Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: đất nước ngàn năm không mỏi cánh tay cung giáo mác Trường Sơn cọc nhọn Bạch Đằng đến trẻ chăn trâu cũng cờ lau tập trận chiếc roi cày rần rật máu cha
Trang 1Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
đất nước ngàn năm không mỏi cánh tay cung giáo mác Trường Sơn
cọc nhọn Bạch Đằng đến trẻ chăn trâu cũng cờ lau tập trận chiếc roi cày rần rật máu cha ông đất nước sinh ra huyền thoại tiên rồng bọc trứng trăm con lên rừng xuống biển
mẹ lội suối trèo non cha bạt ghềnh chắn sóng mong mai sau nên vóc nên hình đất nước mỗi ngày lên đón ánh mặt trời thấy dung mạo tiền nhân nhắc lời di huấn nghe vị mặn mồ hôi thấm đầu sông cuối bãi vạt cỏ bên đường cũng học để mà xanh
(Cương thổ, Nguyễn Đức Dũng)
Câu 1: Đoạn thơ trên được viết bằng thể thơ gì?
Câu 2: Chọn những hình ảnh, từ ngữ nói lên tinh thần yêu nước, bất khuất chống giặc ngoại
xâm của con người Việt Nam
Câu 3: Xác định biện pháp tu từ và hiệu quả nghệ thuật trong câu thơ “đất nước ngàn năm
không mỏi cánh tay cung”
Câu 4: Trình bày cách hiểu của anh/chị về khát vọng được thể hiện trong câu thơ: “mong mai
sau nên vóc nên hình”
Trang 2
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Câu 1: Đoạn thơ trên được viết bằng thể thơ tự do
Câu 2: Những hình ảnh, từ ngữ nói lên tinh thần yêu nước, bất khuất chống giặc ngoại xâm
của con người Việt Nam: đất nước ngàn năm không mỏi cánh tay cung, giáo mác Trường Sơn, cọc nhọn Bạch Đằng, trẻ chăn trâu cũng cờ lau tập trận, chiếc roi cày rần rật máu cha ông
Câu 3: Trong câu thơ: “đất nước ngàn năm không mỏi cánh tay cung”, tác giả đã khéo léo sử
dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, biến đất nước thành một con người có sức mạnh, có ý chí ngày đêm chiến đấu không biết mỏi mệt Nghệ thuật nhân hóa giúp cho câu thơ thêm phần độc đáo, sinh động, giúp cho bạn đọc dễ hình dung hơn về hình ảnh đất nước vốn trừu tượng, vô hình Đồng thời qua đó, tác giả cũng muốn nhấn mạnh, làm nổi bật sự hào hùng của lịch sử chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước của dân tộc ta
Câu 4: Bằng cách tái hiện lại lịch sử đáng tự hào của dân tộc trên trang viết, nhà thơ Nguyễn
Đức Dũng đã thể hiện được khát vọng bấy lâu của mình qua câu thơ: “mong mai sau nên vóc nên hình” Đó là khát vọng hướng đến sự hình thành và phát triển của đất nước, là khát vọng
vô cùng lớn lao, cao cả nảy mầm lên giữa bao nhiêu phong ba bão táp còn chờ đợi phía trước Cha ông ta, tổ tiên ta đã phải ngã xuống để bao vệ hình hài của đất nước, để bảo vệ từng tấc thịt của dân tộc, bởi vậy mỗi chúng ta, là thế hệ mai sau cần phải phấn đấu để làm sao cho hình hài ấy được vẹn nguyên, và hơn nữa là được phát triển, được mở rộng, được vươn lên
xứng đáng với nguồn gốc con Rồng cháu Tiên Đồng thời, sự “nên vóc nên hình” đó còn có
thể hiểu là tác giả mong sao cho bản thân được trưởng thành, hiểu chuyện, có đủ sức mạnh
để bảo vệ và cống hiến cho đất nước, để báo hiếu cho đấng sinh thành
Trang 3
ĐỀ SỐ 02
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Mới đây, các giáo sư tâm lý học ở trường Đại học York và Toronto (Canada) đã tìm ra những bằng chứng để chứng minh rằng: Đọc sách văn học thực sự giúp con người trở nên thông minh và tốt tính hơn
Những nghiên cứu của các giáo sư đã cho thấy những người thường xuyên đọc sách văn học thường có khả năng thấu hiểu, cảm thông và nhìn nhận sự việc từ nhiều góc độ Ngược lại, những cá nhân có khả năng thấu cảm tốt cũng thường lựa chọn sách văn học để đọc
Sau khi đã tìm thấy mối liên hệ hai chiều ở đối tượng độc giả là người lớn, các nhà nghiên cứu tiếp tục tiến hành với trẻ nhỏ và nhận thấy những điều thú vị, rằng những trẻ em được đọc nhiều sách truyện thường có cách ứng xử ôn hòa, thân thiện hơn, thậm chí trở thành đứa trẻ được yêu mến nhiều nhất trong nhóm bạn
