1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG

62 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Và Thiết Kế Các Bài Kiểm Tra Thường Xuyên Môn Địa Lí Bằng Các Dự Án Học Tập Nhỏ Cho Học Sinh Lớp 10
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngọc
Trường học Trường THPT Con Cuông
Chuyên ngành Địa lý
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 4,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc KTĐG thường xuyên hiện nay có thể được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau như: kiểm tra viết, quan sát, thực hành, đánh giá qua hồ sơ và sản phẩm học tập; dự án học tập,… Tr

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT CON CUÔNG

HỌC SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG

Môn: Địa lí (Lĩnh vực giáo dục) Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Ngọc

Tổ: Khoa học xã hội

Năm 2022

Số điện thoại: 0974776886

Trang 2

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lí do chọn đề tài

Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học Việc đối mới phương pháp dạy học phải gắn liền với đổi mới phương pháp KTĐG kiến thức, kĩ năng của HS Đây là hai mặt của một vấn đề không thể tách rời, muốn đổi mới phương pháp dạy học cần đổi mới phương pháp KTĐG

Việc KTĐG kết quả học tập của HS được xem là đầu tàu lôi kéo mọi hoạt động khác trong giáo dục, nó không chỉ bao hàm mục đích tạo nên động

cơ học tập và định hướng phát triển cho các em mà đồng thời còn góp phần cải tiến chất lượng giảng dạy của GV Việc KTĐG chính là thông tin phản hồi ngược làm cơ sở cho việc điều chỉnh phương pháp dạy của giáo viên Việc KTĐG đòi hỏi phải được thực hiện một cách chính xác, khách quan Vì thế, cần cải tiến phương pháp KTĐG phù hợp để từng bước làm cho KTĐG giữ đúng vai trò của mình; thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo thông qua nội dung và phương pháp kiểm tra là một nhu cầu cấp thiết

Năng lực của HS được hình thành, rèn luyện và phát triển trong suốt quá trình dạy học môn học Do vậy để xác định mức độ năng lực của HS không thể chỉ thực hiện qua một bài kiểm tra kết thúc môn học có tính thời điểm mà phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình đó Việc KTĐG cần được tích hợp chặt chẽ với việc dạy học, coi đánh giá như là công cụ học tập nhằm hình thành

và phát triển năng lực cho HS

Việc KTĐG thường xuyên hiện nay có thể được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau như: kiểm tra viết, quan sát, thực hành, đánh giá qua hồ

sơ và sản phẩm học tập; dự án học tập,… Trong đó, KTĐGTX bằng việc cho

HS xây dựng các DAHTN là một phương pháp kiểm tra giúp HS thể hiện được vai trò làm trung tâm Phương pháp này giúp HS phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở; khuyến khích HS tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình Phương pháp này lôi cuốn được mọi đối tượng

HS mà không phụ thuộc vào cách học của các em Các phương tiện kỹ thuật cũng được sử dụng đa dạng để hỗ trợ việc học Trong quá trình HS thực hiện dự

án, GV có thể vận dụng nhiều cách đánh giá khác nhau để giúp các em tạo ra những sản phẩm có chất lượng

Là một GV dạy địa lí, bản thân tôi luôn trăn trở với suy nghĩ làm thế nào để việc đánh giá kết quả quá trình học tập HS diễn ra một cách khách quan, chính xác nhất mà không áp lực Và việc KTĐGTX bằng các DAHTN

Trang 3

vào một số bài kiểm tra đã giúp tôi tháo gỡ được phần nào những băn khoăn này Tuy vậy, trên thực tế, bản thân tôi cũng như nhiều GV nói chung, GV địa

lí nói riêng, việc KTĐGTX HS bằng các DAHTN chưa thường xuyên và hiệu quả do những điều kiện khách quan và chủ quan Nhằm để cả GV và HS thấy được tầm quan trọng và những lợi ích rõ rệt từ việc đổi mới phương pháp

KTĐG môn địa lí bằng việc thực hiện các DAHTN, tôi đã chọn đề tài “ Xây

dựng và thiết kế các bài kiểm tra thường xuyên môn địa lí bằng các dự án học tập nhỏ cho học sinh lớp 10 trường THPT Con Cuông” làm đề tài sáng

kiến kinh nghiệm Hi vọng sẽ giúp cho các đồng nghiệp có thêm một kênh thông tin để tiếp cận, nghiên cứu và ứng dụng vào việc dạy học cũng như KTĐGTX của mình

1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1 Mục đích nghiên cứu

Xác định phương pháp thiết kế và tổ chức thực hiện các dự án học tập

nhỏ trong KTĐG Địa lí lớp 10 nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học

theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực của HS, từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn địa lí ở trường THPT

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của DHDA và của KTĐG thông qua việc thiết kế và tổ chức thực hiện các DAHTN trong dạy học Địa lí 10

- Xác định hệ thống chủ đề thực hiện một số DAHTN trong chương trình Địa lí

10 THPT

- Phương pháp thiết kế các dự án trong dạy học Địa lí 10

- Qui trình tổ chức thực hiện các DAHTN trong KTĐG Địa lí 10

- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của đề tài nghiên cứu

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp thiết kế và tổ chức thực hiện các DAHTN trong dạy học Địa lí 10 trường THPT Con Cuông, có thể mở rộng thực nghiệm trong dạy học Địa lí 10 các trường THPT khác

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thiết kế và tổ chức thực hiện một số DAHTN có tính đại diện trong chương trình Địa lí lớp 10, chương trình cơ bản

Trang 4

- Tập trung vào phần thiết kế, phần tổ chức thực hiện được xem như cụ thể hóa và tiếp nối cho mục tiến trình thực hiện trong phần thiết kế

- Tổ chức thực nghiệm tại lớp 10C1, 10A1 trường THPT Con Cuông, Nghệ An

- Vận dụng linh hoạt hầu hết các hình thức tổ chức dạy học địa lí

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phương pháp lí thuyết là phương pháp thu thập thông tin thông qua đọc sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và

tư tưởng cơ bản là cơ sở lí luận của đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán những thuộc tính của đối tượng nghiên cứu xây dựng những mô hình lí thuyết hay thực nghiệm ban đầu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đọc các tài liệu liên quan đến đề tài

để chọn lọc những kiến thức cơ bản phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

- Phương pháp hệ thống hóa: Nghiên cứu các tài liệu, phân chia thành những mục theo mục đích mà mình nghiên cứu

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tiến hành so sánh, đối chiếu các tài liệu và các nội dung, hoạt động có liên quan để phục vụ cho quá trình nghiên cứu

1.4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát được thực hiện chủ yếu trong giai đoạn thực nghiệm sư phạm nhằm về phát hiện kịp thời những khó khăn, va vấp của HS trong quá trình thực hiện dự án để hỗ trợ đúng lúc, đồng thời đánh giá được những tiến bộ của HS suốt quá trình thực hiện PP quan sát đchú trọng trong giai đoạn cuối của dự án: báo cáo kết quả nhằm phục vụ cho việc đánh giá tổng thể Thông qua PP này người nghiên cứu sẽ rút ra ñược những kết luận xác đáng những khó khăn HS gặp phải; những giá trị, những năng lực HS đạt được thông qua thực hiện các DAHTN

- Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện các quy luật phân bố, trình

độ phát triển, đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Xây dựng bảng hỏi, điều tra đại trà, trả lời tự nguyện, phiếu trả lời không hợp lệ không sử dụng; phỏng vấn và phỏng vấn sâu (trên cơ sở bảng hỏi ban đầu) một số trường hợp đặc biệt

Trang 5

- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức thảo luận chuyên đề để lấy các ý kiến các chuyên gia về một số kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn Phương pháp cũng được sử dụng để đánh giá tính khả thi của đề tài nghiên cứu

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

+ Mục đích thực nghiệm: Đánh giá khách quan kết quả thực hiện một số DAHTN trong chương trình Địa lí 10 THPT đã được thiết kế

+ Nội dung thực nghiệm: Chọn lọc thực nghiệm một số đề tài thuộc phạm vi địa lí lớp 10 trong các mô hình dự án đã đề xuất nhằm khẳng định tính khả thi của KTĐTX bằng việc thiết kế và thực hiện DAHTN môn Địa lí 10 THPT + Đối tượng thực nghiệm: HS lớp 10C1 THPT của trường THPT Con Cuông

