Đề tài đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả dạy học các chủ đề môn GDCD12 thông qua sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy, từ đó các em nắm vững kiến thức mônhọc, đạt được kết quả cao trong kỳ
Trang 1ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ MÔN GIÁO DỤC CÔNG
DÂN 12 BẰNG KỸ THUẬT SƠ ĐỒ TƯ DUY
Lĩnh vực: Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT 1-5
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ MÔN GIÁO DỤC CÔNG
DÂN 12 BẰNG KỸ THUẬT SƠ ĐỒ TƯ DUY
Lĩnh vực: Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân
Trang 4Mục lục
Trang
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu 2
7 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
I Cơ sở lý luận và thực tiễn của kỹ thuật dạy học bằng sơ đồ tư duy……… 4
1 Cơ sở lý luận……… 4
1.1 Khái niệm sơ đồ tư duy……… 4
1.2 Tác dụng của sơ đồ tư duy trong học tập……… 5
1.3 Tác dụng của “Sơ đồ tư duy” trong hoạt động dạy học các chủ đề môn GDCD……… 6
1.4 Các bước cụ thể để tạo lập một sơ đồ tư duy……… 6
2 Cơ sở thực tiễn……… 8
II Các giải pháp thực hiện để nâng cao hiệu quả dạy học chủ đề môn GDCD 12 bằng kỹ thuật sơ đồ tư duy………. 8
2.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong kiểm tra bài cũ……… 10
2.2 Sử dụng sơ đồ tư duy để học sinh chuẩn bị bài mới……… 11
2.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học bài mới……… 12
2.4 Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức bài học……… 14
2.5 Sử dụng sơ đồ tư duy để ra bài tập về nhà……… 15
2.6 Sử dụng sơ đồ tư duy để ôn tập kiến thức……… 16
III Thực nghiệm sư phạm……… 18
1 Mục đích thực nghiệm……… 18
Trang 52 Tổ chức thực nghiệm……… 18
3 Phương pháp thực hiện……… 19
4 Thiết kế giáo án có sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy học các chủ đề cho học sinh lớp 12………
19 5 Kết quả thực nghiệm……… 24
5.1 Trước khi áp dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn GDCD……… 24
5.2 Sau khi áp dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn GDCD……… 24
5.3 Nhận xét kết quả thực nghiệm……… 25
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………. 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO………. 27
PHỤ LỤC………
Trang 6PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
Trong cuộc đời, mỗi chúng ta ai cũng có những ước mơ, hoài bão Nhưnglàm thế nào để những ước mơ, hoài bão ấy trở thành hiện thực thì đó đó là cả mộtchặng đường dài đầy những chông gai, thử thách Bởi thế, ngay từ khi các em họcsinh đang ngồi trên ghế nhà trường, việc hình thành cho các em có được một thếgiới quan, nhân sinh quan đúng đắn là vô cùng quan trọng GDCD là bộ môn sẽđịnh hướng cho các em có những bước đi đúng đắn đầu tiên trong hành trình tươnglai của chính mình
Với vai trò to lớn của môn GDCD đối với việc hình thành phẩm chất, nănglực cho học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 12, đây là năm cuối cấp THPT để các em
tự lựa chọn ngành, nghề quyết định tương lai của bản thân mình Vì thế, việc cungcấp cho các em những kiến thức, kỹ năng của môn học là vô cùng cần thiết
Đặc biệt, từ năm học 2016-2017 đến nay, bộ môn GDCD là một trong 3môn thi tổ hợp Xã hội được sử dụng trong kì thi THPT Quốc gia của Bộ giáo dục
và Đào tạo Bởi vậy, để giúp các em học sinh học tập có hiệu quả cao, có kiến thứcvững vàng đáp ứng yêu cầu của kì thi thì buộc giáo viên phải không ngừng đổi mớicách dạy, đổi mới cách tiếp cận của học sinh Bởi vậy, trong dạy học GDCD, bêncạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin thì việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy vàhọc là một phương pháp tối ưu nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, sự
tư duy độc lập của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức Với việc đổi mới dạyhọc theo hướng lấy học sinh làm trung tâm – không thể áp đặt kiến thức một chiều
từ giáo viên thì việc phát huy tối đa năng lực của người học là một vấn đề hết sứcquan trọng và cần thiết
Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy ở nhiều trường phổ thông nói chung vàtrường THPT 1-5, THPT Nghi Lộc 4 nơi chúng tôi đang giảng dạy nói riêng, trongnhiều năm học sinh vẫn tiếp thu kiến thức GDCD một cách khá thụ động, chưa cókhả năng tự học, chủ yếu vẫn dựa vào kiến thức giáo viên truyền đạt, học thuộclòng, ghi nhớ máy móc Học sinh chủ yếu học bài nào biết bài đó, chưa có sự liên