Đọc một “nội dung sâu sắc” khác với cách đọc “mì ăn liền” của chúng ta khi lướt qua các trang mạng Hiện tại, việc thực sự đọc, chìm lắng vào một nội dung văn học là việc ngày càng hiếm thấy trong đời sống đương đại
Theo các nhà tâm lý học, việc chú tâm đọc một nội dung sâu sắc có tầm quan trọng đối với mỗi cá nhân giống như việc người ta cần bảo tồn những công trình lịch sử hay những tác phẩm nghệ thuật quý giá Việc thiếu đi thói quen đọc nghiêm túc sẽ gây ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ và cảm xúc của những thế hệ “sống trên mạng”
(Trích “Đọc sách văn học giúp chúng ta thông minh hơn?” theo http://dantri.com.vn)
Câu 1 Xác định nội dung chính của văn bản trên
Câu 2 Anh/Chị hiểu như thế nào về ý kiến của tác giả bài viết: “Đọc một “nội dung sâu sắc”
khác với cách đọc “mì ăn liền” của chúng ta khi lướt qua các trang mạng”?
Câu 3 Theo anh/chị, vì sao “Đọc sách văn học thực sự giúp con người trở nên thông minh và
tốt tính hơn”?
Câu 4 Từ nội dung đoạn trích trên, hãy rút ra bài học có ý nghĩa cho bản thân?
Trang 4
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Câu 1: Nội dung chính của văn bản: Đọc sách văn học khiến cho con người trở nên thông
minh, tốt tính hơn và vai trò của việc chú tâm đọc một nội dung sâu sắc
Câu 2: Đọc một “nội dung sâu sắc” tức là vừa đọc vừa nghiền ngẫm, chiêm nghiệm và khám
phá ra nhiều lớp nghĩa, nhiều tầng ý ẩn ở trong đó Cách đọc này giúp ta nhớ lâu và mở rộng
được vốn kiến thức, hiểu biết của mình Còn đọc theo cách “mì ăn liền” qua các trang mạng
là việc ta chỉ tiếp thu kiến thức trong một khoảng thời gian rất ngắn, thậm chí chưa kịp hiểu
về nó đã vội lướt qua, khó có khả năng đọng lại thành tri thức
Câu 3: “Đọc sách văn học thực sự giúp con người trở nên thông minh và tốt tính hơn” vì đọc
sách văn học giúp cho mỗi người chúng ta tăng được khả năng thấu hiểu, cảm thông và biết cách nhìn nhận sự việc ở nhiều góc độ Càng đọc nhiều sách văn học, ta sẽ lại càng khám phá
ra được vô vàn những câu chuyện bổ ích xung quanh ta, có những câu chuyện giúp ta nhìn thấy được chính mình, giúp ta nhận ra được nhiều giá trị và triết lí sâu sắc, đồng thời cũng
có những câu chuyện dạy ta cách ứng xử tinh tế, văn minh hơn Có thể nói, sách văn học chính là cuốn cẩm nang quý giá giúp ta bước vào đời và giúp ta có thể sống một cách có ích
và trọn vẹn hơn
Câu 4: Chỉ với đoạn trích ngắn viết về vai trò của sách văn học, tác giả đã đem đến nhiều bài
học vô cùng quý giá cho tất cả chúng ta Trước hết đó là việc phải biết chọn lọc thông tin, tri thức để tiếp nhận Chúng ta nên hiểu được mình cần gì và cái gì có thể giúp ích cho việc phát triển và hoàn thiện bản thân Thay vì vô thức đi trong khu rừng của những tin vắn, giật tít, câu like vô bổ thì hãy tìm đọc những cuốn sách cung cấp nhiều kiến thức sâu sắc và bổ ích hơn cho cuộc sống của chúng ta Sách văn học cũng như cách đọc “một nội dung sâu sắc” có tầm quan trọng đặc biệt với trí tuệ và cảm xúc con người, bởi vậy chúng ta cần phải có ý thức bảo tồn chúng trước một thời đại công nghệ lên ngôi, cần phải duy trì thói quen đọc để ngẫm, đọc để cảm nhận, và chỉ cần như thế, ta đã có thể sống một cuộc đời trọn vẹn, ta đã trở thành con người vừa giàu về trí tuệ và vừa giàu về cảm xúc
Trang 5Em thấy không? Trong nỗi nhọc nhằn, vất vả, gian lao Khi dịch bệnh hiểm nguy đang ngày càng lan rộng
Cả đất nước mình cùng đồng hành ra trận Trên dưới một lòng chống dịch thoát nguy
(…) Với đồng bào mình ở vùng dịch nguy nan Chính phủ đón vể cách ly trong doanh trại
Bộ đội vào rừng chịu nắng dầm sương dãi
Để họ nghỉ ngơi đầy đủ chiếu giường…
(Trích bài thơ “Đất nước ở trong tim mình” của cô giáo Chu Ngọc Thanh
từ nguồn https://thanhnien.vn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Theo tác giả, tại sao đất nước mình bé nhỏ nhưng lại làm được những điều phi thường?
