TIỂU LUẬN MÔN CÁC LÝ THUYẾT CHÍNH TRỊ TRONG LỊCH SỬ Tên đề tài “Những giá trị của lý thuyết chính trị Trung Quốc thời kỳ cổ đại” HÀ NỘI, 2022 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 7 Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUNG QUỐC THỜI KỲ CỔ ĐẠI 7 1 1 Địa lý và cư dân Trung Quốc cổ đại 7 1 2 Lịch sử các triều đại của Trung Quốc cổ đại 8 1 3 Một số thành tựu văn minh Trung Quốc cổ đại 9 Chương 2 NHỮNG LÝ THUYẾT CHÍNH TRỊ CỦA TRUNG QUỐC THỜI KỲ CỔ ĐẠI 13 2 1 Thuyết “Chính danh” của Khổng Tử 13 2 2 Thuyết “Kiêm ái” của.
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN
CÁC LÝ THUYẾT CHÍNH TRỊ TRONG LỊCH SỬ
Tên đề tài:
“Những giá trị của lý thuyết chính trị Trung Quốc thời kỳ cổ đại”
HÀ NỘI, 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 7
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUNG QUỐC THỜI KỲ CỔ ĐẠI 7
1.1 Địa lý và cư dân Trung Quốc cổ đại 7
1.2 Lịch sử các triều đại của Trung Quốc cổ đại 8
1.3 Một số thành tựu văn minh Trung Quốc cổ đại 9
Chương 2: NHỮNG LÝ THUYẾT CHÍNH TRỊ CỦA TRUNG QUỐC THỜI KỲ CỔ ĐẠI 13
2.1 Thuyết “Chính danh” của Khổng Tử 13
2.2 Thuyết “Kiêm ái” của Mặc Tử 15
2.3 Thuyết “Vô vi nhi trị” của Lão Tử 17
2.4 Thuyết “Pháp trị” của Hàn Phi Tử 20
Chương 3: NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA LÝ THUYẾT CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC THỜI KỲ CỔ ĐẠI 22
3.1 Giá trị của thuyết “Chính danh” của Khổng Tử 22
3.2 Giá trị của thuyết “Kiêm ái” của Mặc Tử 23
3.3 Giá trị của thuyết “Vô vi nhi trị” của Lão Tử 24
3.4 Giá trị của thuyết “Pháp trị” của Hàn Phi Tử 26
KẾT LUẬN 28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử thế giới thời kỳ cổ đại đã có nhiều hệ thống, tư tưởng chính trị pháp lý, trong đó nổi lên ở các trung tâm Hy Lạp, Ấn Độ và Trung Quốc Nghiêncứu lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại, chúng ta thấy phần nổi trội nhất là tưtưởng chính trị - pháp lý Việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý củaTrung Quốc cổ đại cho thấy những yếu tố tiêu biểu và qua đó có thể làm sáng tỏđặc trưng của tư tưởng chính trị - pháp lý Việt Nam truyền thống
-Nhìn chung, các học thuyết tư tưởng đều là sự phản ánh thực tiễn lịch sử vàđược hình thành thông qua ý thức con người và để hướng tới phục vụ cuộc sống.Giá trị của học thuyết này hay học thuyết khác thể hiện ở sự tác động tích cực của
nó tới sự nhận thức của con người, tới các quan hệ và các mặt của đời sống xã hộihiện thực Thực tiễn đã chứng minh rằng, có học thuyết hay lý thuyết làm thay đổitích cực đời sống xã hội, có học thuyết, lý thuyết kìm hãm sự phát triển xã hội
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý cung cấp cho chúng ta trithức về sự phát triển có tính logíc nội tại trong những “mạch nguồn” của tư tưởngnhân loại; giúp chúng ta thấy được nguồn gốc, điều kiện phát sinh phát triển, đặcđiểm và đặc trưng, sự giống - khác nhau của các dòng tư tưởng trong suốt quá trìnhphát sinh, phát triển của tư tưởng nhân loại Nghiên cứu, các tư tưởng chính trị -pháp lý Trung Quốc cổ đại để thấy được tính đa dạng, phong phú và phức tạp củalịch sử tư tưởng chính trị nhân loại, từ đó có thể chắt lọc giá trị tinh hoa của những
