- Nếu trước cách mạng con người trong tác phẩm của Nguyễn Tuân phải là những con người xuất chúng thuộc thời trước còn vương sót lại như Huấn Cao Chữ người tử tù thì đến người lái đò sôn
Trang 1TỔNG HỢP YÊU CẦU PHỤ TÁC PHẨM Tác phẩm Yêu cầu Hướng làm bài
Ai đã đặt
dòng sông
(Hoàng
Phủ Ngọc
Tường)
Nhận xét về tính trữ tình trong bút
kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Tính trữ tình trong kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường đẫm chất thơ, được gợi lên từ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và cảm xúc nồng nàn, tha thiết; giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều cùng vốn kiến thức phong phú
+ Thứ nhất, điều đó được thể hiện qua cách tiếp cận sông Hương
từ nhiều góc độ Qua đó ta cảm nhận được vẻ đẹp đầy nữ tính của nàng Hương xinh đẹp, dịu dàng, uyển chuyển và kín đáo khi ở trong lòng thành phố
+ Thứ hai, tác phẩm thể hiện tình yêu tha thiết sự gắn bó của Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương của xứ Huế đẹp đẽ, dịu hiền
- Nét trữ tình trong phong cách của Hoàng Phủ Ngọc Tường được nhà văn khéo léo lồng ghép, đan cài trong cả nội dung và nghệ thuật Thể hiện ở sự kết hợp giữa kể và tả, quan sát và tưởng tượng, lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa
Chính những điều đó đã làm cho văn ông cứ sống mãi trong lòng độc giả “hôm qua, hôm nay và mãi tận về sau” Chúng ta cứ tìm đến văn Hoàng Phủ Ngọc Tường mà nghiền ngẫm triết lý, sống mãi trong sự tha thiết về dòng sông quê hương xứ mình!
Ai đã đặt
dòng sông
(Hoàng
Phủ Ngọc
Tường)
Nhận xét tình yêu tha thiết của Hoàng Phủ Ngọc Tường với xứ Huế
- Tình yêu xứ Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường được chưng cất lên
từ quá trình gắn bó và trải nghiệm của ông ở mảnh đất này Tình yêu ấy được thể hiện qua cách ông phát hiện vẻ đẹp của sông Hương Phải là một người sâu sắc và am hiểu về sông Hương thì tác giả mới
có thể dẫn dắt những câu văn của mình chạm đến trái tim người đọc
- Đó là tình yêu được kết tinh từ chất trí tuệ, cảm xúc nồng nàn, tha thiết xuất phát từ trái tim nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện trong chất thơ của ông sự hiểu biết rộng lớn về thế giới xung quanh trong nhiều lĩnh vực: văn hóa, văn học, lịch sử, địa lí và nghệ thuật Đây chính là chất trí tuệ kết tinh trong văn của ông
- Ngoài ra bút ký đã trở thành một tác phẩm mang đậm chất tự sự, dẫn dắt người đọc đến với sông Hương một cách tự nhiên, nhưng cho thấy rằng ông có một giọng điệu riêng biệt “không thể tìm thấy trong
cổ họng của bất kì người nào khác” Giọng điệu ấy thể hiện qua cách nhìn, cách cảm thụ, phương thức tư duy, năng lực trí tuệ, tình cảm, bộc lộ qua ngôn ngữ đậm chất tự sự
Trang 2Ai đã đặt
dòng sông
(Hoàng
Phủ Ngọc
Tường)
Bàn về cái tôi tài hoa uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Thứ nhất, đó là một cái tôi dạt dào cảm xúc Cái tôi ấy là cái tôi của một người trí thức yêu nước vừa bước ra từ trong khói lửa chiến tranh, vừa bừng bừng khí thế chống giặc ngoại xâm, vừa hào hứng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng Cái tôi ấy là cái tôi của một người nghệ
sĩ giàu rung động và lãng mạn, say sưa tìm kiếm vẻ đẹp riêng, sức cuốn hút riêng của con sông xứ Huế ở các phương diện không gian
và thời gian, lịch sử và văn hoá
Thứ hai, đó là một cái tôi nghiêm túc cẩn trọng trong tìm kiếm và phát hiện Trong bài bút ký pha tuỳ bút này, Hoàng Phủ Ngọc Tường
đã huy động vốn kiến thức tổng hợp nhiều mặt về con sông Hương
từ địa lý, lịch sử, văn hoá, văn chương và đời sống, tự nhiên và khảo