hệ giữa các bài, chưa có sự liên hệ kiến thức với nhau, chưa gắn kiến thức với thựctiễn đời sống nên chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của bản thân trongchiếm lĩnh tri thức
Với mong muốn tạo cho các em một tâm lí hứng khởi, chủ động, tích cực vàhọc tập có hiệu quả các chủ đề trong chương trình GDCD lớp 12, chúng tôi đã
mạnh dạn chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả dạy học các chủ đề môn GDCD 12
bằng kỹ thuật sơ đồ tư duy” Đây là đề tài chúng tôi đã áp dụng trong quá trình
dạy học ở trường THPT 1-5 và trường THPT Nghi Lộc 4 trong nhiều năm qua vànhận được sự phản hồi, thu được kết quả rất tốt từ phía học sinh Tuy vậy, đề tài
Trang 7chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm góp
ý của bạn bè và đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm những mục đích sau:
- Dạy cho học sinh “học cách học”, từ đó giúp học sinh nắm vững kiến thứcgiúp các em biết vận dụng linh hoạt vào việc giải các bài tập, câu hỏi trắc nghiệmkhách quan môn GDCD 12
- Giúp học sinh nắm vững kiến thức từng bài, từng phần, hình dung một cáchtổng thể bài học trong chương trình
- Việc sử dụng sơ đồ tư duy tạo cho các em tính chủ động, tích cực, sáng tạotrong việc chiếm lĩnh tri thức, từ đó các em có sự hứng thú khi học môn GDCD.Thông qua việc dạy học bằng kỹ thuật sơ đồ tư duy, các em vận dụng các kiến thức
về pháp luật để vận dụng vào thực tiễn cuộc sống
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy học bằng kỹ thuật sơ đồ tư duy
2 Khảo sát điều tra thực trạng tổ chức dạy học nói chung và dạy học bằng kỹthuật sơ đồ tư duy nói riêng cho học sinh
3 Thiết kế mẫu giáo án dạy học bằng kỹ thuật sơ đồ tư duy
4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính hiệu quả và khả thicủa những vấn đề mà đề tài đưa ra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài này có thể áp dụng được với tất cả các khối lớp và trên thực tế chúngtôi đã áp dụng với cả 3 khối lớp mà chúng tôi được giao giảng dạy, kết quả manglại rất khả quan Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứutrong các lớp 12 mà chúng tôi được phân công giảng dạy ở trường THPT 1-5 vàtrường THPT Nghi Lộc 4 Đây là đối tượng đang chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệpnăm 2022
- Địa bàn khảo sát thực nghiệm: Trường THPT 1-5, huyện Nghĩa Đàn vàtrường THPT Nghi Lộc 4, tỉnh Nghệ An
5 Phương pháp nghiên cứu
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (Điều tra, khảo sát, thực nghiệm)+ Phương pháp thống kê toán học
6 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Trang 8Đề tài đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả dạy học các chủ đề môn GDCD
12 thông qua sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy, từ đó các em nắm vững kiến thức mônhọc, đạt được kết quả cao trong kỳ thi tốt nghiệp THPT mà bản thân đã áp dụng tại
cơ sở trong những năm học vừa qua mà các đề tài trước chưa đề cập đến
7 Ý nghĩa của đề tài
Dạy học thông qua việc sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy là vô cùng cần thiết vàhết sức phù hợp với xu thế hiện nay, điều này không chỉ góp phần nâng cao khảnăng tư duy độc lập, tăng cường khả năng sáng tạo trong học tập, kích thích lòngham muốn tìm tòi khám phá những kiến thức mới của người học mà còn góp phầnhoàn thiện khả năng chuyên môn và năng lực sư phạm của người dạy trong quátrình chuẩn bị và đồng hành cùng người học khám phá kiến thức mới Tôi hy vọng
đề tài sẽ là những định hướng có giá trị, là những tư liệu đáng tin cậy giúp giáoviên thiết kế, tổ chức và hướng dẫn có hiệu quả các giờ học GDCD 12 trongchương trìnhTHPT
Trang 9PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I Cơ sở lý luận và thực tiễn của kỹ thuật dạy học bằng sơ đồ tư duy
1 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm sơ đồ tư duy
Cha đẻ của phương pháp tư duy Mind-map (sơ đồ tư duy, giản đồ ý) là TonyBuzan Ông sinh năm 1942 tại Luân-Đôn (Anh) Ông là tác giả của hơn 90 đầusách, được dịch ra trên 30 thứ tiếng, xuất bản trên 125 quốc gia Ông đã đi nhiềunước để phổ biến về phương pháp của mình Ông đã có mặt ở Việt Nam vào tháng
4 năm 2007 Ở Việt Nam hiện đã có 2 quyển sách được dịch từ công trình nghiêncứu của ông là “Sơ đồ tư duy” và “Sử dụng trí não của bạn”
Tony Buzan – người truyền cảm hứng bằng sơ đồ tư duy
Vậy sơ đồ tư duy là gì?
