng của Việt Nam, quan hệ vớiTrung Hoa được xem là mối quan hệ lâu đời và quan trọng nhất Trong quá trìnhquan hệ giữa hai nước, cha ông ta hết sức coi trọng đấu tranh ngoại giao, giữ vữngnền độc lập, tự chủ của dân tộc và bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ đất nước Điều nàythể hiện rõ tư tưởng, tinh thần, khí phách của một dân tộc không chịu khuất phục,không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, phụ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào, dùlớn hay nhỏ, bằng mọi giá phải có độc lập, tự chủ, phải bảo vệ, giữ yên bờ cõi,không để đất nước bị xâm lăng
Trang 9Tiêu biểu là thời nhà Lý, để ngăn chặn mưu đồ mở rộng lãnh thổ của nhàTống, vua Lý Nhân Tông đề cao cảnh giác, kết hợp nhiều hình thức đấu tranhngoại giao, như: bang giao chính thức thông qua các sứ bộ, giao dịch buôn bán,trao đổi ở khu vực biên giới và tổ chức các hoạt động định biên, thống nhất biêngiới; chủ động cử sứ giả sang nhà Tống cầu phong, xin kinh Đại tạng, thậm chíchấp nhận cống nạp, làm phiên thần để đạt được mục đích quốc gia, dân tộc, bảo
vệ cương vực, lãnh thổ Hoạt động đấu tranh ngoại giao thời nhà Lý, nhất là cácchính sách bang giao mềm dẻo không chỉ làm giảm bớt căng thẳng, ngăn chặn ýđịnh xâm lược Đại Việt của nhà Tống, mà còn đòi lại được vùng đất QuảngNguyên (Thuận Châu) năm 1079, đổi lại năm 1081, nhà Lý trao trả cho nhà Tống
số dân và binh lính bị bắt Tiếp đó, năm 1084, Lý Nhân Tông “sai thị lang Binh bộ
Lê Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình cùng người Tống bàn việc cương giới,… địnhbiên giới, nhà Tống trả lại cho ta 06 huyện, 03 động”1
Trong thời nhà Lê Sơ, chúng ta thực hiện nhiều chính sách ngoại giao khônkhéo, buộc nhà Minh phải công nhận nền độc lập, tự chủ của nước Đại Việt Haytrong thời nhà Tây Sơn, nhờ thực hiện tốt các hoạt động đấu tranh ngoại giao, nhàThanh phải công nhận độc lập của nước Nam; bỏ tục lệ cống người, vàng bạc, châubáu; trả lại 07 châu xứ Hưng Hóa đã chiếm trước đó; thay đổi cách nhìn; đồng thời,tôn trọng chủ quyền và văn hóa nước Nam trong quan hệ hai nước Đặc biệt, cáchoạt động đấu tranh ngoại giao thời nhà Nguyễn sau này, buộc nhà Thanh phảicông nhận quốc gia phong kiến độc lập, có chủ quyền, công nhận quốc hiệu tự đặt
là “Việt Nam”, thay cho “An Nam quốc” trước đây, công nhận lãnh thổ miền biêngiới và trên biển của nước ta
Kết hợp chính sách đối nội với đối ngoại, tạo và phát huy sức mạnh tổnghợp bảo vệ đất nước khỏi họa xâm lăng Nhận thức rõ mối quan hệ giữa chính sáchđối nội và đối ngoại, các triều đại phong kiến Việt Nam đã luôn chú trọng kết hợp
Trang 10chặt chẽ hai lĩnh vực này, nhằm huy động tiềm lực của toàn dân, tập hợp lực lượng
cả nước chống giặc Trong công tác đối nội, các triều đại thực hiện nhiều chínhsách khuyến khích phát triển nông nghiệp, khoan thư sức dân, Thời nhà Nguyễn đã
cử các đội quân, dân đi khai phá đảo hoang, thu lượm sản vật, thực hiện quyềnquản lý trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Trong phát triển văn hóa, giáodục, nhà Lý đã cho xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giám, mở các khoa, bảng thi cử,tuyển dụng, chiêu mộ hiền tài đất nước, đấu tranh giữ gìn bản sắc văn hóa ngườiViệt, không để bị đồng hóa bởi văn hóa phương Bắc Đồng thời, ban hành các bộluật “Hình Thư” thời nhà Lý, “Hồng Đức” thời Lê Sơ, nhằm giữ vững trật tự, kỷcương sơn hà, xã tắc, bảo đảm trên dưới một lòng, không phân chia cát cứ, phảnloạn, cầu cứu bên ngoài; thực hiện “trong ấm, ngoài êm”, “nội yên, ngoại tĩnh”.Trong lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, chú trọng các chính sách kết hợp dựng nướcvới giữ nước, kinh tế với quốc phòng, như “ngụ binh ư nông”, “tĩnh vi nông, động