cổ, cái hiện sinh và những gì thuộc về xa xưa… Các mặt kiến thức này không tách rời nhau, mà hoà quyện, hỗ trợ nhau tạo thành một điểm tựa vững chắc cho ngòi bút nhà văn khi miêu tả con sông của
xứ Huế
Và đó còn là một cái tôi tài hoa và lãng mạn Trí tưởng tượng mạnh
mẽ và phong phú khi kết hợp với cái kho vốn cảm xúc, cảm giác rất dồi dào mà cũng vô cùng tinh tế sâu sắc đã tạo nên một chất thơ chan chứa trên mỗi trang văn và một sức lôi cuốn khó cưỡng lại đối với người thưởng thức Thông thường người ta chỉ nói “Thi trung hữu hoạ” “Thi trung hữu nhạc”, ở đây ta có thể hoàn toàn tự tin mà nói
về chất nhạc, chất họa, thậm chí là sự hòa quyện lý tưởng giữa chất nhạc, chất họa và chất thơ trong chữ nghĩa của Hoàng Phủ Ngọc Tường
“Người lái
Đà”
(Nguyễn
Tuân)
Cắt nghĩa vì sao trong con mắt của tác giả, thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng, nhưng con người Tây Bắc mới thật xứng đáng là vàng mười của đất nước ta
Sở dĩ nói thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng, nhưng con người Tây Bắc mới thật xứng đáng là vàng mười của đất nước ta là vì các lý do sau đây:
- Gọi thiên nhiên là vàng vì sông Đà vừa có vẻ đẹp hùng vĩ, vừa
có vẻ đẹp thơ mộng
- Gọi con người là vàng mười vì con người đẹp hơn tất cả, đẹp nhất từ trong lao động, trở thành anh hùng và nghệ sĩ Con người được ví với khối vàng mười quý giá lại chỉ là những ông lái, nhà đò nghèo khổ, làm lụng âm thầm, giản dị, vô danh Nhưng người lái đò, ông không chỉ là anh hùng sông nước, một nghệ sĩ vượt thác mà còn là một người lao động bình dị giữa đời thường, những con người đã cống hiến thầm lặng mà cao cả, say mê với công việc, tình yêu với nghề nghiệp mà bất chấp hiểm nguy, vất vả
Trang 3Như vậy trong cảm xúc thẩm mĩ của tác giả, con người đẹp hơn tất
cả và quý giá hơn tất cả
Người lái đò sông Đà chính là khúc hùng ca ca ngợi con người, ca ngợi ý chí của con người, ca ngợi lao động vinh quang đã đưa con người tới thắng lợi huy hoàng trước sức mạnh tựa thánh thần của dòng sông hung dữ Đấy chính là yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc và của những người lao động nói chung
Người lái
đò sông Đà
(Nguyễn
Tuân)
Nhận xét vẻ đẹp con người trong văn của Nguyễn Tuân sau Cách mạng
- Đọc văn Nguyễn Tuân, bất cứ ai cũng nhận thấy rằng nhà văn Nguyễn Tuân rất ưa quan sát và diễn tả con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ Tuy nhiên vẻ đẹp con người trong văn Nguyễn Tuân
có sự khác biệt giữa trước và sau Cách Mạng
- Nếu trước cách mạng con người trong tác phẩm của Nguyễn Tuân phải là những con người xuất chúng thuộc thời trước còn vương sót lại như Huấn Cao (Chữ người tử tù) thì đến người lái đò sông Đà nhà văn đã có sự thay đổi trong cách khám phá, thể hiện con người
- Nhân vật chính trong người lái đò sông Đà không còn thuộc lớp người sinh lầm thế kỷ, bơ vơ, lạc lõng trong thời hiện đại mà là một người lao động hết sức bình thường, bình dị, thậm chí là vô danh Đây chính là cách Nguyễn Tuân tôn vinh, ca ngợi ý chí con người, ngợi ca lao động vinh quang đã đưa con người tới thắng lợi huy hoàng trước sức mạnh của thiên nhiên hung dữ Đây cũng chính là yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc và của những người lao động thầm lặng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Đi tìm vẻ đẹp của con người trong lao động, Nguyễn Tuân đã thể hiện sự hòa nhập đầy hứng khởi, mến yêu với cuộc đời mới và chúng
ta không còn thấy một Nguyễn Tuân cô độc luôn muốn xê dịch cho khuây đi cảm giác thiếu quê hương
Người lái
đò sông Đà
(Nguyễn
Tuân)
Nhận xét về ngòi bút tài hoa của nhà văn Nguyễn Tuân
Ngòi bút tài hoa của nhà văn Nguyễn Tuân được thể hiện qua tùy bút Người lái đò sông Đà như thế nào?