tư tưởng ấy cho ngày hôm nay vào mục tiêu đương đại
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn do vậy em đã chọn đề tài câu: “Những
giá trị của lý thuyết chính trị Trung Quốc thời kỳ cổ đại” để làm tiểu luận kết
thúc môn để nhằm làm rõ những vấn đề này
Trang 42 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nghiên cứu đã được nhiều nhà nghiên cứu, học giả quan tâm tìm hiểuđưới những khía cạnh khác nhau cũng như đã luận giải, tiếp cận ở những nội dung
cụ thể Trong đó chúng ta có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau đây:
Đỗ Đức Minh (2014), Những đặc trưng của tư tưởng chính trị - pháp lý Trung Quốc cổ đại, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7(80) – 2014 Bài viết
phân tích tư tưởng chính trị - pháp lý của Trung Quốc cổ đại Theo tác giả TrungQuốc cổ đại là một trung tâm văn hóa lớn, có nhiều dòng tư tưởng chính trị - pháp
lý độc đáo Tư tưởng chính trị - pháp lý Trung Quốc cổ đại bị quy định bởi tính đặcthù của điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa tư tưởng; khác biệt với tư tưởng chínhtrị - pháp lý phương Tây; mang những giá trị sâu sắc, đồng thời cũng có những hạnchế nhất định
Doãn Chính (2015), Lịch sử Triết học phương Đông, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia – Sự thật Cuốn sách gồm 3 phần: phần thứ nhất trình bày lịch sử triết học
Ấn Độ; phần thứ hai trình bày lịch sử triết học Trung Quốc; phần thứ ba trình bàylịch sử triết học Việt Nam Trong mỗi phần, cuốn sách đã trình bày khái quát điềukiện hình thành, các giai đoạn phát triển của các nền triết học Trong mỗi giai đoạnphát triển của các trung tâm triết học, cuốn sách đã trình bày, phân tích khá sâu sắc
và hệ thống nội dung tư tưởng của các nhà triết học và các trào lưu triết học trêncác mặt bản thể luận, nhận thức luận và đạo đức nhân sinh cũng như những vấn đề
về chính trị - xã hội Qua đó, giúp người đọc hiểu biết một cách toàn diện, sâu sắc
và hệ thống hơn về triết học phương Đông, trong đó có tư tưởng triết học ViệtNam
Nguyễn Đăng Dung, Lê Thị Thanh Lai (2020), Lịch sử các học thuyết chính trị, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Tác phẩm đã khái quát chung về lịch
sử các học thuyết chính trị Học thuyết chính trị - Pháp luật thời kỳ cổ đại Học
Trang 5thuyết chính trị - Pháp luật ở phương Tây cổ đại Học thuyết chính trị - Pháp luật ởTây Âu vào thời kỳ xuất hiện và phát triển của chủ nghĩa phong kiến Các họcthuyết thời kỳ cách mạng tư sản Học thuyết chính trị và Pháp lý của Pháp, Đức,
Mỹ thời kỳ cách mạng tư sản cuối thế kỷ XVIII
Những công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khácnhau và đây là những công trình nghiên cứu quan trọng giúp tác giả tham khảotrong quá trình thực hiện đề tài