vi binh”, “quốc phú, binh cường”, xây dựng quân đội gồm quân Triều đình, quâncác hương, lộ, phủ và lực lượng dân binh, thổ binh; tổ chức đóng thuyền chiến, rènđúc vũ khí, xây dựng thành lũy, luyện tập binh mã, bố phòng cẩn mật nơi biên giớixung yếu, đề phòng giặc giã, xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, tạo thế vàlực hỗ trợ cho công tác đối ngoại, ngoại giao với các nước lân bang, răn đe, ngănchặn ngoại xâm nhòm ngó Trong hoạt động đối ngoại, cha ông ta luôn đề cao cảnhgiác, giữ bí mật, không cho sứ giả vào do thám nắm nội tình, xâm lược nước ta LêHoàn đã khéo léo đề nghị sứ giả nhà Tống: “Sau này, nếu có quốc thư thì nên giaonhận ngay ở đầu địa giới, không phiền sứ thần đến đây nữa”3; tranh thủ tối đa cơhội bang giao hòa hiếu với các nước lân bang, ngăn chặn chiến tranh, giữ yên bờcõi, tạo môi trường hòa bình để các triều đại phong kiến Việt Nam tồn tại, pháttriển thịnh vượng lâu dài, tránh họa xâm lăng của các thế lực ngoại bang
Trang 111.2 Triết lý và cội nguồn của bản sắc ngoại giao Việt Nam
Ngay từ thuở bình minh của lịch sử dân tộc, khi bắt đầu đặt nền móng xâydựng một quốc gia độc lập, ông cha ta đã sớm ý thức về mối quan hệ đối với cácnước láng giềng Tương truyền, từ năm thứ năm đời Vua Nghiêu ở Trung Quốc(năm 2353 trước Công Nguyên), sứ bộ nước ta đã được Vua Hùng cử sang phươngBắc, trải qua các lần thông dịch, tiếp xúc với nhiều dân tộc mới đến nơi Món quà
do Vua Hùng nước ta tặng Vua Nghiêu là một con rùa lớn, trên mai có khắc chữ,ghi lại sự việc từ khi trời, đất mới mở mang, với mong muốn gửi thông điệp củamột nước Nam về sự thân thiện và trường tồn
Truyền thống ngoại giao Việt Nam có những đặc điểm rất đỗi tự hào, kiênđịnh chủ trương “nội yên ngoại tĩnh”, thể hiện tinh thần hòa bình, hữu nghị, nhânvăn, thân thiện với láng giềng, ngoại giao tâm công, lấy lẽ phải, công lý và chínhnghĩa để thuyết phục lòng người Các chính sách ngoại giao của nước ta được thựcthi một cách thiên biến vạn hóa, đa dạng, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử, mangđậm nét đặc trưng, bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái chính trị của mỗi chế độ, triềuđại phong kiến Việt Nam Nhưng trên hết, tất cả đều luôn vì lợi ích quốc gia - dântộc, nhằm giữ vững độc lập, tự chủ, ngăn chặn họa xâm lăng, bảo vệ chủ quyềnlãnh thổ, xây dựng nền hòa bình dài lâu cho dân tộc
Trong bản sắc của ngoại giao Việt Nam, tinh thần độc lập, tự cường và bảođảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc là nguyên tắc bất biến Đó là sợi chỉ đỏxuyên suốt chiều dài lịch sử, xuất phát từ tinh thần yêu nước của dân tộc - khôngtrông đợi vào bên ngoài, mà phải dựa vào chính mình để bảo vệ lợi ích chân chínhcủa đất nước, dân tộc Năm 1473 (Hồng Đức năm thứ tư), vua Lê Thánh Tông ralời dụ với Thái bảo Lê Cảnh Huy khi chuẩn bị đi đàm phán giao bang biên giới:
“Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết
Trang 12tranh biện, chớ cho họ lấn dần… Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất củaThái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di!”.
