1 TR¯àNG Đ¾I HàC NGO¾I TH¯¡NG KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRÞ TIÂU LUẬN MÔN KINH T¾ CHÍNH TRÞ MÁC LÊNIN LÝ LUẬN VÀ TIÀN L¯¡NG TRONG CHþ NGH)A T¯ BÀN VÀ CHÍNH SÁCH TIÀN L¯¡NG Ở VIàT NAM Sinh viên thực hián Nguyßn Thß Xuân Lßp TRI115EJIB Mã sinh viên 2114520107 Số báo danh 82 GiÁng viên giÁng d¿y TS Vũ Thß Qu¿ Anh Hà Nßi, tháng 6 năm 2022 lOMoARcPSD|14734974 1 MỤC LỤC MỤC LỤC 1 LàI MỞ ĐÀU 2 NÞI DUNG 3 I LÝ LUẬN VÀ TIÀN L¯¡NG T.
Trang 1T R¯àNG Đ¾I HàC NGO¾I TH¯¡NG KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRÞ
………
TIÂU LUẬN MÔN KINH T¾ CHÍNH TRÞ MÁC-LÊNIN
LÝ LUẬN VÀ TIÀN L¯¡NG TRONG CHþ NGH)A T¯ BÀN
VÀ CHÍNH SÁCH TIÀN L¯¡NG Ở VIàT NAM
Sinh viên thực hián : Nguyßn Thß Xuân Lßp : TRI115EJIB
Mã sinh viên : 2114520107
Số báo danh : 82 GiÁng viên giÁng d¿y: TS Vũ Thß Qu¿ Anh
Hà Nßi, tháng 6 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC MỤC LỤC&&&&&&&&&&&&&&.&&&&&&&&&&.&&.1 LàI MỞ ĐÀU&&&&&&&&&&&&&&&& &&&&.&&&&.2 NÞI DUNG.&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&.&&&&&&3
I LÝ LUẬN VÀ TIÀN L¯¡NG TRONG CHþ NGH)A T¯ BÀN &&&3
1 Bản chất tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản……….……….3
2 Các chức năng cơ bản của tiền lương……… 4
3 Các hình thức cơ bản của tiền lương ……… ………5
4 Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế……….……… ……6
II CHÍNH SÁCH TIÀN L¯¡NG Ở VIàT NAM&&&&&&&&&& 6
1 Tổng quan……… ………….………6
2 Hạn chế ……… ……… 7
3 Một số kiến nghị……….8
III K ¾T LUẬN&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&& &.11
IV TÀI LIàU THAM KHÀO&&&&&&&&&&&&&&&&&&.12
Trang 3LàI MỞ ĐÀU
Theo C.Mác, lý luận về tiền lương đã tiếp tục phát triển lý luận về tiền
lương của các nhà kinh tế cổ điển trước đó, đồng thßi vạch rõ bản chất của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản đã bị che đậy – tiền lương là giá cả của lao động, bác bỏ quan niệm của các nhà kinh tế tư bản trước đó (Ricardo)
à nước ta, mặc dù chính sách tiền lương đã được cải cách, nhiều vấn đề cốt lõi vẫn chưa được giải quyết một cách thoả đáng Cho đến nay, tuy thu nhập của ngưßi hưáng lương tăng, mức sống và tiêu dùng tăng, nhưng về cơ bản không do chính sách tiền lương đem lại mà do tăng thu nhập ngoài lương, nhß tăng trưáng kinh tế (tiền lương Nhà nước trả chỉ chiếm một phần ba, thu nhập khác chiếm tới hai phần ba)
Việc hiểu và vận dụng đúng những nguyên lý về tiền lương của Mác trong điều kiện nền kinh tế thị trưßng á nước ta hiện nay mang ý nghĩa rất lớn Cải cách chính sách tiền lương sẽ ảnh hưáng như thế nào đến lợi ích của ngưßi lao động? Nên tiến hành cải cách như thế nào để đảm bảo được lợi ích ngưßi lao động, đến lợi ích của toàn quốc gia? Đây là vấn đề đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo ngưßi lao động và chuyên gia nghiên cứu Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn nêu trên, em quyết định chọn đề tài <Lý luận về tiền lương trong chủ nghĩa tư bản và chính sách tiền lương á Việt Nam=
Để hoàn thành được tiểu luận này, em xin gửi lßi cảm ơn đến cô Vũ Thị Quế Anh đã giảng dạy và hướng dẫn em trong học phần <Kinh tế chính trị= này
ạ
Trang 4NÞI DUNG
I LÝ LUẬN VÀ TIÀN L¯¡NG TRONG CHþ NGH)A T¯ BÀN
1 BÁn ch¿t tiÁn l°¢ng d°ßi chÿ ngh*a t° bÁn
Công nhân làm việc cho nhà tư bản một thßi gian nào đó thì nhận được số tiền trả công nhất định hay còn gọi là tiền lương Số lượng tiền lương nhiều hay
