Lời khẳng định của Người không chỉ thôi thúc toàn dân toàn nước đứng lên vùng dậy đấu tranh chống thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai của chúng giành lại độc lập cho dân tộc mà bên cạnh đ
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG – AN NINH
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG – AN NINH 2
Đề tài: Sinh viên với trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo
quốc gia
Lớp:
Tiểu đội: 1
Trang 2Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm
và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó” Lời khẳng định của Người không chỉ thôi thúc toàn dân toàn nước đứng lên vùng dậy đấu tranh chống thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai của chúng giành lại độc lập cho dân tộc mà bên cạnh đó Người còn đặt ra trách nhiệm quan trọng cho các thế hệ Việt Nam phải biết chăm lo phát huy lợi thế và bảo vệ vững chắc vùng trời, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc Vì vậy, trong suốt tiến trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung, lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay nói riêng, Đảng ta luôn quan tâm đến việc phát huy lợi thế của đất nước về biển, kết hợp với phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, coi đó là một trong những động lực cơ bản cho sự phát triển bền vững của đất nước Tuy nhiên hiện nay, chủ quyền quốc gia trên biển của nước ta đang trong tình trạng bị đe doạ nghiêm trọng, quần đảo Hoàng Sa và một phần của quần đảo Trường Sa hiện nay đang bị Trung Quốc chiếm giữ, các vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa nước ta đang bị uy hiếp và xâm phạm thường xuyên Vì lẽ đó toàn Đảng toàn dân phải nâng cao ý thức, hiểu
biết đúng đắn về vấn đề và phải có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam trên mọi mặt trận Đặc biệt là thế hệ trẻ, sinh viên Việt Nam luôn phải trang
bị kiến thức đầy đủ và mở rộng tư duy, phải có trách nhiệm đấu tranh, bảo vệ chủ quyền biển đảo trong thời đại ngày nay
Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của Đông Nam
Á, Đường bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, từ tỉnh Quảng Ninh đến Kiên Giang, với các vùng biển và thềm lục địa, trung bình cứ 100km đất liền thì có 1km bờ biển Việt Nam có vùng biển nối liền tuyến giao thông vận tải đường biển quan trọng giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, đặc biệt biển Đông Việt Nam là tuyến vận tải dầu và container từ các nước khác tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, những nước đang tiêu thụ khối lượng năng lượng khổng lồ Có thể nói, vùng biển Việt Nam, đặc biệt là biển Đông đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế cũng như quốc phòng – an ninh của nước ta
Trước khi bàn về trách nhiệm của sinh viên đối với biển đảo Việt Nam, ta cần khái quát đôi điều về biển Việt Nam Có 2 điều ta cần nắm rõ về biển Việt Nam là địa lí – kinh tế và chính trị, quốc phòng – an ninh Đầu tiên, ta hãy nói về mặt địa
lí – kinh tế Biển Việt Nam đặc biệt là biển Đông, là một trong những khu vực có tầm quan trọng chiến lược đối với các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương, châu Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới Và được coi là con đường huyết
Trang 3mạch chiến lược để giao thông thương mại và vận chuyển quân sự quốc tế Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương-Ấn Độ Dương, châu Âu–châu Á,Trung Đông–châu Á Biển Việt Nam là điều kiện thuận lợi để ngành giao thông vận tại biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam với các nước khác trong khu vực và trên thế giới
