TRƯỜNG KHOA LUẬT TIỂU LUẬN MÔN LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM Đề 4 Bảo vệ quyền con người thông qua Hiến pháp – kinh nghiệm trên thế giới và bài học cho Việt Nam Họ và tên Mã sinh viên Lớp Năm 2021 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 2 1 Lý do chọn đề tài 2 2 Kết cấu bài tiểu luận 2 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM 3 1 1 Khái quát chung về quyền cơ bản của con người 3 1 1 1 Khái niệm quyền con người 3 1 1 2 Đặc điểm của quyền con người 3 1 1 3.
Trang 1TRƯỜNG …
KHOA LUẬT
-TIỂU LUẬN MÔN: LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM
Đề 4: Bảo vệ quyền con người thông qua Hiến pháp – kinh nghiệm trên
thế giới và bài học cho Việt Nam
Họ và tên :
Mã sinh viên :
Năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Kết cấu bài tiểu luận 2
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM 3
1.1 Khái quát chung về quyền cơ bản của con người 3
1.1.1 Khái niệm quyền con người 3
1.1.2 Đặc điểm của quyền con người 3
1.1.3 Phân loại quyền con người 4
1.2 Vai trò của Hiến pháp trong việc đảm bảo quyền con người 4
1.3 Quyền con người trong Hiến pháp 2013 5
1.3.1 Quyền con người trong các bản Hiến pháp Việt Nam 5
1.3.2 Các nguyên tắc cơ bản về quyền con người theo Hiến pháp 2013 6
1.3.3 Nội dung quyền con người theo Hiến pháp 2013 7
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 9
2.1 Kinh nghiệm bảo vệ quyền con người trên thế giới 9
2.1.1 Quyền con người và phát triển bền vững 9
2.1.2 Quyền con người gắn với sự phát triển của khoa học kỹ thuật 9
2.2 Bài học cho Việt Nam 10
PHẦN KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
1
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay, không chỉ tại nhà nước Việt Nam mà trên toàn thế giới, quyền con người đang ngày càng được coi trọng, dần trở thành tiếng nói và mục tiêu chung của toàn xã hội Theo đó, những ghi nhận về quyền con người được hệ thống hoá trong quy định pháp luật của mỗi quốc gia thông qua hệ tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ, thúc đẩy tinh thần tự do, nhân phẩm và hạnh phúc của mỗi người, mỗi quốc gia và văn minh nhân loại1
Tại Việt Nam, ngay từ trong quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện sự coi trọng quyền con người, cụ thể ngay từ Chỉ thị số 12/CT-TW của Ban
Bí thư Trung ương Đảng năm 1992 về vấn đề quyền con người và quan điểm,
chủ trương của Đảng ta đã xác định rõ ràng: “Đối với chúng ta, vấn đề quyền
con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ ta và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực, từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, pháp chế ”
Cho đến hiện nay, quyền con người đã được thể hiện rõ nét trong Hiến
pháp năm 2013 (sau đây gọi là “Hiến pháp 2013”), theo đó không chỉ được quy
định tập trung tại một Chương II mà quan điểm về quyền con người còn được đề cập và xem là nội dung xuyên suốt trong toàn bộ văn bản này Có thể nói, Hiến pháp 2013 luôn hướng tới mục tiêu quan trọng nhất là phát huy dân chủ, đảm bảo chủ quyền của Nhân dân, được xem là Hiến pháp vì các quyền và tự do cơ bản của con người Nói cách khác, Hiến pháp 2013 chính là đạo luật ghi nhận và bảo vệ các quyền cơ bản của con người
Xuất phát từ lý do được phân tích nêu trên, em quyết định lựa chọn đề tài:
“Bảo vệ quyền con người thông qua Hiến pháp – kinh nghiệm trên thế giới
và bài học cho Việt Nam” là đề tài cho bài tiểu luận của mình để phân tích và
làm rõ hơn khẳng định được đưa ra ở đề tài này
1 Chu Hồng Thanh, Quyền con người trong Hiến pháp năm 2013, xem tại
https://lamdong.gov.vn/sites/stttt/thanhtra/congtacphapche/Shared%20Documents/Quyen%20con%20nguoi
2
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP
VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về quyền cơ bản của con người
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Mặc dù các quốc gia trên thế gioiws đã có sự thừa nhận về quyền con người và được Liên hợp quốc thể hiện qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, tuy nhiên cho đến hiện nay vẫn chưa có một khái niệm toàn diện, được sử dụng và hiểu thống nhất Mặc dù đã có nhiều khái niệm được đưa
ra, tuy nhiên xét về bản chất đều hiểu quyền con người chính là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Hay nói cách khác có thể định nghĩa:
“Quyền con người là tổng hợp những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế.”