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận chung về Trung Quốc thời kỳ cổ đạitác giả hệ thống hóa những lý thuyết chính trị Trung Quốc thời kỳ cổ đại cũng nhưphân tích những giá trị của lý thuyết chính trị Trung Quốc thời kỳ cổ đại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về Trung Quốc thời kỳ cổ đại tác giả;
- Hệ thống hóa những lý thuyết chính trị Trung Quốc thời kỳ cổ đại;
- Phân tích những giá trị của lý thuyết chính trị Trung Quốc thời kỳ cổ đại
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: “Những giá trị của lý thuyết chính trị Trung Quốc thời kỳ cổ đại”
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trung Quốc cổ đại
- Phạm vi thời gian: trong thời kỳ Trung Quốc cổ đại
Trang 65.1 Cơ sở luận
Đề tài dựa trên cơ sở luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng
và chính sách, pháp luật của nhà nước liên quan đến những vấn đề trong đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học như duy vật biệnchứng và phương pháp duy vật lịch sử Đồng thời đề tài sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu chuyên ngành như phương pháp thống kê, phân tích - tổng hợp;phương pháp so sánh và phương pháp quy nạp-diễn dịch
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài bao gồm 3chương và 11 tiết
Trang 7NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUNG QUỐC THỜI KỲ CỔ ĐẠI
1.1 Địa lý và cư dân Trung Quốc cổ đại
Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử là một nước lớn ở Đông Á Trênlãnh thổ Trung Quốc có hai con sông lớn chảy qua, đó là Hoàng Hà (dài 5.464 km)
ở phía Bắc và Trường Giang (dài 6.300 km) ở phía Nam Hoàng Hà từ xưa thườnggây ra lũ lụt, nhưng do đó đã bồi đắp cho đất đai thêm màu mỡ, tạo điều kiện thuậnlợi cho sự phát triển nông nghiệp khi công cụ sản xuất còn tương đối thô sơ Chính
vì vậy nơi đây trở thành cái nôi của nền văn minh Trung Quốc
Khi mới thành lập nước (vào khoảng thế kỷ XXI TCN) địa bàn Trung Quốcchỉ mới là một vùng nhỏ ở trung lưu lưu vực Hoàng Hà Từ đó lãnh thổ TrungQuốc được mở rộng dần, nhưng cho đến thế kỷ III TCN, tức là đến cuối thời cổđại, phía Bắc của cương giới Trung Quốc chưa vượt quá dãy Vạn lý trường thànhngày nay, phía Tây mới đến Đông nam tỉnh Cam Túc và phía Nam chỉ bao gồmmột dải đất nằm dọc theo hữu ngạn Trường Giang mà thôi
Từ cuối thế kỷ III TCN Trung Quốc trở thành một nước phong kiến thốngnhất Từ đó nhiều triều đại của Trung Quốc đã chinh phục các nước xung quanh,
do đó có những thời kỳ cương giới của Trung Quốc được mở ra rất rộng Đến thế
kỷ XVIII, lãnh thổ Trung Quốc về cơ bản được xác định như hiện nay
Trung Quốc là một trong những nơi từ rất sớm đã có loài người cư trú Năm
1929, ở Chu Khẩu Điếm (ở Tây Nam Bắc Kinh) giới khảo cổ học Trung Quốc đãphát hiện được xương hóa thạch của một loại người vượn sống cách đây khoảng400.000 năm Những xương hóa thạch của người vượn được phát hiện sau đó trên
Trang 8lãnh thổ Trung Quốc đã cung cấp những niên đại xưa hơn, đặc biệt người vượnNguyên Mưu (Vân Nam) phát hiện năm 1977 có niên đại đến 1.700.000 năm.