Vùng biển Việt Nam có khoảng 20 hệ sinh thái điển hình, phân bố trên 1 triệu km2 diện tích ở Biển Đông, với 155.000 ha rừng ngập mặn, khoảng 1.300 km2 rạn san hô, gần 500 km2 đầm phá và khoảng 16.000 ha cỏ biển, nhiều khu vực bãi triều và cửa sông, với chừng 11.000 loài sinh vật cư trú, trong đó có xấp xỉ 6.000 loài động vật đáy; 2.038 loài cá (có hơn 100 loài cá kinh tế); 653 loài rong biển;
657 loài động vật phù du; 537 loài thực vật phù du; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 12 loài thú biển; 5 loài rùa biển và
43 loài chim nước Ngoài ra cần phải kể đến trên 100 địa điểm có thể xây dựng cảng, trong đó có những cảng trung chuyển quốc tế Nhiều đảo đủ điều kiện xây dựng khu hậu cần cho đánh bắt khơi xa Hơn 125 bãi biển lớn nhỏ có cảnh quan đẹp, 20 bãi biển đủ tiêu chuẩn quốc tế để phát triển các loại hình du lịch biển Trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng mở, bước đầu nước ta đã hình thành được 15 khu kinh tế ven biển, là các trung tâm phát triển kinh tế hướng biển Biển Việt Nam còn mang giá trị vô cùng to lớn về kinh tế, đây là những khu vực phát triển tổng hợp các ngành, nghề biển như hậu cần nghề cá, khai thác thủy hải sản, công nghiệp gắn với cảng biển và vận tải biển, đóng tàu, khai thác dầu
mỏ, du lịch biển và hải đảo, dịch vụ đường biển, đô thị hóa và nghiên cứu khoa học
về biển Ngoài ra, nó vẫn còn là một tiềm năng kinh tế lớn mà vẫn chưa được nước
ta khai thác sâu
Sau khi nắm rõ được vị trí địa lí cũng như những lợi ích kinh tế của biển, đảo Việt Nam đem lại, chúng ta cùng nhau khái quát đôi điều về biển, đảo Việt Nam ở khía cạnh chính trị, quốc phòng – an ninh Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận cấu thành chủ quyền quốc gia, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đây cũng là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước, tạo khoảng không gian cần thiết giúp kiểm soát việc tiếp cận lãnh thổ trên đất liền Có thể ví von các hòn đảo của ta là “ những pháo đài nổi “. Các đảo của vùng biển Việt Nam phân bố không đều, nằm rải rác từ gần bờ đến xa bờ Hệ thống đảo hình
Trang 4thành vòng cung rộng lớn chạy suốt từ Vịnh Bắc Bộ đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, quần đảo phía Nam và Tây Nam của đất nước
Tổng diện tích các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam vào khoảng 1.636,6 km2, trong đó có khoảng 82 đảo có diện tích lớn hơn 1km2, chiếm 92% tổng diện tích các đảo; 23 đảo có diện tích trên 10km2 và 3 đảo có diện tích trên 100km2 Có thể phân hệ thống đảo, quần đảo thành 3 tuyến: tuyến xa bờ, tuyến giữa và tuyến ven
bờ Vùng biển nước ta còn là tuyến giao thông huyết mạch ở Đông Nam Á, nối giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nối liền Đông Á với Đông Nam Á và từ
đó với các con đường đi từ Châu Phi, Châu Âu Hiện nay tất cả các con đường hàng không và hàng hải chủ yếu giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương đều qua biển Đông Vì vậy vùng biển và hải đảo Việt Nam có vị trí quân sự hết sức quan trọng và vị trí chiến lược hết sức to lớn
Vùng biển của quốc gia ven biển được quy định bởi Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển được các nước kí kết vào năm 1982 (gọi là Công ước 1982), phê chuẩn vào ngày 16-11-1994 và từ đó bắt đầu có hiệu lực pháp luật quốc tế Việt Nam phê chuẩn Công ước 1982 vào năm 1994 Theo Công ước về Luật Biển năm 1982 thì một quốc gia ven biển sẽ có 5 vùng biển là: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
Nội thủy: là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở và giáp với bờ biển.
