1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài từ thực tiễn tại thành phố hồ chí minh

99 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Quyết Tranh Chấp Trong Kinh Doanh, Thương Mại Bằng Phương Thức Trọng Tài Từ Thực Tiễn Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Thị Nhung
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ NHUNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC Chuyên ngành Luật kinh tế TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021 iii MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 1 2 Tình hình nghiên cứu 2 3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5 4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6 5 Phương pháp nghiên cứu 7 6 Kết cấu bài khóa luận 7 CHƯƠNG 1 NHỮNG V.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ NHUNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG

KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI

TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật kinh tế

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Kết cấu bài khóa luận 7

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI 8

1.1 Khái quát chung về tranh chấp trong kinh doanh, thương mại 8

1.1.1 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh, thương mại 8

1.1.2 Đặc điểm tranh chấp trong kinh doanh, thương mại 11

1.1.3 Các dạng tranh chấp trong kinh doanh, thương mại 13

1.2 Khái quát về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài 16

1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài 16

1.2.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài 19

1.2.3 So sánh giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài với các phương thức giải quyết tranh chấp khác 20

1.2.4 Các hình thức trọng tài 24

1.2.5 Ý nghĩa của phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài 27

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài 29

Trang 3

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 2003 29

1.3.2 Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010 30

1.3.3 Giai đoạn từ năm 2010 đến nay 30

1.4 Pháp luật một số nước trên thế giới về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 36

2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài 36

2.1.1 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài 36

2.1.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài ở TPHCM 58

2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài 66

2.2.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài 66

2.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài 70

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)1 và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)2 thì diện mạo của nền kinh tế Việt Nam ngày càng đa dạng, phong phú và mang nhiều sắc thái mới đã ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh, thương mại

Trong điều kiện bình thường, bên cạnh các giao dịch “Thuận buồn xuôi gió” giữa các chủ thể kinh doanh thì vẫn còn tồn tại những bất đồng về quan điểm, quyền

và lợi ích và việc dẫn đến những tranh chấp trong quan hệ kinh doanh, thương mại là điều không thể tránh khỏi Năm 2020 là một năm chứng kiến nhiều biến động của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng do dịch Covid Dưới tác động của dịch bệnh, không thể phủ nhận doanh nghiệp đã trải qua thời kỳ đầy khó khăn khi hoạt động kinh doanh bị ngừng trệ trong thời gian dài Trước tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn vì đại dịch Covid thì các mâu thuẫn trong hoạt động kinh doanh, thương mại đang có xu hướng nhiều hơn về số lượng, lớn về quy mô, đa dạng về nội dung và phức tạp về tính chất Để đáp ứng nhu cầu thực tế và giảm áp lực cho tòa án khi các vụ việc tranh chấp về kinh doanh, thương mại ngày càng có chiều hướng gia tăng thì trọng tài đã trở thành phương thức được phần lớn doanh nghiệp chọn lựa Tính đến năm 2020 Việt Nam đã có 30 trung tâm trọng tài thay vì chỉ có 7 trung tâm trọng tài như trước đây và 1 văn phòng đại diện của trung tâm trọng tài nước ngoài

Số vụ tranh chấp tại trọng tài cũng có sự gia tăng đáng kể Chỉ tính riêng số vụ tranh chấp đưa ra giải quyết tại VIAC là 274 vụ trong năm 2019, tăng gấp 4-5 lần so với năm 2010.3

Theo dòng chảy của xã hội, Nhà nước cũng có nhiều thay đổi trong chính sách

mà điển hình là việc xây dựng và ban hành những văn bản quy phạm pháp luật mới vào cuối năm 2020, đầu năm 2021 Cụ thể, tại Kỳ họp thứ 9 khóa XIV, Quốc Hội đã

1 Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập vào 01/01/1995

2 Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một hiệp định/thỏa thuận thương mại tự do được ký kết giữa 12 nước vào ngày 4/2/2016 tại Auckland, New Zealand sau 5 năm đàm phán với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

3 Linh Linh (2020), “Cạnh tranh trên thị trường trọng tài thương mại”, từ tranh-tren-thi-truong-trong-tai-thuong-mai-103077.html truy cập lần cuối 12/02/2021

Trang 6

https://thoibaonganhang.vn/canh-chính thức thông qua Luật doanh nghiệp 2020 và Luật Đầu tư 2020 với những điểm sửa đổi đáng chú ý; cùng với đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác cũng được các chuyên gia thảo luận, đóng góp ý kiến và chuẩn bị ban hành Như vậy câu hỏi đặt

ra khi các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành thì liệu rằng những văn bản quy phạm pháp luật cũ có còn phù hợp hay không So với thực tiễn thì các quy định của Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 ngày 17 tháng 06 năm 2010 thì quy định về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài vẫn còn nhiều bất cập, ví dụ như về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài chưa bao quát, thời gian thụ lý vụ việc còn chưa hợp lý, nội dung đơn khởi kiện còn nhiều hạn chế, các quy định về thi hành và hủy phán quyết của trọng tài không

rõ ràng khiến cho việc giải quyết đôi khi gặp phải bế tắc Những hạn chế đó đã gây

ra nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh và giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài Do đó việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài và những bất cập trong quá trình giải quyết để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hạn chế tranh chấp và đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh doanh trong xu thế hội nhập thế giới là một nội dung rất quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật trọng tài nói riêng

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài từ thực tiễn Thành phố

Hồ Chí Minh” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Qua khảo sát cho thấy việc nghiên cứu về pháp luật trọng tài luôn được nhiều nhà khoa

học pháp lý quan tâm Điển hình có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

* Giáo trình và sách chuyên khảo:

- Giáo trình của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo

trình pháp luật về Cạnh tranh và Tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức – Hội luật

gia Việt Nam

Trang 7

- Giáo trình của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo

trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia

Việt Nam

- Đỗ Văn Đại (2017), Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam – bản án và bình

luận bản án (tập 1+2), Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam

- Trần Minh Ngọc (2019), Pháp luật về trọng tài thương mại, Nxb Lao động

- Nguyễn Trung Tín (2005), Công nhận và thi hành các quyết định của trọng

tài thương mại tại Việt Nam, Nxb Tư pháp

- Tưởng Duy Lương (2016), Bình luận Bộ luật tố tụng dân sự, luật Trọng tài

thương mại và thực tiễn xét xử, Nxb Tư pháp

- Dương Văn Hậu (1999), Trọng tài thương mại Việt Nam trong tiến trình đổi

mới, Nxb Chính trị Quốc gia

Nội dung cơ bản của các giáo trình và sách chuyên khảo kể trên chủ yếu bàn về các vấn đề cơ bản như khái niệm, đặc điểm, bản chất của trọng tài thương mại theo

pháp luật Việt Nam và khái quát các hoạt động kinh doanh, thương mại

* Khóa luận, Luận văn, Luận án:

- Khóa luận tốt nghiệp “Xác định thẩm quyền trọng tài thương mại theo luật

Trọng tài thương mại năm 2010” của tác giả Ngô Thị Mỹ Hảo, năm 2020, trường

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

- Khóa luận tốt nghiệp “Căn cứ hủy phán quyết của trọng tài thương mại – So

sánh với pháp luật Singapore và đề xuất hướng hoàn thiện” của tác giả Ngô Quốc

Lâm, năm 2019, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

- Luật văn Thạc sĩ Luật học “giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương

mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn tại Thành phố Đà Nẵng” của

tác giả Võ Ngọc Thông, năm 2017, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam học viện

khoa học xã hội

Trang 8

- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Sự hỗ trợ của Tòa án đối với giải quyết tranh

chấp bằng trọng thương mại ở Việt Nam” của tác giả Tống Vân Huyền, năm 2011,

khoa Luật, trường Đại học Luật Hà Nội

- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về trung gian hòa giải trong giải quyết

tranh chấp kinh doanh thương mại” của tác giả Lê Hữu Lam Sơn, năm 2015, trường

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

- Luận văn Thạc sĩ luật học “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng

tài thương mại Việt Nam” của tác giả Lương Thanh Quang, năm 2013, trường Đại

học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

- Luận văn Thạc sĩ luật học “Giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế

bằng trọng tài thương mại” của tác giả Trương Quốc Tấn, năm 2003, trường Đại học

Luật Thành phố Hồ Chí Minh

- Luận án Tiến sĩ “Quyền lựa chọn pháp luật trong kinh doanh thương mại” của

tác giả Nguyễn Đức Vinh, năm 2018, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

- Luận án Tiến sĩ “Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương

mại trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Đặng Thanh Hoa, năm

2015, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên nhìn chung đã nghiên cứu rất rõ các khía cạnh về thẩm quyền của trọng tài, căn cứ hủy phán quyết của trọng tài,

sự hỗ trợ của tòa án đối với các hoạt động tố tụng trọng tài Bên cạnh đó các công trình nghiên cứu trên còn nghiên cứu khái quát về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trung gian hòa giải và Tòa án

* Bài báo, bài viết, tạp chí:

- Nguyễn Am Hiểu (1997), “Một số đặc điểm của pháp luật trọng tài phi chính

phủ ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5/1997

- Dương Đăng Huệ (1999), “Trọng tài kinh tế phi chính phủ ở Việt Nam – Thực

trạng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nó”, Tạp chí Thông

tin khoa học pháp lý – Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp số 5/1999

Trang 9

- Nguyễn Như Phát (2001), “Pháp luật tố tụng và các hình thức tố tụng kinh

tế”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2001

- Lương Thanh Quang (2014), “Bàn về các biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc

thẩm quyền của Trọng tài thương mại”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 06/2014