Có thể nói, khái niệm nêu trên đang nhìn nhận quyền con người đồng thời trên cả hai quan điểm, đó là các quyền tự nhiên và quyền pháp lý
1.1.2 Đặc điểm của quyền con người
Quyền con người có một số đặc điểm như sau:
Một là, tính phổ biến Quyền con người là quyền gắn với lợi ích tự nhiên,
bẩm sinh, gắn với bản chất con người, do vậy bất cứ con người ở bất cứ nơi đâu đều có quyền này
Hai là, tính đặc thù Mặc dù phổ biến, tuy nhiên quyền con người cũng bị
ảnh hưởng bởi những đặc trưng, bản sắc riêng, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống văn hoá, lịch sử ở từng quốc gia, từng khu vực lãnh thổ riêng biệt Theo đó, với tính chất đặc thù về quyền con người, các quốc gia có quyền đưa ra những quy định pháp luật phù hợp nhất định với đặc trưng vùng miền của mình, tuy nhiên phải đảm bảo không trái với các chuẩn mực quốc tế tại các điều ước quốc tế về nhân quyền đã được ghi nhận
Ba là, tính giai cấp Tính giai cấp không thể hiện trong nội dung của các
quyền và được thể hiện trong việc thực thi quyền con người Theo đó, với tư cách là chế định pháp lý, quyền con người gắn liền với nhà nước và pháp luật, hai hiện tượng mang tính giai cấp sâu sắc.2
2 Lê Minh Trường (2021), Quyền con người là gì? Đặc điểm, phân loại các quyền con người, xem tại
20/12/2021
3
Trang 51.1.3 Phân loại quyền con người
Quyền con người có thể được phân chia thành từng nhóm theo những tiêu chí khác nhau Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý có thể chia quyền con người thành hai nhóm chính như sau:
Một là nhóm các quyền dân sự, chính trị Trong nhóm quyền này có thể kể
đến một số quyền tiêu biểu như: Quyền sống; Quyền không bị phân biệt đối xử; Quyền được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật; Quyền tự do đi lại, cư trú; Quyền tự do ý kiến và biểu đạt; Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân;
Hai là nhóm các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá Một số quyền tiêu biểu
thuộc nhóm quyền này có thể nhắc đến như: Quyền được giáo dục; Quyền làm việc và hưởng thù lao công bằng, hợp lý; Quyền về sức khoẻ; Quyền được tham gia và đời sống văn hoá và được hưởng các thành tựu khoa học;
Việc phân loại quyền này cũng phù hợp với những văn kiện pháp lý quan trọng về quyền con người đã được Liên hợp quốc ban hành là: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966
1.2 Vai trò của Hiến pháp trong việc đảm bảo quyền con người
Từ những phân tích ở trên có thể thấy tầm quan trọng của Hiến pháp trong thang bậc về hiệu lực pháp lý tại mỗi quốc gia và đặc biệt là tại Việt Nam Chính bởi vậy, Hiến pháp giữ vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo quyền con người, cụ thể như sau3:
Thứ nhất, Hiến pháp là văn bản ghi nhận quyền con người.