Đường cơ sở là do quốc gia ven biển vạch ra Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đường cơ sở của Việt Nam là đường gãy khúc nối liền 11 điểm, từ điểm A1 (Hòn Nhạn, quần đảo Thổ Chu, tỉnh Kiên Giang) đến điểm A11 (đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị) Vùng nội thủy được xem như bộ phận lãnh thổ trên đất liền, có chế độ pháp lí của đất liền, nghĩa
là được đặt dưới chủ quyển toàn vẹn, đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia ven biển Tàu thuyền nước ngoài muốn vào ra vùng nội thủy phải xin phép nước ven biển và phải tuân theo luật lệ của nước đó Nước ven biển có quyền không cho phép tàu thuyền nước ngoài vào vùng nội thủy của mình Trong vùng nội thủy, quốc gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giống như trên đất liền Mọi luật lệ do quốc gia ven biển ban hành đều được áp dụng cho vùng nội thủy mà không có một ngoại lệ nào
Lãnh hải: là lãnh thổ biển, nằm ở phía ngoài nội thủy Ranh giới ngoài của lãnh
hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển Công ước quốc tế về Luật Biển
1982 quy định chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lí tính từ đường cơ sở Chính phủ
Trang 5nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng tuyên bố: “Lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lí, tính từ đường cơ sở”
Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh
hải Công ước quốc tế về Luật Biển nêu rõ: “Vùng tiếp giáp lãnh hải không thể mở rộng quá 24 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”, nghĩa là chiều rộng của vùng tiếp giáp lãnh hải không vượt quá 12 hải lí tính từ đường ranh giới ngoài của lãnh hải Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là vùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng là 12 hải lí, hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam”
Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh
hải thành một vùng biển, có chiều rộng không vượt quá 200 hải lí tình từ đường cơ
sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: “Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lí kể từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam” Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng đặc thù, trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Công ước
về Luật Biển 1982 quy định
Thềm lục địa: là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh
hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền cho đến
bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải là 200 hải lí, khi bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục địa kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lí tính
từ đường cơ sở thì quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa với một khoảng cách không vượt quá 350 hải lí tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lí Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: “Thềm lục địa của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường
cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lí thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lí kể từ đường cơ sở
Trang 6Sau khi tìm hiểu đôi điều về địa lí – kinh tế cũng như quốc phòng – an ninh, sau đây ta cùng đi đến một vấn đề khác Đó là tình hình biển đảo Việt Nam hiện nay Gần đây, vấn đề chủ quyền biển, đảo Việt Nam là một vấn đang được bàn luận khá
là sôi nổi
Năm 2010 đến nay có thể nói là biển Đông đã không ngừng dậy số khi những tranh chấp trên biển Đông chưa được giải quyết ổn thỏa Trung Quốc không ngừng đòi hỏi những điều kiện vô lý về chủ quyền và thực hiện quân sự hóa trái phép Bản chất vấn đề Biển Đông được mở rộng hơn, trở thành tâm điểm tập hợp lực lượng và cạnh tranh giữa các nước lớn Các nước ngoài khu vực, đặc biệt là Mỹ, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a bắt đầu can dự vấn đề Biển Đông nhân danh an ninh, an toàn hàng hải, hàng không và bằng nhiều biện pháp khác nhau, chủ yếu là thông qua các biện pháp ngoại giao đa phương và trên thực địa; khía cạnh an ninh được
mở rộng cả ở trên biển và trên không Đặc biệt đối với Việt Nam Trung Quốc đã có những hành động gây sức ép lớn như trong 3 tháng đầu năm 2010 Trung quốc đã bắt giữ 30 tàu cá cùng với 200 ngư dân của Việt Nam và không dừng lại ở đó vào 2 tháng 5 năm 2014 Trung Quốc đã đặt giàn khoan Hải Dương 981 được Trung Quốc đưa đến khu vực biển cách Đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa 17 hải lý về phía Nam
Trước sự việc đó Việt Nam đã có những động thái cụ thể để phản đối Ngày 11 tháng 5 năm 2014, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 24 ở Myanmar thủ tướng Việt Nam đã tố cáo Trung Quốc về việc đưa giàn khoan Hải Dương 981 cùng hơn 80 tàu hộ tống đi vào vùng biển của Việt Nam và kêu gọi sự ủng hộ của Quốc tế
Trung Quốc ngang ngược tuyên bố chủ quyền ở biển Đông với “đường lưỡi bò”, với việc tô đậm "đường 10 đoạn" lấn sát các bờ biển của Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei, đồng thời nuốt gần trọn biển Đông - kể cả 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam và bãi cạn Scarborough của Philippines Trước tình hình chủ quyền biển đảo căng thẳng như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp cứng rắn nhưng cũng không kém phần mềm dẻo Để có thể đưa ra những chính sách cũng như biện pháp hợp lí như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã dựa trên những quan điểm đúng đắn về chủ quyền Một trong những quan điểm đó là:
Xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủa nghĩa.