- Huỳnh Quang Thuận (2018), “Trao đổi bài viết sự hỗ trợ của Tòa án đối với

hoạt động Trọng tài thương mại”, Tạp chí Tòa án Nhân dân số 02/2018

- Ngô Quốc Chiến (2021), “Trọng tài thương mại quốc tế và những vấn đề được

áp dụng”, Tạp chí nghiên cứu pháp luật số 03/2021

Các bài viết, bài báo của các tác giả nêu trên chủ yếu bàn về các vấn đề đặc trưng của trọng tài thương mại như áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, sự hỗ trợ của tòa án trong hoạt động tố tụng trọng tài và vấn đề áp dụng luật đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài

Tóm lại, những bài nghiên cứu trên đa phần vẫn đi sâu vào tìm hiểu trọng tài

thương mại và các vấn liên quan đến trọng tài thương mại, trong khi đó các loại tranh chấp thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại lại rất nhiều mà một trong những tranh chấp điển hình và phổ biến hiện nay thuộc thẩm quyền của trọng tài đó là tranh chấp trong kinh doanh, thương mại Vì vậy việc đi sâu vào nghiên cứu giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài từ đó đưa ra được những vướng mắc hạn chế trong việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài và sau đó là những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật sẽ giúp các doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh có thể tin tưởng và lựa chọn phương trọng tài làm phương thức để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là phân tích đánh giá một cách hệ thống và hoàn thiện để làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài chỉ ra được những ưu điểm cũng như hạn chế bất cập từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh và đồng thời là đưa ra những giải

Trang 10

pháp kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại và phát triển phương thức trọng tài tại Việt Nam

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu tổng quát nói trên, đề tài sẽ giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài

- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài từ đó tìm

ra những ưu điểm và hạn chế

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Là các quy định của pháp luật hiện hành (Luật Trọng tài thương mại 2010 và các văn bản hướng dẫn cũng như các văn bản pháp luật có liên quan) điều chỉnh vấn

đề liên quan đến giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về mặt không gian: tác giả tập trung nghiên cứu các quan hệ pháp luật và thực tiễn về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Về mặt thời gian: tác giả tập trung nghiên cứu khoảng thời gian từ năm 2010 trở lại đây vì đây là giai đoạn luật Trọng tài thương mại 2010 được quốc hội thông qua và có hiệu lực, kể từ thời điểm này luật Trọng tài thương mại đã khắc phục được những khuyết điểm của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003

- Về mặt nội dung: trong phạm vi của bài khóa luận tác giả tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng

Trang 11

phương thức trọng tài từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể: các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TTTM, các quy định về trình tự thủ tục khi giải quyết các tranh chấp theo thủ tục tố tụng trọng tài từ khi khởi kiện đến khi thi hành phán quyết trọng tài, từ đó tìm ra những điểm bất cập, hạn chế trong các quy định pháp luật và giải pháp nhằm hoàn thiện nâng cao hiệu quả pháp luật

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành bài Khóa luận của mình tác giả đã sử dụng một số phương pháp trong quá trình nghiên cứu để giúp người đọc dễ hiểu và nắm bắt được nội dung của bài Cụ thể tác giả đã sử dụng các phương pháp như: phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, liệt kê…

6 Kết cấu bài khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì toàn bộ nội dung của bài khóa luận được chia làm 2 chương cụ thể như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp trong kinh doanh, thương mại

và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài Chương 2: Thực trạng pháp luật, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật việt nam về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI 1.1 Khái quát chung về tranh chấp trong kinh doanh, thương mại

1.1.1 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh, thương mại

Để nhận diện đầy đủ khái niệm “Tranh chấp trong kinh doanh, thương mại”

thì trước tiên là cần làm rõ nội hàm của thuật ngữ “hoạt động kinh doanh, thương mại” khi đã làm rõ khái niệm “hoạt động kinh doanh, thương mại” sau đó là đi tìm

hiểu khái niệm hoàn chỉnh của thuật ngữ “tranh chấp trong kinh doanh, thương mại”

* Khái niệm hoạt động kinh doanh, thương mại

Hoạt động kinh doanh thương mại có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội Nó luôn vận động và phát triển không ngừng cùng với sự thay đổi và phát triển của xã hội từ đơn giải đến phức tạp4 Ở nước ta trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thuật ngữ “thương mại” ít sử dụng mà được thay thế bằng thuật ngữ “kinh doanh” Cho đến khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thuật ngữ “thương mại” mới được

sử dụng trở lại “Hoạt động thương mại” là một khái niệm cơ bản và trung tâm

của pháp luật thương mại Từ ngay khi hình thành, “thương mại”5 chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt động mua bán hàng hóa nhằm mục đích kiếm lời6 Tuy nhiên, với sự phát triển và vận động không ngừng của nền kinh tế, thuật ngữ

“thương mại” ngày càng mở rộng Đạo luật Mẫu về Thương mại Điện tử do Uỷ ban Liên hiệp Quốc về Luật Thương mại soạn thảo cũng đưa ra định nghĩa thuật ngữ “thương mại” được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề này sinh

ra từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại Trên cơ sở đó, khoản 1 Điều 3

Luật Thương mại 2005 quy định “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục

đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến

4 Hùynh Tất Ngọc Trân (2009), “Hòa giải vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án”, Luận văn thạc sỹ Luật

học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.6

5 Commerce (Tiếng Anh), Comerxium (Tiếng Latinh) có nghĩa là buôn bán

6 Đây cũng là cách hiểu phổ thông ở nước ta được đề cập trong các từ điển Tiếng Việt như Viện ngôn ngữ học (2008), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội, tr.340 và khoản 2 Điều 5 Luật số 58/L-CTN ngày

10 tháng 05 năm 1997 của Quốc Hội về Thương mại

Trang 13

thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Khái niệm này sử

dụng kết hợp phương pháp khái quát và phương pháp liệt kê, theo đó hoạt động thương mại không chỉ là các hoạt động được nêu mà còn các hoạt động sinh lợi khác Việc sử dụng kết hợp này nhắm đến các hoạt động thương mại mà pháp luật chưa dự liệu hết được trong sự phát triển của nền kinh tế, xã hội Tuy nhiên, không phải hoạt động nhằm mục đích sinh lợi của chủ thể nào cũng là hoạt động thương mại mà chỉ có các hoạt động các thương nhân mới được xem là hoạt động thương mại theo tinh thần của Luật Thương mại 2005 Một thuật ngữ được sử dụng song

song với thuật ngữ “thương mại” là “kinh doanh” Theo tử điển tiếng Việt, “Hoạt

động kinh doanh là tổ chức sản xuất, buôn bán để thu lời lãi” 7 Như vậy, ở nghĩa

phố thông, “kinh doanh” bao gồm những hoạt động nhằm mục đích “có lời” và không chỉ là hoạt động mua bán mà còn cả các hoạt động sản xuất Khoản 21 Điều

4 Luật số 59/2020/QH14 được Quốc Hội thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2020 về

Doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp 2020) quy định “Kinh doanh là việc thực hiện

liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư 8 , sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”

Thuật ngữ “kinh doanh” hay “thương mại” có nội hàm tương đối khác nhau,

có những hoạt động kinh doanh không phải là hoạt động thương mại và ngược lại Hai thuật ngữ thường được sử dụng như những khái niệm cùng loại trên phương diện nào đó tại mỗi quốc gia trong một giai đoạn kinh tế - xã hội nhất định Vì thế, tác giả cho rằng việc phân định “kinh doanh” hay “thương mại” là không cần thiết trong chế định giải quyết tranh chấp mà quan trọng là xác định thế nào là hoạt động kinh doanh, thương mại và phân biệt nó với các hoạt động dân sự khác Như

vậy theo tác giả hoạt động kinh doanh, thương mại được hiểu như sau: “Hoạt động

kinh doanh, thương mại là hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong quá trình đầu tư, từ sản xuất đến mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ, thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại và hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi”

7 Viện ngôn ngữ học (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội, tr.210

8 Khoản 8 Điều 3 Luật số 61/2020/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 06 năm 2020 về đầu tư (Luật

đầu tư 2020) thì Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh

Trang 14

* Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh thương mại

Dưới góc độ xã hội: theo từ điển tiếng Việt “Tranh chấp là sự đấu tranh

giành co khi có ý kiến bắt đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi của hai bên” 9

Cũng như Henry Campbell Black (1999), Black 's Law Dictionary – 7th Edition, West Pub Co thì “Tranh chấp được hiểu là sự xung đột hay bất đồng; sự xung đột

về các yêu cầu hay quyền; sự đòi hỏi về quyền hay nhu cầu từ một bên, được tiếp nhận bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược từ phía bên còn lại” 10 Như vậy, dưới góc độ pháp lý, tranh chấp được hiểu là những xung đột, bất đồng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật

Dưới góc độ pháp lý: hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có một khái niệm hay định nghĩa cụ thể về “tranh chấp kinh doanh”, “tranh chấp thương mại” hay

“tranh chấp kinh doanh, thương mại” Nhưng theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp và Luật Thương mại có thể hiểu “tranh chấp kinh doanh” là những tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh và “tranh chấp thương mại” là những tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại Thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh, thương mại” lần đầu tiên xuất hiện tại Điều 29 Bộ luật số 24/2004/QH11 ngày tháng 06 năm 2004 của Quốc Hội về Tố tụng dân sự (Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 – BLTTDS 2004) và hiện nay được quy định tại Điều 30 Bộ luật số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc Hội về Tố tụng dân sự (Bộ luật Tố tụng Dân

sự 2015 – BLTTDS 2015) bằng phương thức liệt kê quy định các tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án