Về mặt chủng tộc, cư dân ở lưu vực Hoàng Hà thuộc giống Mông Cổ, đếnthời Xuân Thu được gọi là Hoa Hạ, nói tắt là Hoa hoặc Hạ Đó là tiền thân của Hántộc sau này Còn cư dân ở phía Nam Trường Giang thì khác hẳn cư dân vùngHoàng Hà về ngôn ngữ và phong tục tập quán, tục cắt tóc, xăm mình, đi chân đất.Đến thời Xuân Thu, các tộc này cũng bị Hoa Hạ đồng hóa
Dưới thời quân chủ, ở Trung Quốc, tên nước được gọi theo tên triều đại.Đồng thời, từ thời cổ đại, người Trung Quốc cho rằng nước họ là một quốc gia vănminh ở giữa, xung quanh là các tộc lạc hậu gọi là Man, Di, Nhung, Địch, vì vậy đấtnước của họ còn được gọi là Trung Hoa hoặc Trung Quốc Tuy vậy các danh từ nàychỉ dùng để phân biệt với các vùng xung quanh chứ chưa phải là tên nước chínhthức Mãi đến năm 1912 khi triều Thanh bị lật đổ, quốc hiệu Đại Thanh bị xóa bỏ,cái tên Trung Hoa mới trở thành tên nước chính thức nhưng thông thường người taquen gọi là Trung Quốc
1.2 Lịch sử các triều đại của Trung Quốc cổ đại
Trung Quốc đã trải qua xã hội nguyên thủy Theo truyền thuyết, thời viễn cổ
ở Trung Quốc có một thủ lĩnh mà đời sau thường nhắc đến gọi là Phục Hy Đếnnửa đầu thiên kỷ III TCN, ở vùng Hoàng Hà xuất hiện một thủ lĩnh bộ lạc gọi làHoàng Đế Hoàng Đế họ Cơ, hiệu là Hiên viên, được coi là thủy tổ người TrungQuốc Đến cuối thiên kỷ III TCN, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ đều là dòngdõi của Hoàng Đế Nghiêu và Thuấn tuy chỉ là những thủ lĩnh liên minh bộ lạcnhưng đời sau cho họ là những ông vua tốt nhất trong lịch sử Trung Quốc
Tương truyền rằng, năm Nghiêu 72 tuổi, Nghiêu nhường ngôi cho Thuấn,đến khi Thuấn già, Thuấn lại nhường ngôi cho Vũ Nhưng sau khi Vũ chết con của
Trang 9Vũ là Khải được tôn lên làm vua, Trung Quốc bắt đầu bước vào xã hội có nhànước.
Thời cổ đại ở Trung Quốc có ba vương triều nối tiếp nhau là Hạ, Thương,Chu
Hạ (khoảng thế kỷ XXI đến XVI TCN) Tuy Vũ chưa xưng vương nhưngông được coi là người đặt cơ sở cho triều Hạ Thời Hạ, người Trung Quốc chỉ mớibiết đồng đỏ, chữ viết cũng chưa có Sau 4 thế kỷ, đến thời vua Kiệt, bạo chúa nổitiếng đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, triều Hạ diệt vong
Thương (còn gọi là Ân, thế kỷ XVI-XII TCN) Người thành lập nướcThương là Thang Nhân khi vua Kiệt tàn bạo, nhân dân oán ghét, Thang đem quândiệt Hạ, thời Thương, người Trung Quốc đã biết sử dụng đồng thau, chữ viết cũng
đã ra đời Đến thời vua Trụ (cũng là một bạo chúa nổi tiếng), Thương bị Chu tiêudiệt
Chu (thế kỷ XI-III TCN) Người thành lập triều Chu là Văn vương Tronghơn 8 thế kỷ tồn tại, triều Chu chia làm hai thời kỳ là Tây Chu và Đông Chu Từkhi thành lập đến năm 771 TCN, triều Chu đóng đô ở Cảo Kinh ở phía Tây nên gọi
là Tây Chu Nói chung, Tây Chu là thời kỳ xã hội Trung Quốc tương đối ổn định
Từ năm 770 TCN, vua Chu dời đô sang Lạc Ấp ở phía Đông từ đó gọi là ĐôngChu Thời Đông Chu tương đương với hai thời kỳ Xuân Thu (722-481 TCN) vàChiến Quốc (403-221 TCN) Đây là thời kỳ nhà Chu ngày càng suy yếu Trong khi
đó, giữa các nước chư hầu diễn ra cuộc nội chiến triền miên để giành quyền báchủ, tiến tới tiêu diệt lẫn nhau để thống nhất Trung Quốc, thời Xuân Thu đồ sắt bắtđầu xuất hiện, đến thời Chiến Quốc thì được sử dụng rộng rãi trong đời sống xãhội