Câu 2: Anh chị hiểu như thế nào về hai câu thơ: “Bộ đội vào rừng chịu nắng dầm sương dãi/
Để họ nghỉ ngơi đầy đủ chiếu giường”?
Câu 3: Qua khổ thơ thứ hai, anh/chị thấy được phẩm chât tốt đẹp gì của dân tộc ta?
Trang 6
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Câu 1: Đất nước mình bé nhỏ nhưng lại làm được những điều phi thường bởi chúng ta luôn
coi trọng hai tiếng “nhân văn”, chúng ta luôn coi trọng hai tiếng “đồng bào”, luôn kề vai sát
cánh, chung sức đồng lòng để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ
Câu 2: “Bộ đội vào rừng chịu nắng dầm sương dãi / Để họ nghỉ ngơi đầy đủ chiếu giường”, đây
là hai câu thơ thể hiện được sự ngợi ca, trân trọng mà tác giả cũng như hàng triệu đồng bào hướng đến người chiến sĩ với những nghĩa cử thiêng liêng, cao đẹp Khi dịch bệnh lây lan nghiêm trọng, đồng bào không có đủ chỗ ăn, chỗ ngủ trong suốt thời gian cách li, bởi vậy mà hàng nghìn bộ đội đã phải vào rừng chịu nắng dầm sương để nhường nơi ấm cúm, đủ đầy cho nhân dân trú ngụ Nếu không có tấm lòng cao cả của một người chiến sĩ, nếu không có tinh thần yêu nước thương dân thì sẽ không thể có được những hi sinh lớn lao như vậy Hai câu thơ vừa tái hiện được hoàn cảnh gian khổ của người lính vừa ngợi ca nét đẹp trong tâm hồn
và phẩm cách của họ
Câu 3: Có thể nói, khổ thơ thứ hai là khổ thơ hay nhất, cô đọng nhất ngợi ca tinh thần đoàn
kết, đồng lòng của dân tộc ta trong đại dịch Covid-19 nói riêng cũng như trong mọi thách thức lớn nhỏ nói chung Tinh thần đoàn kết từ xưa đến nay vẫn là một phẩm chất truyền thống quý báu của dân tộc ta Từ những năm tháng còn kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giành lại độc lập, tự do cho đất nước, tinh thần đoàn kết đã đóng một vai trò quan trọng trong
vô vàn chiến thắng oanh liệt của cha ông Và giờ đây, ở thời điểm đại dịch bùng phát mạnh
mẽ trên toàn thế giới, nhân dân ta lại một lần nữa phát huy giá trị của tình thần đoàn kết, chung sức đồng lòng ấy để cùng nhau dập tan đại dịch Chính phủ và nhà nước luôn đề cao
khẩu hiệu: Vì trận chiến “không một ai bị bỏ lại phía sau”, và tất cả chúng ta đều có quyền tự
hào về tinh thần và truyền thống vẻ vang ấy, từ đó nhận thức được trách nhiệm của mình là phải giữ gìn và phát huy tinh thần đoàn kết quý báu của dân tộc
Trang 7
ĐỀ SỐ 04
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ
Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt
Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời
(Lưu Quang Vũ, Thơ Việt Nam thế kỉ XX, NXB Giáo dục, 2004, tr.901)
Câu 1: Cho biết phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ:
Câu 2: Trong bài thơ, tác giả dùng những từ ngữ, hình ảnh nào để miêu tả vẻ đẹp của tiếng
Trang 8
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là biểu cảm
Câu 2: Trong bài thơ, những từ ngữ, hình ảnh được dùng để miêu tả vẻ đẹp của tiếng Việt:
“rung rinh” nhịp đập trái tim người; như tiếng sáo, như dây đàn; “nghẹn ngào”; “trong trẻo”;
“Như vị muối chung lòng biển mặn”; “Như dòng sông thương mến chảy muôn đời”,
Câu 3: “Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người
Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ”
Trong hai câu thơ trên, tác giả đã khéo léo sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh để
ví tiếng Việt như “tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ” khiến cho hàng triệu trái tim phải rung lên
những nhịp đập đầy xúc cảm Biện pháp so sánh vừa làm cho sự diễn đạt thêm gợi hình, gợi cảm, vừa nhấn mạnh được sự giàu đẹp của Tiếng Việt về thanh âm trong trẻo, về ngôn ngữ