+Tổ chức thực nghiệm: Thực nghiệm được tiến hành trong giới hạn khoảng 1 tuần, với các mô hình dự án đã đề xuất

- Phương pháp thống kê toán học: là phương pháp sử dụng một số công thức toán học để xử lí thống kê và đánh giá kết quả điều tra, kết quả thực nghiệm

Trang 6

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Cơ sở lí luận

2.1.1.1 Lí luận chung về dạy học dự án

a Khái niệm dạy học dự án

Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, được hiểu theo nghĩa phổ thông

là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch, cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội và trong nghiên cứu khoa học Sau đó, khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một hình thức hay phương pháp dạy học

Trang 7

b Phân loại dạy học dự án

Dạy học dự án có thể được phân loại dựa theo nhiều cơ sở khác nhau Sau đây là một số cách phân loại chính:

* Phân loại theo qui mô dự án

- Dự án nhỏ

- Dự án trung bình

- Dự án lớn

* Phân loại theo nhiệm vụ:

- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng

- Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình

- Dự án kiến tạo: tập trung vào việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện

các hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bài, biểu diễn, sáng tác

* Phân loại theo mức độ phức hợp của nội dung học tập:

- Dự án mang tính thực hành: là dự án có trong tâm là việc thực hiện một nhiệm

vụ thực hành mang tính phức hợp trên cơ sở vận dụng kiến thức, kỹ năng cơ bản

đã học nhằm tạo ra một sản phẩm vật chất

- Dự án mang tính tích hợp: là dự án mang nội dung tích hợp nhiều nội dung

hoạt động như tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu lí thuyết, giải quyết vấn đề, thực hiện các hoạt động thực hành, thực tiễn

Ngoài các cách phân loại trên, còn có thể phân loại theo chuyên môn (dự

án môn học, dự án liên môn, dự án ngoài môn học); theo sự tham gia của người học (dự án cá nhân, dự án nhóm, dự án lớp…)

c Đặc điểm của dạy học dự án

Trong các tài liệu về DHDA có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Các nhà

sư phạm Mỹ đầu thế kỷ 20 khi xác lập cơ sở lý thuyết cho PPDH này đã nêu ra 3 đặc điểm cốt lõi của DHDA: định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của DHDA như sau:

- Định hướng thực tiễn: chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực

tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm của dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của người học Các dự án học tập có ý nghĩa thực tiễn xã hội, góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

Trang 8

Sơ đồ 2.1 Đặc điểm của dạy học dự án

- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học

tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án

- Mang tính phức hợp, liên môn: nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều

lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ, vấn đề mang tính phức hợp

- Định hướng hành động: trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa

nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học

- Tính tự lực của người học: trong dạy học theo dự án, người học cần tham gia

tích cực, tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của học sin và mức độ khó khăn của nhiệm vụ

- Cộng tác làm việc: các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong

đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng công tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội

- Định hướng sản phẩm: trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo

ra không chỉ giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa số trường

Trang 9

hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu

d Tác dụng của dạy học dự án

* Dạy học dự án làm cho nội dung học tập trở nên có ý nghĩa hơn

- Trong DHDA, nội dung học tập trở nên có ý nghĩa hơn bởi vì nó được tích hợp với các vấn đề của đời sống thực, từ đó kích thích hứng thú học tập của người học

- Dạy học dự án gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường

và xã hội, giúp việc học tập trong nhà trường giống hơn với việc học tập trong thế giới thật

- Người học có cơ hội thực hành và phát triển khả năng của mình để hoạt động trong một môi trường phức tạp giống như sau này họ sẽ gặp phải trong cuộc sống

Dạy học dự án có thể là một công cụ tuyệt cho sự phát triển của học sinh, giáo viên và trường học Nhưng nó chỉ thực sự đạt được điều đó nếu nó phát triển tư duy tốt và vi thúc đẩy việc học Nó không đủ để học sinh có thể tạo ra hoặc làm một vài điều gì đó dựa trên kinh nghiệm làm việc

Dạy học dự án có chất lượng sẽ giúp giáo viên trở thành những người hướng dẫn, tạo ra các nhiệm vụ liên kết tư duy và học tập cho HS của mình Dưới đây là 5 đòn bẩy chất lượng có sự phối hợp nhịp nhàng để thúc đẩy khao khát tư duy và học tập của học sinh

* Dự án học tập là những thiết kế có chủ đích để thu hút tư duy của học

sinh xung quanh các kỳ vọng, nội dụng và các kĩ năng mà học sinh cần biết

Khi lên kế hoạch thiết kế cho các dự án học tập, câu hỏi cần đặt ra là nhằm phát triển loại tư duy nào và HS sẽ học về điều gì ? Trong trường hợp này, không còn nghi ngờ gì nữa chúng ta thường tập trung vào nội dung và các chuẩn kiến thức Đối với một số dự án có thể cũng không cần thiết lắm Trong thực tế, có những trường hợp giúp tạo ra sự cân bằng giữa nội dung và kĩ năng, đó chính

là tập trung vào tư duy để đào sâu nội dung học tập Điểm nhấn mạnh ở đây là có

sự chủ đích trong việc lên kế hoạch về tư duy và học tập, bất kể nó là gì, HS sẽ cần biết và chứng minh sự hiểu biết để hoàn thành dự án và các nhiệm vụ

* Dự án cung cấp nhiều cơ hội và nhu cầu cho việc đặt câu hỏi ở mức độ cao

từ phía học sinh và giáo viên

Giáo viên giỏi biết chuẩn bị những câu hỏi tốt, biết lên kịch bản đặt câu hỏi cho tất cả các đối tượng HS Trong suốt một dự án, chúng ta muốn thấy có nhiều

Trang 10

cơ hội và nhu cầu đặt câu hỏi từ HS và GV về các câu hỏi đã được chuẩn bị trước lẫn câu hỏi phát sinh Bắt đầu bằng một câu hỏi mở liên kết với những kì vọng về

tư duy và học tập mà bạn dự tính trước, HS có thể sẽ có các câu hỏi ở ngoài chủ

đề, các câu hỏi cho phép HS xoay quanh một văn bản hoặc các nguồn tài liệu khác, câu hỏi của HS này sẽ giúp dẫn dắt tư duy của những HS khác hoặc làm rõ các câu hỏi Chúng ta sẽ chuyển từ một lớp học, nơi các câu trả lời là trọng tâm sang những câu hỏi gợi mở, mang lại một tư duy sâu sắc và sáng tạo

* Dự án thách thức học sinh tạo ra các sản phẩm cho khách hàng và mục

đích của cuộc sống thực

Học sinh và GV cần xác định rõ về sản phẩm, mục đích trong một DAHT

và điều này liên hệ mật thiết tới tính thực tế Kết nối sản phẩm với một mục đích

và đối tượng địa lí thực tế thúc đẩy thêm việc tìm tòi thay vì chỉ học “trong trường học” Thay vì đặt câu hỏi mình sẽ được bao nhiêu điểm khi kết thúc dự

án, những nhiệm vụ của dự án yêu cầu HS đặt câu hỏi về làm cách nào tốt nhất

để đáp ứng nhu cầu và mục đích của khách hàng Quá trình tạo ra sản phẩm của HTDA giúp cho việc học trở nên có ý nghĩa, thêm vào đó, tính thực tế giúp tăng

sự hứng thú và cam kết của HS và trao quyền để HS làm việc một cách ý nghĩa

và tận tâm trong thể giới thực hơn là việc học truyền thống

* Dự án mang lại các cơ hội cho học sinh có tiếng nói và tự do lựa chọn

trong quá trình học tập và tạo ra sản phẩm

Nếu GV muốn học sinh cam kết và gắn bó với dự án, không chỉ vì miễn cưỡng, tự định hướng là cách tốt nhất Khi GV và HS phát triển trong một môi trường học tập dự án, đây là một sự thay đổi văn hóa nơi việc GV “kiểm soát” sẽ giảm xuống và trở thành một người “hướng dẫn” Sự tự do này cho phép HS tăng khả năng nghiên cứu và lựa chọn qua những gì chúng khám phá được Khám phá là mục đích học tập cần thiết cũng như cách để HS thể hiện sự hiểu biết của bản thân