- Đầu tiên, ai cũng biết rằng Nguyễn Tuân là nhà văn của núi cao, thác dữ, dốc đèo hiểm trở; nhà văn của cảm giác dữ dội, của cái phi thường nhưng khi ông đặt bút viết về cái trữ tình, thơ mộng cũng không kém phần ấn tượng và đặc sắc
- Thứ hai, Nguyễn Tuân là sự hiện thân cho cái đẹp, cho sự hoàn mỹ; cho nên văn ông giàu hình ảnh và gợi cảm; giàu liên tưởng so sánh mới mẻ, độc đáo Sự độc đáo này biểu hiện trong cách nhìn và quan sát sự vật, sự tỉ mỉ và chi tiết làm cho người ta có cảnh giác sự vật
Trang 4đang sống dậy từ những trang văn bước ra cuộc đời
- Thứ ba, độc đáo thôi chưa đủ, vốn hiểu biết sâu rộng mới là chìa khóa để Nguyễn Tuân khai thác chất xám trong bộ não của chính mình Nguyễn Tuân đã sử dụng hàng loạt các tri thức liên ngành từ quân sự, âm nhạc đến thể thao, quân sự, hội họa tạo nên một môn nghệ thuật thứ bảy lung linh dưới ánh hào quang chiếu sáng chói lọi… Từ đó có thể khẳng định rằng Nguyễn Tuân xứng đáng là
“Người thầy kim hoàn của chữ”
Người lái
đò sông Đà
(Nguyễn
Tuân)
Nhận xét nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân
- Có thể tóm gọn phong cách của Nguyễn Tuân trong những ý sau: Nguyễn Tuân ưa cảm giác mãnh liệt, dữ dội; ông thường tả gió, bão, núi đèo, tả thác ghềnh; luôn khám phá đối tượng ở phương diện tài hoa thẩm mỹ; tài hoa uyên bác trong hiểu biết về văn hóa; không ngừng thay đổi trong hành trình lao động nghệ thuật để không lặp lại chính mình
- Như thế, ta thấy Nguyễn Tuân là người luôn hướng đến cái phi thường, dữ dội Đằng sau hình tượng con sông Đà lắm thác nhiều ghềnh là một nhà văn ham cảm giác lạ, và không ngại làm mới mình
Để thỏa mãn “thú ham cái mới lạ”, Nguyễn Tuân không chịu nổi cái bình thường, nhạt nhẽo, bình dị, phẳng lặng như “ao hồ mùa thu”
- Với tùy bút “Người lái đò Sông Đà”, ngòi bút Nguyễn Tuân đã mang đến cho người đọc một hình dung mới mẻ, độc đáo trong chất vàng của thiên nhiên, đồng thời là chất vàng mười đã qua thử lửa nơi tâm hồn con người Tây Bắc
- Trong “Người lái đò Sông Đà”, Nguyễn Tuân đã thể hiện “cái tôi” tài hoa qua những rung động, say mê của nhà văn trước vẻ đẹp hùng
vĩ và mĩ lệ của thiên nhiên đất nước; ở sự phát hiện và ngợi ca phẩm chất tài hoa nghệ sĩ của những con người lao động; ở những trang văn đẹp như thơ, như nhạc, như hoạ Nhà văn đã phát hiện và miêu
tả sông Đà như một sinh thể sống, với tính cách hung bạo và trữ tình
Từ đó, nhà văn đã tạc dựng hình ảnh người lái đò trong cuộc vượt thác đầy kịch tính và cũng thật ngoạn mục
Việt Bắc
(Tố Hữu)
Nhận xét tính dân tộc đậm đà trong thơ Tố Hữu
Nhận xét về tính dân tộc đậm đà trong thơ Tố Hữu, đây là những ý chúng ta cần triển khai trong đoạn văn của mình:
- Xét về mặt nội dung, bài thơ “Việt Bắc” đã thể hiện được những vấn