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là lược đồ tư duy, bản đồ tư duy (Mind Map) Đây làhình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ýchính, ý cơ bản của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề… bằng cách kết hợpviệc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết… Sơ đồ tư duy là một sơ đồ
mở, nó không có một định dạng hoặc một khuôn mẫu nhất định Tùy thuộc vào
Trang 10năng tư duy và nhìn nhận vấn đề khác nhau của từng người mà sản phẩm tư duy(sơ đồ tư duy) sẽ có sự khác nhau
Việc sử dụng sơ đồ tư duy vào trong quá trình dạy học nhất là dạy học GDCD
sẽ huy động tối đa tiềm năng của bộ não, giúp học sinh học tập tích cực và có tácdụng hỗ trợ cho các phương pháp dạy học khác Hơn nữa, việc vận dụng sơ đồ tưduy trong dạy học sẽ giúp học sinh tự tay ghi chép hay tổng hợp một vấn đề, mộtchủ đề đã học, đã đọc theo cách hiểu của học sinh dưới dạng sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy trong dạy học GDCD không giống với sơ đồ địa lý phải đòi hỏi
về kích thước phải đúng tỷ lệ, đúng màu sắc mà cho phép các em thỏa sức sángtạo, phát triển thẩm mỹ, khả năng tư duy để chiếm lĩnh tri thức Đây là phươngpháp không chỉ giúp giáo viên truyền thụ kiến thức tốt mà còn giúp học sinh hiểubài, nhớ bài, thuộc bài ngay tại lớp; giúp học sinh tránh được sự căng thẳng, mệtmỏi, nhàm chán trong các tiết học; làm cho tiết học trở nên sôi nổi, học sinh hứngthú vì phát huy được tính sáng tạo, tư duy logic, tư duy hệ thống của các em Bêncạnh đó, đây cũng là phương pháp hiệu quả trong việc phân loại đối tượng họcsinh: học sinh khá, giỏi sẽ phát huy tốt năng lực và khả năng tư duy độc lập củamình, hiểu và nắm bài rất nhanh; ngược lại học sinh lười học, ngại suy nghĩ có thể
sẽ khó hiểu bài Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên cũng nên lưu ýđến đối tượng này
1.2 Tác dụng của sơ đồ tư duy trong học tập
Sơ đồ tư duy giúp chúng ta tiết kiệm thời gian vì nó chỉ tận dụng các từ khóaNhờ vào việc tận dụng những từ khóa và hình ảnh sáng tạo, một khốilượng kiến thức lớn sẽ được ghi chú hết sức cô đọng trong một trang giấy, màkhông bỏ sót bất kì một thông tin quan trọng nào Tất cả những thông tin cầnthiết để đạt điểm cao trong kì thi vẫn được lưu giữ nguyên vẹn những chi tiếtnhỏ nhặt nhất
Sơ đồ tư duy tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳngNgoài việc tận dụng các từ khóa, Sơ đồ tư duy còn tận dụng được cácnguyên tắc của “Trí Nhớ Siêu Đẳng”, và nhờ đó tăng khả năng tiếp thu và nhớ bàinhanh của học sinh
Sơ đồ tư duy tác động vào sự hình dung của học sinh nhờ những hìnhảnh, những màu sắc của nó, như một bức tranh lớn đầy màu sắc hơn là một bàihọc khô khan Tác động lên sự liên tưởng của học sinh, nó hiển thị sự liên kếtgiữa các ý tưởng một cách rất rõ ràng
Sơ đồ tư duy sẽ giúp cho học sinh một phương pháp rèn luyện trí nhớ, mộtphương pháp tổng hợp kiến thức và một kỹ năng trình bày vấn đề Bởi vì với cáchthể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, nó sẽ giúp các em:
Thứ nhất: Sáng tạo hơn.
Thứ hai: Tiết kiệm thời gian.
Trang 11Thứ ba: Ghi nhớ tốt hơn.
Thứ tư: Nhìn thấy kiến thức tổng thể.
Thứ năm: Tổ chức và phân loại suy nghĩ của bạn.
Thứ sáu: Động não về một vấn đề phức tạp
Đó cũng chính là lí do thuyết phục để giáo viên dạy GDCD lớp 12 lựa chọnphương pháp này trong quá trình hỗ trợ ôn tập tốt nghiệp cho các em họcsinh
1.3 Tác dụng của sơ đồ tư duy trong hoạt động dạy học các chủ đề môn GDCD
Bộ môn GDCD trong nhà trường THPT là một trong những bộ môn có sốtiết dạy ít, một tuần một tiết trên một lớp, nhưng kiến thức dài, khó, trừu tượng, độkhái quát tổng hợp rất lớn Chính vì vậy, việc dạy GDCD cũng gặp nhiều khókhăn Để giờ dạy có hiệu quả thì cả người dạy và người học đều phải tập trung cao
độ, chuẩn bị kĩ nếu không sẽ không đủ thời gian Bản đồ tư duy được xem là một
kĩ thuật dạy học tích cực giúp học sinh học được phương pháp học tập chủ độngchiếm lĩnh kiến thức môn học Thực tế ở trường phổ thông cho thấy, học sinh có
xu hướng ngại học môn GDCD thậm chí còn coi đây là môn phụ, không quantrọng, đặc trưng môn học phải ghi chép nhiều, trừu tượng, khó nhớ Các em thườnghọc bài nào biết bài đó, học phần sau không biết liên hệ với phần trước, không biết