Từ những phân tích trên, theo tác giả: “Tranh chấp kinh doanh, thương mại

là những xung đột, bất đồng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong mỗi quan hệ phát sinh từ quá trình đầu tư, sản xuất đến mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ, thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại và hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích kinh tế nhất định của mỗi chủ thể”

9 Viện ngôn ngữ học (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội, tr.343

10 Nguyên văn: A conflict or controversy; a conflict of claims or rights; an assertion of aright, claim, or demand

on one side, met by contrary claims or allegations on the other http://thelawdictionary.org/dispute/ truy cập lần cuối ngày 15/03/2021

Trang 15

Như vậy, để được coi là một tranh chấp kinh doanh, thương mại thì phải là tranh chấp đó phải phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các chủ thể có

mục đích sinh lợi trong các quan hệ tư

1.1.2 Đặc điểm tranh chấp trong kinh doanh, thương mại

Từ những phân tích về khái niệm tranh chấp trong kinh doanh, thương mại ở trên, tác giả có thể rút ra những đặc điểm của tranh chấp trong kinh doanh, thương mại như sau:

Thứ nhất, về lĩnh vực phát sinh tranh chấp

Tranh chấp kinh doanh, thương mại là tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, và hoạt động thương mại Theo quy định tại khoản 21 Điều 3 Luật Doanh

nghiệp 2020 thì “hoạt động kinh doanh là hoạt động thực hiện liên tục một, một số

hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” và tại khoản 1

Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm

mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Theo những quy định

trên thì tranh chấp trong kinh doanh thương mại phát sinh từ quá trình đầu tư, sản

xuất đến mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ, các hoạt động xúc tiến thương mại và hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi

Thứ hai, về chủ thể của tranh chấp

Tranh chấp kinh doanh, thương mại diễn ra chủ yếu giữa các cá nhân, tổ chức

có đăng ký kinh doanh với nhau và hoạt động vì mục đích lợi nhuận Có thể thấy nếu theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp thì chủ thể của tranh chấp trong kinh doanh thương mại là các chủ thể kinh doanh còn theo khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005 thì chủ thể là thương nhân Dù là thương nhân hay các chủ thể kinh doanh thì bản chất của 2 chủ thể này đề là những các nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và hoạt động vì mục đích lợi nhuận mặc dù được điều chỉnh bởi 2 luật khác nhau nhưng về mặt bản chất 2 chủ thể này đểu là chủ thể của tranh chấp kinh doanh, thương mại

Trang 16

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân cũng có thể là chủ thể của tranh chấp kinh doanh, thương mại Bởi vì có những mối quan hệ kinh doanh, thương mại có thể được giao kết giữa thương nhân với cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân Khoản 3, khoản 4 Điều 30 BLTTDS 2015

có quy định về 2 loại tranh chấp không diễn ra giữa các thương nhân với nhau, đó là tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty và tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty Như vậy, chủ thể của tranh chấp kinh doanh, thương mại rất đa dạng, nhưng đa phần là các thương nhân, có đăng ký kinh doanh

Thứ ba, về nội dung của tranh chấp

Tranh chấp kinh doanh, thương mại chính là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinh doanh, thương mại Có thể là những tranh chấp phát sinh từ các giao dịch; tranh chấp về chủ thể ký kết; tranh chấp

đề nghị ký kết, tranh chấp về đối tượng của hợp đồng (giao dịch), … Nói cách khác, tranh chấp kinh doanh, thương mại có nội dung liên quan đến lợi ích vật chất của các tranh chấp Lợi ích vật chất ở đây là việc thương nhân đầu tư tiền để mua máy móc, trang thiết bị, tiền thuê nhân viên, tiền mướn mặt bằng, tiền chạy quảng cáo, Vì vậy nên đây là hoạt động yêu cầu đòi hỏi nhiều vốn do đó tranh chấp trong kinh doanh thương mại là loại tranh chấp có giá trị lớn so với các loại tranh chấp khác

Như vậy, đặc điểm của tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại, nội dung của tranh chấp gồm những lợi ích vật chất có giá trị lớn ảnh hưởng trực tiếp đến các chủ thể của tranh chấp, và chủ thể của tranh chấp thường là thương nhân Do đó, đây là loại tranh chấp phức tạp cần phải có một cơ chế giải quyết phù hợp để đảm bảo quyền

và lợi ích của các chủ thể

Trang 17

1.1.3 Các dạng tranh chấp trong kinh doanh, thương mại

Trên thực tế chúng ta có thể sẽ nhầm lẫn giữa tranh chấp trong kinh doanh, thương mại và tranh chấp trong dân sự, vì trong cùng một lĩnh vực nhưng có sự khác nhau về chủ thể và mục đích giao dịch thì tranh chấp sẽ khác nhau Để phân biệt tranh chấp trong kinh doanh thương mại với các tranh chấp dân sự thì tại Điều 30 BLTTDS

2015 có quy định các dạng tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bao gồm có 5 dạng như sau:

Thứ nhất, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa

cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.11

Đối với dạng tranh chấp này đầu tiên ta cần phải xác định các hoạt động kinh doanh, thương mại bao gồm những hoạt động nào Như đã phân tích ở mục 1.1.1 và 1.1.2 thì hoạt động kinh doanh thương mại bao gồm các hoạt động sau đây: hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ,mua bán hàng hoá, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Có thể thấy ở dạng tranh chấp này chúng ta sẽ dễ nhầm lẫn với các tranh chấp trong dân sự, do đó để được xem là

một tranh chấp kinh doanh, thương mại cần có 2 điều kiện Một là, về chủ thể đối với

tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại, các bên tranh chấp đều

có đăng ký kinh doanh Tại khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP quy

định “Cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh là cá nhân, tổ chức đã được các cơ

quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật […]” Với quy định này, điều kiện tiên quyết để

được coi là “có đăng ký kinh doanh” là phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận tức là chỉ có doanh nghiệp, hộ kinh doanh và hợp tác xã là các

chủ thể của tranh chấp kinh doanh, thương mại Hai là, về mục đích khi tham gia giao

dịch đối với các tranh chấp thương mại thì các bên tranh chấp đều có mục đích tìm kiếm lợi nhuận Như vậy nếu tranh chấp xảy ra mà một trong các bên đều nhằm mục đích lợi nhuận nhưng không có đăng ký kinh doanh thì không được xem là tranh chấp trong kinh doanh thương mại, với tranh chấp dân sự không bắt buộc các chủ thể phải

có đăng ký kinh doanh và hoạt động vì mục đích lợi nhuận Đây cũng là một đặc điểm

11 Khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015

Trang 18

để các chủ thể có thể xác định được tranh chấp đang xảy ra là tranh chấp trong kinh doanh thương mại hay tranh chấp dân sự, để có thể lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp nhất

Ví dụ: Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – thương mại – dịch vụ C ký hợp đồng mua bán khẩu trang y tế với công ty Cổ phần B, cả hai công ty này đều có đăng

ký kinh doanh, trong trường hợp này nếu xảy ra tranh chấp chúng ta gọi tranh chấp này là tranh chấp trong kinh doanh, thương mại Tương tự như vậy cũng đối với hợp đồng mua bán xe ô tô của Công ty Cổ phần ô tô TH với Bà Nguyễn Thị A, trong trường hợp này nếu xảy ra tranh chấp thì đây là tranh chấp dân sự

Thứ hai, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận 12

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm

2019 thì “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ,

bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” và tại khoản 7 Điều 2 Luật chuyển giao

công nghệ năm 2017 thì “Chuyển giao công nghệ là chuyển nhượng quyền sở hữu

công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ” Đối với dạng tranh chấp này chúng ta cũng rất

dễ nhầm lẫn với tranh chấp dân sự trong cùng lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ Điểm khác nhau cơ bản ở đây là nếu như đối với tranh chấp thương mại

về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ thì tranh chấp liên quan tới các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng; đối với tranh chấp dân sự trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ thì tranh chấp thường liên quan tới việc bảo vệ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng phát sinh ngoài hợp đồng

Ví dụ: Công ty A (bên chuyển giao) ký một hợp đồng chuyển giao công nghệ với công ty B (bên nhận chuyển giao), theo đó bên chuyển giao cam kết không chuyển giao công nghệ nêu trong hợp đồng cho bên thứ ba trong phạm vi lãnh thổ quy định trong hợp đồng Trong trường hợp bên chuyển giao lại chuyển giao công nghệ nêu trong hợp đồng cho bên thứ 3 trong phạm vi lãnh thổ quy định, bên nhận chuyển giao

12 Khoản 2 Điều 30 BLTTDS 2015

Trang 19

kiện bên chuyển giao ra Tòa án có thẩm quyền, chúng ta có thể khẳng định đây là tranh chấp kinh doanh, thương mại Còn một cá nhân là tác giả của một cuốn sách kiện một một công ty in đã in sách của anh ta mà không hỏi ý kiến tác giả thì rõ ràng, đây là tranh chấp dân sự trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ, chứ không phải là tranh chấp kinh doanh, thương mại trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ

Thứ ba, tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty 13

Theo quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2020 đã quy định “Thành

viên công ty là cá nhân, tổ chức sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công

ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh” Có thể hiểu tranh chấp giữa người

chưa phải thành viên của công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn

góp với công ty, thành viên công ty dựa trên 3 nội dung chủ yếu sau đây: Một là về

chủ thể gồm những cá nhân, tổ chức chưa phải là thành viên công ty có nghĩa là những

cá nhân, tổ chức này chưa sở hữu chính thức phần vốn điều lệ nào trong công ty Hai

là, giữa những người chưa là thành viên công ty nhưng đã thực hiện các giao dịch về

chuyển nhượng vốn đối với công ty, thành viên công ty Ba là, sau khi hoàn thành

thủ tục về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty và thành viên công ty nhưng không được công ty công nhận dẫn đến tranh chấp