đề nóng bỏng mang vận mệnh dân tộc; thể hiện được hình ảnh con người Việt Nam trong kháng chiến
- Sáng tác bài thơ “Việt Bắc”, Tố Hữu không chỉ thay lời nhân dân nói nên lòng biết ơn với Đảng, với Bác kính yêu mà ông còn thể hiện
Trang 5tình cảm gắn bó sâu nặng với nhân dân Việt Bắc
- Tố Hữu ca ngợi tình cảm thủy chung sắt son của người dân Việt Bắc và người chiến sĩ cách mạng chính là ca ngợi truyền thống:
“uống nước nhớ nguồn”; truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Khí thế của cả dân tộc cùng ra trận thật hào hùng, mãnh liệt, không một thế lực nào có thể ngăn cản được
- Bài thơ “Việt Bắc” còn đánh dấu sự thành công của Tố Hữu ở phương diện nghệ thuật mang đậm tính dân tộc biểu hiện ở thể thơ, ngôn từ, nhạc điệu, hình ảnh Tố Hữu vốn là người xứ Huế - nơi có những làn điệu dân ca ngọt ngào Những lời ru của mẹ đã thấm vào tâm hồn thơ Tố Hữu, đi vào trang thơ của ông Bài thơ Việt Bắc được viết theo thể thơ lục bát với lối kết cấu đối đáp như câu hát giao duyên của đôi trai gái yêu nhau Vì thế câu chuyện chính trị đã được tác giả chuyển hóa giống như câu chuyện tình yêu đôi lứa
Tóm lại, Tố Hữu viết bài thơ Việt Bắc bằng tất cả tấm lòng chân thành hướng về Đảng, về cách mạng, về nhân dân Bài thơ giúp ta cảm nhận được nhiều phẩm chất đáng quý của con người Việt Nam: yêu nước, tương thân tương ái, đoàn kết, lạc quan, thủy chung son sắt; thấy được bản sắc văn hóa dân tộc mình
Việt Bắc
(Tố Hữu)
Nhận xét về đặc điểm tính trữ tình – chính trị trong thơ Tố Hữu
Muốn nhận xét đặc điểm trữ tình chính trị trong thơ Tố Hữu, đầu tiên cần hiểu khái niệm thơ trữ tình – chính trị là gì
- Thơ trữ tình – chính trị: Là thơ trực tiếp đề cập đến những vấn đề chính trị, những sự kiện chính trị với cảm xúc mãnh liệt
– Tính trữ tình – chính trị là một trong những đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, được thể hiện rõ nét trong bài thơ Việt Bắc nói chung và đoạn thơ nói riêng:
+ Tính chính trị: Việt Bắc đề cập đến một sự kiện lịch sử có ý nghĩa lớn với cả dân tộc: Trung ương Đảng và chính phủ rời căn cứ địa Việt Bắc để trở về Hà Nội sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 Cảm hứng của Tố Hữu trong đoạn thơ là hướng đến cuộc kháng chiến hào hùng và chiến thắng vẻ vang của quân dân Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp
+ Tính trữ tình: Niềm tự hào, niềm vui hân hoan của nhà thơ Đó là tình cảm cách mạng: tình đồng chí, đồng đội, tình cảm đối với nhân dân, với Đảng, với lãnh tụ, tinh thần quốc tế vô sản…
- Chất thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu lại được thể hiện ở giọng điệu riêng rất dễ nhận ra Đó là giọng tâm tình ngọt ngào, là giọng
Trang 6của tình thương mến Đó là lối hát đối đáp quen thuộc của ca dao được trở đi trở lại trong từng chữ bài thơ Việt Bắc Vì thế, toàn bài thơ trở thành khúc hát ân tình nồng thắm với tình thơ tha thiết, điệu thơ ngọt ngào, nhị nhàng như lời ru