ít được xác định theo thßi gian lao động hoặc lượng sản phẩm sản xuất ra Hiện tượng đó làm cho ngưßi ta lầm tưáng rằng, tiền lương là giá cả của lao động
Sự thật, tiền lương không phải là giá trị hay giá cả của lao động Vì lao động không phải là hàng hoá và không thể là đối tượng mua bán Cái mà công nhân bán và nhà tư bản mua chính là sức lao động Do đó, tiền lương mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động Sá dĩ biểu hiện bề ngoài của tiền lương như là giá trị hay giá cả của lao động, đã làm che dấu bản chất của nó
là do những nguyên nhân sau:
Một là, việc mua bán sức lao động là mua bán chịu Đặc điểm của hàng hoá sức lao động không bao gißi tách khỏi ngưßi bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho ngưßi mua, tức là lao động cho nhà tư bản
Hai là, đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện
để có tiền sinh sống, do đó, bản thân công nhân cũng tưáng rằng mình bán lao động Còn đối với nhà tư bản việc bỏ tiền ra để có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái mà họ mua là lao động
Ba là, do cách thức trả lương Số lượng của tiền lương phụ thuộc vào thßi gian lao động hoặc sản phẩm, điều đó khiến ngưßi ta lầm tưáng rằng tiền lương
là giá cả lao động
Tiền lương che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thßi gian lao động tất yếu và thßi gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động không được trả công, do đó tiền lương che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản
Trang 52 Các chức năng c¢ bÁn cÿa tiÁn l°¢ng
a Chức năng thước đo giá trị
Như trên đã nêu, tiền lương là sự thể hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, được biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của sức lao động Nói cách khác, giá trị của việc làm được phản ánh thông qua tiền lương, việc làm có giá trị càng cao thì mức lương càng lớn
b Duy trì và phát triển sức lao động
Tiền lương là biểu hiện giá trị sức lao động, đó là giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của ngưßi có sức lao động Ngoài ra, để duy trì và phát triển sức lao động thì ngưßi lao động còn phải sinh và nuôi dưỡng con (như sức lao động tiềm tàng), cho nên những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất ra sức lao động phải gồm có cả những tư liệu sinh hoạt cho con cái học Theo họ, chức năng cơ bản của tiền lương còn là nhằm duy trì và phát triển được sức lao động
c Kích thích lao động và phát triển nguồn nhân lực
Các mức tiền lương là các đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hướng
sự quan tâm và động cơ trong lao động của ngưßi lao động Khi độ lớn của tiền lương phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất của công ty nói chung và cá nhân ngưßi lao động nói riêng thì họ sẽ quan tâm đến việc không ngừng nâng cao năng suất
và chất lượng công việc
d Thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển
Khác với thị trưßng hàng hoá bình thưßng, cầu về lao động không phải là cầu cho bản thân nó, mà là cầu phụ thuộc vào khả năng tiêu thụ của sản phẩm do lao động tạo ra và mức giá cả của hàng hoá này Tổng mức tiền lương quyết định tổng cầu về hàng hoá và dịch vụ cần thiết phải sản xuất cũng như giá cả của nó