Lãnh thổ và biên giới quốc gia là sự khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam, bao gồm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong phạm vi lãnh thổ, gồm cả vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của nước Cộng
Trang 7hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Và là yếu tố cơ bản bảo đảm cho sự ổn định, bền chắc của đất nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia không được xây dựng và bảo vệ tốt, bị xâm phạm
Quan điểm tiếp theo mà Đảng và Nhà nước dựa vào để đưa ra những quyết định
cũng như những chính sách khéo léo như thế là: Chủ quyền lãnh thổ, biên giới
quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Lãnh thổ quốc gia Việt Nam là nơi sinh
ra và lưu giữ, phát triển con người và những giá trị của dân tộc Việt Nam, là kết quả đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử Từ thuở Hùng Vương dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh, đứng trước những kẻ thù to lớn và hung bạo, dân tộc Việt Nam luôn có ý thức và quyết tâm bảo vệ Được sự chứng kiến và công nhận của luật pháp quốc tế, thông qua luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc xác định rõ ràng biên giới lãnh hải quốc gia Hay trong Điều 1 của Luật Biên giới quốc gia năm 2003 xác định: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Một trong những quan điểm mà Đảng và Nhà nước ta đã tin tưởng sử dụng trong ngoại giao từ trước tới nay cũng đã được sử dụng trong việc giải quyết vấn
đề chủ quyền biển, đảo này Quan điểm đó là: Xây dụng biên giới hòa bình, hữu
nghị, ổn địng; giải quyết các vấn đề tranh chấp thông qua đàm phán hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau Quan
điểm này phù hợp với lợi ích và luật pháp của Việt Nam, phù hợp với công ước và luật pháp quốc tế, cũng như lợi ích của các quốc gia có liên quan Đảng và Nhà nước
ta coi việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của đất nước Luôn nhất quán thực hiện quan điểm giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau
Song hành với việc phát triển kinh tế đất nước thì việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia cũng không kém phần quan trọng Quan điểm
cuối cùng của Đảng và Nhà nước cũng dựa trên điều này: xây dựng và bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí thông nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang là nòng cốt.
Trang 8Xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới là nhiệm vụ của Nhà nước và của toàn dân, trước hết là của chính quyền, nhân dân khu vực biên giới và các lực lượng vũ trang nhân dân Bộ đội biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, phối hợp với lực lượng Công an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới theo quy định của pháp luật Những năm qua, trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, quân và dân ta triển khai tích cực các hoạt động bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển Chúng
ta đã “Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp, bảo vệ được chủ quyền biển, đảo, vùng trời và giữ được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước Từ đó đề ra chủ trương chính sách phù hợp với quốc gia
Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại
về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982), phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc
tế Để xây dựng nước Việt Nam thực sự trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu
từ biển; đồng thời tiếp tục nâng cao vị trí, tầm quan trọng của công tác đảm bảo an ninh biển, đảo, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh một số quan điểm, chủ trương trong quản lý, đấu tranh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới cần được quán triệt sâu sắc, như sau:
Thực hiện quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc” Xác định sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sức mạnh tổng hợp quốc gia, của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của
Trang 9lực lượng, thế trận an ninh nhân dân, trong đó, sức mạnh quốc phòng, an ninh giữ vai trò đặc biệt quan trọng
Không ngừng củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” trên biển đảo, xây dựng vững mạnh các lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo từng ngày càng phát triển hơn Trên cơ sở nền quốc phòng toàn dân và thế trận