- Các khái niệm chính trị đi vào thơ Tố Hữu không hề khô khan mà được xúc cảm trở thành cảm hứng Tố Hữu đã đem vào thơ cách mạng một tiếng nói trữ tình với những xúc cảm chân thành, mãnh liệt tạo được một năng lượng lan truyền rộng khắp và rung cảm đối với người đọc
Chiếc
thuyền
ngoài xa
(Nguyễn
Minh
Châu)
Nhận xét về quan niệm của nhà văn
về mối quan hệ giữa nghệ thuật
và cuộc sống
Nhận xét về quan niệm của nhà văn về mối quan hệ giữa nghệ thuật
và cuộc sống?
- Định hướng: quan niệm của nhà văn về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống đó là mối quan hệ gì? Đối lập, hay song hành gắn bó? Tư tưởng của nhà văn gửi gắm qua những quan niệm ấy
- Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa là phát hiện của nghệ sĩ Phùng
về bức tranh cuộc sống gai góc, sần sùi, đối lập hẳn với bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ được miêu tả ở đoạn văn trước đó Sự phát hiện những nghịch lí ấy giúp Phùng nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực cuộc đời Giữa nghệ thuật và cuộc đời có mối quan hệ song hành: Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc đời, và cuộc đời là hiện thực phong phú khơi nguồn cho cảm hứng nghệ thuật
"Nghệ thuật chân chính phải gắn với cuộc và vì cuộc đời, vì con người"
- Từ nhận thức ấy, Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm bức thông điệp đến người nghệ sĩ:
Người nghệ sĩ - theo nhà văn - phải đào sâu, phải nhìn cuộc đời bằng đôi mắt toàn diện, phải thấy được những góc khuất của cuộc đời
Chiếc thuyền trong sương sớm đẹp vì nó là viễn ảnh, được nhìn từ xa Nó có thể thanh lọc tâm hồn người nghệ sĩ, khơi dậy những xúc cảm đẹp đẽ Nhưng khi đến gần, cũng chính từ chiếc thuyền ấy lại là cảnh bạo lực gia đình phi đạo đức, phi thẩm mỹ Nghệ thuật đích thực, người nghệ sĩ chân chính không thể chỉ dừng lại ở sự phản ánh vẻ đẹp bề ngoài của cuộc sống, nhìn cuộc sống từ cái nhìn ngoài xa, hời hợt Giá trị nhân văn trong tác phẩm này đã thể hiện ngay trong quan điểm nghệ thuật tiến bộ đó của nhà văn Nguyễn Minh Châu
Trang 7Chiếc
thuyền
ngoài xa
(Nguyễn
Minh
Châu)
Nhận xét về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn
Bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
- Định hướng: Cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn
đó là cách nhìn như thế nào? Sâu sắc, toàn diện hay đơn giản, dễ dãi
- Thứ nhất, qua sự thể hiện của nhà văn, chiếc thuyền chỉ đẹp khi
nó ở ngoài xa trong sương mù bồng bềnh huyền ảo, nhưng khi nó đến gần thì bên trong nó lại bộc lộ những cái thật xấu xí của cảnh bạo lực gia đình Và trong cuộc sống bất hạnh, trong vẻ xấu xí thô kệch của người đàn bà khốn khổ kia vẫn ánh lên những nét đẹp của người phụ nữ lao động Như vậy cuộc sống đa diện, nhiều chiều, con người có những nỗi niềm sâu kín bên trong, nhà văn đã nhìn nhận