Do vậy, tiền lương phải dựa trên cơ sá tăng năng suất lao động dẫn đến sự tái phân bố lao động Theo quy luật thị trưßng, lao động sẽ tái phân bố vào các khu vực có năng suất cao hơn để nhận được các mức lương cao hơn
Trang 6e Chức năng xã hội của tiền lương
Thực tế cho thấy, việc duy trì các mức tiền lương cao và tăng không ngừng chỉ được thực hiện trên cơ sá hài hoà các mối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp Việc gắn tiền lương với hiệu quả của ngưßi lao động và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lần nhau, nâng cao hiệu quả cạnh tranh của công ty Bên cạnh đó, tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của con ngưßi và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân chủ và văn minh
3 Các hình thức c¢ bÁn cÿa tiÁn l°¢ng
Tiền lương có hai hình thức cơ bản là: tiền lương tính theo thßi gian và tiền lương tính theo sản phẩm
a Tiền lương tính theo thời gian
Tiền lương tính theo thßi gian là hình thức tiền lương mà số lượng của nó phụ thuộc vào thßi gian lao động của công nhân (gißi, ngày, tuần, tháng) Thực hiện chế độ tiền lương theo thßi gian, nhà tư bản có thể không thay đổi lương ngày, lương tuần, mà vẫn hạ thấp được giá cả lao dộng do kéo dài ngày lao động hoặc tăng cưßng độ lao động Trả lương kéo dài thßi gian còn có lợi cho nhà tư bản khi tình hình thị trưßng thuận lợi, hàng hoá tiêu thụ dễ dàng, thực hiện lối làm việc thêm giß, tức là làm việc ngoài số gißi quy định của ngày lao động
b Tiền lương tính theo sản phẩm
Tiền lương tính theo sản phẩm là hình thức tiền lương mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc số lượng công việc đã hoàn thành trong một thßi gian nhất định Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định Do đó, về thực chất, đơn giá tiền lương là tiền lương trả cho một thßi gian cần thiết nhất định để sản xuất một sản phẩm Vì thế, tiền lương tính theo sản phẩm chỉ là hình thức chuyển hoá của tiền lương tính theo thßi gian
Hình thức tiền lương theo sản phẩm càng che giấu và xuyên tạc bản chất của tiền lương hơn so với hình thức tiền lương tính theo thßi gian Vì vậy, chế độ
Trang 7tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản thưßng dẫn đến tình trạng lao động khẩn trương quá mức, làm kiệt sức ngưßi lao động Hiện nay, hình thức tiền lương tính theo thßi gian ngày càng được sử dụng rộng rãi
4 TiÁn l°¢ng danh ngh*a và tiÁn l°¢ng thực t¿
a Tiền lương danh nghĩa
Tiền lương danh nghĩa là tổng số tiền mà ngưßi công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản Nó là giá cả sức lao động Nó tăng giảm theo sự biến động trong quan hệ cung – cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trưßng Đối với ngưßi công nhân, điều quan trọng không chỉ á tổng số tiền nhận được dưới hình thức tiền lương mà còn á chỗ có thể mua được gì bằng tiền lương đó, điều đó phụ thuộc vào giá cả vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ
b Tiền lương thực tế
Tiền lương thực tế là số lượng hàng hoá và dịch vụ mà công nhân có thể thu được bằng tiền lương danh nghĩa Rõ ràng, nếu điều kiện khác không thay đổi, tiền lương thực tế phụ thuộc theo tỷ lệ thuận vào đại lượng tiền lương danh nghĩa và phụ thuộc theo tỷ lệ nghịch với mức giá cả vật phẩm tiêu dùng và dịch
vụ
II CHÍNH SÁCH TIÀN L¯¡NG Ở VIàT NAM
1 Tổng quan