* Dự án học tập giúp hướng dẫn việc dạy và học sử dụng những đánh giá

Trang 11

Chúng ta muốn HS tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao nhưng liệu chúng ta có thường xuyên cho chúng các thử thách trên thực tế? Điều mà giúp

HS cảm thấy đáng để theo đuổi và cải thiện thay vì chỉ chạy theo điểm số? Dự

án học tập chất lượng, trao quyền cho HS bằng việc khuyến khích chúng trong quá trình làm việc thông qua nỗ lực cải thiện sản phẩm để đáp ứng yêu cầu thực

tế của học tập thay vì chỉ chạy theo điểm số

* Dạy học dự án góp phần đổi mới phương pháp dạy học, thay đổi phương thức đào tạo

- Học tập dự án chuyển giảng dạy từ "GV nói" thành "HS làm" Người học trở thành người giải quyết vấn đề, ra quyết định chứ không phải là người nghe thụ động Họ hợp tác theo nhóm, tổ chức hoạt động, tiến hành nghiên cứu, giải quyết vấn đề, tổng hợp thông tin, tổ chức thời gian và phản ánh về việc học của mình

- Dạy học dự án tạo điều kiện cho nhiều phong cách học tập khác nhau, sử dụng thông tin của những môn học khác nhau Nó giúp người học với cùng một nội dung nhưng có thể thực hiện theo những cách khác nhau

- Dạy học dự án yêu cầu HS sự tư duy tích cực để giải quyết vần đề, kích thích động cơ, hứng thú học tập

- Dạy học dự án khuyến khích việc sử dụng các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp cho người học hiểu biết sâu sắc hơn nội dung học tập

- Dạy học dự án là hình thức quan trọng để thực hiện phương thức đào tạo con người phát triển toàn diện, học đi đôi với hành, kết hợp giữa học tập và nghiên cứu khoa học

* Dạy học dự án tạo ra môi trường thuận lợi cho người học rèn luyện và phát triển

- Dạy học dự án giúp người học học được nhiều hơn vì trong hầu hết các dự án,

HS phải làm những bài tập liên quan đến nhiều lĩnh vực

- HS nào cũng có cơ hội để hoạt động vì nhiệm vụ học tập đến được với tất cả mọi người HS có cơ hội để thử các năng lực khác nhau của bản thân khi tham gia vào một dự án

- HS được rèn khả năng tư duy, suy nghĩ sâu sắc khi gặp những vấn đề phức tạp Học viên có điều kiện để khám phá, đánh giá, giải thích và tổng hợp thông tin

- HS được rèn khả năng vận dụng những gì đã học, đặc biệt các kiến thức về khoa học, công nghệ

Trang 12

- Khi lập đề cương cho dự án, người học phải tưởng tượng, phác họa những dự kiến, kế hoạch hành động, vì vậy trí tưởng tượng cùng với tính tích cực, sáng tạo của họ được rèn luyện và phát triển

- Phát triển năng lực đánh giá Dạy học dự án đòi hỏi nhiều dạng đánh giá khác nhau và thường xuyên, bao gồm đánh giá của GV, đánh giá lẫn nhau của HS, tự đánh giá và phản hồi

- HS có cơ hội lựa chọn và kiểm soát việc học của chính mình, cũng như cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp làm tăng hứng thú học tập

- Dạy học dự án giúp HS tự tin hơn khi ra trường do họ được phát triển những

kỹ năng sống cần thiết: khả năng đưa ra những quyết định chính xác; khả năng giải quyết những vấn đề phức tạp; khả năng làm việc tốt với người khác; sự chủ động, linh hoạt và sáng tạo

* Dạy học dự án phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học

- Người học là trung tâm của dạy học dự án, từ vị trí thụ động chuyển sang chủ động, vì vậy dạy học dự án vừa tạo điều kiện, vừa buộc người học phải làm việc tích cực hơn

- Dạy học dự án cho phép người học tự chủ nhiều hơn trong công việc, từ xây dựng kế hoạch đến việc thực hiện dự án, tạo ra các sản phẩm Nhờ thế dạy học

dự án phát huy tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề của người học

* Dạy học dự án giúp người học phát triển khả năng giao tiếp

- Dạy học dự án không chỉ giúp HS tiếp thu kiến thức, mà còn giúp các em nâng cao năng lực hợp tác, khả năng giao tiếp với người khác

- Dạy học dự án thúc đẩy sự cộng tác giữa các HS và GV, giữa các HS với nhau, nhiều khi mở rộng đến cộng đồng

Trang 13

nhiệm vụ cần giải quyết,

trong đó liên hệ với hoàn

cảnh thực tiễn xã hội và đời

sống Cần chú ý đến hứng

thú của người học cũng

như ý nghĩa xã hội của đề

tài GV có thể giới thiệu

* Bước 2: Xây dựng kế hoạch

Trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, phương pháp tiến hành và

phân công công việc trong nhóm,…

* Bước 3: Thực hiện dự án

Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và

cá nhân Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra

* Bước 4: Trình bày sản phẩm dự án

Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, bài báo, Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất,

Xác định chủ đề& mục

đích dự án

Thực hiện dự án Xây dựng kế hoạch

Trình bày sản phẩm

Đánh giá dự án

Sơ đồ 2.2 Qui trình tổ chức dạy học dự án

Trang 14

chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm

HS, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội

* Bước 5: Đánh giá dự án

GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài

Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án

f Những vấn đề cần lưu ý khi dạy học dự án

Khi tổ chức DHDA GV cần lưu ý các điểm sau đây:

- Các dự án học tập cần góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội; có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào hoạt động thực tiễn, thực hành

- Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của HS

- HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân

- Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

- Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm

- Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết; sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu

g Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án

* Ưu điểm

Các đặc điểm của DHDA đã thể hiện những ưu điểm của phương pháp dạy học này Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học theo dự án:

- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội;

- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học;

- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm;

Trang 15

- Phát triển khả năng sáng tạo;

- Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp;

- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;

- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc;

- Phát triển năng lực đánh giá

* Nhược điểm

- DHDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu tượng,

hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản;

- DHDA đòi hỏi nhiều thời gian Vì vậy DHDA không thay thế cho PP thuyết trình và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các PPDH truyền thống.

- DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp.

Tóm lại: DHDA là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm

dạy học hiện đại như: định hướng vào người học, định hướng hành động, dạy học GQVĐ và quan điểm dạy học tích hợp DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học

2.1.1.2 Lí luận về kiểm tra, đánh giá thường xuyên

Kiểm tra, đánh giá là một phần không thể thiếu trong giáo dục và đào tạo, luôn được xã hội quan tâm và là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục trong nhiều năm nay Để nâng cao chất lượng dạy và học, vì sự phát triển của thế hệ tương lai, cần có sự cải tiến về nội dung, hình thức, phương pháp Và

để làm được điều đó, trước hết người giáo viên, quản lý cần nhận thức được những vấn đề cơ bản, phân loại rõ ràng và ý nghĩa to lớn của việc kiểm tra, đánh giá trong hoạt động dạy và học

Trong dạy học, người ta thường sử dụng các hình thức kiểm tra: KTĐGTX, KTĐG định kì, KTĐG tổng kết Trong đó, KTĐGTX là hình thức quan trọng

a Khái niệm

Kiểm tra đánh giá thường xuyên là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động dạy học theo yêu cầu cần đạt và biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của từng môn học, hoạt động giáo dục và một số biểu hiện phẩm chất, năng lực của HS Kiểm tra đánh giá thường xuyên cung cấp

Trang 16

thông tin phản hồi cho GV và HS, để kịp thời điều chỉnh quá trình dạy học, hỗ trợ, thúc đẩy sự tiến bộ của HS theo mục tiêu giáo dục

KTĐGTX thường xuyên hay còn gọi là đánh giá quá trình là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy môn học, cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động giảng dạy, học tập

KTĐGTX chỉ những hoạt động KTĐG được thực hiện trong quá trình dạy học, có ý nghĩa phân biệt với những hoạt động KTĐGtrước khi bắt đầu quá trình dạy học một môn học nào đó (đánh giá đầu năm/đánh giá xếp lớp) hoặc sau khi kết thúc quá trình dạy học môn học này (đánh giá tổng kết) ĐGTX được xem là đánh giá vì quá trình học tập hoặc vì sự tiến bộ của người học

b Mục đích của kiểm tra thường xuyên:

Mục đích của ĐGTX nhằm thu thập các minh chứng liên quan đến kết quả học tập của HS trong quá trình học để cung cấp những phản hồi cho HS và

GV biết những gì các em đã làm được so với mục tiêu, yêu cầu của bài học, của chương trình và những gì họ chưa làm được để điều chỉnh hoạt động dạy và học KTĐGTX đưa ra những khuyến nghị để HS có thể làm tốt hơn những gì mình chưa làm được, từ đó nâng cao kết quả học tập trong thời điểm tiếp theo

KTĐGTX còn giúp chẩn đoán hoặc đo kiến thức và kĩ năng hiện tại của

HS nhằm dự báo hoặc tiên đoán những bài học hoặc chương trình học tiếp theo cần được xây dựng thế nào cho phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí của HS

KTĐGTX có mục đích chính là cung cấp kịp thời thông tin phản hồi cho

GV và HS để điều chỉnh hoạt động dạy và học, không nhằm xếp loại thành tích hay kết quả học tập KTĐGTX không nhằm mục đích đưa ra kết luận về kết quả giáo dục cuối cùng của từng HS Ngoài việc kịp thời động viên, khuyến khích khi HS thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, ĐGTX còn tập trung vào việc phát hiện, tìm ra những thiếu sót, lỗi, những nhân tố ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập, rèn luyện của HS để có những giải pháp hỗ trợ điều chỉnh kịp thời, giúp cải thiện, nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục

c Một số điểm cần chú ý trong đánh giá thường xuyên

* Thông tin thu nhận trong ĐGTX:

Để có thông tin khi thực hiện ĐGTX, GV cần tập trung quan tâm đến:

- Sự tích cực, chủ động của HS trong quá trình tham gia các hoạt động học tập, rèn luyện được giao: GV không chỉ giao nhiệm vụ, xem xét HS có hoàn thành

Trang 17

hay không, mà phải xem xét từng HS hoàn thành thế nào (có chủ động, tích cực,

có khó khăn gì có hiểu rõ mục tiêu học tập và sẵn sàng thực hiện, ) GV thường xuyên theo dõi và thông báo về sự tiến bộ của HS hướng đến việc đạt được các mục tiêu giáo dục

- Sự hứng thú, tự tin, cam kết, trách nhiệm của HS khi thực hiện các hoạt động học tập cá nhân: HS tham gia thực hiện các nhiệm vụ học tập cá nhân có thể hiện tính trách nhiệm, có hứng thú, có thể hiện sự tự tin, Đây là những chỉ báo quan trọng để xác định xem HS cần hỗ trợ gì trong học tập, rèn luyện

* Các công cụ dùng trong đánh giá thường xuyên:

Khác với đánh giá định kì, thường sử dụng các công cụ có tính chuẩn hóa (tức là các bài kiểm tra định kỳ phải được thiết kế theo quy trình, có sự tham gia thẩm định của hội đồng hoặc tổ chuyên môn, phải đáp ứng các đặc tính đo lường như độ khó, độ tin cậy ), trong khi KTĐGTX, GV thường sử dụng do GV tự thiết kế hoặc tự sưu tầm, tự cải biên, Công cụ có thể dùng là phiếu quan sát, các thang đo, bảng kiểm, thẻ kiểm tra/phiếu kiểm tra, các phiếu đánh giá tiêu chí, phiếu hỏi, hồ sơ học tập, các loại câu hỏi vấn đáp, được GV tự biên soạn hoặc tham khảo từ các tài liệu hướng dẫn GV có thể “cắt may” các công cụ từ các tài liệu tham khảo cho phù hợp vời từng tình huống, bối cảnh đánh giá dạy học, đánh giá giáo dục (mang tính chủ quan của từng GV)

* Sự tham gia của HS trong kiểm tra, đánh giá thường xuyên:

KTĐGTX cũng cung cấp thông tin phản hồi cho người học về mức độ tiếp thu, nắm vững bài học của HS, những lĩnh vực cần cải thiện, đồng thời giúp

GV thiết kế phương pháp giảng dạy phù hợp hơn Việc đánh giá trở nên ý nghĩa

và phù hợp hơn nếu HS cùng tham gia đánh giá các bạn trong nhóm, trong lớp

và tự đánh giá chính bản thân mình Có thể lúc đầu có một số HS gặp khó khăn, nhưng nếu được hướng dẫn, thảo luận cùng các bạn trong nhóm, các em này sẽ nhanh chóng biết cách tự đánh giá và thích thú khi được đánh giá bạn Khi HS đảm nhận vai trò tích cực trong việc tham gia xây dựng tiêu chí đánh giá/ chấm điểm, tự đánh giá/ tự chấm điểm, được đánh giá các bạn Điều đó cũng có nghĩa

là HS sẵn sàng chấp nhận các tiêu chí đánh giá, cách thức đánh giá đã được xây dựng để đánh giá khả năng học tập của mình Kết quả tự đánh giá và tham gia đánh giá bạn giúp các em dễ dàng nhận ra những sai sót của bản thân và học được cách làm hay từ các bạn

d Các yêu cầu, nguyên tắc của đánh giá thường xuyên

– Cần xác định rõ mục tiêu để từ đó xác định được phương pháp hay kỹ thuật sử dụng trong ĐGTX

Trang 18

– Các nhiệm vụ ĐGTX được đề ra nhằm mục đích hỗ trợ, nâng cao hoạt động học tập ĐGTX nhấn mạnh đến tự đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí của bài học và phương hướng cải thiện để đáp ứng tốt hơn nữa;

– Việc nhận xét trong ĐGTX tập trung cung cấp thông tin phản hồi chỉ ra các nội dung cần chỉnh sửa, đồng thời đưa ra lời khuyên cho hành động tiếp theo (ngay trước mắt HS phải làm gì và làm bằng cách nào)?;

– Không so sánh HS này với HS khác, hạn chế những lời nhận xét tiêu cực, trước sự chứng kiến của các bạn học, để tránh làm thương tổn HS;

– Mọi HS đều có thể thành công, GV không chỉ đánh giá kiến thức, kỹ năng

mà phải chú trọng đến đánh giá các năng lực, phẩm chất (tự quản, tự học, hợp tác, giải quyết vấn đề tự tin, trách nhiệm, đoàn kết yêu thương) trên nền cảm xúc/ niềm tin tích cực để tạo dựng niềm tin, nuôi dưỡng hứng thú học tập; – ĐGTX phải thúc đẩy hoạt động học tập, tức là giảm thiểu sự trừng phạt/ đe dọa/ chê bai HS, đồng thời tăng sự khen ngợi, động viên Hãy khen HS khi các

em làm điều gì đó đúng Hãy nói: “cô rất tự hào về em,… em rất đặc biệt,… cô rất thích cách em làm…” Hãy dùng những lời khen để tạo ra những rung cảm tích cực ở HS

e Các phương pháp và kĩ thuật đánh giá thường xuyên

* Nhóm phương pháp quan sát

- Quan sát là nhóm phương pháp chủ yếu mà GV thường sử dụng để thu thập dữ liệu kiểm 4 tra đánh giá Quan sát bao hàm việc theo dõi hoặc xem xét HS thực hiện các hoạt động (quan sát quá trình) hoặc nhận xét một sản phẩm do HS làm

ra (quan sát sản phẩm)

+ Quan sát quá trình: đòi hỏi trong thời gian quan sát, GV phải chú ý đến những hành vi của HS như: phát âm sai từ trong môn tập đọc, sự tương tác (tranh luận, chia sẻ các suy nghĩ, biểu lộ cảm xúc ) giữa các em với nhau trong nhóm, nói chuyện riêng trong lớp, bắt nạt các HS khác, mất tập trung, có vẻ mặt căng thẳng, lo lắng, lúng túng, hay hào hứng, giơ tay phát biểu trong giờ học, ngồi

im thụ động hoặc không ngồi yên được quá ba phút

+ Quan sát sản phẩm: HS phải tạo ra sản phẩm cụ thể, là bằng chứng của sự vận dụng các kiến thức đã học Những sản phẩm rất đa dạng: bài luận ngắn, bài tập nhóm, báo cáo ghi chép/bài tập môn khoa học, báo cáo khoa học, báo cáo thực hành, biểu đồ, biểu bảng theo chủ đề, vẽ một bức tranh tĩnh vật, tạo ra được một dụng cụ thực hành/ thí nghiệm… HS phải tự trình bày sản phẩm của mình, còn