ở góc nhìn đa chiều hơn, hướng sự quan tâm đến số phận cá nhân con người – nhất là con người lao động vất vả, lam lũ sau chiến tranh
- Sau chiến tranh, cuộc sống con người vẫn còn nhiều những khó khăn, gian khổ: Cái nghèo, cái đói chi phối cuộc sống của con người Bởi vậy, nhà văn đã đặt ra vấn đề cần thiết là phải làm sao cho cuộc sống ấy ngày càng tốt đẹp hơn
- Chính từ cái nhìn đầy chất nhân văn ấy, Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm bức thông điệp đến người nghệ sĩ: Người nghệ sĩ - theo nhà văn - phải đào sâu, phải nhìn cuộc đời bằng đôi mắt toàn diện, phải thấy được những góc khuất của cuộc đời Nghệ thuật chân chính không thể chỉ dừng lại ở sự phản ánh vẻ đẹp bề ngoài của cuộc sống, nhìn cuộc sống từ cái nhìn ngoài xa, hời hợt
Chiếc
thuyền
ngoài xa
(Nguyễn
Minh
Châu)
Nhận xét về quan niệm của tác giả
về nghệ thuật
- Ví dụ: Phân tích ấn tượng lạ lùng của nhân vật Phùng về bức ảnh được chọn trong bộ lịch, từ đó nhận xét quan niệm của tác giả về nghệ thuật
- Định hướng: Quan niệm của tác giả về nghệ thuật đó là những quan niệm gì? Đây là những quan niệm như thế nào? (đúng đắn, nhân văn hay nông cạn, hời hợt)
- Từ những ấn tượng của nhân vật Phùng về bức ảnh được chọn trong bộ lịch, ta thấy được quan điểm nghệ thuật sâu sắc, đúng đắn của tác giả: Nghệ thuật phải bắt nguồn từ cuộc sống, nghệ thuật không thể xa cách với hiện thực nhọc nhằn, cay cực của con người Nghệ thuật "không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối " (Nam Cao) Nghệ thuật phải dành ưu tiên trước hết cho con người, phải góp phần giải phóng con người khỏi sự cầm tù của
Trang 8đói nghèo, tăm tối và bạo lực Người nghệ sĩ phải có tấm lòng biết trăn trở về số phận; phải nhìn cuộc đời sâu sắc, đa chiều, không giản đơn, dễ dãi và và phải dũng cảm nhìn thẳng vào hiện thực
- Không những vậy, một tác phẩm nghệ thuật chân chính phải là tác phẩm thể hiện được chiều sâu, bản chất của hiện thực đằng sau cái vẻ ngoài đẹp đẽ, lãng mạn Để làm được điều đó đòi hỏi người nghệ sĩ phải có cái nhìn đa chiều, sâu sắc, toàn diện về hiện thực, phải có sự trải nghiệm và quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, gian khổ
- Như vậy đó là quan niệm hoàn toàn đúng đắn mà bất kỳ người nghệ sĩ nào cũng cần phải tuân theo
(Kim Lân)
Nhận xét về giá trị hiện thực trong tác phẩm
"Vợ Nhặt"
- Định hướng: Nhận xét khái quát biểu hiện của giá trị hiện thực trong tác phẩm Cụ thể qua tình huống truyện, không gian hiện thực nạn đói 1945