đa dạng, bay bổng và kích thích được trí tưởng tượng của con người Từ đó khẳng định, tiếng Việt mang dáng hồn của văn hóa, lịch sử dân tộc và tiếng Việt cũng là một phần của trái tim, của tâm hồn con người Việt Nam
Trang 9
ĐỀ SỐ 05
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ, Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
Những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày quên lãng, Mặt trời vàng và mắt em nâu…
Xin chào Huế một lần anh đến,
Để ngàn lần anh nhớ trong mơ
Em rất thực nắng thì mờ ảo, Xin đừng lầm em với cố đô
Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy, Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền
Nón rất Huế nhưng đời không phải thế, Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng
Nhịp cầu cong và con đường thẳng Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu?
Con sông dùng dằng con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu!
Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt, Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hoá đá phía bên kia
(Tạm biệt Huế - Thu Bồn)
Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản
Câu 2: Anh/chị hiểu từ “minh mang” như thế nào trong câu thơ: “Nắng minh mang mấy nhịp
Tràng Tiền”?
Trang 10
Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng 01 biện pháp tu từ trong câu thơ: “Một đời anh tìm mãi Huế nơi
đâu?”
Câu 4: Hình ảnh “Con sông dùng dằng con sông không chảy/ Sông chảy vào lòng nên Huế rất
sâu!” trong văn bản trên có gì khác so với hình ảnh dòng sông Hương trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử sau đây:
Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Trang 11
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Câu 1: Phong cách ngôn ngữ của văn bản: nghệ thuật
Câu 2: Từ “minh mang” trong câu thơ “Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền” là một từ ngữ
miêu tả sự lan tỏa của nắng Đó là sự lan tỏa lớn rộng khắp không gian, là sự lan tỏa và chiếu sáng của ánh nắng đem lại một cảnh tượng rất thơ và rất tình
Câu 3: Trong câu thơ “Một thời anh tìm mãi Huế nơi đâu?”, tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ
vừa để làm sâu lắng hơn thứ cảm xúc chực trào về Huế mộng mơ vừa thể hiện nỗi băn khoăn, trăn trở của lòng mình về tình yêu dành cho thành phố cố đô gần gũi mà tưởng như xa xăm, cách trở Vẻ đẹp kín đáo, trầm mặc của thành phố như người con gái e thẹn, nấp mình sau nắng gió phủ đầy khiến cho nhà văn đã phải đi gần nửa cuộc đời mới có thể tìm thấy được chân ái của lòng mình
Câu 4: Hình ảnh “Con sông dùng dằng con sông không chảy / Sông chảy vào lòng nên Huế rất
sâu!” trong văn bản trên so với hình ảnh dòng sông Hương trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của
Hàn Mặc Tử hoàn toàn trái ngược nhau Nếu như dòng sông trong thơ Hàn Mặc Tử tạo cho
ta cảm giác tách rời, biệt lập với gió, với mây, là dòng nước mang tâm trạng buồn thiu, chán nản giống như tâm trạng của người thi sĩ ở trong phòng bệnh và tách biệt với thế giới bên ngoài lúc bấy giờ thì dòng sông trong câu thơ của Thu Bồn lại mang vẻ đẹp quấn quýt, chan
chứa tình cảm đến lạ thường Đó là “con sông dùng dằng con sông không chảy”, con sông vì
quá yêu, quá thương thành phố Huế mà không nỡ rời xa, không nỡ đẩy dòng chảy nhanh lên
để đi qua thành phố mà muốn hòa cùng với nhịp chảy của cố đô mãi mãi Đó là một dòng sông mang theo tâm trạng và tình cảm của thi nhân dành cho thiên nhiên và con người xứ Huế, tình cảm gắn bó tha thiết, sâu đậm như máu thịt không muốn lìa xa
Trang 12Vì một ngã đường vào chiến trường xa…
Mười cô gái: mười pho huyền thoại Rất hồn nhiên yêu hoa cải hoa cà Từng đố nhau và thức khuya tranh cãi Hoa cải, hoa cà sao gạt khỏi loài hoa?