Trang 19

GV đánh giá sự tiến bộ hoặc xem xét quá trình làm ra sản phẩm đó GV sẽ quan sát và cho ý kiến đánh giá về sản phẩm, giúp các em hoàn thiện sản phẩm

- Các kĩ thuật thường sử dụng trong quan sát:

Thông thường trong quan sát, GV có thể sử dụng các loại kĩ thuật sau để thu thập thông tin Đó là: ghi chép các sự kiện thường nhật; sử dụng thang đo;

sử dụng bảng kiểm tra (bảng kiểm)/ bảng tham chiếu; sử dụng phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí

+ Ghi chép ngắn Ghi chép ngắn là một kĩ thuật KTĐGTX thông qua việc quan sát học trong giờ học, giờ thực hành hay trải nghiệm thực tế Những ghi chép không chính thức này cung cấp cho GV thông tin về mức độ người học tập trung

xử lí thông tin, phối hợp với nhóm bạn học, những khó khăn/vướng mắc của người học cũng như những quan sát tổng hợp về cách học, thái độ và hành vi học tập

+ Ghi chép các sự kiện thường nhật Hàng ngày GV làm việc với HS, quan sát

HS và ghi nhận được rất nhiều thông tin về hoạt động học tập của HS Những sự kiện lặt vặt hàng ngày như vậy có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá Nó giúp cho GV dự đoán khả năng và cách ứng xử của HS trong những tình huống khác nhau hoặc giải thích cho kết quả thu được từ những bài kiểm tra viết của HS Quan sát và ghi chép đầy đủ về sự kiện đặt trong một tình huống/bối cảnh cụ thể

để sự kiện trở nên có ý nghĩa hơn Sự kiện xảy ra cần phải được ghi chép lại càng sớm càng tốt; Tách riêng phần mô tả chân thực sự kiện và phần nhận xét của GV Cần ghi chép cả những hành vi tích cực và hành vi tiêu cực; Cần thu thập đầy đủ thông tin trước khi đưa ra những nhận xét, đánh giá về hành vi, thái

độ của HS

+ Thang đo Khi KTĐGTX, nếu điều kiện cho phép, GV có thể sử dụng thang

đo Nếu việc ghi chép không có cấu trúc những sự kiện diễn ra hàng ngày, thì thang đo cho phép GV đưa ra những nhận định của mình theo một trình tự có cấu trúc

Thông thường, một thang đo bao gồm một hệ thống các đặc điểm, phẩm chất cần đánh giá và các mức độ đạt được ở mỗi phẩm chất của HS Thang đo là một công cụ để thông báo kết quả đánh giá thông qua quan sát hoặc tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau Thang đo định hướng cho việc quan sát nhắm tới những loại hành vi cụ thể Nó cung cấp một phương pháp thuận tiện để ghi chép những đánh giá của người quan sát Cũng giống như mọi công cụ đo lường khác, thang

đo cần phải được xây dựng dựa trên những tiêu chí nhằm phục vụ những mục tiêu đánh giá cụ thể

Trang 20

* Nhóm phương pháp vấn đáp

- Vấn đáp (đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi):

Vấn đáp là nhóm phương pháp chủ yếu thứ hai mà GV thường sử dụng để thu thập dữ liệu trong kiểm tra đánh giá trên lớp Đây là phương pháp GV đặt câu hỏi và HS trả lời câu hỏi (hoặc ngược lại), nhằm rút ra những kết luận, những tri thức mới mà HS cần nắm, hoặc nhằm tổng kết, củng cố, kiểm tra mở rộng, đào sâu những tri thức mà HS đã học Phương pháp đặt câu hỏi vấn đáp cung cấp rất nhiều thông tin chính thức và không chính thức về HS

- Một số kĩ thuật vấn đáp:

+ Đặt câu hỏi: Kĩ thuật then chốt của phương pháp vấn đáp là kĩ thuật đặt câu

hỏi – đây vừa là một vấn đề khoa học, vừa là một nghệ thuật Để HS phát huy được tính tích cực và trả lời đúng vào vấn đề thì GV phải chuẩn bị trước những câu hỏi sẽ đặt ra cho HS (xác định rõ mục đích, yêu cầu của vấn đáp, các câu hỏi cần tập trung vào những nội dung, những vấn đề quan trọng của bài học, làm đối tượng sẽ hỏi); Khuyến khích HS tham gia đặt câu hỏi (đặt câu hỏi tự vấn mình

và câu hỏi cho các bạn học); Đặt câu hỏi tốt (câu hỏi phải chính xác, sát trình độ

HS, sát với mục tiêu, nội dung bài học, hình thức phải ngắn gọn dễ hiểu); Sử dụng đa dạng các loại câu hỏi để thu thập thông tin; Hướng dẫn HS trả lời tốt (bình tĩnh lắng nghe và theo dõi câu trả lời của HS, hướng dẫn tập thể nhận xét

bổ sung rồi GV mới tổng kết, chú ý động viên những em trả lời tốt và có cố gắng phát biểu, dù chưa đúng)

+ Nhận xét bằng lời: Nhận xét tích cực bằng lời nói có tác dụng điều chỉnh hành

vi Các kết quả nghiên cứu cho thấy những đánh giá dưới dạng nhận xét tích cực bằng lời của GV, của bạn cùng lớp về một sản phẩm học tập nào đó có tác dụng nuôi dưỡng những suy nghĩ tích cực, hình thành sự tự tin ở HS Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó giúp HS tự “cài đặt” lại suy nghĩ, niềm tin tích cực cho chính mình

+ Trình bày miệng/ kể chuyện: HS được yêu cầu nói ra những suy nghĩ, quan

điểm cá nhân, chia sẻ những trải nghiệm, những câu chuyện, những bài học kinh nghiệm,… qua trao đổi thảo luận theo chủ đề

+ Tôn vinh học tập/ Giao lưu chia s ẻ kinh nghiệm: Một sự kiện (giao lưu, gặp

gỡ, phỏng vấn những cá nhân có thành tích xuất sắc về học tập, thể thao,

- Ưu, nhược điểm của vấn đáp

Nếu được vận dụng khéo léo, phương pháp vấn đáp sẽ có những ưu điểm sau:

Trang 21

+ Kích thích tính cực độc lập tư duy ở HS để tìm ra câu trả lời tối ưu trong thời gian ngắn nhất

+ Bồi dưỡng cho HS năng lực diễn đạt bằng lời nói; bồi dưỡng hứng thú học tập qua kết quả trả lời

+ Tạo không khí làm việc sôi nổi, sinh động trong giờ học

+ Giúp GV thu tín hiệu ngược từ HS một cách nhanh gọn kể kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình, mặt khác có điều kiện quan tâm đến từng HS, nhất là những HS giỏi và kém

Nếu vận dụng không khéo léo, phương pháp vấn đáp có thể có ít nhiều hạn chế:

+ Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng không tốt đến kế hoạch lên lớp cũng như mất nhiều thời gian để soạn hệ thống câu hỏi Nếu không khéo léo sẽ không thu hút được toàn lớp mà chỉ là đối thoại giữa GV và một HS

* Nhóm phương pháp viết:

Nhóm phương pháp viết đề cập đến cách thức, kĩ thuật đánh giá thể hiện qua việc phân tích bài viết luận, các sản phẩm mà trong đó HS phải viết câu trả lời cho các câu hỏi hoặc vấn 10 đề vào giấy Đây chính là nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá kiểu truyền thống nó được sử dụng cả trong đánh giá định kì (với 2 dạng chính là bài kiểm tra tự luận và kiểm tra trắc nghiệm) Nhóm phương pháp này cũng được sử dụng phổ biến trong KTĐGTX KTĐGTX sử dụng các kĩ thuật viết như: ghi chép ngắn, viết thư, viết lời nhận xét, viết lời bình, viết ra những suy nghĩ (yêu cầu, mong muốn/ước mơ, khó khăn, suy ngẫm cá nhân) Khi HS được yêu cầu viết ra những suy nghĩ của mình về một vấn đề gì đó, hoàn thành một bài tập về nhà dạng viết lời bình/kiến nghị, viết thư gửi , viết mục tiêu/ kế hoạch, viết một bản báo cáo, vẽ một bức tranh, viết, hoặc điền thông tin vào một bảng ma trận ghi nhớ, bảng ma trận kiến thức kĩ năng cơ bản , tức là các em đang cung cấp các chứng cứ bằng giấy mực cho GV