an ninh nhân dân, lấy khu vực phòng thủ ven biển làm chỗ dựa, lực lượng Hải quân làm nòng cốt; kết hợp sức mạnh của mọi ngành, mọi lực lượng hướng biển, vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh với tinh thần tự lực là chính để quản lý, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên các vùng biển; sẵn sàng ngăn chặn, đẩy lùi, đánh thắng các hành động xâm lấn của bất kỳ thế lực nào để bảo vệ biển, đảo Trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển” Dân sự hóa các vùng biển, đảo vừa là cơ sở để chúng ta khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên trên biển, vừa
là tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược quốc phòng - an ninh trên biển Đảng ta đã khẳng định trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020: “Thực hiện quá trình dân sự hóa trên biển, đảo gắn với tổ chức dân cư, tổ chức sản xuất và khai thác biển Có chính sách đặc biệt để khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra định cư ổn định và làm ăn dài ngày trên biển; thí điểm xây dựng các khu quốc phòng - kinh tế tại các đảo, quần đảo Trường Sa, vùng biển, đảo của Tổ quốc” Đây là một chủ trương chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước Chủ trương này
đã và đang được hiện thực hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển đi đôi với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam trên biển
Cùng với quá trình dân sự hóa ở các vùng biển, đảo, việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và duy trì lợi ích quốc gia trên biển giai đoạn hiện nay cần kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh Việc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực ven biển, trên biển và các đảo phải tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong kế hoạch tổng thể của khu vực phòng thủ địa phương, phải mang tính hệ thống, bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa biển, đảo với đất liền; kết hợp chặt chẽ giữa thế trận “tĩnh” của đảo và bờ với thế “động” của lực lượng tác chiến cơ động trên biển tạo nên thế trận liên hoàn, vững chắc Về vấn đề
Trang 10tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, quan điểm nhất quán của Việt Nam là: Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với vùng biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Việt Nam
có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí về vấn đề này Tuy nhiên, vì lợi ích an ninh chung của các bên hữu quan, Việt Nam sẵn sàng đàm phán hoà bình để giải quyết, trước mắt là đạt tới sự thoả thuận về “Bộ quy tắc ứng xử” trong khi tiếp tục tìm kiếm giải pháp lâu dài cho vấn đề Biển Đông
Bên cạnh đó, cần xây dựng một lực lượng kiểm ngư đủ mạnh để bảo vệ việc khai thác, đánh bắt hải sản của ngư dân trên biển, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cứu
hộ, cứu nạn trên biển; đồng thời kiểm tra, giám sát, phát hiện, ngăn chặn các hành động khai thác hải sản trái phép của nước ngoài trên vùng biển của Việt Nam Các địa phương ven biển, huyện đảo phải có lực lượng dân quân tự vệ vừa tham gia sản xuất, khai thác hải sản, vừa làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự trên biển, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành động xâm phạm lợi ích, chủ quyền quốc gia
Xây dựng hệ thống chính trị ở các huyện đảo vững mạnh là một giải pháp quan trọng để củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trên biển đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc hiện nay Quy trình thực hiện là phải hoàn thiện hệ thống chính trị với các thiết chế đầy đủ, cơ cấu hợp lý và cơ chế hoạt động hiệu quả, phù hợp với điều kiện hoạt động đặc thù trên các địa bàn biển, đảo Trong đó phát huy vai trò và chức năng hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là tổ chức đảng; thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với các huyện đảo xa
bờ và các địa bàn trọng điểm, chiến lược; coi trọng giải quyết tốt mối quan hệ và
sự phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở mỗi huyện đảo
và giữa các huyện đảo với nhau, tạo ra thế trận liên hoàn trên biển để có thể nhanh chóng tập hợp và sử dụng hiệu quả sức mạnh của các lực lượng tại chỗ phục vụ cho quốc phòng- an ninh trên biển
Đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo cần có sự kết hợp sức mạnh trên các mặt trận: Kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, sự đồng tình, đồng thuận, đại đoàn kết toàn dân tộc và sử ủng hộ quốc tế Kết hợp các biện pháp ngoại giao, pháp lý, thông tin, truyền thông hiệu quả Chú trọng toàn cơ quan, đội ngũ, cán bộ làm công tác thực thi pháp luật trên biển, phát huy vai trò các biện pháp công tác của lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất, khai thác tài nguyên biển