- Xây dựng tình huống nhặt vợ của nhân vật Tràng, tác phẩm "Vợ Nhặt" (hoặc đoạn văn) đã phản ánh chân thực cuộc sống của nhân dân ta trước cách mạng tháng Tám - nạn đói khủng khiếp năm 1945 khiến bao người phải chịu cảnh sổ sở Người chết như "ngả rạ", "ba, bốn cái thây nằm còng queo bên đường", người sống mặt hốc hác u tối "đi lại dật dờ như những bóng ma", "xanh xám như những bóng ma" Không gian thê lương, não nuột với những tiếng hờ khóc, tiếng quạ kêu từng hồi thê thiết Hiện thực thê thảm ấy còn hiện lên qua mùi gây của xác người, mùi ẩm mốc của rác rưởi, mùi khét của những đống rấm Không gian xóm ngụ cư không khác biệt nhiều với nghĩa địa
- Đặc biệt, không gian năm đói đã tạo thành khung cảnh nền để Kim Lân kể lại câu chuyện nhặt vợ cười ra nước mắt của Tràng Câu chuyện bi hài được miêu tả trong truyện (đoạn văn trên) góp phần hoàn chỉnh bức tranh chân thực về tình cảnh thảm khốc của người nông dân: Vì đói quá mà chị vợ nhặt đã phải đánh đổi cả lòng tự trọng để được ăn, để theo không người đàn ông xa lạ; vì nghèo mà
bà cụ Tứ phải dằn vặt bởi không lo nổi dăm ba mâm cho đám cưới của con; vì khổ mà bữa cơm mừng dâu mới chỉ toàn cháo loãng, ăn với muối và món chè khoán đắng chát thực ra chỉ là cháo cám…
(Kim Lân)
Nhận xét về giá trị nhân đạo
- Định hướng: Nhận xét khái quát biểu hiện của giá trị nhân đạo
- Thứ nhất, giá trị nhân đạo thể hiện qua cái nhìn sâu sắc và tấm lòng nhân hậu trước khát vọng của con người của nhà văn Chính những khát vọng nhân văn ẩn khuất nơi đáy sâu nhân vật Tràng,
Trang 9Thị hay bà cụ Tứ với những mong muốn tồn tại và cuộc sống hạnh phúc dù rất đời thường nhỏ nhoi, ở thời điểm mà mọi người không nhìn thấy, thậm chí chỉ thấy màu xám xịt, thì nó lại được Kim Lân cảm được và hiện ra bằng những trang viết giàu sức gợi
- Thứ hai, giá trị nhân đạo thể hiện qua lòng yêu thương trân trọng với những người bất hạnh Qua đó hướng đến niềm tin rằng tình yêu cuộc sống sẽ thắng được chết chóc sẽ thay đổi được cuộc sống: Dù trong tình huống bi thảm tới đâu, dù kề bên cái chết, con người vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống
và vẫn hi vọng vào tương lai, vẫn muốn sống cho ra người Đây cũng chính là chiều sâu tư tưởng nhân đạo của tác phẩm
- Giá trị nhân đạo của tác phẩm còn thể hiện ở chỗ nhà văn Kim Lân đã chỉ ra một con đường, một lối thoát để thay đổi số phận cho những kiếp người khốn khổ ấy – con đường cách mạng
Chính những giá trị nhân đạo này đã làm nên chiều sâu và sức sống lâu bền của tác phẩm Đó không chỉ là tài năng mà còn là tấm lòng của người nghệ sĩ hết mình vì cuộc đời
(Kim Lân)
Nhận xét về sự chuyển biến của nhân vật người
vợ nhặt (trước và sau khi làm vợ Tràng)
- Định hướng: Cần nhận xét sự thay đổi, chuyển biến của nhân vật
từ trạng thái này sang trạng thái khác như thế nào? Sự chuyển biến
ấy thể hiện điều gì ở nhân vật? Thể hiện tư tưởng gì của nhà văn?