- Các kĩ thuật:

+ Viết nhận xét: là một kỹ thuật được sử dụng phổ biến trong ĐGTX

GV viết nhận xét: GV thường phải viết nhận xét vào vở, bài kiểm tra, các sản phẩm học tập, Viết nhận xét cần mang tính xây dựng, chứa những cảm xúc tích cực, niềm tin vào HS Như vậy khi viết nhận xét, GV cần đề cập đến những

ưu điểm trước, sau đó mới đề cập đến những điểm cần xem xét lại, những lỗi cần điều chỉnh Khi viết nhận xét nên sử dụng lời lẽ nhẹ nhàng, thể hiện thái độ

Trang 22

thân thiện, tôn trọng, tránh xúc phạm HS sẽ dễ tiếp nhận hơn, tập trung vào một

số những sai sót có tính hệ thống, điển hình cần sớm khắc phục

HS viết lời nhận xét: GV cần hướng dẫn HS cách viết nhận xét mang tính xây dựng, tập trung phát hiện những điểm tích cực đã làm được thay vì chỉ chú ý những điểm chưa làm được

+ Viết bản thu hoạch/ tập san: Tập san của lớp là tập hợp những bài viết luận ngắn xung quanh một chủ đề nào đó về ô nhiễm môi trường, phá rừng, gia tăng dân số, già hóa dân số, Viết bản thu hoạch, báo cáo kết quả sau một hoạt động trải nghiệm thực tế là kỹ thuật đánh giá được GV sử dụng khá phổ biến Có thể

GV sử dụng các sản phẩm của HS từ các nhiệm vụ học tập hợp tác nhóm, từ hoạt động trải nghiệm thực tế để đánh giá năng lực chung, phẩm chất của HS hoặc năng lực học tập môn học Chúng có thể ở dạng câu hỏi mở HS tự nghĩ ra sau đó viết câu trả lời dưới dạng bài tự luận ngắn hoặc GV có thể cung cấp các câu hỏi hướng dẫn, định hướng trong báo cáo thu hoạch để HS trả lời Bài luận, bản thu hoạch phải thể hiện khả năng quan sát, phát hiện, suy ngẫm, bài học kinh nghiệm Điều này thường cung cấp những thông tin rất hữu ích về mức độ

HS nhận thức được ý nghĩa của việc học tập, rèn luyện như là kết quả của sự trải nghiệm giáo dục và phát triển nhân cách của các em

+ Hồ sơ học tập: Hồ sơ học tập là một tập hợp đại diện sản phẩm học tập của

một người học, thường bao gồm những sản phẩm tốt nhất cho tới nay và một số sản phẩm đang được hoàn thành để thể hiện quá trình nỗ lực học tập của người học Hồ sơ học tập cũng có thể là một tập hợp sản phẩm học tập của HS thuộc một lĩnh vực nội dung của môn học (ví dụ: tập hợp những bài viết của HS trong một nửa học kỳ) Trong đó mỗi sản phẩm đều có nhận xét của GV hoặc tự đánh giá của HS GV hoặc HS có thể đối chiếu sản phẩm đầu với lần lượt các sản phẩm tiếp theo để đưa ra nhận xét về quá trình HS tiến bộ ở từng chỉ báo

f Hướng dẫn thực hành đánh giá thường xuyên

* Lập kế hoạch đánh giá thường xuyên:

ĐGTX diễn ra trong quá trình HS học một bài học, một chương hoặc một chủ đề, một học kỳ, một năm học Do tính chất của hoạt động ĐG diễn ra trong một thời gian tương đối dài nên GV cần lập kế hoạch cho hoạt động này Trên

cơ sở những hiểu biết về chuẩn kiến thức và kỹ năng hoặc chuẩn năng lực (bao gồm các chỉ báo và tiêu chí, các mức độ hoàn thành chỉ báo và tiêu chí), về các phương pháp ĐG và kỹ thuật ĐG, GV cần lập kế hoạch đánh giá cho mỗi chủ đề học tập của một môn học để có thể chủ động thực hiện hoạt động này trong suốt học kỳ hoặc năm học

Trang 23

* Thực hiện kiểm tra đánh giá thường xuyên trên lớp:

- Chọn lựa và phối hợp các phương pháp, kĩ thuật khác nhau trong KTĐGTX: Khi học tập để biết cách sử dụng các phương pháp, kỹ thuật, công cụ dùng để KTĐGTX thì cần tách biệt từng phương pháp, kỹ thuật, công cụ Tuy nhiên khi vận dụng những phương pháp và kỹ thuật đánh giá cần và nên phối hợp một số

kỹ thuật, công cụ trong việc đánh giá ở mỗi bài học, mỗi chủ đề học tập Mỗi kỹ thuật có thế mạnh và phát huy tác dụng tốt trong việc đánh giá một số chủ đề, nội dung học tập nào đó, nhưng chưa chắc đã phù hợp với những chủ đề, nội dung khác Các phương pháp quan sát, vấn đáp và viết bổ sung cho nhau trong quá trình KTĐGTX trên lớp học và ngoài lớp học Việc GV nắm vững tất cả các phương pháp, kĩ thuật thu thập thông tin thường xuyên là rất quan trọng Đồng thời cân nhắc, chọn lựa, phối hợp các kĩ thuật cho phù hơp với mục đích, mục tiêu đánh giá và đối tượng đánh giá

- Một số cách thức cơ bản được thường sử dụng trong KTĐGTX:

Các nghiên cứu cho thấy có rất nhiều cách thức đang được GV sử dụng để KTĐGTX chất lượng học tập, rèn luyện của HS Tùy thuộc vào mục đích, mục tiêu, đối tượng mà GV lựa chọn, phối hợp những cách thức đánh giá khác nhau cho phù hợp Dưới đây là các cách thức KTĐGTX nhằm cung cấp cho GV và

HS những thông tin cần thiết để nâng cao chất lượng giảng dạy và cải thiện kết quả học tập, được đề cập nhiều nhất trong các tài liệu viết về đánh giá giáo dục

+ GV đánh giá:

Cách thức GV tìm hiểu nhu cầu, năng lực của HS: sử dụng phiếu hỏi, bảng kiểm, thang đo, phiếu đánh giá tiêu chí, trả lời nhanh những câu hỏi mở, các trò chơi 3 điều xin đừng hoặc viết ra những gì em đang suy nghĩ, lo lắng;

Cách thức GV khích lệ định hướng học tập: suy ngẫm, tự đánh giá, trả lời các câu hỏi mở;

Cách thức GV giám sát sự tiến bộ: dự giờ, hồ sơ học tập, kế hoạch học tập, sổ theo dõi học tập, sổ ghi chép thường nhật;

Cách thức kiểm tra đánh giá sự hiểu biết, kỹ năng thực hành: ghi chép ngắn, thẻ kiểm tra, phiếu hỏi, phiếu quan sát, phỏng vấn, hồ sơ học tập,…

+ HS tự đánh giá: Tự đánh giá là quá trình HS đánh giá hoạt động và kết

quả đạt được của bản thân Tự đánh giá là một chiến lược học tập cơ bản,

HS cần được hướng dẫn để có thể sử dụng hiệu quả chiến lược này nhằm

tự phản hồi đối với tất cả các lĩnh vực học tập HS không chỉ tự đánh giá

Trang 24

mà còn có thể được tham gia vào quá trình xác định các tiêu chí đánh giá thế nào là một thành quả tốt

+ HS đánh giá lẫn nhau: HS tham gia vào việc đánh giá sản phẩm, công việc

của những HS cùng học khác HS phải được hướng dẫn để nắm rõ những nội dung dự kiến sẽ đánh giá trong sản phẩm, công việc của bạn học Đây chính là quá trình từng HS trong lớp học cùng tham gia một hoạt động, một chương trình học tập đánh giá lẫn nhau