Trang 101.3 Một số thành tựu văn minh Trung Quốc cổ đại
Đến đời Thương, chữ viết Trung Quốc mới ra đời: văn tự giáp cốt (đượckhắc trên mai rùa, xương thú - chủ yếu là xương quạt của bò) Lần đầu tiên đượcphát hiện vào năm 1899 tại di chỉ Ân Khư Đây là loại chữ tượng hình Trên cơ sởchữ tượng hình đã phát triển thành các loại chữ biểu ý và mượn âm thanh (gắn liềnvới hình vẽ có một âm tiết để biểu đạt hình vẽ) Ở di chỉ Ân Khư người ta pháthiện 10 vạn mảnh mai rùa và xương thú có khắc chữ giáp cốt (khoảng 4500 chữ,trong đó đã đọc được 1700 chữ)
Thời Tây Chu, xuất hiện chữ kim văn (chung đỉnh văn) (chữ viết trênchuông đỉnh) Do việc phân phong ruộng đất cho quý tộc có công, mỗi lần nhưvậy, vua Chu thường ra lệnh đúc đỉnh đồng và ghi chép sự việc ấy lên đỉnh ThờiTây Chu còn một loại chữ viết nữa gọi là thạch cổ văn (chữ viết trên đá) Ngoài ra,chữ viết thời Tây Chu còn được khắc trên thẻ tre Các loại chữ viết này gọi chung
là chữ “đại triện”, hay “cổ văn”
Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, do chiến tranh, đất nước chia cắt nên chữ viếtcũng không thống nhất Tần: Tần Thuỷ Hoàng giao cho Lý Tư dựa vào chữ nướcTần kết hợp với các thứ chữ của các nước khác tạo thành chữ tiểu triện Đây là cơ
sở chữ Hán sau này
Sang thời Hán, xuất hiện chữ lệ (yếu tố tượng hình ít hơn chữ triện), là giaiđoạn quá độ để phát triển thành chữ chân (tức chữ Hán ngày nay) Ai là người sángtạo ra chữ Hán? Kinh Dịch phần Hệ từ viết: “Ngày xưa thắt nút dây để ghi nhớ sựviệc, sau bậc thánh nhân mới đổi thành chữ khắc vạch” Theo truyềnthuyết, “Thương Hiệt - sử quan của Hoàng Đế, đầu rồng, 4 mắt sáng như đèn,miệng to như cái chậu, nhìn vết chân chim muông, thấy phân biệt được giống loài,liền theo đó mà tạo ra chữ viết Lúc Thương Hiệt tạo ra chữ viết, thóc lúa từ trêntrời tuôn xuống như mưa, đêm đêm quỷ khóc mưa kêu…”
Trang 11Trung Quốc có hai tác phẩm nổi tiếng là Kinh Thi và Sở Từ Kinh Thi: là tậpthơ ca đầu tiên và cũng là tác phẩm văn học sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Đó là công trình sáng tác tập thể của rất nhiều thi nhân thuộc nhiều thế hệ khácnhau, trong đó phần lớn là của nhân dân lao động Kinh Thi là tập thơ gồm nhiềubài thơ được sưu tầm, do Khổng Tử chỉnh lý (gọi là Thi) Đến thời Hán, khi Nhogiáo được đề cao, Thi được gọi là Kinh Thi (Tập Thi được đặt vào hàng kinh điểncủa Nho gia)
Kinh Thi có tất cả 305 bài, chia làm 3 phần: Phong, Nhã, Tụng Phong:(Quốc Phong), là dân ca của các nước gồm 160 bài Nhã gồm Tiểu Nhã và ĐạiNhã, gồm 105 bài Tiểu Nhã phản ánh đời sống sinh hoạt của tiểu quý tộc, Đại Nhãphản ánh đời sống sinh hoạt của đại quý tộc Tụng (40 bài), gồm Chu Tụng, LỗTụng, Thương Tụng, là những bài thơ do các quan phụ trách tế lễ và bói toán sángtác, nội dung ca tụng công đức của các triều vua
Trong 3 phần đó, Quốc Phong có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao nhất Nóthể hiện tính hiện thực, phản ánh cuộc sống giàu sang phú quý của quý tộc, đối lậpvới cuộc sống cực khổ của nhân dân lao động Kinh Thi vừa là tác phẩm văn học