Trong thời kỳ Tây Sơn, sau khi đại phá quân Thanh, Quang Trung đã nhanhchóng cử sứ giả sang phương Bắc để làm hòa, nói rõ rằng nước Nam chỉ bảo vệ bờcõi của mình, Tây Sơn “không lấn sang biên giới” Đồng thời, khẳng định nếu nhàThanh động binh xâm lược lần nữa thì quân dân ta kiên quyết chống lại Nhờ thựchiện tốt các hoạt động đấu tranh ngoại giao, nhà Thanh phải công nhận nền độc lậpcủa nước Nam; trả lại 7 châu xứ Hưng Hóa đã chiếm trước đó; đồng thời, tôn trọngchủ quyền và văn hóa nước Nam trong quan hệ hai nước
Lợi ích quốc gia - dân tộc chính là độc lập, chủ quyền của đất nước Ông cha
ta đã ứng xử hết sức linh hoạt, khéo léo, vừa khẳng định độc lập, chủ quyền, vị thếcủa đất nước, không để cho bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ, vừa giữ hòakhí với nước láng giềng để đất nước được yên bình và phát triển ổn định
Đón tiếp sứ giả mang chiếu thư đến Kinh đô Hoa Lư, vua Lê Đại Hành đã tổchức đãi tiệc để cho sứ giả thấy sự chan hòa của nhà vua nước Việt Nhưng khi bịyêu cầu phải quỳ lạy tiếp chiếu, vua Lê Đại Hành đã kiên quyết và khéo léo từchối Vào đời nhà Trần, vua Trần Thái Tông cũng tiếp nối nguyên tắc từ chối lạychiếu thư Nguyên sử ghi lại lý do rằng: “Phàm nhận chiếu, cứ để yên nơi chínhđiện, còn Vua thì lui tránh về điện riêng Đó là điển lệ cũ của nước chúng tôi”
Để bảo vệ được chủ quyền, độc lập dân tộc, ông cha ta đã phải nhẫn nại nhưthế Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết là nguyên tắc tạo nên sự đồng thuậngiữa nhân dân và những người lãnh đạo, là kim chỉ nam dẫn dắt dân tộc Việt Namxuyên suốt những thăng trầm của lịch sử Hòa mục bên trong, hòa hiếu bên ngoài
là bản sắc của ngoại giao Việt Nam và “trong xưng đế, ngoài xưng vương” là mộttrong những chính sách mà các triều đại phong kiến nước ta đã vận dụng để xử lýquan hệ của đất nước với nước láng giềng Yêu chuộng hòa bình, tinh thần hòa
Trang 13hiếu, hữu nghị vốn là những đức tính cao đẹp của người Việt Nam Điều này đượcđúc kết thành thuật trị nước để bảo đảm “trong ấm, ngoài êm” Trần Hưng Đạo đãviết trong Binh thư yếu lược: “Hòa mục là đạo rất hay trong việc trị nước hànhbinh Hòa ở trong nước thì ít phải dùng binh, hòa ở ngoài biên thì không sợ báođộng” Trần Hưng Đạo đã chủ động gạt bỏ hiềm khích gia đình để trọn đạo vua -tôi và hóa giải mâu thuẫn cá nhân với Trần Quang Khải để tạo sự đoàn kết chốnggiặc ngoại xâm Bàn về bài học sức mạnh Đại Việt sau ba lần chiến thắng chốnggiặc Nguyên Mông xâm lược, Trần Hưng Đạo đã nhận định, đó là “vua tôi đồnglòng, anh em hòa thuận, cả nước ra sức”.
