1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN mới NHẤT) ứng dụng kiến thức cơ học vật lý 10 vào giải các bài tập thực tế, sáng tạo nhằm bồi dưỡng kiến thức và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh

26 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 726,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế và kinh nghiệm giảng dạy của tôi ở Trường THPT ……, tôi đã chọn đề tài: “ Ứng dụng kiến thức Cơ học Vật lý 10 vào giải các bài tập thực tế, sang tạo nhằm bồi dưỡng kiến thức và

Trang 1

" Ứng dụng kiến thức Cơ học Vật lý 10 vào

giải các bài tập thực tế, sáng tạo nhằm bồi dưỡng kiến thức và năng lực giải quyết vấn

Trang 2

PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu 1

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

NỘI DUNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

1.1 Bài tập sáng tạo 3

1.2 Bài tập có nội dung thực tế 5

1.3 Phương pháp dạy học tích cực 6

1.4 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 7

2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THỰC TẾ, SÁNG TẠO PHẦN “CƠ HỌC” VẬT LÝ 10 BAN CƠ BẢN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 8

2.1 Thực trạng dạy bài tập có nội dung thực tế, sáng tạo phần “Cơ học” vật lý 10 trung học phổ thông, nguyên nhân và cách khắc phục 8

2.1.1 Thực trạng dạy bài tập có nội dung thực tế, sáng tạo phần “Cơ học” vật lý 10 trung học phổ thông 8

2.1.2 Nguyên nhân 9

2.1.2 Cách khắc phục 9

2.2 Yêu cầu chung về hệ thống bài tập thực tế, sáng tạo phần “Cơ học” vật lý 10 ban cơ bản 9

2.3 Hệ thống bài tập thực tế, sáng tạo 10

2.4 Kế hoạch sử dụng bài tập trong các chủ đề, bài học 22

3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 24

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 24

3.2 Đối tượng, phương pháp thực nghiệm sư phạm 24

3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 24

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

Trang 3

Hiện nay lượng bài tập thực tế, sáng tạo trong sách giáo khoa vật lý trung học phổ thông còn hạn chế nên học sinh rất ít được tiếp cận loại bài tập này, vì thế không phát huy được ưu thế của bài tập thực tế, sáng tạo trong việc nâng cao chất lượng, bồi dưỡng tư duy sáng tạo khoa học kỹ thuật cho học sinh Từ thực tế và kinh nghiệm giảng dạy của tôi ở Trường THPT ……, tôi

đã chọn đề tài: “ Ứng dụng kiến thức Cơ học Vật lý 10 vào giải các bài tập thực tế, sang tạo nhằm bồi dưỡng kiến thức và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh”

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

- Đưa ra được khái niệm về bài tập thực tế, sáng tạo

- Chỉ ra tác dụng của bài tập thực tế, sáng tạo trong dạy học vật lý với việc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh

- Đề xuất các dạng bài tập sáng tạo vật lý

- Nghiên cứu và xây dựng hệ thống bài tập thực tế, sáng tạo phần “Cơ học” vật lý 10 ban cơ bản trung học phổ thông

- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn khi triển khai đề tài

- Kết luận và các kiến nghị, đề xuất

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy giải bài tập thực tế, sáng tạo trong dạy học vật lý phổ thông

- Điều tra thực trạng dạy bài tập sáng tạo trong dạy học vật lý ở một số trường trung học phổ thông

- Soạn thảo hệ thống bài tập thực tế, sáng tạo phần “Cơ học” đảm bảo tính hệ thống, khoa học

3 Đối tượng nghiên cứu

- Nội dung kiến thức phần “Cơ học” - vật lý 10 ban cơ bản

Trang 4

- Hoạt động soạn và hướng dẫn giải bài bài tập thực tế, sáng tạo phần

“Cơ học” vật lý 10 ban cơ bản trung học phổ thông

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu soạn thảo hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập thực tế, sáng tạo phần “Cơ học” vật lý 10 ban cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực và bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các cở sở lý luận về giải bài tập thực tế, sáng tạo vật lý phổ thông và lý luận về dạy học tích cực, các biện pháp phát huy tính tích cực và bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh trong hoạt động giải bài tập vật lý

- Phương pháp điều tra: Tìm hiểu việc dạy (thông qua dự giờ, trao đổi với giáo viên) và việc học (thông qua trao đổi với học sinh, bài kiểm tra) để tìm hiểu quá trình dạy và học bài tập vật lý ở phổ thông