Chính sách tiền lương đang được thực hiện là kết quả của đợt cải cách tiền lương từ năm 1993 Đây là một cuộc cải cách rất căn bản không những về lương mà còn là một đợt sắp xếp lại hệ thống phân phối tiền lương từ ngân sách nhà nước, nhằm mục tiêu xoá bỏ triệt để tình trạng bao cấp, khắc phục tính bình quân trong phân phối, sắp xếp lại hệ thống thang bảng lương và tạo bước ngoặt
về nhận thức quan điểm - coi tiền lương là giá cả sức lao động, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trưßng và từng bước xây dựng thể chế kinh tế thị trưßng
Trang 8Sau hơn 10 năm áp dụng chính sách lương mới, chúng ta thấy có nhiều
ưu điểm và tiến bộ so với hệ thống tiền lương trong thßi kỳ bao cấp Tuy vậy, cuộc sống luôn luôn biến động, trong khi tiền lương lại chủ yếu nằm trong trạng thái tĩnh, ít có thay đổi trong cả hệ thống thang bảng lương, cho nên nó đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế
2 H¿n ch¿
Tiền lương thực tế vẫn chưa làm được chức năng tái sản xuất sức lao động Mức lương của nhiều chức danh thậm chí không thể trả chi phí sinh hoạt (
mà đã được tiền tệ hoá vào lương) Mức lương tối thiểu còn quá thấp, mặc dù đã
có điều chỉnh, nhưng mới bù lại phần nào giá trị thực tế của tiền lương bị giảm đi
do lạm phát Mỗi lần điều chỉnh tiền lương tối thiểu đều phải bàn cãi, đấu tranh, giằng co giữa đòi hỏi tất yếu, bức bách từ cuộc sống với hạn chế của tài chính ngân sách Nếu muốn tăng lương thì phải giảm biên chế, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, biên chế tiếp tục tăng thêm Ngay trong đợt sắp xếp lại biên chế để thực hiện giảm biên đồng loạt 15%, thì biên chế cũng đã tăng lên 2,5%
Hệ thống thang bảng lương chưa thực sự khuyến khích ngưßi lao động phấn đấu về mặt chuyên môn, vô hình trung khuyến khích cán bộ, công chức chạy đua theo chức vụ Chẳng hạn, các kỳ lên lương vẫn nặng về thßi gian, thâm niên công tác, <đến hẹn lại lên=, không có chính sách lên lương vượt cấp, trước niên hạn (trừ một số cấp bậc của cán bộ cao cấp do bầu cử hoặc đề bạt) cho dù thành tích đạt được về mặt chuyên môn đến mức độ nào Thi nâng bậc còn mang tính hình thức, kết quả thi chưa thực sự gắn với chuyên môn công tác cụ thể, đối tượng <quá độ= còn nhiều, nên dễ bị áp dụng tuỳ tiện Hậu quả là chính sách tiền lương chưa thực sự khuyến khích ngưßi lao động, chưa khuyến khích các tài năng, đặc biệt là tài năng trẻ
Tình trạng bất hợp lý và không công bằng Điều đó được thể hiện trên cả hai khía cạnh: thứ nhất, tình trạng bình quân chủ nghĩa vẫn chưa được khắc phục
Vì khoảng cách giữa các bậc lương quá ngắn, thấp nhất là 0,09 và cao nhất là 0,43; phấn đấu 2 năm mới thêm được mỗi tháng 18,9 ngàn đồng, 3 năm mới
Trang 9được tăng thêm 25,2 ngàn đồng (bậc cán sự) Thêm vào đó, thßi gian phấn đấu
để đạt tới bậc cao nhất quá dài, có những bậc lương đưa ra mà không ai vươn tới, hoặc do quá cao, hoặc do thßi gian phấn đấu quá dài Ví dụ: 16 bậc cán sự, thấp nhất là 1,46, cao nhất là 3,33, khoảng cách mỗi bậc là 0,12 tương đương 48 năm Thứ hai, tình trạng bất hợp lý vẫn tồn tại á nhiều ngành, nhiều cơ quan và khu vực Với mức lương hiện nay không thể đảm bảo được mức sống bình thưßng Chẳng hạn, một sinh viên đại học hiện nay muốn sống và học tập bình thưßng phải được chu cấp tối thiểu 3 triệu đồng á Hà nội (á thành phố Hồ Chí Minh còn cao hơn, từ 3 - 4 triệu đồng), tương đương với một cán sự bậc 10 của công chức loại C Đây là một nghịch lý