Hòa mục không có nghĩa là khuất phục, mà là sự thức thời trong việc định vịnước Việt ở vị trí chiến lược trong khu vực, phù hợp với tương quan thế và lực mỗithời kỳ Muốn bảo vệ lợi ích của quốc gia thì phải hòa mục Phan Huy Chú đã đúckết từ trong lịch sử: “Trong việc trị nước, hòa hiếu với láng giềng là việc lớn” Do
đó, các triều đại phong kiến Việt Nam trong lịch sử thường thực hiện chính sách
“trong xưng đế, ngoài xưng vương” “Ngoài xưng vương” là thể hiện sự hòa hiếuvới nước lớn phương Bắc, “trong xưng đế” là thể hiện ý thức độc lập, tự cường vàbản lĩnh bất khuất của dân tộc Đó được coi là chiến lược ngoại giao xuyên suốtcủa một nước Việt nhỏ, sát cạnh một nước phương Bắc lớn
Đơn cử như, vào thời kỳ nhà Mạc, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, vuaMạc Đăng Dung đã chủ động thoái vị một cách mềm mỏng, khéo léo để tránh việcnhà Minh đem quân sang xâm lược nước Đại Việt: “Bỏ xưng tiếm hiệu (khôngxưng hoàng đế); xin theo lịch chính sóc (lịch của nhà Minh); trả lại đất bốn động
đã chiếm; xin nội thuộc xưng thần; xin hàng năm ban lịch Đại Thống (lịch của nhàMinh) và bù đủ các lễ vật tiến cống hàng năm” Nhờ đó, quân thù không đặt chânđến đất nước, mà nhà Mạc vẫn xưng hoàng đế, vẫn làm chủ nước Đại Việt
Trang 14Trong truyền thống và bản sắc ngoại giao Việt Nam, chiến lược “dùng ngòibút thay giáp binh”- ngoại giao tâm công, lấy lẽ phải, chính nghĩa để thuyết phụclòng người là một triết lý quan trọng, có giá trị quyết định Cùng với tinh thần yêunước và đoàn kết, chính nghĩa luôn là sức mạnh của dân tộc Việt Nam Ông cha tahết sức coi trọng việc giương cao ngọn cờ chính nghĩa trong đấu tranh ngoại giaonhằm thu hút sự ủng hộ của nhân dân, chống những luận điệu sai trái của kẻ thù, đểthế giới hiểu rõ về công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Anhhùng dân tộc, nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ Nguyễn Trãi đã đúc kết đấu tranh saocho “hợp trời, thuận người”, nên có thể “lấy yếu chống mạnh”, “lấy ít địch nhiều”,
“lấy đại nghĩa thắng hung tàn”, “lấy chí nhân thay cường bạo”
Ông cha ta cũng sử dụng linh hoạt, khéo léo phương châm ngoại giao “dùngngòi bút thay giáp binh” Với sứ thần có học thức, giỏi văn thơ như Lý Giác, vua
Lê Đại Hành có cách ứng xử rất văn hóa, dùng thơ đối thơ, dùng nghĩa tình đãinghĩa tình Với sứ thần có thái độ hống hách như Tống Cảo, ông dùng đối sáchmạnh, biểu dương sức mạnh nước Đại Việt Tiếp nối truyền thống ấy, gần 300 nămsau, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải vẫn ân cần làm thơ tống tiễn SàiThung - một viên sứ thần ngạo mạn của phương Bắc về nước, bằng những lời rấtnhã nhặn: “Biết đến khi nào cùng gặp lại/ Cầm tay bày tỏ nỗi niềm tây!”