- Phương pháp thực nghiệm sự phạm

Trang 5

NỘI DUNG

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Bài tập sáng tạo

1.1.1 Khái niệm về bài tập sáng tạo vật lý

Khái niệm bài tập sáng tạo về vật lý được V.G.Razumôpxki người Nga nêu ra từ những năm 60 của thế kỷ 20 Đó là bài tập mà giả thiết không có thông tin đầy đủ liên quan đến hiện tượng quá trình vật lý, có những đại lượng vật lý ẩn dấu; điều kiện bài toán không chứa đựng chỉ dẫn trực tiếp và gián tiếp về angôrít giải hay kiến thức vật lý cần sử dụng Loại bài tập này dùng cho việc bồi dưỡng các phẩm chất của tư duy sáng tạo: tính linh hoạt, mềm dẻo, độc đáo, nhạy cảm Tính chất sáng tạo thể hiện ở chỗ không có angôrít cho việc giải bài tập, đề bài che giấu dữ kiện khiến người giải liên hệ tới một angôrít đã có Với bài tập sáng tạo người giải phải vận dụng kiến thức linh hoạt trong những tình huống mới (chưa biết), phát hiện điều mới (về kiến thức, kĩ năng hoạt động hoặc thái độ ứng xử mới)

Việc phân chia này mang tính tương đối bởi “cái mới” có tính tương đối phụ thuộc vào đối tượng giải bài tập và phụ thuộc thời điểm sử dụng:

“mới” tại thời điểm này nhưng sau đó khi đã biết thì lại trở thành bài tập luyện tập

1.1.2 Tác dụng của bài tập sáng tạo

Bài tập sáng tạo gây ra cho học sinh nhiều hứng thú, việc giải thành công các bài tập đó, đặc biệt là bài tập thí nghiệm vật lý mà kết quả xác nhận điều tiên đoán lý thuyết, gây cho học sinh cảm giác hài lòng, vui sướng Giải các bài tập sáng tạo mà học sinh tự lực thực hiện thực sự đã tích cực hoá hoạt động nhận thức của chính bản thân họ

Việc sử dụng đều đặn những bài tập sáng tạo về vật lý không những phát triển ở học sinh năng lực dự đoán trực giác mà còn hình thành ở họ một trạng thái tâm lý quan trọng: kiến thức cần thiết không phải là để nhớ chúng một cách máy móc và “hoàn lại” cho giáo viên khi bị hỏi, chúng cần thiết để giải thích những hiện tượng chưa biết, để hiểu cơ chế của chúng, hoặc thu nhận những kiến thức mới Giải bài tập sáng tạo là một trong những hình thức hoạt động sáng tạo đối với học sinh

1.1.3 Phân loại bài tập sáng tạo

Có nhiều cách phân loại bài tập sáng tạo trong vật lý

Trang 6

V.G Ra-zu-môp-xki dựa theo sự tương tự giữa quá trình sáng tạo khoa học với tính chất của quá trình tư duy trong giải các bài tập sáng tạo, chia bài tập sáng tạo thành hai loại:

- Bài tập nghiên cứu đòi hỏi trả lời câu hỏi “Tại sao?” tương tự với

“phát minh” trong sáng tạo khoa học

- Bài tập thiết kế đòi hỏi trả lời câu hỏi “làm thế nào?” tương tự với

“sáng chế” trong sáng tạo khoa học kỹ thuật

Sự phân loại trên có tính khái quát cao nên khó vận dụng trong thực tiễn Để vận dụng trong thực tiễn dạy học thì người ta thường phân loại bài tập sáng tạo theo các phẩm chất của tư duy sáng tạo

Tư duy sáng tạo bộc lộ các phẩm chất: tính mềm dẻo, linh hoạt, độc đáo và nhạy cảm Bốn phẩm chất này có tính độc lập tương đối ở một mức độ nào đó, có thể khai thác trong dạy học các bài tập sáng tạo nhằm bồi dưỡng từ duy sáng tạo cho học sinh Từ đó ta có thể có các dấu hiệu nhận biết bài tập sáng tạo như sau:

1.1.3.1 Bài tập có nhiều cách giải

1.1.3.2 Bài tập có hình thức tương tự nhưng nội dung biến đổi: đây là những bài tập có nhiều hơn một câu hỏi, ở câu hỏi thứ nhất là một bài tập luyện tập, các câu hỏi tiếp theo có hình thức tương tự, nếu vẫn áp dụng phương pháp như trên sẽ dẫn đến bế tắc vì nội dung câu hỏi đã có sự thay đổi

về chất

1.1.3.3 Bài tập thí nghiệm

Bài tập thí nghiệm định tính về vật lý gồm các bài tập thiết kế phương

án thí nghiệm theo một mục đích cho trước và bài tập thiết kế dụng cụ dựa trên nguyên tắc vật lý nào đó

1.1.3.4 Bài tập cho thiếu hoặc thừa dữ kiện

Đây là bài tập có ý nghĩa rất lớn về mặt giáo dưỡng, giáo dục kỹ thuật tổng hợp vào giáo dục ý thức tiết kiệm của công, song nó còn có tác dụng lớn

về bồi dưỡng tư duy sáng tạo Trong bài toán này tất cả các dữ kiện trực tiếp

để giải đều thiếu, người giải phải tự tìm bằng quan sát, thống kê số liệu thực

tế, tra cứu Lập kế hoạch thu thập dữ liệu, triển khai thực hiện kế hoạch là công việc sáng tạo gần như một công trình nghiên cứu khoa học nhỏ

1.1.3.5 Bài tập nghịch lý, nguỵ biện

Đây là những bài toán mà trong đề bài chứa đựng một sự nguỵ biện nên

đã dẫn đến nghịch lý, các bài tập dạng này có tác dụng bồi dưỡng tư duy phê phán, phản biện cho học sinh, giúp cho tư duy có tính độc đáo, nhạy cảm

Trang 7

1.2 Bài tập có nội dung thực tế

Bài tập vật lý có nội dung thực tế là những bài tập mà nội dung của chúng là các tình huống cụ thể hoặc mô phỏng các tình huống có thể nảy sinh trong thực tế của cuộc sống xung quanh chúng ta Những bài tập này thể hiện được mối liên hệ giữa các kiến thức, định luật vật lý mà học sinh đã được học với các thành tựu và ứng dụng của những tri thức đó trong khoa học và kỹ thuật Bài tập vật lý có nội dung thực tế là một trong những phương tiện để hình thành kiến thức lý thuyết và phát triển kỹ năng thực hành cho học sinh Các bài tập vật lý có nội dung thực tế giúp chúng ta hiểu rõ bản chất vật lý của các khách thể trong tự nhiên, sản xuất và cuộc sống hàng ngày mà con người tương tác trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình Chức năng dạy học của các bài tập có nội dung thực tế là khi giải chúng sẽ góp phần cụ thể hóa và hệ thống hóa kiến thức của học sinh; xây dựng hệ thống tri thức mới,

về các ngành sản xuất chủ yếu và hướng chính phát triển công nghiệp, về sự vận dụng các định luật vật lý trong cuộc sống hàng ngày của con người; hiểu biết sâu sắc các quy luật vật lý; làm giàu nội dung và khối lượng kiến thức; hình thành các khái niệm kỹ thuật và kỹ thuật tổng hợp; thiết lập mối liên hệ giữa các loại khái niệm khác nhau; nắm vững cách diễn đạt của các định luật

và các định nghĩa; hình thành cho học sinh các hoạt động liên quan đến việc vận dụng kiến thức vào các tình huống cụ thể trong cuộc sống và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn Trong quá trình giải các bài tập với nội dung thực tế cho thấy sự thống nhất của kiến thức trong các phương diện lý thuyết và thực tiễn (kiến thức và kỹ năng có được là cơ sở để hình thành kinh nghiệm cuộc sống

cá nhân của học sinh), đảm bảo sự liên kết kiến thức với các lĩnh vực khoa học và thực tiễn Bài tập với nội dung thực tế cho phép thực hiện việc kiểm tra cơ sở kiến thức và kỹ năng của học sinh, thiết lập mối liên hệ ngược giữa mức độ nhất định của kiến thức lý thuyết đã lĩnh hội được và sự phát triển kỹ năng thực hành trong thực tế, xác định mức độ sẵn sàng của học sinh để thực hiện các hoạt động thực tiễn

1.3 Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy Bản chất của dạy học tích cực là đề cao chủ thể nhận thức, chính là phát huy tính tự giác, chủ động của người học, lấy người học làm trung tâm

Trong dạy học tích cực, giáo viên giúp học sinh tự khám phá trên cơ sở

tự giác và được tự do suy nghĩ, tranh luận, đề xuất giải quyết vấn đề Giáo viên trở thành người thiết kế và tạo môi trường cho phương pháp học tích