có giá trị vừa là một tấm gương phản ánh tình hình xã hội Trung Quốc đương thời,ngoài ra nó còn được các nhà Nho đánh giá cao về tác dụng giáo dục tư tưởng.Khổng Tử đánh giá rất cao về Kinh Thi: “Các trò sao không học Thi? Thi có thểcảm phát tâm trí làm cho người ta phấn khởi, có thể nhận xét thấy rõ những điềuhay dở của bản thân mình, có thể biết cách sống chung với quần chúng, có thể biếtcách xử trí khi gặp cảnh oán hận Gần có thể ăn ở hết lòng hết sức với cha mẹ, xa
có thể một lòng một dạ với quân vương Còn biết thêm nhiều tên chim muông câycỏ” (Luận ngữ, thiên Dương Hoá)
Về sau Tần Thuỷ Hoàng chủ trương pháp trị đã ra lệnh đốt Kinh Thi KinhThi hiện nay còn gọi là Mao Thi (do họ Mao đứng ra chép lại) Sở Từ: là những bài
Trang 12dân ca của nước Sở và những sáng tác của Khuất Nguyên – nhà thơ, nhà yêu nướcsống ở nước Sở vào khoảng thế kỷ IV – III TCN) Đây là tập thơ khá dài gồm 5chương: Cửu ca: những bài ca tế thần và những anh hùng lịch sử đã bỏ mình vìnước, chiêu hồn: những bài thơ Khuất Nguyên miêu tả thế giới địa ngục, thiên vấn:viết dưới dạng hỏi và đáp về thiên văn, địa lý, lịch sử, thánh nhân, đạo đức, cửuchương: chín bài thơ phản ánh tâm tình bi phẫn của Khuất Nguyên trên đường điđày, ly tao: (sầu ly biệt): chương hay nhất, thể hiện tình cảm sâu kín, tình yêu quêhương đất nước của Khuất Nguyên, “Ly tao” là buồn trong chia ly Ly Tao là bàithơ trữ tình dài đầu tiên (373 câu, có 2490 chữ) trong lịch sử văn học Trung Quốc.
Có người cho là “tiền thế vị văn, hậu thế mạc kế” (đời trước không hề thấy, đời saukhông hề bì kịp)
Trang 13Chương 2 NHỮNG LÝ THUYẾT CHÍNH TRỊ CỦA TRUNG QUỐC THỜI KỲ CỔ ĐẠI 2.1 Thuyết “Chính danh” của Khổng Tử
Khổng Tử cho rằng, mỗi vật, mỗi người sinh ra điều có một địa vị, côngdụng nhất định Ứng với mỗi địa vị, công dụng đó là “danh” nhất định Vật nào,người nào trong thực tại điều có danh hợp với nó, nếu không danh sẽ không hợpvới thực, là loạn danh Chính danh là danh và thực phải phù hợp với nhau Ông chorằng, sở dĩ xã hội loạn lạc là do danh không phù hợp với thực, từ đó dẫn đến làmcho kỷ cương phép tắc đảo lộn Muốn ổn định trật tự xã hội, Khổng Tử chủ trươngphải giáo hoá đạo đức và thực hiện chủ nghĩa “Chính danh, định phận” Danh vàphận của mỗi người trước hết hết do xã hội quy định, Khổng Tử đã quy tất cả cácquan hệ xã hội thành năm mối quan hệ cơ bản (Ngũ luân) như sau:
+ Vua – Tôi: bề tôi phải lấy chữ trung làm đầu
+ Cha – Con: bề con phải lấy chữ hiếu làm đầu
+ Chồng – Vợ: vợ phải lấy tiết hạnh làm đầu
+ Anh – Em: phải lấy chữ hữu làm đầu
+ Bạn – Bè: phải lấy chữ tín làm đầu
Năm mối quan hệ này có tiêu chuẩn riêng:
+ Vua thì phải nhất
+ Tôi thì phải trung
+ Cha phải hiền từ
Trang 14+ Con phải hiếu thảo
+ Phu xướng phụ tuỳ…
Trong năm quan hệ đó Khổng Tử nhấn mạnh ba quan hệ đầu là cơ bản nhất(Tam cương) cụ thể là:
+ Vua – Tôi: vua là trụ cột
+ Cha – Con: cha là trụ cột
+ Chồng – Vợ: chồng là trụ cột