Nguyễn Trãi đã gửi hàng chục bức thư khẳng định rõ tính chính nghĩa củacuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427), tinh thần nhân đạo của nhân dân ta,khẳng định sự thất bại tất yếu của quân xâm lược, làm cho giặc hoang mang, tựbiết con đường duy nhất là phải chịu hòa mà rút về Đánh giá về Nguyễn Trãi,Phan Huy Chú viết: “Quân trung từ mệnh tập có sức mạnh của mười vạn quân”
Trước khi ra lệnh xuất quân ra Bắc, đại phá quân Thanh, Vua Quang Trung
đã suy tính trước: “Quân Thanh sau khi thua, tất lấy làm xấu hổ, quyết khôngmuốn hòa hiếu Nhưng, hai nước đánh nhau, cũng không phải là phúc cho dân
Trang 15Nên nay, chỉ có người nào khéo về giấy tờ (giỏi thương lượng, đàm phán), mới cóthể ngăn được họa binh đao Việc ấy, cần nhà ngươi (Ngô Thì Nhậm) chủ trươnglấy” Cuối cùng, sự việc diễn ra đúng như vậy.
Kiên quyết, kiên trì, vừa đánh vừa đàm, biết thắng từng bước để đạt thắnglợi cuối cùng, cũng là một trong những bản sắc truyền thống nổi bật của ngoại giaoViệt Nam Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, do đặc điểm làquốc gia nhỏ, Việt Nam liên tục phải đấu tranh, đương đầu với các đế chế hùngmạnh gấp nhiều lần, luôn lăm le xâm chiếm , do đó, cần biết thắng từng bước đểđạt thắng lợi cuối cùng
Đánh kết hợp với đàm là một bài học lớn của ông cha ta Cùng với đấu tranhquân sự, ông cha ta đã vận dụng hết sức linh hoạt, hiệu quả các chính sách ngoạigiao mềm dẻo, khôn khéo; nhưng kiên quyết, khẳng định tư duy, trí tuệ, khí pháchcủa một dân tộc không chịu khuất phục, không chịu làm chư hầu, lệ thuộc, để giữyên bờ cõi
Tiêu biểu là thời kỳ nhà Lý Để ngăn chặn mưu đồ mở rộng lãnh thổ của nhàTống, vua Lý Nhân Tông đề cao cảnh giác, kết hợp nhiều hình thức đấu tranhngoại giao, như bang giao chính thức thông qua các sứ bộ, giao dịch buôn bán, traođổi ở khu vực biên giới và tổ chức các hoạt động định biên, thống nhất biên giới;chủ động cử sứ giả sang nhà Tống cầu phong, xin kinh Đại tạng, thậm chí chấpnhận cống nạp, làm phiên thần để đạt được mục đích quốc gia - dân tộc, bảo vệcương vực, lãnh thổ Hoạt động đấu tranh ngoại giao trong thời kỳ nhà Lý, nhất làcác chính sách bang giao mềm dẻo không chỉ làm giảm bớt căng thẳng, ngăn chặn
ý định xâm lược Đại Việt của nhà Tống, mà còn đòi lại được vùng đất QuảngNguyên (Thuận Châu) vào năm 1079 Đặc biệt, trong thời kỳ nhà Trần, mặc dù balần đánh bại quân xâm lược Nguyên - Mông, bảo vệ vững chắc biên cương phíaBắc, vua Trần vẫn kiên trì thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo với nhà
Trang 16Nguyên để ngăn ngừa âm mưu tái xâm lược nước ta, giữ vững chế độ nhà Trầntrong 175 năm.