Trang 8

cực, khuyến khích, ủng hộ, hướng dẫn hoạt động của học sinh, thử thách và tạo động cơ cho học sinh, khuyến khích đặt câu hỏi và đặt ra vấn đề cần giải quyết Học sinh trở thành người khám phá, khai thác, tư duy, liên hệ, người thực hiện, chủ động trao đổi, xây dựng kiến thức và cao hơn nữa là “người nghiên cứu” Qua kiểu dạy học này, học sinh được tập dượt giải quyết những tình huống vấn đề sẽ gặp trong đời sống

1.4 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo có thể được mô tả như sau:

- Nhận ra ý tưởng mới : Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới; biết phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau

- Phát hiện và làm rõ vấn đề: Phân tích được tình huống trong học tập; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập

- Hình thành và triển khai ý tưởng mới: Phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến của người khác; hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho; đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp; so sánh và bình luận được về các giải pháp đề xuất

- Đề xuất, lựa chọn giải pháp: Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến vấn đề; đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề

- Thiết kế và tổ chức hoạt động: Lập được kế hoạch hoạt động với mục tiêu, nội dung, hình thức hoạt động phù hợp; biết phân công nhiệm vụ phù hợp cho các thành viên tham gia hoạt động; đánh giá được sự phù hợp hay không phù hợp của kế hoạch, giải pháp và việc thực hiện kế hoạch, giải pháp

- Tư duy độc lập: Biết đặt các câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện tượng, vấn đề; biết chú ý lắng nghe và tiếp nhận thông tin, ý tưởng với sự cân nhắc, chọn lọc; biết quan tâm tới các chứng cứ khi nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng; biết đánh giá vấn đề, tình huống dưới những góc nhìn khác nhau

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong môn vật lý là khả năng huy động, tổng hợp kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân nhằm giải quyết một nhiệm vụ học tập môn vật lý, trong đó có biểu hiện của sự sáng tạo

Sự sáng tạo trong quá trình giải quyết vấn đề được biểu hiện trong một bước nào đó, có thể là một cách hiểu mới về vấn đề, hoặc một hướng giải quyết mới cho vấn đề, hoặc một sự cải tiến mới trong cách thực hiện giải quyết vấn

đề, hoặc một cách nhìn nhận đánh giá mới

Trang 9

2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THỰC TẾ, SÁNG TẠO PHẦN

“CƠ HỌC” VẬT LÝ 10 BAN CƠ BẢN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Thực trạng dạy bài tập có nội dung thực tế, sáng tạo phần “Cơ học” vật lý 10 trung học phổ thông, nguyên nhân và cách khắc phục

2.1.1.Thực trạng dạy bài tập có nội dung thực tế, sáng tạo phần “Cơ học” vật lý 10 trung học phổ thông

- Trong chương trình vật lý phổ thông nói chung và phần cơ học lớp 10 nói riêng, các bài tập có nội dung thực tế, sáng tạo rất ít, chủ yếu là các câu hỏi định tính, hầu như không có bài tập thí nghiệm

- Hệ thống bài tập các giáo viên soạn thảo có số lượng bài tập rất nhiều nhưng số lượng bài tập có nội dung thực tế, sáng tạo lại rất ít

- Một số giáo viên đã sử dụng bài tập thực tế, sáng tạo vào dạy giải bài tập, nhưng số lượng bài tập rất ít, không thường xuyên, ít có bài tập thí nghiệm

- Việc dạy bài tập nhiều khi còn nặng về số lượng bài tập, nặng về tính toán, nội dung không gắn liền thực tế nên không hấp dẫn, không phát triển được năng lực sáng tạo của học sinh

- Việc vận dụng những kiến thức vật lý vào giải thích những hiện tượng thực tế, việc sử dụng dụng cụ để giải quyết các nhiệm vụ thực tế còn nhiều hạn chế

2.1.2 Nguyên nhân

- Trong cách kiểm tra, đánh giá kiến thức hiện này còn chưa chú trọng đến bài tập có nội dung thực tế, bài tập sáng tạo Trong các đề số lượng bài tập có nội dung thực tế, sạng tạo là rất ít, đặc biệt là các bài tập thí nghiệm mang tính sáng tạo cao