hệ thống kiến thức, liên kết kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đãhọc trước vào bài học sau và thực tiễn đời sống Do đó việc sử dụng thành thạo sơ
đồ tư duy trong dạy và học, sẽ giúp học sinh học được phương pháp học, tăng tínhđộc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
Sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập tích cực, chủ động tối đa tiềm năng của
bộ não Việc học sinh vẽ sơ đồ tư duy có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạocủa học sinh, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, tím, vàng…), đường nét (đậm,nhạt, thẳng, cong,…), các em tự vẽ nên trên mỗi sơ đồ tư duy thể hiện rõ cáchhiểu, cách trình bày kiến thức môn học của từng học sinh và sơ đồ tư duy do các
em tự thiết kế nên các em sẽ yêu quý, trân trọng sản phẩm của mình
Sơ đồ tư duy giúp học sinh ghi chép rất hiệu quả Do đặc điểm này của sơ
đồ tư duy nên người thiết kế sơ đồ tư duy phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp
bố cục để ghi thông tin cần thiết nhất và logic Vì vậy, sử dụng sơ đồ tư duy sẽgiúp học sinh dần dần hình thành cách ghi chép hiệu quả Điều này sẽ khắc phụchiện trạng thường thấy trong môn GDCD: thầy đọc - trò chép Đồng thời rèn luyệnkhả năng khái quát kiến thức bài học bằng những từ khóa quan trọng Đây vẫn làkhâu trọng yếu trong quá trình học tập môn GDCD hiện nay
Sơ đồ tư duy có thể sử dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào củacác trường THPT hiện nay Người dạy và người học có thể thiết kế bản đồ tư duytrên giấy, bìa, bảng phụ hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư duy
1.4 Các bước cụ thể để tạo lập một sơ đồ tư duy
Bước 1: Xác định ý chính, từ khóa chính: Sơ đồ tư duy được tạo lập từnhững từ khóa chính Đối với môn GDCD, từ khoá là những từ, những cụm từhoặc tình huống đặt ra
Trang 12Bước 2: Vẽ “lõi” kiến thức từ trung tâm tờ giấy Học sinh nên bắt đầu vẽ sơ
đồ tư duy từ trung tâm tờ giấy Đây được coi là phần lõi của sơ đồ, cũng chính làkiến thức cơ bản hoặc tên bài
Bước 3: Vẽ những nhánh tiêu đề phụ Từ phần lõi, học sinh sẽ tạo ra nhữngnhánh với nội dung là những phần kiến thức nhỏ hơn cùng các tiêu đề phụ Cáctiêu đề phụ này nên sử dụng chữ in hoa và thể hiện bằng những nhánh lớn, in đậm.Những nhánh lớn cần được tô đậm hơn và bắt đầu nhỏ dần khi toả ra xa Đặc biệt,tất cả các nhánh đều phải được kết nối với phần “lõi” của sơ đồ
Bước 4: Vẽ các nhánh cấp nhỏ hơn Ở bước này, học sinh cần vẽ nối tiếpvào nhánh lớn để tạo ra những nhánh nhỏ hơn Ở những nhánh nhỏ, chúng ta chỉnên tận dụng từ khóa và hình ảnh gợi mở Tất cả các nhánh nhỏ của một nhánh lớnnên tỏa ra từ một điểm và có cùng một màu
Bước 5: Trang trí sơ đồ bằng hình ảnh minh họa Lúc này, học sinh hãy pháthuy tối đa khả năng sáng tạo của mình Tuy nhiên, học sinh hãy vẽ những hình ảnh
có sức gợi tả tốt nhất để chỉ cần nhìn vào hình ảnh đó, chúng ta có thể liên tưởngngay đến kiến thức cần nhớ
Trang 132 Cơ sở thực tiễn
Trường THPT 1-5 và trường THPT Nghi Lộc 4 là hai trường có tỷ lệ học sinhđậu tốt nghiệp tương đối cao so với cả tỉnh Trong đó phải kể đến đóng góp lớn củachất lượng môn GDCD trong kỳ thi So với chất lượng các bộ môn khác thì kết quảthi TN của môn GDCD ở trường THPT 1-5 tương đối cao.Tuy nhiên, so với kếtquả của cả tỉnh nói chung thì vẫn đang ở mức trung bình Trong khi đó, kết quả thi
TN môn GDCD của trường THPT Nghi Lộc 4 năm học 2020-2021lại đứng thứ 3toàn tỉnh Bởi thế tôi luôn học hỏi kinh nghiệm của trường bạn để tiếp tục nâng caochất lượng dạy và học môn GDCD ở trường tôi để kết quả học tập môn GDCD củacác em học sinh ở lớp 12 tốt hơn Qua quá trình trao đổi, tôi biết được một trongnhững bí quyết để trường bạn luôn có chất lượng cao trong các kỳ thi đó chính là
sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy trong dạy học các chủ đề môn GDCD lớp 12