Ví dụ: Ông Ngô Cảnh T là thành viên đứng tên sở hữu 19,20 % vốn điều lệ của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất giày S Ngày 03/8/2010, ông Ngô Cảnh

T chết có di chúc để lại toàn bộ tài sản cho vợ là Dương Thị H.Bà Dương Thị H đã nhiều lần yêu cầu người đại diện theo pháp luật của Công ty S là ông Ngô Công C tiến hành các thủ tục đăng ký thay đổi thành viên Công ty S theo quy định tại Khoản

1 Điều 45 Luật Doanh nghiệp, nhưng ông Ngô Công C không thực hiện

Thứ tư, tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị; giám đốc hoặc tổng giám đốc trong công ty cổ phần 14

13 Khoản 3 Điều 30 BLTTDS 2015

14 Khoản 4 Điều 30 BLTTDS 2015

Trang 20

Đây là tranh chấp phát sinh trong nội bộ công ty giữa công ty với các thành viên công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị; giám đốc hoặc tổng giám đốc trong công

ty cổ phần Trên thực tế tranh chấp tranh chấp nội bộ công ty chủ yếu là những mâu thuẫn bất đồng giữa các thành viên công ty liên quan đến việc phân chia lợi nhuận, thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất chia tách bàn giao tài sản của công

ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

Ví dụ: ông Nguyễn Đại L “ông L” là cổ đông sở hữu 140.000 cổ phần, chiếm 5% vốn điều lệ Công ty cổ phần cung cứng dịch vụ HK “công ty HK” Trong quá trình hoạt động Ông L và công ty HK có mâu thuẫn về việc phân chia lợi nhuận không đồng đều

Như vậy có thể thấy trong cùng một lĩnh vực, nhưng tranh chấp kinh doanh, thương mại và các tranh chấp dân sự lại có sự khác nhau về chủ thể và mục đích giao dịch vì vậy việc nhận dạng các loại tranh chấp trong kinh doanh, thương mại sẽ giúp các chủ dễ dàng đưa ra các phương thức xử lý phù hợp để đảm bảo được quyền lợi của các chủ thể khi xảy ra tranh chấp

1.2 Khái quát về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài

1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài

Khái niệm “tranh chấp trong kinh doanh, thương mại” đã được phân tích và làm sáng tỏ ở mục 1.1.1 Vì vậy để nhận diện đầy đủ khái niệm “giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài” thì ở mục 1.2.1 này cần phải làm rõ khái niệm về “phương thức trọng tài” và khái niệm “giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại” Sau đó là tìm hiểu khái niệm hoàn chỉnh của thuật ngữ “giải

quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài”

* Khái niệm về phương thức trọng tài:

Hiện nay, có 4 phương thức để các chủ thể lựa chọn giải quyết những mâu thuẫn bất đồng phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại đó là thương lượng,

Trang 21

hòa giải, trọng tài và Tòa án Nhưng phương thức “trọng tài”15 với những ưu thế nổi bật đã được nhiều chủ thể lựa chọn khi giải quyết tranh chấp vì vậy mà lĩnh vực giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài đã được các nhà khoa học pháp lý nghiên cứu trên nhiều bình diện khác nhau Theo khảo sát hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến phương thức trọng tài

Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển chuyên ngành Luật Black’s: “Trọng

tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên đồng ý rằng một bên thứ ba trung lập (Trọng tài viên hay Hội đồng trọng tài) sẽ ban hành một quyết định

có căn cứ pháp lý sau khi các bên có cơ hội trình bày vụ tranh chấp của mình” 16

Dưới góc độ phát luật nước ngoài, một số quốc gia quy định trực tiếp khái niệm Trọng tài trọng các văn bản quy phạm pháp luật Ví dụ như Hàn Quốc tại khoản 1

Điều 3 Luật Trọng tài Hàn Quốc như sau: “Thuật ngữ Trọng tài có nghĩa là thủ tục

giải quyết tranh chấp về quyền tài sản hoặc tranh chấp không về quyền tài sản có thể được giải quyết theo sự thỏa hiệp giữa các bên, bằng một phán quyết của Trọng tài theo sự thỏa thuận giữa các bên chứ không theo phán quyết của Tòa án” Ngược lại

một số quốc gia không đưa ra khái niệm chính thức mà có thể nêu trong hướng dẫn

của một tổ chức trọng tài hàng đầu như Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (AAA): “Trọng

tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành” 17 Hoặc theo sự giải thích của

UNCITRAL: “Trọng tài là những tranh chấp hay bất đồng được đưa ra cho một hoặc

nhiều người được xem là công tâm không thiên lệch quyết định và quyết định này có tính ràng buộc đối với hai bên” 18 Ngoài ra, trong khoa học pháp lý trên thế giới, có

công trình nghiên cứu nổi tiếng về Trọng tài cho rằng: “Trọng tài là phương thức giải

quyết tranh chấp rất đơn giản Các bên trong tranh chấp thỏa thuận đưa tranh chấp của họ tới một chủ thể để giải quyết mà các bên tin tưởng sự phán xét của chủ thể đó

15 “Trọng tài” là những cá nhân được thành lập theo yêu cầu hoặc theo quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong kinh doanh, thương mại khi có thỏa thuận

16 Tòa án nhân dân tối cao (2017), Sổ tay pháp luật về Trọng tài và Hòa giải, Nxb Thanh Niên, tr20

17 Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương (2003), “Trọng tài thương mại và Pháp luật về

Trọng tài thương mại”, Đặc san Tuyên truyền pháp luật số 07/2013, tr 3

18 Đặng Minh Phương (2014), “Thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật

Việt Nam”, Luật văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 6

Trang 22

Mỗi bên trình bày vụ việc của mình cho người quyết định – một chủ thể tư còn gọi là

“trọng tài viên” 19

Tại Việt Nam từ khi có Pháp lệnh trọng tài thương mại cho đến bây giờ là luật TTTM đều ghi nhận khái niệm về trọng tài thương mại, cụ thể tại khoản 1 Điều 3 luật Trọng tài

thương mại 2010 có quy định: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp

do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”

Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về phương thức trọng tài nhưng theo tác giả

có thể hiểu “Phương thức trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp do các

bên thỏa thuận đồng ý chỉ định bên thứ ba phân xử và quyết định cuối cùng của bên thứ ba đó có tính chất bắt buộc đối với các bên tranh chấp”

* Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Theo từ điển Tiếng Việt “Giải quyết tranh chấp là làm cho những xung đột, bất

đồng không còn nữa” 20 Pháp luật hiện hành không đưa ra khái niệm hay định nghĩa

nào về “giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại” mà chỉ nêu các phương thức

mà các bên tranh chấp có thể sử dụng để giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Trên cơ sở các khái niệm về “hoạt động kinh doanh, thương mại”, “tranh chấp kinh doanh, thương mại” đã phân tích ở mục 1.1.1 tác giả đưa ra khái niệm “giải

quyết tranh chấp kinh doanh thương mại” như sau: “Giải quyết tranh chấp kinh

doanh, thương mại là việc các bên tranh chấp tiến hành quá trình để không còn những xung đột, mâu thuẫn về quyền, lợi ích và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại bằng sự đồng thuận hoặc tài phán”

Từ những phân tích trên, tác giả có thể đi đến một định nghĩa khái quát về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài như sau:

“Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài là

việc thông qua trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập, nhằm chấm dứt những bất đồng, xung đột giữa các bên trong hoạt động kinh doanh thương mại bằng việc trọng tài đưa ra một phán quyết và buộc các bên phải thực hiện”

19 Nigel Blackaby, Constantine Partasides QC & Alan Redfern, Martin Hunter (2018), Trọng tài quốc tế (Ấn

bản lần thứ 6) (Tổ chức Tài chính Quốc tế phối hợp với Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam dịch), Nxb

Thanh Niên, tr 4

20 Viện ngôn ngữ học (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội, tr 109

Trang 23

1.2.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài

Từ những phân tích về khái niệm giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài ở trên, tác giả rút ra những đặc điểm của giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài như sau:

Thứ nhất, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài có sự xuất hiện của bên thứ ba độc lập

Nếu như giải quyết tranh chấp bằng phương thức thương lượng chỉ có 2 bên giải quyết các tranh chấp dựa trên sự thiện chí, việc giải quyết tranh chấp có đi đến kết quả chấm dứt các xung đột, mâu thuẫn về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên đều phải dựa vào sự thiện chí hợp tác, nếu không có sự thiện chí thì tranh chấp sẽ không được giải quyết bằng phương thức thương lượng Còn đối với 3 phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, hòa giải và Tòa án đều có sự xuất hiện của bên thứ

ba giải quyết những mâu thuẫn bất đồng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích cho các chủ thể, nhưng sự xuất hiện của bên thứ 3 đối với mỗi phương thức lại khác nhau cụ thể như sau: bên thứ ba trong phương thức trọng tài là trọng tài viên, còn bên thứ 3 trong phương thức hòa giải là các hòa giải viên và bên thứ 3 trong Tòa án là Thẩm phán

Thứ hai, về chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp

Chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài là các trọng tài viên Theo quy định của tại khoản 5 Điều 3 luật

TTTM 2010 thì “Trọng tài viên là người được các bên lựa chọn hoặc được Trung

tâm trọng tài hoặc Tòa án chỉ định để giải quyết tranh chấp theo quy định luật TTTM” Bên cạnh đó đó để trở thành trọng tài viên thì cần đáp ứng đủ tiêu chuẩn của

trọng tài viên theo khoản 1 Điều 20 luật TTTM như là phải có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật dân sự; Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên và trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia

có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu trên, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên

Trang 24

Thứ ba, về mục đích giải quyết tranh chấp

Mục đích giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài là nhằm chấm dứt những bất đồng, xung đột giữa các bên trong hoạt động kinh doanh thương mại Trong hoạt động kinh doanh, thương mại luôn tồn tại những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể và làm ảnh hưởng trực tiếp đến các lợi ích vật chất của các chủ thể Vì vậy việc chấm dứt những xung đột, bất đồng để đảm bảo quyền và lợi ích vật chất của các chủ thể là mục đích chính khi giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài

Thứ tư, về kết quả giải quyết tranh chấp

Kết quả giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài là Hội đồng trọng tài ra một phán quyết dựa trên nguyên tắc đa số.21 Theo

đó thì Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài.22 Có thể thấy phán quyết của trọng tài có giá trị pháp lý tương đương với quyết định/bản án của Tòa án, và buộc các bên phải thi hành và hơn thế nữa phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, các bên không quyền kháng cáo kháng nghị

Tóm lại, giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài chủ yếu có những đặc điểm sau đây: có sự xuất hiện của bên thứ bên thứ 3, chủ thể giải quyết tranh chấp là các trọng tài viên, mục đích nhằm chấm dứt những mâu thuẫn bất đồng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên bằng cách đưa ra một phán quyết có giá trị pháp lý ràng buộc các bên phải thức hiện

1.2.3 So sánh giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài với các phương thức giải quyết tranh chấp khác

* So sánh phương thức trọng tài với phương thức trung gian hòa giải

Thứ nhất, về điểm giống nhau

- Cả 2 phương thức này đều là phương thức giải quyết thay thế Phương thức giải quyết thay thế (ADR – Alternative Dispute Resolution) là phương thứcgiải quyết

21 Điều 60 Luật TTTM năm 2010

22 Khoản 10 Điều 3 Luật TTTM năm 2010

Trang 25

tranh chấp ngoài tòa án, nhằm ngăn ngừa và giải quyết các tranh chấp với sự trợ giúp của bên thứ ba

- Để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hay hòa giải thì đều phải có sự thỏa thuận của các bên Điều kiện cần để các bên tiến hành giải quyết thông qua các phương thức này là phải có tồn tại thỏa thuận hòa giải hoặc thỏa thuận trọng tài dưới hình thức văn bản

- Cả 2 phương thức đều có một ưu điểm nổi bật đó là tính bảo mật (không công khai) Tính bảo mật sẽ giúp các bên bảo vệ được uy tín và các bí mật kinh doanh của các chủ thể

Thứ hai, về điểm khác nhau

- Về cơ sở giải quyết tranh chấp: đối với phương thức trọng tài những mâu thuẫn bất đồng được giải quyết dựa trên các quy phạm pháp luật quốc gia do các bên lựa chọn hoặc do Hội đồng trọng tài quyết định và tập quán thương mại Còn đối với phương thức trung gian hòa giải thì giải quyết dựa trênsự thỏa thuận của các bên tranh chấp

- Về thẩm quyền của bên thứ ba khi tham gia giải quyết tranh chấp: Đối với phương thức trọng tài thì trọng tài viên có thể thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng theo yêu cầu của một hoặc các bên, và ra quyết định giải quyết tranh chấp (Điều 43, 45, 46, 47 Luật TTTM 2010) Đối với trung gian hòa giải thì hòa giải viênkhông có thẩm quyền thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng, không có quyền xét

xử hay ra phán quyết

- Về kết quả giải quyết: Đối với phán quyết của trọng tài là phán quyết chung thẩm, có giá trị pháp lý, ràng buộc các bên phải thực hiện Còn đối với trung gian hòa giải kết quả giải quyết tùy vào sự thỏa thuận giữa các bên do các bên tự quyết định không có giá trị pháp lý ràng buộc các bên phải thực hiện

- Về tính chất: Phương thức trọng tài mang tính tài phán còn trung gian hòa giải không mang tính tài phán Tài phán là hoạt động mang quyền lực của nhà nước và bắt buộc các bên phải thực hiện Tài phán trong trọng tài thương mại thể hiện ở chỗ

Trang 26

việc giải quyết tranh chấp, tiến hành tố tụng phải theo quy định của pháp luật và phán quyết của trọng tài có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành

- Về mục đích: Đối với phương thức trọng tài thì các bên tranh chấp tham gia với mục đích chống lại bên còn lại để giành phần thắng cho mình và phân định kẻ thắng người thua Còn đối với trung gian hòa giải thìcác bên tham gia với tinh thần hợp tác, và tôn trọng nhau để giải quyết tốt nhất tranh chấp đang tồn tại Không nhằm mục đích phân định bên thắng bên thua

Thứ ba, những ưu, nhược điểm của phương thức trọng tài so với phương thức trung gian hòa giải

Từ những so sánh trên có thể thấy trọng tài lại có những điểm nổi bật hơn so với hòa giải như phán quyết của trọng tài có giá trị ràng buộc các bên phải thực hiện việc giải quyết dựa trên các quy định của pháp luật nên đảm bảo tính công bằng, tránh được những tiêu cực trong quá trình giải quyết Bên cạnh đó, so với trung gian hòa giải, Trọng tài có một nhược điểm đó là không thể tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh giữa 2 bên

* So sánh phương thức trọng tài với phương thức thương lượng

Thứ nhất, về điểm giống nhau

Cả 2 đều là phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại đảm bảo uy tín và bí mật kinh doanh giữa các chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp

Thứ hai, về điểm khác nhau

- Về thành phần tham gia giải quyết tranh chấp: Đối với phương thức trọng tài

có sự xuất hiện của bên thứcủa bên thứ ba (trọng tài viên) do các bên thỏa thuận lựa chọn còn đối với phương thức thương lượng thì chỉ cóhai bên tranh chấp cùng nhau đàm phán phương án giải quyết tranh chấp

- Về tính chất: phương thức trọng tài mang tính tài phán còn thương lượng thì không

- Về điều kiện giải quyết: Đối với phương thức trọng tài thì bắt buộc phải có thỏa thuận về việc giải quyết bằng trọng tài và tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết

Trang 27

của trọng tài Còn đối với phương thức thương lượng thì việc giải quyết tranh chấp được tiến hành tùy thuộc vào sự thống nhất ý chí giữa các bên và không theo bất kỳ điều kiện nào

- Về kết quả giải quyết tranh chấp: đối với phương thức trọng tài thì có sự tham gia của bên thứ ba là các trọng tài viên được tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp và từ đó ban hành ra phán quyết để giải quyết toàn bộ nội dung vụ án có hiệu lực thi hành và bắt buộc các bên tranh chấp phải thực hiện Còn đối với phương thức thương lượng thì kết quả giải quyết tranh chấp không bắt buộc bên kia có thực hiện hay không mà dựa vào sự thiện chí của cả hai bên nếu hai bên không có thiện chí thì không thể tiến hành được Như vậy kết quả của việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng không có giá trị pháp lý ràng buộc các bên phải thực hiện

Thứ ba, những ưu, nhược điểm của phương thức trọng tài so với phương thức thương lượng

So với phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, Trọng tài có ưu điểm vượt trội hơn nhiều đó là có sự xuất hiện của bên thứ 3 với vai trò là người giải quyết các tranh chấp giúp các bên có cái nhìn khách quan và đưa ra phán quyết giải quyết toàn bộ nội dung vụ án có giá trị pháp lý ràng buộc các bên phải thực hiện Song trọng tài có một nhược điểm so với thương lượng là tốn chi phí cho bên thứ ba tham gia giải quyết

* So sánh phương thức trọng tài với phương thức Tòa án

Thứ nhất, về điểm giống nhau

Cả hai đều là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tài phán và có sự tham gia của bên thứ 3 trung lập Đều giải quyết tranh chấp dựa trên cơ sở là những quy quy phạm pháp luật quốc gia và tập quán thương mại Và kết quả của việc giải quyết tranh chấp đều mang giá trị pháp lý ràng buộc các bên phải thực hiện

Thứ hai, về điểm khác nhau

- Đối với phương thức trọng tài thì trọng tài viên do các bên thỏa thuận lựa chọn

để giải quyết tranh chấp Còn đối với Tòa án thì Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân theo sự phân công của Chánh án Tòa án hoặc Chánh án Tòa án cấp trên

Trang 28

- Về giá trị pháp lý của kết quả giải quyết tranh chấp: Phán quyết của trọng tài

là chung thẩm không bị kháng cáo bởi bất kỳ bên nào Còn bản án, quyết định của tòa án có thể bị kháng cáo bởi các đương sự và bị VKS kháng nghị

- Về nguyên tắc: Nếu như trọng tài giải quyết tranh chấp trên nguyên tắc không công khai đảm bảo uy tín và bí mật kinh doanh của các chủ thể thì Tòa án lại giải quyết trên nguyên công khai để đảm bảo sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử tại Tòa án

- Về tính linh hoạt: Trọng tài đảm bảo tính linh hoạt cho các bên hơn là Tòa án bởi vì phương thức trọng tài cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp, thủ tục nhanh, gọn lẹ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên khi tham gia giải quyết tranh chấp Còn Tòa án sẽ bị ràng buộc nghiêm ngặt bởi các quy tắc tố tụng quốc gia, theo các thủ tục của hệ thống Tòa án Điều đó khiến

tố tụng tòa án với chi phí cao, phức tạp, thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài và các bên có thể gặp phải việc kháng cáo