Trong một quốc gia, để đảm bảo quyền con người được thực thi thì trước hết những quyền đó phải được nhà nước ghi nhận Đây là bước đầu tiên và cũng
là bước quan trọng nhất để tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo Trong đó thể chế hóa trong hệ thống pháp luật và cụ thể là tại Hiến pháp cũng là một trong những cách thức để quốc gia tuyên bố, thể hiện với các nước khác trên thế giới
về quan điểm đối với nhân quyền của mình Đây là cách đảm bảo hữu hiệu nhất
về mặt pháp lý để quyền con người được thực hiện và tôn trọng
Thứ hai, Hiến pháp là công cụ hạn chế quyền lực nhà nước nhằm đảm
bảo quyền con người
3 Nguyễn Ngọc Nghiệp - Nguyễn Tuấn Việt (2021), Vai trò của Hiến pháp trong việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân – Khảo sát trường hợp Nhật Bản, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
4
Trang 6Với vị thế, quyền uy và tầm ảnh hưởng của mình, nhà nước là một trong những chủ thể có ảnh hưởng lớn nhất tới việc đảm bảo quyền con người Cụ thể, nhà nước vừa là chủ thể ban hành và quyết định ghi nhận quyền con người, đồng thời cũng là chủ thể có khả năng xâm phạm quyền con người lớn nhất
Với những quy định trong Hiến pháp về cơ cấu tổ chức, quyền hạn, trách nhiệm của nhà nước, Hiến pháp đã giới hạn quyền lực của nhà nước (thông qua việc đưa ra các cơ chế kiểm soát, phân chia, kiềm chế quyền lực,…) Thông qua
đó, việc bảo vệ quyền con người sẽ hiệu quả và thiết thực hiện bên cạnh những quy định ghi nhận trực tiếp về quyền con người trong văn bản pháp luật này
Thứ ba, Hiến pháp là văn bản pháp lý ràng buộc trách nhiệm của nhà
nước để quyền con người được thực thi
Những ghi nhận về quyền con người tại Hiện pháp không chỉ là những thừa nhận của Nhà nước về sự tồn tại của các quy định về bảo vệ quyền con người mà còn là sự khẳng định về mặt trách nhiệm của nhà nước trong việc thực
tế hóa những quy định nào và cuộc sống Nói một cách đơn giản, Nhà nước ghi nhận quyền con người thì đồng thời phải đưa ra những cơ chế để đảm bảo viêc thực hiện các quyền này Những cơ chế đảm bảo có thể được ghi nhận trực tiếp tại Hiến pháp hoặc cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan khác
1.3 Quyền con người trong Hiến pháp 2013
1.3.1 Quyền con người trong các bản Hiến pháp Việt Nam
Theo dòng lịch sử phát triển của Luật Hiến pháp Việt Nam, chúng ta đã trải qua tất cả 5 Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 (Hiến pháp hiện hành của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo đó ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên vào năm 1946 cho đến nay, những vấn đề về quyền con người đã được nhà nước ta sớm quan tâm và có những ghi nhận cụ thể áp dụng Cụ thể được thể hiện qua các bản Hiến pháp như sau:
Tại Hiến pháp năm 1946, nước ta đã ghi nhận những quy định tiến bộ về quyền con người dưới hình thức quyền công dân mà tới tận năm 1948 mới được Liên hợp quốc ghi nhận tại Tuyên ngôn thế giới về quyền con người Mặc dù những quyền này vẫn còn khá chung chung tuy nhiên đã thể hiện khá đầy đủ nội dung quyền con người dưới các góc độ: chính trị, kinh tế, xã hội; tín ngưỡng; học tập; bình đẳng nam nữ; tự do ngôn luận;
Vẫn tiếp tục duy trì và phát huy những giá trị tốt đẹp của Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 đã hoàn thiện hơn những quy định về quyền 5
Trang 7con người trên cơ sở “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Cũng từ đây, các quyền con người mới đã được ghi nhận: quyền bất khả xâm phạm về thân thể; Quyền nghỉ ngơi; Quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuộc; Quyền của phụ nữ;
Tuy nhiên phải đến Hiến pháp 1992, khái niệm “quyền con người” mới
thực sự được đề cập tới Cụ thể Điều 50 Hiến pháp 1992 quy định: “Ở nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Mặc dù đã được đề cập tới tuy nhiên
chế định về quyền con người chưa thực sự được ghi nhận một cách độc lập, riêng biệt mà theo đó vẫn thể hiện trong “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”