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

2.1.2.1 Đặc điểm của học sinh lớp 10 THPT

Lứa tuổi HS THPT nói chung, HS lớp 10 THPT nói riêng là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt

là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ gần với của người lớn Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩm chất

cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em Tuy nhiên, từ những nghiên cứu về tâm

lí lứa tuổi, HS lớp 10 THPT vừa mới qua giai đoạn THCS, chưa bứt ra khỏi tuổi thiếu niên, cũng chưa là người trưởng thành nhưng bước đầu có những thay đổi mạnh về tâm sinh lí; sự quan sát ở các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không có cơ sở thực tế

Hoạt động tư duy của HS lớp 10 THPT đã bắt đầu phát triển mạnh Các

em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng Các em

có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số HS vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính Vì vậy GV cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc

và tự rút ra kết luận cuối cùng Việc phát triển khả năng nhận thức của HS lớp

10 THPT trong dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người GV

Qua kết quả nghiên cứu tâm - sinh lí của HS lớp 10 THPT trong những năm gần đây cho ta thấy các em có những thay đổi trong sự phát triển tâm - sinh

lí, đó là sự thay đổi có gia tốc Trong điều kiện phát triển các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, HS lớp 10 đã được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống, hiểu biết nhiều hơn, linh hoạt và thực tế hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổi trước đây mấy chục năm Ngoài khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá,

Trang 25

khái quát hoá ngày càng được phát triển, HS lớp 10 không thích chấp nhận một cách đơn giản những áp đặt của GV Các em thích tranh luận, bày tỏ những ý kiến riêng biệt của cá nhân mình về những vấn đề lí thuyết và thực tiễn Đây là những thuận lợi cơ bản trong việc thực hiện đổi mới PPDH địa lí nói chung và KTĐG địa lí nói riêng

Hiện nay việc lĩnh hội tri thức của HS chỉ có thể hiệu quả khi GV biết tổ chức quá trình dạy học tích cực cũng như KTĐG với HS có vai trò là trung tâm,

GV chỉ là người điều khiển, hướng dẫn HS lĩnh hội tri thức thông qua KTĐG Học sinh phải tích cực hoạt động tư duy một cách độc lập, có sáng tạo Ứng dụng các hình thức mới trong KTĐG địa lí sẽ làm cho HS đón nhận một cách thích thú và chấp nhận sự mới mẻ này

2.1.2.2 Thực trạng về kiểm tra đánh giá thường xuyên trong môn địa lí lớp

10 ở trường THPT Con Cuông

Theo điều chỉnh của Bộ GDĐT, việc KTĐG giá hiện nay là thường xuyên, thực hiện theo tinh thần kiểm tra đánh giá sự tiến bộ của người học Có thể kiểm tra đánh giá nhiều lần, sau đó lựa chọn một số kết quả

KTĐGTX môn địa lí nói chung và KTĐGTX môn địa lí lớp 10 nói riêng

ở trường THPT Con Cuông trong những năm gần đây đã được GV nhận thức đúng đắn, thấy rõ sự cần thiết cần đổi mới phương pháp KTĐG nên đã tiến hành KTĐGTX dưới nhiều hình thức như hỏi đáp, viết, đánh giá qua sản phẩm học tập, qua bài thực hành, và bước đầu đã có những kết quả khả quan Tuy nhiên, trên thực tế, việc KTĐGTX chưa đảm bảo yêu cầu khách quan, công bằng, chính xác Việc KTĐG nói chung và KTĐGTX nói riêng vẫn tập trung chủ yếu vào yêu cầu tái hiện kiến thức và đánh giá bằng điểm số nên gần như GV và HS vẫn duy trì dạy học theo lối đọc – chép; HS vì thế tập trung ghi nhớ chứ chưa phát huy được khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Hoạt động KTĐGTX vẫn còn mang tính chủ quan của GV

2.2 Thực nghiệm sư phạm

2.2.1 Mục đích thực nghiệm

Thực nghiệm là một quá trình rất cần thiết khi chúng ta tiến hành nghiên cứu khoa học Vì thực nghiệm sẽ cho biết được tính ứng dụng, tính khả thi của đề tài nghiên cứu

Đối với đề tài SKKN này, quá trình thực nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá mức độ phù hợp và hiệu quả của việc KTĐGTX bằng các DAHTN cho học sinh lớp 10 trường THPT Con Cuông nói riêng;

từ đó chứng minh được tính khả thi của đề tài để nhân rộng

Trang 26

Để đạt được mục đích đề ra là tính hiệu quả và khả thi của đề tài thì nhiệm vụ không chỉ là tổ chức dạy, tổ chức cho HS thực hiện các DAHTN mà cần thiết phải tiến hành so sánh giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Có như vậy mới thấy rõ được tính hiệu quả của việc KTĐGTX bằng các DAHTN cho HS khi h ọc tập địa lí

2.2.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm

* Đối tượng: HS lớp 10 trường THPT Con Cuông, tỉnh Nghệ An Đối tượng thực nghiệm được chia thành 2 nhóm:

- Lớp thực nghiệm: Lớp 10C1 trường THPT Con Cuông

- Lớp đối chứng: Lớp 10A1 trường THPT Con Cuông

* Thời gian thực nghiệm: Năm học 2021 – 2022

2.2.3 Phương pháp tiến hành

Tác giả lựa chọn phương pháp thực nghiệm có đối chứng để khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của đề tài Các lớp tham gia thực nghiệm gồm lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Lớp thực nghiệm sẽ được KTĐGTX thông qua các DAHTN; lớp đối chứng được KTĐGTX bằng bài kiểm tra 15 phút theo phương pháp truyền thống trên lớp

2.2.4 Qui trình thực nghiệm

2.2.4.1 Chuẩn bị thực nghiệm

a Chọn vấn đề thực nghiệm

* Về nội dung:

Chương trình địa lí 10 THPT gồm 2 phần, Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế

- xã hội Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tác giả hướng dẫn HS thực hiện các DAHTN trong chủ đề Địa lí dân cư, cụ thể lựa chọn các bài sau:

Bài 22: Dân số và sự gia tăng dân số

Bài 23: Cơ cấu dân số

Bài 24: Phân bố dân cư, các loại hình quần cư và đô thị hóa

Lí do của sự lựa chọn: Đảm bảo được tính phổ biến về nội dung cơ bản trong chương trình Địa lí 10, đảm bảo được tính vấn đề của thực tiễn để giúp HS

có thể xây dựng được các chủ đề DAHTN phù hợp và đa dạng

* Về hình thức: Thực nghiệm mô hình dự án bài học

Trang 27

b Chọn địa bàn thực nghiệm:

- Chọn lớp thực nghiệm: Lớp 10C1, 10A1 trường THPT Con Cuông

- Không gian thực nghiệm: Tại nhà, tại trường THPT Con Cuông

2.2.4.2 Tổ chức thực nghiệm

a Hình thành ý tưởng dự án

Trong dạy học địa lí, khi KTĐGTX GV có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau Để chọn KTĐGTX bằng DAHTN thì GV phải lựa chọn những vấn đề, bài học có tính mở, gắn với thực tiễn Một số bài học trong chủ đề địa lí dân cư – địa lí 10 THPT là nội dung có thể vận dụng KTĐGTX bằng DAHTN

có hiệu quả

Thông qua KTĐGTX bằng DAHTN thuộc nội dung địa lí dân cư sẽ giúp

HS nắm rõ hơn nội dung kiến thức các bài học (Dân số và sự gia tăng dân số; cơ cấu dân số; phân bố dân cư; đô thị hóa,…) Việc thực hiện các DAHTN còn giúp HS dễ dàng liên hệ với thực tiễn vấn đề dân số Việt Nam và dân số tại địa phương nơi các em sinh sống

Thiết kế DAHTN dưới dạng tạp chí, bài thuyết trình Powerpoint, sơ đồ tư duy là các công cụ giáo dục đặc biệt không chỉ giúp HS trình bày được những vấn đề cơ bản của bài mà còn phát huy tính năng động, sáng tạo cũng như khả năng nghệ thuật của các em, khiến cho kiến thức trở nên thú vị, có chiều sâu và

có khả năng truyền thông rộng rãi

Sau khi đề xuất các ý tưởng, GV và HS đã bàn bạc và cùng thống nhất lựa chọn các DAHTN theo tên bài học:

- Dự án 1: Dân số và sự gia tăng dân số

- Dự án 2: Cơ cấu sinh học của dân số

- Dự án 3: Phân bố dân cư và đô thị hóa

Trang 28

++Trình bày được các đặc điểm của đô thị hoá, những mặt tích cực và tiêu cực của quá trình đô thị hoá Liên hệ Việt Nam

+ Về kĩ năng :

++ Vẽ biểu đồ về dân số

++ Phân tích biểu đồ và bảng số liệu về dân số

++ Phân tích và giải thích bản đồ phân bố dân cư thế giới

++ Các kĩ năng khác thông qua việc thực hiện DAHT: kĩ năng thu thập, phân tích, xử lí và tổng hợp thông tin; kĩ năng thiết kế; kĩ năng tính toán; kĩ năng hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,…

Trang 29

Sơ đồ 2.3 Tiến trình tổ chức hoạt động DAHTN

+ Về thái độ:

++ Có thái độ đúng đắn với vấn đề dân số và gánh nặng của sự gia tăng dân số nhanh đối với kinh tế - xã hội thế giới, đối với Việt Nam và địa phương nơi mình sinh sống; từ đó hình thành hành vi đúng đắn (tuyên truyền giáo dục ý thức về dân số và kế hoạch hóa gia đình)

++ Thông qua thực hiện DAHT, HS hình thành ý thức tự giác, tích cực tìm tòi, say mê nghiên cứu khoa học, khẳng định giá trị bản thân

+ Định hướng phát triển năng lực:

++ Năng lực chung: Tự học, giao tiếp, giải quyết vấn đề, hợp tác, sáng tạo, tính toán, sử dụng công nghệ thông tin,…

++ Năng lực chuyên biệt: Sử dụng bản đồ, sơ đồ, hình ảnh, số liệu thống kê; năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ,…

- GV đưa câu hỏi định hướng

- GV nhấn mạnh:

Báo chí, sơ đồ tư duy, bài thuyết trình Powerpoint là các phương tiện trình bày trực

Kích thích, hình thành ý tưởng cho

HS

01

Trang 30

+ Sản phẩm nhóm 2: Sơ đồ tư duy (Nội dung: Cơ cấu dân số)

+ Sản phẩm nhóm 3: Tạp chí (Nội dung: Phân bố dân cư và đô thị hóa)

* Bước 2: Xây dựng kế hoạch

GV xây dựng công cụ thực hiện, đánh giá sản phẩm

* Công cụ 1: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng:

GV xây dựng bộ câu hỏi định hướng giúp HS tập trung vào những vấn đề mấu chốt nhằm thực hiện DAHT có hiệu quả

Cụ thể, với 3 nhóm HS GV đã xây dựng 3 bộ câu hỏi định hướng sau đây:

Định hướng về sản phẩm dự án

03

02

Lựa chọn, thống nhất ý tưởng

Trang 31

+ Bộ câu hỏi định hướng cho nhóm 1: Dân số và sự gia tăng dân số

++ Qui mô dân số thế giới? Tình hình phát triển dân số thế giới hiện nay và xu hướng phát triển dân số thế giới trong tương lai? Liên hệ Việt Nam?

++ Khái niệm tỉ suất sinh thô, tỉ suất tử thô, tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên? Các nhân tố ảnh hưởng tới các yếu tố này? Liên hệ Việt Nam?

++ Sức ép của gia tăng dân số nhanh đối với kinh tế - xã hội và môi trường? Liên hệ Việt Nam

++ Đề xuất một số giải pháp phát triển dân số hợp lí ở Việt Nam

+ Bộ câu hỏi định hướng cho nhóm 2: Cơ cấu dân số

++ Đặc điểm cơ cấu dân số theo giới Ảnh hưởng của cơ cấu dân số theo giới đến sự phát triển kinh tế - xã hội?

++ Cơ cấu dân số theo tuổi: sự phân chia các nhóm tuổi; so sánh cơ cấu dân số trẻ và cơ cấu dân số già; ảnh hưởng của cơ cấu dân số theo tuổi tới sự phát triển kinh tế - xã hội Liên hệ Việt Nam?

+ Bộ câu hỏi định hướng cho nhóm 3: Phân bố dân cư và đô thị hóa

++ Phân bố dân cư là gì? Tiêu chí đánh giá sự phân bố dân cư?

++ Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố dân cư? Liên hệ Việt Nam? Đề xuất giải pháp phân bố dân cư hợp lí

++ Đô thị hóa là gì? Các biểu hiện cụ thể của đô thị hóa?

++ Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế - xã hội và tài nguyên, môi trường? Liên hệ Việt Nam?

- Công cụ 2: Một số trang web, bài báo, tài liệu tham khảo về dân số

Ngày đăng: 03/07/2022, 17:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BảngII.4: Doanh thu tại thị trường nội địa của công ty trong những năm qua - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
ng II.4: Doanh thu tại thị trường nội địa của công ty trong những năm qua (Trang 19)
++ Thông qua thực hiện DAHT, HS hình thành ý thức tự giác, tích cực tìm tòi, say mê nghiên cứu khoa học, khẳng định giá trị bản thân - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
h ông qua thực hiện DAHT, HS hình thành ý thức tự giác, tích cực tìm tòi, say mê nghiên cứu khoa học, khẳng định giá trị bản thân (Trang 29)
GV hướng dẫn HS cách tìm kiếm thông tin, hình thức dự án - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
h ướng dẫn HS cách tìm kiếm thông tin, hình thức dự án (Trang 30)
+ Công cụ 4: Bảng đánh giá chéo của các nhóm HS - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
ng cụ 4: Bảng đánh giá chéo của các nhóm HS (Trang 32)
2. Sản phẩm nhóm 2– Hình thức sản phẩm: Sơ đồ tư duy - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
2. Sản phẩm nhóm 2– Hình thức sản phẩm: Sơ đồ tư duy (Trang 38)
2. Sản phẩm nhóm 2– Hình thức sản phẩm: Sơ đồ tư duy - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
2. Sản phẩm nhóm 2– Hình thức sản phẩm: Sơ đồ tư duy (Trang 38)
3. Sản phẩm nhóm 3– Hình thức sản phẩm: Tạp chí - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
3. Sản phẩm nhóm 3– Hình thức sản phẩm: Tạp chí (Trang 40)
3. Sản phẩm nhóm 3– Hình thức sản phẩm: Tạp chí - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
3. Sản phẩm nhóm 3– Hình thức sản phẩm: Tạp chí (Trang 40)
Bảng 2.1. TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ HỌC SINH LỚP THỰC NGHIỆM Tên dự án: DÂN SỐ VÀ SỰ GIA TĂNG DÂN SỐ - Nhóm 1  TT Họ tên học sinh Tổng hợp điểm đánh giá Tổng - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
Bảng 2.1. TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ HỌC SINH LỚP THỰC NGHIỆM Tên dự án: DÂN SỐ VÀ SỰ GIA TĂNG DÂN SỐ - Nhóm 1 TT Họ tên học sinh Tổng hợp điểm đánh giá Tổng (Trang 41)
Bảng 2.2. TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ HỌC SINH LỚP THỰC NGHIỆM Tên dự án: CƠ CẤU DÂN SỐ - Nhóm 2 - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
Bảng 2.2. TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ HỌC SINH LỚP THỰC NGHIỆM Tên dự án: CƠ CẤU DÂN SỐ - Nhóm 2 (Trang 42)
Bảng 2.3. TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ HỌC SINH LỚP THỰC NGHIỆM Tên dự án: PHÂN BỐ DÂN CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA - Nhóm 3  TT Họ tên học sinh Tổng hợp điểm đánh giá Tổng - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
Bảng 2.3. TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ HỌC SINH LỚP THỰC NGHIỆM Tên dự án: PHÂN BỐ DÂN CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA - Nhóm 3 TT Họ tên học sinh Tổng hợp điểm đánh giá Tổng (Trang 43)
Bảng 2.4. Bảng so sánh kết quả HS lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Điểm  Lớp thực nghiệm (10C1)  Lớp đối chứng (10A1) - (SKKN mới NHẤT) xây DỰNG và THIẾT kế các bài KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN môn địa lí BẰNG các dự án học tập NHỎ CHO học SINH lớp 10 TRƯỜNG THPT CON CUÔNG
Bảng 2.4. Bảng so sánh kết quả HS lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Điểm Lớp thực nghiệm (10C1) Lớp đối chứng (10A1) (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w