- Nhiều giáo viên chưa ý thức được tầm quan trọng của bài tập có nội dung thực tế, sáng tạo Hệ thống bài tập của nhiều giáo viên chưa có nội dụng thực tế, sáng tạo để giúp học sinh vận dụng kiến thức vật lý vào thực tiễn Một số giáo viên đã sử dụng bài tập có nội dung thực tế, sáng tạo vào dạy bài tập nhưng số lượng còn ít, chưa phù hợp với các đối tượng học sinh, sử dụng chưa nhiều, không thường xuyên nên chưa bỗi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh một cách thường xuyên, nên việc vận dụng kiến thức vật lý vào thực

Trang 10

- Giáo viên cần ý thức được tầm quan trọng của bài tập có nội dung thực tế, sáng tạo đề bồi dưỡng được năng lực sáng tạo cho học sinh Giáo viên phải soạn thảo được một hệ thống bài tập có nội dung thực tế, sáng tạo cho phần cơ học và kế hoạch sử dụng hệ thống đó một cách thường xuyên để phát huy được tính tích cực, chủ động và bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh

2.2 Yêu cầu chung về hệ thống bài tập thực tế, sáng tạo phần “Cơ học” vật lý 10 ban cơ bản

Hệ thống các bài tập thực tế, sáng tạo phần “Cơ học” vật lý 10 ban cơ bản phải thoả mãn các yêu cầu sau:

- Phù hợp với các kiến thức cơ bản của chương trình sách giáo khoa và phải thiết thực gần gũi với cuộc sống hàng ngày của học sinh

- Phải dải đều nội dung phần cơ học và đa dạng về thể loại

- Các bài tập cần phải sử dụng thiết bị thì các thiết bị thí nghiệm phải đơn giản, dễ tìm, dễ chế tạo hoặc có sẵn ở phòng thí nghiệm Các thao tác thí nghiệm không quá khó

2.3 Hệ thống bài tập thực tế, sáng tạo

Bài tập 1: Một em bé đang dạo chơi cùng với một con chó của mình thì gặp

một người bạn đang lại gần Mừng rỡ, con chó chạy tới người bạn rồi quay lại với chủ của nó rồi lại quay lại với người bạn, cứ như thế nhiều lần Hỏi con chó đã chạy trong bao nhiêu lâu và được một quãng đường bao nhiêu? Cho biết hai em cùng tiến lại nhau với vận tốc 4 km/h, vận tốc của chó là 30 km/h

và khoảng cách bạn đầu của hai em là 400m

Bài tập 2: Một người đang cầm hai lò xo có độ cứng và chiều dài ban đầu

như nhau Lần lượt móc hai quả nặng 0,5g, 20g vào lò xo thứ nhất và lò xo thứ hai Nếu người đó vào thang máy và thả cho thang rơi tự do thì chiều dài của lò xo sẽ như thế nào? Bỏ qua lực cản không khí

Trang 11

Hướng dẫn giải:

Người cùng lò xo, quả nặng rơi như thế nào?

Bài giải:

Khi không có sức cản của không khí:

- Các vật có hình dạng và khối lượng khác nhau đều rơi như nhau

- Mọi vật chuyển động ở gần mặt đất đều có gia tốc rơi tự do

Người cùng với lò xo, quả nặng đều rơi tự do theo thang máy, chính vì vậy tất cả rơi vào trạng thái không trọng lượng các quả nặng không còn tác dụng lực vào lò xo nữa Vậy chiều dài của hai lo xo là như nhau

Bài tập 3: Một ly nước đặt trong một thang máy Điều gì sẽ xảy ra nếu

trong thời gian thang rơi tự do ta úp ngược cốc nước?

và không có chuyển động tương đối với nhau

Bài tập 4: Làm thế nào để đo đường kính của một quả bóng đá chỉ bằng

Bài tập 5: Một máy tiện đang hoạt động, trục của máy tiện quay rất nhanh

Nếu dùng một bút bi và một chiếc đồng hồ bấm giây hãy nêu phương án để xác định vận tốc góc của trục quay?

Trang 12

Bài giải:

Vận tốc góc của chuyển động tròn là n

t

 = (n là số vòng, t là thời gian), dùng bút tì vào trục quay của máy, vết mực tạo trên trục có dạng xoắn có nhiều vòng, ta đếm được n, dùng đồng hồ đo thời gian để trục tạo nên vòng xoắn đó là là t Vận tốc góc của trục quay máy tiện là: n

t

= (vòng/ giây)

Bài tập 6: Để các tia nước từ cái bánh xe đạp không thể bắn vào người đi

xe, phía trên bánh xe người ta gắn những cái chắn bùn Khi đó phải gắn những cái chắn bùn như thế nào?