Cuối cùng, đến Hiến pháp 2013 cũng là Hiến pháp hiện hành của nước ta, quyền con người đã được ghi nhận một cách đầy đủ, riêng biệt bên cạnh quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân Với sự thay đổi này đã ghi nhận sự chuyển biến nhất định trong tư duy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta với nhân tố con người, đề cao con người là chủ thể tối cao của quyền lập hiến 4
1.3.2 Các nguyên tắc cơ bản về quyền con người theo Hiến pháp 2013
Quyền con người ghi nhận tại Hiến pháp 2013 dựa trên những nguyên tắc
cơ bản, được xem là những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, khách quan và khoa học Theo đó, đây cũng chính là những cơ sở nền móng, là kim chỉ nam để xác định
và xây dựng nội dung về quyền con người Các nguyên tắc cơ bản này được xác định dựa trên những quy định trong Hiến pháp 2013, cụ thể bao gồm:
(i) “Nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người
về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội theo Hiến pháp và pháp luật”.5
Đây là nguyên tắc thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước cơ bản nhất, đặc biệt quan trọng về quyền con người Theo đó, nguyên tắc này được ghi nhận
cụ thể tại Điều 14 Hiến pháp 2013, thể hiện sự nhận thức đúng đắn về bản chất của quyền con người là quyền tự nhiên, quyền vốn có của con người từ khi sinh ra; không phải quyền được Nhà nước trao cho Nhà nước ở đây tồn tại với vai trò là chủ thể công nhận, tôn trọng, bảo đảm cho quyền con người không bị xâm hại và được thực hiện một cách hoàn thiện nhất
(ii) “Quyền con người chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
4 Vũ Thị Hồng Vân – Chủ biên (2019), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, NXB Tư pháp, tr139 – tr140
5 Quốc hội (2013), Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp
6
Trang 8hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng” 6
Mặc dù Hiến pháp 2013 thừa nhận quyền con người là tự nhiên, khách quan và vốn có, tuy nhiên để đảm bảo quyền con người không xâm phạm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng thì cần có những hạn chế nhất định Tuy nhiên, việc đưa ra nguyên tắc này vừa thể đặt ra giới hạn hạn chế đối với quyền con người nhằm bảo đảm các lý do khác nêu trên, đồng thời giúp khắc phục sự tùy tiện trong việc xác định hạn chế quyền con người của các chủ thể, cơ quan nhà nước
(iii) “Quyền con người không tách rời nghĩa vụ”
Con người trong mối quan hệ với Nhà nước chính là công dân Khoản 1
Điều 15 Hiến pháp 2013 quy định “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ
công dân”, đồng nghĩa với việc khẳng định quyền và nghĩa vụ là hai mặt của
quyền công dân Theo đó, công dân không chỉ có những quyền lợi hợp pháp của mình về quyền con người mà còn phải có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh các
quy định của pháp luật đảm bảo “tôn trọng quyền của người khác”7
(iv) “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp 2013 như sau: “1.
Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; 2 Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” Theo đó, với quan điểm
được ghi nhận tại nguyên tắc này đã góp phần ghi nhận, hướng tới một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và đảm bảo tinh thần thượng tôn pháp luật
(v) “Quyền con người không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”
Nội dung nguyên tắc này được ghi nhận tại khoản 4 Điều 15 Hiến pháp
201 Theo đó dựa trên tinh thần của nguyên tắc số (ii), nguyên tắc này được đưa
ra như một lần nữa khẳng định rõ hơn rằng, bên cạnh tính tự nhiên sinh ra, tự nhiên vốn có thì quyền con người cũng cần phải nằm trong một giới hạn nhất định Điều này xuất phát từ lý do con người không phải là một cá thể đơn độc trong xã hội chính vì vậy, mỗi hành động, suy nghĩ của cá nhân này đều có thể tác động, ảnh hưởng đến cá nhân hoặc chủ thể khác Do đó để đảm bảo quyền con người được tôn trọng gắn liền trong mối quan hệ với quốc gia, dân tộc và các chủ thể khác thì cần đặt ra những giới hạn nhất định như đã được đưa ra tại các nguyên tắc này