Trước thực trạng đó, được sự quan tâm sát sao của chuyên môn nhà trường, sựgiúp đỡ của các giáoviên cùng bộ môn giàu kinh nghiệm của các trường bạn (đặc biệt là trường THPT Nghi Lộc 4), nhóm GV bộ môn GDCD của nhà trường đã cóđiều kiện được giao lưu học hỏi, trao đổi kinh nghiệm thường xuyên để tìm rađiểm hạn chế, yếu kém về phương pháp ôn tập Qua đó, nhóm bộ môn đã chỉ rõđược: Hầu hết trong các tiết ôn thi tốt nghiệp GDCD, giáo viên thường hệ thống lạinhững kiến thức đã học một cách đơn điệu, hoặc dạy lại những kiến đã học trong
Trang 14chương trình chính khóa Việc dạy lại ấy là sự lặp lại không cần thiết Một sốgiáo viên lại dạy theo hình thức ôn tập qua hệ thống câu hỏi trắc nghiệm mà không
ôn lại lý thuyết Cách ôn tập này cũng không hiệu quả, bởi vì hạn chếkhả năng tư duy sáng tạo của học sinh, khiến các em trở nên thụ động Điều quantrọng nhất là giáo viên không tạo được hứng thú cho học sinh trong quá trình ôntập, khiến các em rơi vào tình trạng mệt mỏi, chán nản, gò ép mỗi khi đến giờGDCD; cảm thấy bị ép buộc phải học bộ môn này
Hơn nữa, đa phần học sinh đều quen với tâm lý “đọc - chép” nên ngại và lười
trong tư duy Cách học truyền thống của các em từ trước đến nay chủ yếu là ghichép đầy vở, về nhà lấy ra “học thuộc lòng”, đến lớp “trả bài” cho thầy, cô rồi dầndần để cho các kiến thức đó trôi vào quên lãng Bởi vậy, trong nhận thức của một
bộ phận không ít các em đây là môn học khô khan, kiến thức nhiều và rất nặng nề.Hầu hết các em HS vẫn xem học môn GDCD là môn phụ nên chất lượng bộ mônchưa cao
Từ thực tiễn giáo dục của nhà trường, thiết nghĩ cần thiết và cấp bách phải đổimới phương pháp và hình thức dạy học GDCD Ngoài việc tổ chức tích cực cáchoạt động trải nghiệm, tổ chức các trò chơi, quan trọng là phải đổi mới và tạokhông khí sôi nổi, tạo hứng thú cho các em ngay trong 45 phút lên lớp
Để thực hiện được điều này, trong mỗi tiết dạy GDCD, tôi luôn tạo cho các
em một sự tiếp cận GDCD mới mẻ, tìm hiểu kiến thức bằng nhiều kênh thông tinkhác nhau, khai thác triệt để các sơ đồ tư duy, các bảng so sánh và đặc biệt là hình
thành cho các em thói quen lập các sơ đồ tư duy qua từng bài học Từ việc tìmhiểu, nắm bắt và tổng hợp các kiến thức bài học, các em sẽ tự rút ra những nhậnđịnh, rút ra bản chất và quy luật của nội dung bài học
Học sinh tóm tắt nội dung bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản
Trang 15Đây là một vấn đề không hoàn toàn mới mẻ nhưng theo tôi rất quan trọng bởi
vì các em không những nắm được kiến thức GDCD, thấy được mối liên hệ giữacác nội dung của môn học, các bài học GDCD mà còn giúp cho những bài giảngGDCD thêm sống động, hấp dẫn và thu hút được sự chú ý của các em Hơn nữa,cải cách giáo dục hiện nay đang hướng tới việc “lấy học sinh làm trung tâm” thìviệc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nói chung và dạy học GDCD nói riêng lạicàng quan trọng Cuối mỗi học kì tôi đều làm phiếu thăm dò, kết quả mang lại rấtkhả quan: 90% học sinh thích thú khi được làm việc theo phương pháp này, 10%không tỏ thái độ gì Kết quả học tập cũng có nhiều thay đổi: khoảng 85% số họcsinh tôi dạy khi được hỏi có thể trả lời nhanh và rất chính xác về những kiến thức
mà các em đã được học trong chương trình, 10% suy nghĩ và có thể trả lời được,5% lúng túng và còn phải xem lại sách vở
Trong khi đó, giờ học GDCD chuẩn bị cho học sinh thi TN làgiờ học mà ở đó giáo viên phải hướng dẫn các em củng cố, khắc sâu, hệ thốnghóa được kiến thức một cách đầy đủ nhất Đó cũng là những giờ học cần giáoviên hướng dẫn cho các em phương pháp học tập hiệu quả nhất, ghi nhớ bài dễnhất, nhanh nhất Đồng thời qua những giờ ôn tập, giáo viên phải rèn luyện chocác em những kĩ năng tư duy để các em có thể thành thục trong việc làm bài trắc nghiệm khách quan Tất cả những nhiệm vụ trên đều hướng đến mộtmục đích duy nhất là giúp các em đạt điểm cao ở môn GDCD (theo cam kết chấtlượng GD là 7,89 trở lên), góp phần nâng cao tỉ lệ đậu tốt nghiệp của nhà trường đồng thời tích hợp rèn kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp ứng xử cho học sinh; giúpcác em bản lĩnh, tự tin khi rời ghế nhà trường
II Các giải pháp thực hiện để nâng cao hiệu quả dạy học chủ đề môn GDCD
12 bằng kỹ thuật sơ đồ tư duy
2.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong kiểm tra bài cũ