Vào chiến đấu là những Nữ Oa Không vá trời mà mở đường vá đất
Hố bom chen dày, chồng chất Bom gỡ rồi, đường mở tiễn xe qua Mười cô gái tên vô cùng bình dị Như quê hương: Cúc, Nhỏ, Hợi, Tần…
Mang Hồng Lĩnh, Lam Giang đi đánh Mỹ Nên hy sinh không giây phút ngại ngần
Và nghĩa trang bên ngã ba Đồng Lộc Đội hình mười cô, mộ đứng thẳng hàng Đêm đêm, mười ngọn đèn không tắt Dõi một đường đi, tư thế sẵn sàng
Thực hiện những yêu cầu sau:
Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản
Câu 2: Tìm những từ ngữ, hình ảnh gợi lên vẻ đẹp hồn nhiên của các cô gái thanh niên xung
phong
Câu 3: Xác định biện pháp tu từ chính được sử dụng trong đoạn thơ sau và nêu tác dụng:
Trang 13Câu 4: Anh/chị hiểu thế nào về ý nghĩa của hai câu thơ
Đêm đêm, mười ngọn đèn không tắt Dõi một đường đi, tư thế sẵn sàng
Trang 14
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Câu 1: Thể thơ của văn bản là tự do
Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh gợi lên vẻ đẹp hồn nhiên của các cô gái thanh niên xung
phong: hồn nhiên hoa cải hoa cà; đố nhau và thức khuya tranh cãi
Câu 3: Vào chiến đấu là những Nữ Oa
Không vá trời mà mở đường vá đất
Hố bom chen dày, chồng chất Bom gỡ rồi, đường mở tiễn xe qua
Trong đoạn thơ trên, tác giả đã khéo léo sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh qua việc ví những cô gái thanh niên xung phong ở ngã ba Đồng Lộc chiến đấu như những Nữ Oa
vá trời oai phong, lẫm liệt Đó là một hình ảnh so sánh độc đáo, vừa khiến cho câu thơ thêm sinh động, ấn tượng vừa nhấn mạnh tinh thần quả cảm, ý chí chiến đấu kiên cường và sức mạnh vô biên của những nữ chiến sĩ tưởng như yếu đuối, mỏng manh mà lại vô cùng sắt đá, không sợ hiểm nguy, không sợ cái chết để lao vào đấu trường ác liệt, để chiến đấu cho từng tấc đất tấc vàng của Tổ quốc
Câu 4: Đêm đêm, mười ngọn đèn không tắt
Dõi một đường đi, tư thế sẵn sàng
Hai câu thơ trên là sự bộc bạch, giãi bày chứa đựng nhiều ý nghĩa của lời thơ tác giả dành cho sự hi sinh của những cô gái nơi ngã ba Đồng Lộc Đó là những nữ anh hùng của dân tộc đã chiến đấu hết mình, đã bỏ lại cả thanh xuân tuổi trẻ để xông pha ra mặt trận mặc kệ gian khổ, mặc kệ hiểm nguy Và rồi, họ đã ngã xuống trong niềm tiếc thương vô hạn và cũng
là niềm tự hào khôn xiết của tất cả những ai còn ở trên đời, cũng như nhiều thế hệ mãi về sau Họ ra đi khi đất nước còn quanh quẩn bóng dáng quân thù, họ ra đi mà lòng chưa hết được những nỗi canh cánh về nước, về dân, họ ra đi nhưng tâm hồn còn mãi, tâm hồn như ngọn đèn không bao giờ tắt vẫn luôn dõi theo từng con đường cách mạng còn dang dở Họ ngã xuống trong tư thế lẫm liệt, hào hùng, ngã vào đất mẹ vẫn nguyện làm hậu phương vững chắc nâng gót cho bao nhiêu thế hệ anh dũng về sau
Trang 15
ĐỀ SỐ 07
Đọc đoạn trích trên và thực hiện các yêu cầu sau:
Đã có lần con khóc giữa chiêm bao Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó Đồng sau lụt, bờ đê sụt lở
(Trích “Khóc giữa chiêm bao”, Vương Trọng)
Câu 1 Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn khó trong đoạn trích? Phương thức
biểu đạt chính của đoạn trích là gì?
Câu 2 Chỉ ra và nêu tác dụng 01 biện pháp tu từ trong 2 dòng thơ sau:
Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương
Câu 3 Anh/chị hiểu dòng thơ sau như thế nào?