Những chênh lệch và những nghịch lý ấy đang là lý do cả về vật chất lẫn ý thức làm cho ngưßi lao động coi tiền lương là một khoản thu <thu nhập phụ=, không ai sống chỉ bằng lương, Nhà nước không quản lý được thu nhập và chúng đang gây ra những hậu quả tiêu cực, như: hạch toán sai, báo cáo không đầy đủ, giấu nguồn thu, trốn thuế thu nhập, sử dụng thu nhập mập mß, tuỳ tiện, cản trá kiểm tra, kiểm soát Điều tệ hại không đo đếm được là tạo ra tâm lý lạm dụng của công, nạn tham nhũng tập thể, dùng tiền công để chi tiêu thoả sức
3 Mßt số ki¿n nghß
a Đối vßi Nhà n°ßc
Một là, tổ chức nghiên cứu tổng thể và luận chứng đầy đủ về các mối
quan hệ vĩ mô của tiền lương, trên cơ sá đó xem xét thể hiện các nội dung hoàn thiện nói trên vào đề án cải cách tiền lương Nhà nước trong giai đoạn tới, cụ thể như mối quan hệ giữa tiền lương - việc làm; mối quan hệ tiền lương - tiền công - thu nhập giữa các nhóm dân cư; tiền lương - phát triển con ngưßi - phát triển kinh tế
Hai là, quy định những nguyên tắc chung nhất về việc xây dựng thang lương, bảng lương cho các doanh nghiệp vận dụng Theo đó, doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương, phụ cấp lương phù hợp
Trang 10với quy mô, tổ chức sản xuất và tổ chức lao động, tự lựa chọn quyết định mức lương tối thiểu không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định; hình thành các phương pháp trả lương và thu nhập gắn với năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh
Ba là, đổi mới vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực lao động và xã hội theo hướng tăng cưßng áp dụng các công cụ, các đòn bẩy kinh tế, giảm các biện pháp quản lý hành chính, trực tiếp; tăng cưßng vai trò điều tiết lao động và hỗ trợ cho thị trưßng lao động phát triển như cung cấp thông tin về thị trưßng lao động, các hoạt động hỗ trợ về việc làm và đào tạo nghề, sớm ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp, các chính sách trợ giúp khác
Bốn là, tăng cưßng năng lực cho các cơ quan hoạch định và nghiên cứu
chính sách có liên quan đến lao động và tiền lương Đồng thßi tạo điều kiện pháp
lý để các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội tham gia việc hoạch định và thực hiện các chính sách về lao động và tiền lương
b Đối vßi các Bß, ngành có liên quan
Một là, thực hiện ngay việc cụ thể hoá và hướng dẫn các quy định mới
của Nhà nước về chính sách tiền lương đối với khu vực sản xuất, kinh doanh
Hai là, chuyển đổi cơ chế quản lý hành chính áp đặt tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh hiện nay sang cơ chế quản lý mang tính hướng dẫn là chủ yếu Đồng thßi tăng cưßng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát bảo đảm việc thực hiện chính sách tiền lương trong khu vực này đúng với quỹ đạo chung
và bảo vệ quyền lợi của ngưßi lao động trong doanh nghiệp
Ba là, đồng bộ đổi mới các cơ chế quản lý khác trong doanh nghiệp (cơ chế quản lý tài chính, cơ chế quản lý doanh nghiệp…) cho phù hợp với quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách tiền lương
Bốn là, tổ chức bộ phận nghiên cứu hoạch định chính sách tiền lương, bộ
phận kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách tiền lương phù hợp với yêu cầu quản lý mới Kịp thßi phát hiện xử lý những vướng mắc phát sinh trong vấn đề