Tư duy “biết thắng” thể hiện qua tâm thế hành xử của ông cha ta đối với sựthất bại của kẻ xâm lược Xác định mục tiêu bất biến là “Chỉ cần vẹn đất, cốt sao
an ninh” và “mở nền thái bình muôn thuở”, Nguyễn Trãi khẳng định rõ đường lốicủa nước Đại Việt sau khi Lê Lợi đánh thắng quân Minh: “Nghĩ vì kế lâu dài củanhà nước; Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh; Sửa hòa hiếu cho hai nước; Tắt muôn đờichiến tranh”
Có thể thấy, những chính sách trên thể hiện sâu sắc văn hóa ứng xử nhânvăn, nghệ thuật ngoại giao “kiên quyết, kiên trì”, “biết người, biết ta”, “biết thời,biết thế”, “cương nhu kết hợp”, “tiến lúc mạnh, thoái lúc yếu”, “khoan hòa, linhhoạt” của cha ông ta trong lịch sử Ngoại giao Việt Nam luôn vì sự phát triển phồnvinh của dân tộc Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các hoạt động ngoại giao khôngchỉ phục vụ mục đích chính trị, quân sự, đấu tranh giữ vững độc lập, tự chủ củadân tộc, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ đất nước, bảo toàn thể diện quốc gia, kiến tạohòa bình cho dân tộc, mà còn góp phần mở rộng các mối quan hệ giao lưu thươngmại, tiếp nhận những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại
Các sứ thần nước Đại Việt đã góp phần mở rộng các mối quan hệ giao lưuthương mại, văn hóa không chỉ với Trung Quốc mà còn với các quốc gia lánggiềng khác, như Champa (Chiêm Thành), Java (Trảo Oa), Xiêm và các quốc gialáng giềng trên biển Lịch sử ghi nhận ngay từ thời kỳ nhà Đinh, nước Đại Việt đã
có các tàu, thuyền giao lưu buôn bán hàng hóa với nước ngoài; nhà Tiền Lê đã lậpchốt buôn bán hàng hóa với Trung Quốc Hàng hóa của nước Đại Việt được giớithiệu ra nước ngoài không chỉ bằng buôn bán thuần túy, mà còn theo hình thứccống nạp trực tiếp của các sứ bộ hoặc các thương nhân đi tham gia các đoàn ngoạigiao ra nước ngoài
Trang 17Các sứ thần Đại Việt đều là những người trí thức danh tiếng, các bậc hiềntài, được vua tuyển chọn cẩn thận và tin dùng Tiêu biểu là Mạc Đĩnh Chi, LươngThế Vinh, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích,… có
sứ mệnh ghi chép lại những kinh nghiệm hay, cách làm tốt của nước bạn và cảnhững kiến thức về quản trị quốc gia, quản lý nhà nước, những giá trị văn hóa tiến
bộ của các quốc gia, để tham khảo trong quá trình xây dựng nước Đại Việt Đó lànhững tấm gương như Lương Như Hộc (1420 - 1501), qua hai lần đi sứ phươngBắc đã tiếp thu nhiều kỹ thuật in khuôn bản gỗ, giúp nghề in nước ta phát triển.Hay như Lê Công Hành đi sứ năm 1646, đã mang về kinh nghiệm làm nghề thêu
và lọng Tương truyền, khi đó ông bị nhốt trên lầu cao ở nước bạn, đã tỉ mẩn dỡtừng đường chỉ thêu trên tấm nghi mô mà học được nghề này Trạng Bùng PhùngKhắc Hoan được cử đi sứ hai lần vào các năm 1597 và 1606, khi đã gần 70 tuổi.Ông đã mang về nước Việt kỹ thuật dệt lụa và bí mật mang về hạt giống “ngọcmễ” (hạt ngô sau này)
1.3 Ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh - nền tảng cốt lõi của bản sắc ngoại giao Việt Nam hiện đại
Lịch sử Việt Nam thời hiện đại có bước chuyển giai đoạn quyết định vàonăm 1945 với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Từ một nước thuộcđịa nửa phong kiến, Việt Nam chính thức trở thành một quốc gia độc lập, thốngnhất Là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Nhà nước Việt Nam hiện đại, Chủ tịch
Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng, trực tiếp chỉ đạo và dẫn dắt sự phát triểncủa nền ngoại giao cách mạng của nước Việt Nam hiện đại Tư tưởng Hồ ChíMinh về ngoại giao là một hệ thống quan điểm về các vấn đề quốc tế, chiến lược,sách lược cách mạng Việt Nam trong quan hệ với thế giới Tư tưởng ngoại giao HồChí Minh là một bộ phận hợp thành tư tưởng Hồ Chí Minh, được hình thành trướchết từ con người Hồ Chí Minh, được hun đúc, kết tinh từ quá trình đi tìm đường