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn
Câu 4 Thông điệp mà anh (chị) tâm đắc nhất qua đoạn trích là gì? Lý giải vì sao
Trang 16
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Câu 1: Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện năm khốn khó trong đoạn trích: đồng sau lụt, bờ đê
sụt lở; mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn; anh em chịu đói suốt ngày tròn; ngồi co ro bậu cửa;
có gì nấu đâu mà nhóm lửa
Câu 2: “Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.”
Trong hai câu thơ trên, tác giả đã khéo léo sử dụng biện pháp nghệ thuật nói giảm nói
tránh qua việc nói về sự ra đi của người mẹ bằng hình tượng biểu đạt “tới vuông đất mẹ” để
thể hiện sự kính trọng, trang nghiêm đối với đấng sinh thành, đồng thời giảm bớt được sự đau thương và nỗi mất mát to lớn khi mẹ đã không còn trên đời này nữa
Câu 3: “Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn” là một hình ảnh thơ đặc sắc, ẩn chứa trong đó
nhiều ý nghĩa vô cùng sâu xa mà tác giả muốn thể hiện Trước hết đó là sự cảm nhận về nỗi vất vả, nhọc nhằn, sự lam lũ sớm hôm của mẹ vì lo cho các con Hình ảnh mẹ chịu thương chịu khó với đôi quang gánh trĩu nặng trên vai xộc xà xộc xệch cũng chính là hình ảnh đại diện cho người phụ nữ Việt Nam tần tảo gánh vác bao lo toan nhọc nhằn để mưu sinh cho gia đình lúc bấy giờ Sự vất vả ấy kéo dài từ sáng sớm cho tới hoàng hôn, từ lúc ra đi quần áo
chỉnh tề cho đến khi trở về với hai từ “xộc xệch” Ta cũng có thể hiểu “xộc xệch” còn là từ diễn
tả cảm xúc của người con khi nghĩ về mẹ, nghĩ về những năm tháng vất vả ấy mà tâm trí bật
chợt rung lên, nghẹn ngào tưởng như “xộc xệch”
Câu 4: Chỉ bằng một đoạn trích ngắn, tác giả đã vừa tái hiện được những nỗi vất vả, nhọc
nhằn của mẹ vừa bộc lộ được suy nghĩ, tình cảm của một người con trên trang viết, đồng thời như nhắn gửi được đến thế hệ sau những thông điệp sâu sắc để nhận ra trách nhiệm và sứ mệnh của mình Mẹ là người đã sinh thành, nuôi dưỡng và hi sinh tất cả vì con, mẹ sẵn sàng chịu khổ, sẵn sàng bươn chải, lam lũ đó đây chỉ mong con có được một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc Tình mẹ vĩ đại như thế, tình mẹ thiêng liêng như thế, bởi vậy trách nhiệm của những người làm con là phải trân trọng và biết ơn đức hi sinh cao cả của mẹ, phải làm sao cho mẹ không phải vất vả, gian lao, phải làm sao cho mẹ luôn được nở mày nở mặt, tự hào khôn xiết khi kể về các con mình
Trang 17
ĐỀ SỐ 08
Buổi sáng tôi đi trên con đường lát đá,
Và rao lên: “Nào, ai thuê tôi thì đến thuê”
Ông vua ngồi trên xe đi tới, kiếm cầm trong tay
Ông nắm tay tôi và bảo:
“Ta muốn thuê ngươi bằng quyền lực của ta”
Nhưng quyền lực của y thì có gì đáng kể
Và thế là y lại ra đi Dưới trời trưa nóng bỏng Những ngôi nhà đóng cửa đứng yên
Tôi lang thang trên con đường nhỏ quanh co
Một ông già bước ra, mang một túi vàng
Ông suy nghĩ rồi bảo:
“Ta sẽ thuê ngươi bằng tiền bạc của ta”
Ông ta nhấc tiền lên, đồng này rồi đống khác nhưng tôi đã quay lưng
Chiều đã xuống Khu vườn nở hoa đầy giậu Một cô gái xinh đẹp đến và bảo:
“Tôi sẽ thuê anh bằng một nụ cười”
Nụ cười của cô ta đã nhạt đi
Và tan thành nước mắt,
Và cô đã trở về trong bóng tối một mình
Ánh mặt trời long lanh trên cát,
Và sóng vỗ rì rào;
Một cậu bé ngồi chơi với dăm vỏ ốc
Cậu ngẩng đầu lên, và dường như cậu nhận ra tôi rồi nói: “Tôi thuê anh với hai bàn tay trắng”
Trang 18
Và từ khi bản hợp đồng được ký chơi với cậu bé
Tôi trở thành người tự do
(R Ta-go, bản dịch của Đào Xuân Quý)
Câu 1: Trong văn bản, vì sao chàng trai ra giá thuê mình nhưng lại từ chối lời đề nghị của ông
vua, ông già và cô gái?