Thứ ba, những ưu, nhược điểm của phương thức trọng tài so với phương thức Tòa án

Thủ tục giải quyết linh hoạt, tiết kiệm thời gian, chi phí, xét xử không công khai đảm bảo tính bí mật của các bên khi tham gia giải quyết tranh chấp, hơn thế nữa phán quyết của trọng tài là chung thẩm không bị kháng cáo đã tạo ra những ưu thế cho trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại

1.2.4 Các hình thức trọng tài

Hiện nay Luật TTTM 2010 ghi nhận hai hình thức trọng tài chủ yếu là trọng tài

vụ việc (trọng tài adhoc) và trọng tài quy chế (trọng tài thường trực)

* Trọng tài vụ việc

Hiện nay Luật TTTM năm 2010 quy định: Trọng tài vụ việc hay còn gọi là trọng tài adhoc, là hình thức trọng tài theo quy định của Luật TTTM, không có cơ quan

Trang 29

thường trực, trình tự thủ tục do các bên tranh chấp thỏa thuận để giải quyết tranh chấp giữa các bên và tự giải thể khi vụ tranh chấp đã giải quyết xong.23

Từ định nghĩa trên, ta có thể rút ra được một số đặc điểm của trọng tài vụ việc như sau:

Một là, trọng tài vụ việc chỉ xuất hiện khi có vụ tranh chấp và tự giải thể khi

giải quyết xong vụ tranh chấp Đặc điểm này xuất phát từ tính chất của hình thức trọng tài vụ việc bởi vì trọng tài chỉ được thành lập theo thỏa thuận của các bên tranh chấp để giải quyết vụ tranh chấp cụ thể giữa các bên Hình thức trọng tài này chỉ tồn tại và hoạt động trong thời gian giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên, khi giải quyết xong vụ tranh chấp, trọng tài tự chấm dứt hoạt động

Hai là, trọng tài vụ việc không có danh sách trọng tài viên, không có cơ quan

thường trực bởi vì hình thức trọng tài này chỉ được thành lập khi có sự thỏa thuận của các bên Trọng tài viên do các bên lựa chọn có thể có hoặc không có trong danh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài việc lựa chọn trọng tài viên phụ thuộc vào sự lựa chọn của các bên, có thể lựa chọn trọng tài viên có trong danh sách của trung tâm trọng tài hoặc không

Ba là, Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng riêng.Do trọng tài vụ việc chỉ được các bên thành lập khi phát sinh tranh chấp nên quy tắc tố tụng để giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng Tuy nhiên, để tránh lãng phí thời gian cũng như công sức đầu tư vào việc xây dựng quy tắc tố tụng, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn bất kì một quy tắc tố tụng phổ biến nào (thông thường là quy tắc tố tụng của các Trung tâm Trọng tài có uy tín ở trong nước và quốc tế)

Từ những đặc điểm trên có thể thấy, trọng tài vụ việc có nhiều đặc điểm phù hợp với các vụ tranh chấp nhỏ, muốn tiến hành nhanh chóng, nội dung của

vụ tranh chấp đơn giản, không cần phải thỏa thuận nhiều quy tắc khi giải quyết

và giúp tiết kiệm thời gian cho các bên đương sự.24

23 Khoản 7, Điều 3 Luật TTTM 2010

24 Lê Thanh Long (2018), “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài vụ việc theo quy định của pháp

luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật – Đại học Huế, tr.16

Trang 30

* Trọng tài quy chế

Theo quy định của pháp luật, trọng tài quy chế còn gọi là trọng tài thường trực,

là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của Luật TTTM 2010 và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó Trung tâm trọng tài được

tổ chức chặt chẽ, có bộ máy, trụ sở làm việc thường xuyên, thường có danh sách trọng tài viên hoạt động theo điều lệ và nguyên tắc riêng.25

Từ định nghĩa trên, ta có thể rút ra được một số đặc điểm của trọng tài quy chế như sau:

Một là,trọng tài quy chế được tổ chức dưới hình thức các Trung tâm trọng tài Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà

nước Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ vì các Trung tâm trọng tài được

thành lập bởi các Trọng tài viên sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, chứ không phải được thành lập bởi Nhà nước Các Trung tâm trọng tài không nằm trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước (như trọng tài kinh tế nhà nước trước đây), cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử nhà nước (như toà án kinh tế hiện nay) Trung tâm trọng tài hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, các hoạt động của Trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không được cấp kinh phí hoạt động từ Ngân sách Nhà nước Trọng tài viên duy nhất hoặc Hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước mà nhân danh người thứ ba độc lập ra phán quyết

Hai là, các Trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản

riêng (Khoản 1 Điều 27 Luật TTTM năm 2010) Trung tâm trọng tài là tổ chức có tư cách pháp nhân vì đáp ứng đầy đủ các điều kiện của pháp nhân quy định tại Điều 74

bộ luật dân sự năm 2015 bao gồm: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

Ba là, cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài bao gồm có ban điều hành, ban

thư ký và các trọng tài viên của trung tâm Tổ chức và quản lý của các trung tâm trọng tài nói chung đơn giản, gọn nhẹ Ban điều hành của trung tâm trọng tài bao gồm có

25 Khoản 6 Điều 3 Luật TTTM

Trang 31

chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch và có thể có tổng thư ký trung Bên cạnh ban điều hành, trung tâm trọng tài còn có các trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của Trung tâm trọng tài

Bốn là, Trung tâm trọng tài có thể tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có

quy tắc tố tụng riêng Mỗi Trung tâm trọng tài tự xác định về lĩnh vực hoạt động của mình tùy thuộc vào khả năng chuyên môn của đội ngũ Trọng tài viên và phải được ghi rõ trong Điều lệ của Trung tâm trọng tài Trong quá trình hoạt động, các Trung tâm trọng tài có quyền mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi lĩnh vực hoạt động, nhưng phải được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Từ những đặc điểm trên có thể thấy, trọng tài quy chế có nhiều đặc điểm phù hợp với các vụ tranh chấp lớn, phức tạp đòi hỏi phải có một tổ chức trọng tài uy tín với tư cách là bên thứ ba độc lập đứng ra giải quyết các tranh chấp cho các bên

1.2.5 Ý nghĩa của phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài

Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài là phương thức phù hợp với cơ chế kinh tế mới, cơ chế kinh tế với nhiều thành phần kinh tế, đa dạng về loại hình doanh nghiệp, phong phú về hình thức kinh doanh, nó bảo đảm cho các thành phần kinh tế khi tham gia hoạt động kinh doanh, thương mại được đối xử bình đẳng với nhau trước pháp luật, đáp ứng được nhu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh, thương mại Ở Việt Nam, sự xuất hiện của phương thức này đã mang lại những ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội như sau:

Thứ nhất, phương thức này được sử dụng dựa trên sự thống nhất ý chí, sự tự do

thỏa thuận của các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh, thương mại khi có phát sinh tranh chấp giữa chính các chủ thể đó, quy định như vậy là nhằm nâng cao và tôn trọng quyền tự do kinh doanh của các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh, thương mại quyền này được quy định trong đạo luật tối cao của Việt Nam, đó là Hiến pháp, đồng thời góp phần phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình tố tụng trọng tài

Trang 32

Thứ hai, sự xuất hiện và được công nhận phương thức này nhằm chia sẻ gánh

nặng và giảm tải đáng kể trong hoạt động xét xử vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án, giảm bớt áp lực cho các người tiến hành tố tụng tại Tòa án, tạo sự hài hòa cân đối vấn đề giải quyết tranh chấp trong đời sống kinh tế xã hội

Thứ ba, trọng tài giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại luôn mang lại

những lợi ích thiết thực cho các nhà kinh doanh, tạo cơ hội cho các bên lựa chọn và chỉ định trọng tài viên mà họ tín nhiệm, điều này có ý nghĩa rất quan trọng để giúp các bên có được sự công bằng và thỏa mãn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Thứ tư, đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại một cách

nhanh – gọn cho các nhà kinh doanh, hạn chế được sự tốn kém thời gian và tài chính đây là hai yếu tố vàng trong kinh doanh Bởi vì nếu việc tranh chấp kéo dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cả một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ đối với chủ doanh nghiệp mà còn với cả những nhân viên công nhân làm thuê cho doanh nghiệp đó Giải quyết được vấn đề này sẽ tạo tiền đề thúc đẩy đất nước phát triển từ

đó xã hội được cải thiện và chất lượng đời sống của người dân được nâng cao

Thứ năm, phương thức này cũng là một trong những biện pháp mà Nhà nước sử

dụng để nhằm bảo vệ sự an toàn trong các hoạt động kinh doanh, thương mại góp phần quản lý xã hội, quản lý kinh tế bằng pháp luật Khi có tranh chấp xảy ra ngoài việc phải đưa ra tòa án để giải quyết các chủ thể còn có thể lựa chọn trọng tài làm phương thức giải quyết Tòa án hằng ngày phải giải quyết các tranh chấp đến từ mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội mà phương thức trọng tài được nhà nước áp dụng được xem như là một công để mà nhà nước giải quyết và đảm bảo các hoạt động kinh doanh thương mại được diễn ra một cách an toàn và hiệu quả nhất góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước

Thứ sáu, việc giải quyết tốt các tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng

sẽtài là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, bởi nó sẽ tháo bỏ các rào cản trong kinh doanh, những bất đồng mâu thuẫn giữa các chủ thể sẽ được xóa bỏ từ đó mà thiết lập lại sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh, thương mại

Trang 33

Thứ bảy, thông qua việc áp dụng phương thức trọng tài trong thực tiễn giải quyết

tranh chấp kinh doanh, thương mại sẽ chỉ ra được những bất cập trong những quy định của pháp luật và tạo định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật, tạo hàng lang pháp lý để việc áp dụng phương thức này trên thực tiễn được tối ưu nhất giúp cho hoạt động kinh doanh, thương mại ngày càng phát triển