- Trước khi trở thành vợ Tràng, thị là một người phụ nữ ăn nói chỏng lỏn, táo bạo và liều lĩnh, chủ động làm quen và "liếc mắt cười tít" với Tràng ngay trong lần gặp đầu tiên Thậm chí lần gặp thứ hai, thị còn "sầm sập chạy tới", "sưng sỉa nói" và lại còn "đứng cong cớn" trước mặt Tràng, chủ động đòi ăn, trơ trẽn biền đùa làm thật để theo không Tràng
- Nhưng khi trở thành vợ Tràng, thị đã trở về với chính con người thật của mình là một người đàn bà hiền thục, e lệ, lễ phép, đảm đang Thị bẽn lẽn đi cạnh Tràng, lễ phép chào hỏi mẹ chồng, thị còn dậy sớm, quét tước, dọn dẹp cho căn nhà khang trang, sạch sẽ Đó là hình ảnh của một người vợ biết lo toan, thu vén cho cuộc sống gia đình – hình ảnh của một người vợ hiền, một cô dâu thảo Trong bữa cơm cưới giữa ngày đói, thị tỏ ra là một phụ nữ am hiểu về thời sự khi kể cho mẹ và chồng về câu chuyện ở Bắc Giang người ta đi phá kho thóc của Nhật Chính thị đã làm cho niềm hy vọng của mẹ và chồng thêm niềm hy vọng vào sự đổi đời trong tương lai
- Miêu tả sự thay đổi của nhân vật Thị, Kim Lân đã thể hiện được sự trân trọng và niềm tin vào những phẩm chất, giá trị tốt đẹp của con
Trang 10người, đó là những vẻ đẹp mà nạn đói không thể nào hủy diệt được Chính điều đó đã tạo nên ý nghĩa nhân văn sâu sắc của ngòi bút Kim Lân
(Kim Lân)
Nhận xét về vẻ đẹp của khát vọng, vẻ đẹp của tình người
- Ví dụ: Phân tích tình huống Tràng nhặt được vợ qua đoạn văn "Ít lâu nay… đẩy xe bò về", từ đó bình luận về vẻ đẹp của khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và sự ấm áp của tình người
- Đoạn trích nói riêng, tác phẩm nói chung không chỉ giàu giá trị hiện thực mà còn giàu giá trị nhân đạo Xây dựng tình huống nhặt
vợ của Tràng, đoạn văn nói lên tình cảnh thê thảm của người nông dân trong cảnh đói, gián tiếp tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến đã đẩy con người đến tình cảnh phải bán rẻ cả nhân phẩm để được sống
- Đồng thời, nhà văn cũng thể hiện sự trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp của khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc cũng như vẻ đẹp của tình người trong nạn đói Dưới sự thể hiện của ngòi bút giàu lòng nhân
ái Kim Lân, ta thấy sự túng đói quay quắt, hoàn cảnh khốn khổ không làm con người từ bỏ lòng yêu thương, nhân hậu, không ngăn cản được con người hy vọng vào cuộc sống, hy vọng vào hạnh phúc ngày mai Họ vẫn vượt lên trên cái chết, cái thảm đạm để sống với nhau bằng tình người đẹp đẽ, để hướng đến sự sống, hạnh phúc và ngày mai tươi sáng hơn
- Phát hiện và miêu tả vẻ đẹp ấy trong tâm hồn nhân vật, Kim Lân
đã đem đến cho tác phẩm tình cảm nhân đạo sâu sắc, mới mẻ
(Kim Lân)
Nhận xét về vẻ đẹp của nhân vật
bà cụ Tứ
- Ví dụ: Đề yêu cầu phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ qua đoạn văn cụ thể, từ đó nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn nhân vật bà cụ
Tứ
- Định hướng: Cần nhận xét khái quát, vẻ đẹp tâm hồn nhân vật bà
cụ Tứ đó là những vẻ đẹp gì?
- Chiều sâu tâm lí của nhân vật bà cụ Tứ đã nói lên những phẩm chất tốt đẹp của người mẹ này Đó là tình mẫu tử cao cả, thiêng liêng, đặc biệt là lòng thương người như thể thương thân, lòng nhân hậu,
vị tha và nghị lực sống phi thường
- Trước hết, đó là vẻ đẹp của tấm lòng nhân hậu, bao dung Lòng bà luôn chan chứa tình yêu thương dành cho các con, bà có những ứng
xử chân thành, đầy tình nghĩa đối với cả con trai và con dâu Bà đã vượt qua những nghi lễ thông thường, đồng ý cho người đàn bà xa lạ làm con dâu mình và còn thấy thương xót, thấu hiểu cho hoàn cảnh của người đàn bà ấy