Câu 2: Lý do gì khiến chàng trai kí “bản hợp đồng” với cậu bé?
Câu 3: Trong văn bản, hình ảnh chú bé với hai bàn tay trắng mang ý nghĩa gì?
Câu 4: Từ văn bản, em hiểu thế nào về “tự do” theo quan niệm của Ta-go?
Trang 19
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Câu 1: Trong văn bản, chàng trai ra giá thuê mình nhưng lại từ chối lời đề nghị của ông vua,
ông già và cô gái vì: nhà vua thuê anh bằng quyền lực, ông già thuê anh bằng tiền bạc, cô gái thuê anh bằng nhan sắc Những điều ấy đều khiến anh mất tự do, anh từ chối vì không muốn ràng buộc bởi những điều thuộc về người khác
Câu 2: Lý do khiến chàng trai kí “bản hợp đồng” với cậu bé là bởi vì cậu đã thuê anh với “hai
bàn tay trắng”, cậu khiến cho anh không cảm thấy bị mất tự do bởi đó là một bản hợp đồng
phi vật chất, một bản hợp đồng hoàn toàn thuần túy bằng tinh thần và tình cảm Cậu bé chẳng
có gì trả cho anh và thực sự là anh cũng không cần phải lao động để được người khác trả công, anh cảm thấy tự do và thoải mái vô cùng
Câu 3: Trong văn bản, hình ảnh chú bé với hai bàn tay trắng biểu tượng cho sự to do, thoải
mái, không bị ràng buộc bởi bất cứ một giá trị vật chất nào như tiền tài, danh vọng và sắc đẹp trong cuộc sống Kí hợp đồng với hai bàn tay trắng chính là ta đang được sống bằng sự tự do
tự tại, được làm những điều mình thích, được sống là chính mình chứ không hề phải gồng gánh, chịu đựng vì bất kì ai, không phải gồng gánh, chịu dựng để có được những thứ vật chất tầm thường mà bán rẻ tự do, bán rẻ hạnh phúc của chính mình
Câu 4: Sự “tự do” theo quan niệm của Ta-go không chỉ là tự do về thể xác, là không bị giam
cầm, kìm hãm trong một giới hạn không gian nhất định, mà lớn lao hơn, cao cả hơn chính là được tự do về tình thần, tự do trong suy nghĩ, tình cảm Như chàng trai trong câu chuyện trên, tự do đối với anh là khi không bị ràng buộc bởi những thứ vật chất tầm thường như tiền tại, danh vọng và sắc đẹp, là khi được làm điều mình thích, được đối xử bằng những giá trị tinh thần, tình cảm cao đẹp Bị tước đoạt đi sự tự do về thể xác đã là một điều đáng sợ nhưng nếu bị tước đoạt đi sự tự do về tinh thần thì đó quả là một nỗi đau đớn, dằn vặt đến tột cùng
Từ quan niệm đó, nhà văn muốn nhắn gửi đến tất cả bạn đọc chúng ta về sự quý giá của tự
do, của hạnh phúc và nhắc nhở chúng ta cần phải bảo vệ và trân trọng nó
Trang 20
ĐỀ SỐ 09
Đọc văn bản dưới đây:
Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác chiếc lưỡi đi qua ngàn cơn bão từ vựng chiếc lưỡi trồi sụt trên núi đồi thanh âm, trên thác ghềnh cú pháp chiếc lưỡi bị hành hình trong một tuyên ngôn
Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác cám dỗ xui nhiều điều dại dột
đời cũng dạy ta không thể uốn cong
dù phần thắng nhiều khi thuộc những bầy cơ hội Trên chiếc lưỡi có lời tổ tiên
Trên chiếc lưỡi có vị đắng sự thật Trên chiếc lưỡi có vị đắng ngọt môi em Trên chiếc lưỡi có lời thề nước mắt Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác dẫu những lời em làm ta mềm lòng
dẫu tình yêu em từng làm ta cứng lưỡi Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác một chiếc lưỡi mang điều bí mật
và điều này chỉ người biết mà thôi
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên
Câu 2: Anh/ chị hiểu như thế nào về câu thơ “Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác”?