Tóm lại, trong xu thế kinh tế thị trường ngày này, việc áp dụng phương thức

trọng tài để giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh thương mại có ý nghĩa hết sức

to lớn không chỉ đối với các chủ thể kinh doanh, các thương nhân mà nó còn là nguồn động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Hơn thế nữa việc áp dụng phương thức này trên thực tiễn còn cho ta thấy được những bất cập của các quy định pháp luật làm tiền đề để nhà nước hoàn thiện hệ thống pháp luật trên thực tiễn, giúp cho việc thực thi pháp luật có hiệu quả và để các chủ thể tin tưởng vào hệ thống lập pháp của nước Việt Nam ta

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, TTTM với tư cách là một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài toà án, đã và đang góp phần không nhỏ vào sự ổn định của hoạt động thương mại trên thế giới Ở nước ta, tiến trình hình thành và phát triển của TTTM được thể hiện qua ba giai đoạn chủ yếu: giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm

2003, giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010 và giai đoạn từ năm 2010 đến nay

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 2003

Tổ chức giải quyết tranh chấp kinh tế với tên gọi là trọng tài ra đời đầu tiên theo Nghị định số 20/TTg ngày 14/01/1960 do Thủ tướng Chính phủ, quy định về tổ chức TTKT nhà nước để đáp ứng kịp thời cơ chế giải quyết tranh chấp HĐKT Giai đoạn này không có một luật về trọng tài điều chỉnh hệ thống trọng tài trong nước và quốc

tế, tổ chức TTKT nhà nước ra đời chỉ nhằm giải quyết tranh chấp HĐKT giữa các xí nghiệp quốc doanh và các cơ quan Nhà nước theo tinh thần Nghị định số 04/TTg ngày 04/01/1960 của Thủ tướng Chính phủ, TTKT chỉ được giải quyết các tranh chấp HĐKT phát sinh giữa các tổ chức kinh tế trong nước với nhau không có yếu tố nước ngoài và không dựa trên nguyên tắc thỏa thuận của các bên tranh chấp về lựa chọn trọng tài

Trang 34

Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dẫn các hoạt động kinh tế phát triển rất đa dạng

và phức tạp, hệ quả là tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều, với tình hình này đòi hỏi phải có một tổ chức chuyên giải quyết các tranh chấp này Do vậy, Nghị định số 116/CP ngày 05/9/1994 ra đời cho phép thành lập một cơ quan tài phán khác ngoài Tòa án để các chủ thể kinh doanh thực hiện quyền lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp Nếu như thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế của Tòa kinh tế theo quy định của Nhà nước, thì TTKT chỉ được giải quyết tranh chấp kinh tế theo sự lựa chọn của các bên tranh chấp Đây là sự khác nhau về bản chất giữa hai hệ thống cơ quan tài phán cùng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế cùng tồn tại song song ở nước ta Như vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cũng chỉ được thống nhất khi phải trải qua hai giai đoạn phát triển rất khác nhau, thẩm quyền được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế kế hoạch tập trung

và dần phát triển mở rộng khi có sự chuyển biến của các quan hệ kinh tế trong nước

và quốc tế sao cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới, cơ chế thị trường

1.3.2 Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010

Ngày 25/02/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh TTTM (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2004) thể hiện nỗ lực hội nhập to lớn của Việt Nam, đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp trong quá trình phát triển TTTM ở Việt Nam Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam từ đó đã xây dựng một bản Quy tắc tố tụng thống nhất được áp dụng từ ngày 01/7/2004, hoạt động của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cũng như các Trung tâm TTKT được thành lập theo Nghị định 116/CP đều tuân theo quy định của Pháp lệnh này Có thể nói, sự ra đời của Pháp lệnh TTTM đã làm cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại nói chung, các tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng đã có sự thay đổi căn bản theo hướng bảo đảm sự phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong điều kiện nền kinh tế thị trường

1.3.3 Giai đoạn từ năm 2010 đến nay

Pháp lệnh TTTM tuy có nhiều điểm tiến bộ, nhưng qua 06 năm áp dụng trên thực tiễn, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Pháp lệnh TTTM đã không còn phù

Trang 35

hợp với tình hình mới, bộc lộ rõ những bất cập như: không xác định rõ phạm vi thẩm quyền trọng tài, cũng như chủ thể được tham gia giải quyết tại trọng tài, nhiều thiếu sót trong chế định về TTTT, quy định vai trò hỗ trợ của Tòa án quá mờ nhạt, căn cứ hủy phán quyết trọng tài thì quá rộng Đây là lý do Nhà nước tiếp tục ban hành Luật TTTM (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2011), Luật này ghi nhận chủ trương

mở rộng các hình thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại

và một số quan hệ dân sự khác có ít nhất một bên tham gia hoạt động thương mại Kể

từ khi ban hành Luật TTTM hàng loạt Trung tâm trọng tài được thành lập như: Trung tâm TTTM tài chính Ngân hàng Việt Nam (thành lập vào tháng 6/2012), Trung tâm TTTM tài chính (thành lập tháng 11/2012) và Trung tâm TTTM Luật gia Việt Nam (thành lập tháng 4/2016) Ở Việt Nam, mô hình TTTM chỉ tồn tại khi thực hiện công cuộc đổi mới, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là động lực quan trọng cho những cải cách về hành lang pháp lý, sự ra đời của Luật TTTM là quá trình quốc tế hóa pháp luật trọng tài thông qua việc tiếp nhận Luật mẫu UNCITRAL về TTTM quốc tế

1.4 Pháp luật một số nước trên thế giới về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài

Hầu hết các nước trên Thế giới đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế, kinh doanh, thương mại của quốc gia mình, vì thế mà việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh thương mại cũng được Pháp luật của các nước quan tâm, nhằm hạn chế các tranh chấp phát sinh đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế Hiện nay

xu hướng phổ biến trên thế giới là rất nhiều quốc gia đã thông qua Luật Mẫu và xây dựng pháp luật dựa theo Luật Mẫu Vì đây là văn bản hỗ trợ rất lớn trong việc tạo ra

hệ thống pháp luật “toàn cầu” điều chỉnh liên quan đến tố tụng trọng tài Trong đó một số quốc gia áp dụng toàn văn Luật Mẫu mà không sửa đổi, một số quốc gia khác ban hành luật trọng tài hiện đại trên cơ sở Luật Mẫu26 Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật trọng tài của một số nước như Trung Quốc, Hoa kỳ, Thái Lan tác giả thấy rằng phạm vi, thẩm quyền giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài được mở rộng hơn rất nhiều, cụ thể như sau:

26 Hội đồng Trọng tài Thương mại Quốc tế (ICCA) (2011), Hướng dẫn của ICCA về diễn giải Công ước New

York 1958: Sổ tay hướng dẫn cho Thẩm phán”, tr vi

Trang 36

* Pháp luật của Trung Quốc về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài

Theo Luật Trọng tài Trung Quốc, tranh chấp thuộc thẩm quyền của Trọng tài là tranh chấp kinh tế Mà các hoạt động “kinh tế” bao gồm các vấn đề không chỉ phát sinh từ các vấn đề thương mại, mà còn từ vấn đề khác về quyền và lợi ích tài sản của

các bên Theo đó, tại Điều 1 và Điều 2 Luật Trọng tài Trung Quốc quy định: “Điều

1 Luật này được xây dựng để đảm bảo giải quyết bằng trong tài công bằng và kịp thời cho các tranh chấp kinh tế, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và bảo vệ sự phát triển đúng đắn của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Điều 2 Tranh chấp hợp đồng và tranh chấp khác về quyền và lợi ích trong tài sản giữa các công dân, các cá nhân và các tổ chức khác là những chủ thể bình đẳng có thể được phân xử” Có thể nhờ việc mở rộng phạm vi thẩm quyền mã số vụ tranh chấp của Ủy

ban Trọng tài Kinh tế và Thương mại Quốc tế Trung Quốc (CIETAC) đã tăng đáng kinh ngạc Chỉ trong 20 năm từ 486 trường hợp trong năm 1993 đến 1968 trường hợp trong năm 2015.27 Từ quy định trên ta có thể thấy pháp luật trọng tài Trung Quốc đã

mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh thương mại không chỉ là những vấn đề liên quan đến thương mại mà còn là quyền và lợi ích về tài sản, suy cho cùng nội dung của những tranh chấp về kinh doanh, thương mại đều liên quan đến tài sản Việc quy định như thế sẽ giúp mở rộng thẩm quyền của Trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp có liên quan đến kinh doanh, thương mại

* Pháp luật của Hoa kỳ về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài

Trọng tài ở Hoa Kỳ rất phát triển với lý do rất đơn giải là một số lượng lớn các tập đoàn tham gia vào trọng tài quốc tế là các công ty Mỹ28 Vì thế pháp luật về trọng tài tại Hoa Kỳ rất hoàn thiện, điển hình là việc pháp luật trao cho Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp rất rộng, không mang tính chất liệt kê các tranh chấp như ở Việt Nam mà sử dụng phương pháp loại trừ các tranh chấp không thuộc thẩm

27 VIAC (2020), “So sánh với một số tổ chức Trọng tài khác”, từ to-chuc-trong-tai-khac-a166.html , truy cập ngày 1/5/2021

http://viac.vn/thong-ke/so-sanh-voi-mot-so-28 Trọng tài quốc tế (2017), “Trọng tài tại Hoa Kỳ”, từ nguồn attorney.com/vi/arbitration-united-states/ , truy cập ngày 2/5/2021