Thông thường thời lượng kiểm tra bài cũ trong một tiết học chỉ khoảng từ 3đến 5 phút, vì vậy giáo viên không nên đưa ra những câu hỏi quá khó như phântích hoặc chứng minh Tuy nhiên, nếu giáo viên chỉ yêu cầu học sinh lên trả lờicâu hỏi, sau đó tùy vào mức độ thuộc bài của học sinh đến đâu sẽ cho điểm đến đó
thì điều này sẽ dễ dẫn đến tình trạng “học vẹt” Do đó, trong phần kiểm tra bài cũ,
giáo viên không chỉ kiểm tra phần nhớ bài mà phải chú trọng đến cả phần hiểu bàinữa Cách làm này sẽ đánh giá được chính xác học sinh, giúp học sinh hiểu bài,nhớ lâu kiến thức và nâng cao được chất lượng dạy học, giúp các em có thể làmnhững bài tập trắc nghiệm khách quan một cách tốt nhất Sơ đồ tư duy sẽ giúpchúng ta đánh giá được cả phần nhớ và phần hiểu của học sinh
Khi sử dụng sơ đồ tư duy trong kiểm tra bài cũ, tôi thường sử dụng sơ đồ ởdạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra mốiquan hệ giữa các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm
Trang 16Ví dụ: Khi kiểm tra bài cũ bài 1: “Pháp luật và đời sống”, mục 1.b: các đặc
trưng của pháp luật, tôi sử dụng máy chiếu chiếu sơ đồ tư duy với những điểm còn khuyết thiếu và yêu cầu học sinh lên bảng hoàn thành sơ đồ tư duy mà tôi đưa ra
Tôi đã dùng sơ đồ này cho hai học sinh lên hoàn thành Sau khi hoàn thành xong, cho các em về chỗ, tôi mời học sinh bên dưới đứng lên nhận xét câu trả lời của từng bạn Rất nhanh, các em đã hoàn thành được sơ đồ tư duy và nhớ lại kiến thức đã học rất tốt
Sử dụng sơ đồ tư duy trong kiểm tra bài cũ giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ và phần hiểu của học sinh Giáo viên đưa ra nội dung câu hỏi thông qua từ khóa, yêu cầu học sinh lên vẽ sơ đồ tư duy thông qua từ khóa của nội dung câu hỏi, một là vẽ sơ đồ tư duy đã được học, hai là vẽ sơ đồ đã chuẩn bị để học nôi dung mới… tùy theo lực học của từng lớp, từng đối tượng học sinh mà giáo viên đưa ra yêu cầu Việc kiểm tra bài cũ bằng sơ đồ tư duy giúp học sinh không chỉ nhớ kiến thức một cách máy móc mà còn phải hiểu, bắt buộc phải học thì mới có thể làm được Sau khi hoàn thành các em trình bày nội dung đã vẽ cho giáo viên và cả lớp
Các đặc
trưng
của PL
Các đặc
trưng
của PL
Tính quy phạm phổ biến
Tính quyền lưc
và bắt buộc chung
Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
PL là những quy
tắc………
Được áp dụng………
…………
PL là những quy tắc………
Được áp dụng………
…………
PL do….ban hành Bắt buộc đối với , ai cũng phải xử sự theo…
PL do….ban hành Bắt buộc đối với , ai cũng phải xử sự theo…
Các văn bản PL phải đòi hỏi diễn đạt ………
….………
………
………
………
Các văn bản PL phải đòi hỏi diễn đạt ………
….………
………
………
………
Trang 17Học sinh lớp 12C2 trường THPT Nghi Lộc 4 trong giờ kiểm tra bài cũ bằng sơ đồ
tư duy
2.2 Sử dụng sơ đồ tư duy để học sinh chuẩn bị bài mới
Với đặc thù môn GDCD một tuần chỉ có một tiết học (Ngoại trừ một số íttrường có tăng thêm tiết tự chọn ở một số lớp), nội dung các tiết học lại khá dài Vìthế, để các em có thể tiếp cận nhanh, hiểu và ghi nhớ được nội dung thì việc vậndụng sơ đồ tư duy để HS chuẩn bị bài mới là vô cùng quan trọng Để làm được
điều này, giáo viên cho hoc sinh về nhà lập sơ đồ tư duy vào vở bài tập dưới sự gợi
ý của giáo viên Học sinh được hướng dẫn học tập độc lập, sử dụng sơ đồ tư duy đểphát triển tư duy lôgic, tiếp cận với kiến thức mới dễ dàng hơn Qua đó rất thuậnlợi cho việc nắm kiến thức bài mới giáo viên sẽ dạy
Sơ đồ tư duy là sơ đồ mở nên không yêu cầu các em, phải có cùng 1 kiểu sơ
đồ, tùy khả năng sáng tạo của mỗi học sinh Khi các em chuẩn bị bài trước bằng sơ
đồ sẽ giúp các em định hình được kiến thức sẽ học từ đó việc tiếp cận kiến thức sẽ
dễ dàng hơn
Lưu ý: Nội dung vẽ cần ngắn gọn; Viết phải có tổ chức; Không ghi lại cảđoạn văn dài dòng; Không ghi chép quá nhiều ý vụn vặt; Tránh vẽ quá cầu kỳ mấtthời gian
Trang 18Học sinh lớp 12A2 trường THPT 1-5 tóm tắt Quyền bình đẳng trong hôn nhân và
gia đình
2.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học bài mới