1.3.3 Nội dung quyền con người theo Hiến pháp 2013
6 Quốc hội (2013), Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp.
7 Quốc hội (2013), Khoản 2 Điều 15 Hiến pháp.
7
Trang 9Dựa trên những nguyên tắc về quyền con người đã được phân tích ở mục 3.2 nêu trên, Hiến pháp 2013 đã ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng về từng quyền con người riêng biệt thuộc hai nhóm quyền con người nói chung Chi tiết như sau:
Đối với nhóm các quyền dân sự, chính trị:
- Thứ nhất, quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình
đẳng trước pháp luật (Ghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp 2013)
- Thứ hai, quyền sống, quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc
trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục (Ghi nhận tại Điều 20 Hiến pháp
2013)
- Thứ ba, quyền được coi là vô tội; quyền được xét xử công bằng, công
khai; quyền được bào chữa; quyền được yêu cầu bồi thường (Ghi nhận tại Điều
31 Hiến pháp 2013)
- Thứ tư, quyền được bảo vệ đời tư (Ghi nhận tại Điều 21 Hiến pháp
2013)
- Thứ năm, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Ghi nhận tại Điều 24
Hiến pháp 2013)
- Thứ năm, quyền kết hôn và lập gia đình, bình đẳng trong hôn nhân
(Ghi nhận tại Điều 36 Hiến pháp 2013)
Đối với nhóm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa:
- Thứ nhất, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu thu nhập hợp pháp,
quyền thừa kế (Ghi nhận tại Điều 16, Điều 32, Điều 33 Hiến pháp 2013)
- Thứ hai, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe (Ghi nhận tại Điều
38 Hiến pháp 2013)
- Thứ ba, quyền được nghiên cứu và hưởng thụ các thành tựu khoa học;
quyền được tham gia vào đời sống văn hóa (Ghi nhận tại Điều 40, Điều 41 Hiến
pháp 2013)
8
Trang 10CHƯƠNG 2 MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC
CHO VIỆT NAM 2.1 Kinh nghiệm bảo vệ quyền con người trên thế giới
Không chỉ tại Việt Nam, quyền con người đã được ghi nhận tại rất nhiều quốc gia trên thế giới với những phạm vi và nội dung nhận định khác nhau Nhiều quốc gia đã có những quy định tiến bộ và phù hợp với xu hướng hiện đại, phát triển của thế giới hiện nay, thông qua việc cụ thể hóa quyền con người tại các văn bản pháp luật chuyên ngành hay ngay chính trong những quy định tại Hiến pháp
Theo đó, các quốc gia đang xây dựng việc bảo vệ quyền con người gắn liền với những vấn đề riêng biệt như:
2.1.1 Quyền con người và phát triển bền vững
Có thể nói sự phát triển quyền con người gắn liền với tiền đề là sự phát triển bền vững trong mọi mặt của đời sống Xã hội có phát triển bền vững thì quyền con người mới được đề cao và coi trọng hơn Chính bởi vậy, xu hướng hiện nay, việc nâng cao quyền con người phải đi cùng với phát triển bền vững về môi trường, phát triển bền vững về văn hoá (hoà nhập nhưng không hoà tan), phát triển bền vững về kinh tế Đây đang dần trở thành một xu thế tất yếu và được các quốc gia ngày càng quan tâm, chú trọng trong các chiến lược được đặt
ra về phát triển bền vững kinh tế, xã hội
2.1.2 Quyền con người gắn với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
Trước hết nhắc đến khoa học kỹ thuật phải nhắc đến Internet Với sự xuất hiện và ngày càng phát triển lớn mạnh của Internet trên thế giới đã tạo ra những yêu cầu về việc đảm bảo quyền con người ở những hình thức mới Theo đó, Internet đã góp phần lan rộng hiệu ứng và tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền con người tới nhiều vùng lãnh thổ, tuy nhiên đây cũng đồng thời có thể là nơi dễ khiến quyền con người bị các đối tượng xấu xâm phạm
Nói ngay tại ứng dụng trang mạng xã hội Facebook đang có hàng trăm triệu người dùng hiện nay, không khó để bắt gặp việc một số cá nhân bị bôi nhọ hình ảnh, xuyên tạc trên mạng xã hội dẫn tới ảnh hướng về mặt danh tiếng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền con người Tại Hàn Quốc trong thời gian qua cũng có vô số vụ tự tử của người nổi tiếng, ido xuất phát từ những thông tin bịa đặt hay tin đồn chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội
Chính bởi vậy mà nhiều quốc gia đã đưa ra những quy định pháp luật nhằm điều chỉnh kịp thời về những thực trạng này trong xã hội Nước ta cũng đã 9