Bài tập 7: Ban ngày và ban đêm, khi nào chúng ta chuyển động quanh Mặt

Trời nhanh hơn? Theo bạn có trường hợp như vậy không ? Hãy giải thích?

Hướng dẫn giải:

Dựa vào kiến thức tính tương đối của chuyển động và sự khác nhau giữa chiều quay của ta quanh Trái Đất và chiều quay của ta quanh Mặt Trời giữa ngày và đêm

Bài giải:

Trong hệ Mặt Trời chúng ta thực hiện hai chuyển động đồng thời: quay quanh trục của Trái Đất và cùng với Trái Đất quay quanh Mặt Trời Vào nửa đêm vận tốc quay cộng thêm vào vận tốc tịnh tiến của Trái Đất (vì cùng hướng) còn vào giữa trưa thì ngược lại hai vận tốc trừ lẫn nhau Vậy vào lúc nửa đêm chúng ta chuyển động trong hệ Mặt Trời nhanh hơn lúc trưa Điều này quả thật đã xảy ra đối với chúng ta

Bài tập 8: Tại sao diễn viên xiếc ngồi trên ngựa đang phi nhanh, người đó

nhảy lên cao, khi rớt xuống vẫn đúng vào yên ngựa?

Trang 13

Bài tập 9: Một người chặt cây và hai người phụ kéo cho cây đổ, để cây đổ

theo ý muốn người ta phải dùng hai sợi dây cột tại một điểm trên cao rồi kéo

về hai phía khác nhau không trùng với phương mà người đó mong muốn.Tại sao không cột một sợi dây rồi kéo thẳng xuống nơi cây phải đổ mà phải cột hai dây như vậy và kéo hai sợ dây như thế nào để cho cây đổ chính xác?

Bài tập 10: Khi bửa củi, với những khúc gỗ lớn người ta thường đặt vào cái

nêm cắm vào khúc củi sao đó dùng búa đập mạnh

vào nêm.Tại sao khi gõ mạnh búa vào một cái nêm

hình tam giác đang cắm vào một khúc gỗ thì khúc

Ngày đăng: 03/07/2022, 17:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Đình Cương (2003), Thí nghiệm Vật lý ở trường trung học phổ thông, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm Vật lý ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Phạm Đình Cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
5. Phạm Thị Phú (2007), Chuyển hóa phương pháp nhận thức vật lý thành phương pháp dạy học vật lý, Nhà xuất bản Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển hóa phương pháp nhận thức vật lý thành phương pháp dạy học vật lý
Tác giả: Phạm Thị Phú
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Vinh
Năm: 2007
1. Lương Duyên Bình, Nguyễn Xuân Chi, Tô Giang, Trần Chí Minh, Vũ Quang, Bùi Gia Thịnh (2006), Vật lí 10, Nhà xuất bản Giáo dục Khác
3. Nguyễn Phú Đồng (2016), Công phá đề thi học sinh giỏi vật lý 10 tập 1, Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Khác
4. Nguyễn Phú Đồng (2016), Công phá đề thi học sinh giỏi vật lý 10 tập 2, Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Khác
6. Lưu Đình Tuân, Mạc Thị Ta (1997), Bài tập Vật lý 10 nâng cao, Nhà xuất bản trẻ Khác
7. Nguyễn Đình Thước (2010), Những bài tập sáng tạo về vật lý trung học phổ thông, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Thỏi gỗ đặt trên tấm bảng được làm nghiêng đến góc α là góc mà tại đó thỏi gỗ bắt đầu trượt đều xuống phía dưới - (SKKN mới NHẤT) ứng dụng kiến thức cơ học vật lý 10 vào giải các bài tập thực tế, sáng tạo nhằm bồi dưỡng kiến thức và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
h ỏi gỗ đặt trên tấm bảng được làm nghiêng đến góc α là góc mà tại đó thỏi gỗ bắt đầu trượt đều xuống phía dưới (Trang 17)
Bài giải: Nhận xét các mô hình tên lửa nước của các nhóm.  - (SKKN mới NHẤT) ứng dụng kiến thức cơ học vật lý 10 vào giải các bài tập thực tế, sáng tạo nhằm bồi dưỡng kiến thức và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
i giải: Nhận xét các mô hình tên lửa nước của các nhóm. (Trang 20)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w