Để việc dạy học GDCD có chất lượng, không bị nhàm chán, tiết học GDCDkhông trở nên khô khan thì người giáo viên phải có cách thiết kế bài dạy một cáchhợp lý, phải linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp và phương tiện dạyhọc Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học GDCD không chỉ là một gợi ý cho cáchtrình bày mà còn làm cho bài dạy trở nên dễ hiểu, dễ nhớ, tạo nên sự hứng thú chohọc sinh trong quá trình học Tùy thuộc vào từng bài dạy, từng đơn vị kiến thức, sẽ
có những sơ đồ tư duy khác nhau
Ở một số bài mới, tôi không ghi tiêu mục theo cách cũ mà vẽ chủ đề chính củabài lên bảng Sau đó, tôi cho các em ngồi theo nhóm, thảo luận sơ đồ tư duy củamỗi học sinh đã chuẩn bị trước ở nhà, đối chiếu với sơ đồ tư duy của các bạn trongnhóm Tôi đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh chính số 1 vàgọi học sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề chia thành các nhánh lớn lên bảng và cóghi chú thích lên từng nhánh lớn Sau khi học sinh ghi xong nhánh chính số 1, tôitiếp tục đặt câu hỏi ở nhánh thứ nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2… Cứ như vậy,học sinh sẽ tìm hiểu kiến thức và hoàn thành sơ đồ tư duy dễ dàng
Để minh họa cho sơ đồ tư duy tôi thường minh họa bằng hình ảnh, đoạn video
để học sinh rõ hơn về các cấp số 1, cấp số 2…
Chẳng hạn, khi dạy bài 4: “Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh
vực của đời sống xã hội”, mục 1: Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình, để học
sinh nắm được khái niệm, nội dung, ý nghĩa của quyền bình đẳng trong hôn nhân
và gia đình Sau khi giới thiệu xong nội dung kiến thức cần nắm trong bài học, tôi tổchức cho học sinh làm việc cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ, dựa vào nội dung trong sáchgiáo khoa, các bài tập tình huống mà giáo viên đưa ra Sau khi các em hoàn thiện phần
Trang 19bài làm của mình, tôi sẽ cho các em trình bày sơ đồ tư duy của mình lên bảng (cũng cólớp nếu các em đã chuẩn bị miếng bìa to và nhóm trình bày vào đó thì cho các em lênbảng treo và trình bày phần chuẩn bị của mình) Các em sẽ đóng góp ý kiến, tôi chỉđóng vai trò là người cố vấn và sửa những lỗi về mặt kiến thức Cuối cùng tôi cùnghọc sinh hoàn thiện được một sơ đồ tư duy kiến thức theo ý muốn của mình.
Khi các em hoàn thiện và nắm được sơ đồ tư duy về bình đẳng trong hôn nhân vàgia đình, tôi đã cho các em giải quyết các bài tập trắc nghiệm lần lượt theo các mức độ:nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao đối với mục 1 của bài 4 Kết quảcho thấy, hầu hết các em đều trả lời rất nhanh và chính xác các câu hỏi ở 3 mức độ:nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp Câu hỏi mức độ vận dụng cao khoảng hơn 50%
số học sinh (chủ yếu là học sinh khá, giỏi) trả lời được Đặc biệt, các em đều rất thích
và rất hứng thú khi học theo phương pháp này
2.4 Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức bài học
Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong củng cố bài học GDCD là một cách củng cốbài học dễ nhớ, dễ hiểu và mạch lạc nhất Sau bài học, giáo viên có thể cho họcsinh thiết kế một sơ đồ tư duy theo cách hiểu của các em Mỗi em sẽ có một sựsáng tạo riêng, một màu sắc riêng
BĐ giữa
ông bà và cháu
BĐ giữa anh chị em
Trong
QH nhân thân
Trong
QH nhân thân
Trong
QH tài sản
Trong
QH tài sản
Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với các con…
Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với các con…
Ông bà có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, sống mẫu mực; con chúa phải kính trọng; …
Ông bà có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, sống mẫu mực; con chúa phải kính trọng; …
Anh chị em phải chăm sóc; giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ đùm bọc nhau…
Anh chị em phải chăm sóc; giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ đùm bọc nhau…
Có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc lựa chọn nơi
Có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung …….
Trang 20Giáo viên có thể giao cho học sinh vẽ sơ đồ thiếu nội dung kiến thức cụ thể hoặcđầy đủ lượng kiến thức của bài học vừa được dạy, cho học sinh hoạt động cá nhânhoặc nhóm Tuy nhiên, các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài đểmột lần nữa khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm bài học.