Câu 3: Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ dưới đây và nêu hiệu quả nghệ
thuật của biện pháp tu từ đó:
Trên chiếc lưỡi có lời tổ tiên Trên chiếc lưỡi có vị đắng sự thật Trên chiếc lưỡi có vị đắng ngọt môi em Trên chiếc lưỡi có lời thề nước mắt
Câu 4: Thông điệp ý nghĩa nhất đối với anh/ chị sau khi đọc bài thơ trên là gì? Vì sao?
Trang 21
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là biểu cảm
Câu 2: Câu thơ “Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác” mới đầu gợi cho bạn đọc sự ngỡ
ngàng, ngơ ngác vì tưởng như đó là một điều hiển nhiên, vì ai mà chẳng nói bằng chính chiếc lưỡi của mình Thế nhưng ẩn sâu trong đó là ý nghĩa sâu xa: Đôi khi ta nói theo, học theo người khác, nói những lời không phải do chính mình thật lòng muốn thốt ra, đó là khi ta đánh
mất chính mình, ta “nói bằng chiếc lưỡi của người khác” và hầu như đó toàn là những lời nói
chẳng hay ho, tốt đẹp gì Câu thơ là sự khẳng định của tác giả rằng bản thân không bao giờ
“nói bằng chiếc lưỡi của người khác” và vô cùng căm ghét điều đó
Câu 3: Trên chiếc lưỡi có lời tổ tiên
Trên chiếc lưỡi có vị đắng sự thật Trên chiếc lưỡi có vị đắng ngọt môi em Trên chiếc lưỡi có lời thề nước mắt
Trong đoạn thơ trên, tác giả đã sử dụng biện pháp điệp cấu trúc câu bằng cách lặp lại
cụm từ “trên chiếc lưỡi có” ở đầu mỗi câu thơ vừa tạo nên nhịp điệu dồn dập, nối tiếp cho khổ
thơ vừa để nhấn mạnh và làm nổi bật lời nhắc nhở về sự thiêng liêng, quý giá của lời nói Đó
là lời nói của chính mình, lời bộc bạch từ chính tâm can và là đại diện cho bộ mặt, cho con
người mình, tuyệt đối không phải là lời nói của bất cứ một người nào khác, không phải là “nói bằng chiếc lưỡi của người khác”
Câu 4: Đoạn thơ trên đã đem đến cho bạn đọc nhiều thông điệp quý giá về lời nói và con
người Trước hết, đó là sự nhắc nhở mỗi chúng ta về việc phải giữ được lời nói của chính mình, phải giữ được sự chân thật trong cõi lòng mình, phải làm chủ được bản thân trước những cám
dỗ từ lời nói của người khác, biết cái gì đúng cái gì sai mà lựa chọn tiếp cận hay né tránh Thứ nữa, lời nói chính là đại diện cho bộ mặt và con người mình, bởi vậy mỗi chúng ta cần phải cẩn trọng trong từng lời nói thốt ra, cần phải suy nghĩ trước khi nói để không phải hối hận,
để không phải dằn vặt, day dứt vì một khi lời nói đã buông ra thì không thể nào rút lại được
Trang 22
ĐỀ SỐ 10
Đọc bài thơ:
Đường tắt Luôn có một con đường ở trước bạn Con đường dài mà bạn đang đi, hướng tới đích
Có một con đường ngắn hơn, cũng ở đó Con đường nhỏ, ngắn và dễ đi hơn
Nó không dài, không tốn thời gian và không có một chướng ngại vật nào Nhưng
Con đường nhỏ ấy
Nó bỏ qua rất nhiều thứ
Nó không cho bạn một tí kinh nghiệm nào
Nó không làm cho bạn mạnh mẽ hơn
Nó không làm cho bạn tốt hơn
Và nó luôn là con đường sai
Nhưng Con người vẫn đi con đường nhỏ ấy Những kẻ trộm đi con đường ấy để trở thành kẻ giàu Những kẻ lừa dối đi con đường ấy để trở nên thành công Chúng dễ dàng đạt được những thứ người khác đạt được một cách khó nhọc Chúng trở nên thành công với những ý nghĩ vô học
Liệu chúng có thể tồn tại?
(Đặng Chân Nhân, tập thơ “Giờ thứ 38”, NXB Hội Nhà văn, 2009)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 Xác định thể thơ của bài thơ trên
Câu 2 Anh/Chị hiểu thế nào là con đường tắt trong bài thơ?
Câu 3 Nêu hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ ở cuối bài thơ
Câu 4 Anh/ chị có đồng tình với ý kiến: “Con đường nhỏ ấy/ Nó bỏ qua rất nhiều thứ” không?
Vì sao?