Trang 37

https://www.international-arbitration-quyền của trọng tài Theo Điều 5 Đạo luật Trọng tài Liên bang Hoa Kỳ quy định:

“Tuân theo Bộ luật Tố tụng dân sự của Liên bang, Trọng tài giải quyết các tranh chấp mang tính tài sản thuộc phạm vi thẩm quyền của Tòa án Liên bang, ngoại trừ các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp lý của bang, hành chính và thuế quan

hệ cấp dưỡng, trường hợp phá sản của pháp nhân và công dân”

Từ quy định trên có thể thấy phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được Hòa Kỳ chú trọng và ưu tiên phát triển trở thành phương thức được lựa chọn hàng đầu đối với những doanh nghiệp ở Mỹ, vì những ưu điểm vượt trội của phương thức trọng tài như tính chất chung thẩm của phán quyết, thủ tục nhanh gọn, tiết kiệm thời gian chi phí cho các chủ thể

* Pháp luật của Thái Lan về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài

Luật Trọng tài Thái Lan tại Điều 11 định nghĩa: “Thỏa thuận trong tài có nghĩa

là thỏa thuận mà các bên đồng ý giải quyết bằng trọng tài tất cả hoặc một số tranh chấp phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa chúng đối với một mối quan hệ pháp lý xác định, cho dù là hợp đồng hay không Một thỏa thuận trong tài có thể dưới dạng một điều khoản trong tài trong hợp đồng hoặc trong hình thức của một thỏa thuận trong tài riêng biệt.” Có thể thấy cách tiếp cận về giải quyết các tranh chấp bằng phương

thức trọng tài của Thái Lan có những nét tương đồng so với Pháp luật Việt Nam có thể kể đến là việc quy định Thỏa thuận trọng tài trước khi giải quyết tranh chấp và hình thức của thỏa thuận trọng tài tại Điều 11 Luật trọng tài Thái Lan khá giống với Khoản 1 Điều 16 của Luật TTTM Việt Nam Tuy nhiên về phạm vi giải quyết tranh chấp theo pháp luật Thái Lan lại rộng hơn nhiều so với Việt Nam, theo đó Trọng tài

có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh hoặc có thể phát sinh với một mối quan hệ pháp lý xác định, cho dù là hợp đồng hay không

Như vậy, thông qua các quy định pháp luật trọng tài của các nước trên thế giới

là Trung Quốc, Hoa Kỳ và Thái Lan có thể thấy được rằng đã trao cho trọng tài thẩm quyền giải quyết rất rộng theo phương pháp loại trừ các tranh chấp, vấn đề liên quan đến hành chính, hình sự, hôn nhân gia đình quyền nhân thân hay các vấn đề mà các bên có sự bình đẳng về địa vị pháp lý, có quyền tự do ý chí thỏa thuận trọng tài làm

Trang 38

phương thức giải quyết tranh chấp, đảm bảo quyền tự do định đoạt của các chủ thể.29

Có thể thấy thẩm quyền của trọng tài theo quy định của pháp luật Việt Nam chỉ phát sinh trong hoạt động thương mại hoặc một bên có hoạt động thương mại Tuy nhiên các vấn đề pháp sinh trong đời sống xã hội thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài rất nhiều Do đó, mà pháp luật Việt Nam cần học hỏi các nước trên thế giới trong việc

mở rộng thẩm quyền của trọng tài theo phương pháp loại trừ, bởi vì có những tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại nhưng trọng tài vẫn có thẩm quyền để

quyết

29 Cao Anh Nguyên (2017), “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài trong thực tiễn hiện nay”, tạp

chí Nghiên cứu lập pháp, số 04(332) T2/2017, tr 50

Trang 39

Đồng thời, nêu ra quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật

về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại qua từng giai đoạn lịch sử của Việt Nam Nhận thấy đó là sự nối tiếp, kế thừa những thành tựu của thời kỳ trước và phát triển để phù hợp với những nhu cầu thực tế trong từng giai đoạn

Cuối cùng tác giả đưa ra một số quy định pháp luật của một số nước trên thế giới là Trung Quốc, Hoa Kỳ, và Thái Lan Để tìm ra những ưu nhược điểm về giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài của các quốc gia này Từ đó, rút ra được bài học từ những điểm tiến bộ của các quốc gia này, góp phần hoàn thiện các quy định về pháp luật trọng tài Việt Nam Từ đó làm nền tảng cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và phân tích Chương 2 của bài Khóa luận

Trang 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài

2.1.1 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài

2.1.1.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức trọng tài

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng phương thức Trọng tài được hiểu là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt mà tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại đều phải tuân thủ, kể cả các bên tranh chấp.30 Nếu vi phạm nguyên tắc, việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài sẽ vi phạm pháp luật và không có giá trị đối với các chủ thể tham gia, không được nhà nước bảo hộ Cụ thể, theo Điều 4 Luật TTTM năm

2010 có quy định các nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bao gồm các nguyên tắc sau đây:

* Nguyên tắc 1: tôn trọng thỏa thuận của các bên tranh chấp

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 4 Luật TTTM năm 2010

Quy định này thể hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên tranh chấp,

là nguyên tắc quan trọng nhất, chi phối hành vi tố tụng của trọng tài trong toàn bộ quá trình tố tụng trọng tài Nguyên tắc này bao hàm, nhưng không giới hạn bởi các nội dung sau đây:

Trước khi giải quyết tranh chấp các bên phải có thỏa thuận trọng tài, và thỏa thuận này phải có hiệu lực Đây là một điều kiện bắt buộc khi giải quyết tranh chấp

30 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), “Giáo trình về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp

thương mại”, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 364

Ngày đăng: 03/07/2022, 21:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Chính phủ (1994), Nghị định số 116/CP tổ chức hoạt động của trọng tài kinh tế, ban hành ngày 05 tháng 9 năm 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 116/CP tổ chức hoạt động của trọng tài kinh tế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1994
15. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2014), Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại, ban hành ngày ngày 20 tháng 3 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại
Tác giả: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2014
16. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Quyết định số 974/2019/QĐ- PQTT yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, ban hành ngày 13 tháng 08 năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 974/2019/QĐ-PQTT yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Tác giả: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
17. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Quyết định số 300/2021/QĐ- PQTT yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, ban hành ngày 09 tháng 03 năm 2021Sách, giáo trình, tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 300/2021/QĐ-PQTT yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Tác giả: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2021
18. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), “Giáo trình về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại”, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại”
Tác giả: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2018
19. Viện ngôn ngữ học (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2008
20. Đỗ Văn Đại (2017), “Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam – bản án và bình luận bản án (tập 1+2)”, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam – bản án và bình luận bản án (tập 1+2)”
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2017
21. Tòa án nhân dân tối cao (2017), Sổ tay pháp luật về Trọng tài và Hòa giải, Nxb Thanh Niên, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay pháp luật về Trọng tài và Hòa giải
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2017
22. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương (2003), “Trọng tài thương mại và Pháp luật về Trọng tài thương mại”, Đặc san Tuyên truyền pháp luật số 07/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài thương mại và Pháp luật về Trọng tài thương mại”
Tác giả: Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương
Năm: 2003
23. Hội đồng Trọng tài Thương mại Quốc tế (ICCA) (2011), Hướng dẫn của ICCA về diễn giải Công ước New York 1958: Sổ tay hướng dẫn cho Thẩm phán” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng Trọng tài Thương mại Quốc tế (ICCA) (2011), "Hướng dẫn của ICCA về diễn giải Công ước New York 1958: Sổ tay hướng dẫn cho Thẩm phán
Tác giả: Hội đồng Trọng tài Thương mại Quốc tế (ICCA)
Năm: 2011
24. Cao Anh Nguyên (2017), “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài trong thực tiễn hiện nay”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 04(332) T2/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài trong thực tiễn hiện nay”, "tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Cao Anh Nguyên
Năm: 2017
25. Ngô Quốc Chiến, Nguyễn Hoàng Anh (2021), “Trọng tài thương mại quốc tế và vấn đề luật áp dụng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 01 (425), tháng 1/2021Luận văn khóa luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài thương mại quốc tế và vấn đề luật áp dụng”, "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 01 (425), tháng 1/2021
Tác giả: Ngô Quốc Chiến, Nguyễn Hoàng Anh
Năm: 2021
26. Hùynh Tất Ngọc Trân (2009), “Hòa giải vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòa giải vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án”
Tác giả: Hùynh Tất Ngọc Trân
Năm: 2009
27. Đặng Minh Phương (2014), “Thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luật văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam”
Tác giả: Đặng Minh Phương
Năm: 2014
28. Lê Thanh Long (2018), “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài vụ việc theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật – Đại học Huế, tr.16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài vụ việc theo quy định của pháp luật Việt Nam”
Tác giả: Lê Thanh Long
Năm: 2018
34. Henry Campbell Black (1999), Black 's Law Dictionary – 7th Edition, West Pub Co 35. Từ điển chuyên ngành Luật Black’s Sách, tạp chí
Tiêu đề: Black 's Law Dictionary
Tác giả: Henry Campbell Black
Năm: 1999
36. Thẩm phán Hacking, “Arbitration is only as good as its arbitrators”, Liber Amicorum Eric Bergsten Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arbitration is only as good as its arbitrators
8. Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2019 9. Luật Trọng tài thương mại 2010 Khác
29. Đạo luật Trọng tài Liên bang Hoa Kỳ 30. Luật Trọng tài Hàn Quốc Khác
33. Đạo luật M ẫu về Thương mại Điện tử do Uỷ ban Liên hi ệp Quốc về Luậ t Thương mại Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w