Như vậy, năm mối quan hệ đã nói rõ danh, phận, của từng người, vế sau phảiphục tùng vế trước, nếu mỗi người thực hiện đúng danh, phận đó sao cho vua ở hếtphận vua, tôi ở hết phận tôi, cha ở hết phận cha, con ở hết phận con thì có chínhdanh Theo Khổng Tử nếu không chính danh thì lời nói không thuận, lời nói khôngthuận thì việc làm không thành, việc làm không thành thì lễ nhạc không kiến lậpđược, không kiến lập lại được lễ nhạc thì hình phạt không đúng, hình phạt khôngđúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu Cho nên, người quân tử đã dùng cáidanh thì phải nói ra được, nói rồi tất phải làm được, vì thế người quân tử phải thậntrọng với lời nói của mình Nếu danh không chính, nói và làm không đúng theochức phận của mình, “trên” không nghiêm “dưới” loạn, vua không ra vua, tôichẳng ra tôi, cha không ra cha, chồng không ra chồng, vợ không ra vợ
Khổng Tử chó rằng, xã hội loạn là do nguồn gốc từ trên Do vậy, ông rất đềcao tính tự giác của mỗi cá nhân trong việc giữ lấy cái danh phận của mình, bởi vìnếu mỗi người tự chính được bản thân mình thì không cần hạ lệnh mọi việc sẽđược tiến hành, nếu ngược lại dù có hạ lệnh cũng chẳng ai theo Khi Tử Lộ hỏi vềviệc chính trị, Khổng Tử nói, muốn trị nước, trước tiên ắc phải sửa cho chính danh,
vì nếu việc chính sự là ngay thẳng, cứ làm gương về sự ngay thẳng thì không aikhông dám ngay thẳng nữa Vậy chính danh là gì?
Trang 15Khổng Tử giải thích như sau: chính danh là làm cho mọi việc ngay thẳng.Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận chính đáng của người ấy, trên – dưới,vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, trật tự phân minh, vua lấy nghĩa mà khiến tôi, tôilấy trung mà thờ vua Cụ thể là vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, chồng cho ra chồng,
vợ cho ra vợ, con cho ra con Nói một cách khái quát là ai ở vị trí nào cũng phảilàm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình ở các cương vị đó theo thang bậc Nhưvậy, theo Khổng Tử chính danh là điểm mấu chốt để đưa xã hội trở nên trật tự, nềnnếp Nhưng để có chính danh, mỗi người phải thực hiện đúng danh phận của mìnhkhông lạm quyền Một xã hội có chính danh là một xã hội có trật tự kỷ cương, tháibình, thịnh trị
2.2 Thuyết “Kiêm ái” của Mặc Tử
Tư tưởng của học thuyết “Kiêm ái” của Mặc Tử là phản ánh nguyện vọng củatầng lớp dân tự do, sản xuất nhỏ, tiểu tư hữu tài sản đó Cụ thể bao gồm các nộidung chính sau đây:
Kiêm ái đem đến cái lợi cho thiên hạ, giúp nước được trị Vì khi đó mọingười xem người khác như mình; xem nhà người khác như nhà mình; xem nướcngười khác như nước mình; nếu yêu thương nhau như thế thì không còn nhữngđiều loạn Kiêm ái dấy lên điều lợi cho thiên hạ: mọi người lắng nghe và quan tâmlẫn nhau, “lấy cái tai tinh, lấy mắt sáng mà trông nghe cho nhau, lấy cái chân taykhỏe mạnh mà giúp đỡ nhau, kẻ không có vợ con có chỗ dưỡng nuôi cho trọn tuổigià, kẻ nhỏ yếu mồ côi không cha mẹ có chỗ nương tựa đến lúc lớn khôn” (Kiêm
Ái Trung)
Ngược lại, nếu không kiêm ái thì cái họa loạn xảy đến cho thiên hạ Vì mọingười chỉ làm lợi cho mình mà làm hại cho người Trong các tương quan cha con,anh em, vua tôi, giặc cướp…, nếu không yêu nhau thì sẽ gây ra bất hòa, tranhdành, cướp bóc, bất trung, bất hiếu, dọa nạt kẻ yếu, lừa lọc (Thiên Chí Trung) Cái