Ví dụ: Sauk hi dạy xong chủ đề: “Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội”, đây là bài học trong 4 tiết nên việc củng cố lại kiến
thức để các em khắc sâu, đồng thời có sự kết nối giữa các tiết học là điều cần thiết Saukhi học sinh đã tự thiết kế cho mình một sơ đồ tư duy xong thì tôi củng cố kiến thứcbài học cho học sinh với sơ đồ tư duy mà tôi đã chuẩn bị sẵn
Qua việc củng cố bài học theo hình thức này học sinh sẽ nhớ lâu, nhớ kỹ nộidung bài học và phát huy được tính sáng tạo, tư duy của mình, các em sẽ yêu thíchmôn GDCD hơn
Sản phẩm của nhóm 4-lớp 12A8 trường THPT 1-5 học sinh sau khi hoàn thành
2.5 Sử dụng sơ đồ tư duy để ra bài tập về nhà
Sau mỗi tiết học, để học sinh có thể nắm bài và học bài tốt hơn, tôi thường rabài tập về nhà phù hợp với thời gian, trình độ của học sinh So với một số yêu cầutrên lớp, bài tập về nhà cũng cần khó hơn, mang tính khái quát, tổng hợp hơn và
Trang 21cần có sự đầu tư lớn hơn nhất là những em theo khối C; D Qua một số bài tập này,giáo viên sẽ thấy được tính sáng tạo cũng như sự tích cực trong việc tìm hiểu thôngtin, tìm kiếm tài liệu của học sinh
Chẳng hạn, để dạy tốt bài 5: “Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo”
tôi giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà tìm kiếm nội dung của bài học theo các câuhỏi cuối mỗi mục trong bài Mặt khác, yêu cầu học sinh sưu tầm một số tranh ảnh
có liên quan đến bài học Đồng thời, tự mình vẽ sơ đồ tư duy theo ý hiểu và sự tìmhiểu của mình
HS lớp 12C3 trường THPT Nghi Lộc 4 tóm tắt nội dung bài 5: Quyền bình
đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo
Khi dạy học, tôi cũng chuẩn bị sẵn một sơ đồ tư duy để giới thiệu và nhấnmạnh kiến thức để học sinh nắm chắc, nhớ sâu kiến thức bài học
Trang 22Sơ đồ tư duy quyền bình đẳng giữa các dân tộc
2.6 Sử dụng sơ đồ tư duy để ôn tập kiến thức
Việc ôn tập, tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức theo từng phần, từng mục, từngbài hay từng vấn đề là vô cùng quan trọng, cần thiết, nhất là đối với các em họcsinh khối 12 Với phương pháp thi mới - thi trắc nghiệm thì việc học sinh nhớ kiếnthức, hiểu vấn đề, có tư duy lôgic, vận dụng nhanh để nhìn nhận và hiểu vấn đề làrất quan trọng Nhiều giáo viên đã từng sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thứcsong phương pháp chủ yếu vẫn là thầy cung cấp, thầy tổng hợp còn trò tiếp thumột cách thụ động Với thế mạnh là hệ thống hóa được kiến thức dưới dạng sơ đồ,các đường nối là mạch diễn tả, mạch lôgic kiến thức hoặc các mối quan hệ nhânquả, quan hệ tương đương, cộng thêm màu sắc của các đường nối, sơ đồ tư duy sẽgiúp học sinh có cái nhìn tổng thể, tổng quát cả một phần kiến thức đã học, đặcbiệt các em đóng vai trò trung tâm và chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức (Phụlục 1, 2, 3)
Để sử dụng sơ đồ tư duy trong ôn tập kiến thức một cách hiệu quả, giáo viêncũng có thể sử dụng linh hoạt theo nhiều cách khác nhau Giáo viên có thể giao bàitập cho học sinh về nhà, hướng dẫn học sinh cách làm, sau đó đến tiết ôn tập, củng
cố hoặc đến cuối bài, giáo viên cho các em trao đổi với nhau và đối chiếu với sơ đồ
tư duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn Hoặc, giáo viên cũng có thể đưa ra một sơ đồ
Trang 23tư duy mở, vẽ các nhánh chính và nhánh phụ… Tuy nhiên, giáo viên không cầnthiết phải đưa ra các nhánh vẽ đầy đủ, chính xác, sau đó yêu cầu các em xây dựng
sơ đồ tư duy Theo nhận thức của các em, sơ đồ tư duy có thể sửa, thêm hoặc bớtcác thông tin với các nhánh phù hợp Các cá nhân và các nhóm sau khi chuẩn bị vàcác em lên bảng trình bày Các nhóm khác ở nhận xét về cách trình bày và bổ sungnếu cần thiết… Trong các tiết ôn tập hoặc đối với những bài giảng dạy trong nhiềutiết, trong phần ôn tập và củng cố bài, thiết nghĩ đây là cách làm tối ưu để các emkhắc sâu kiến thức, nhớ lâu, hiểu kỹ vấn đề Đây là phương pháp có thể áp dụng ởbất kỳ cơ sở vật chất của nhà trường, các sản phẩm tư duy có thể viết trên giấy,trên mảnh bìa, trên bảng hoặc trên phần mềm mind-map
Ví dụ: Trước khi ôn tập cuối kỳ I: tôi yêu cầu học sinh về nhà chuẩn bị và vẽ
sơ đồ tư duy về những kiến thức đã học Đến tiết học, tôi yêu cầu hai em lên trìnhbày sản phẩm tư duy của mình và thuyết trình trước lớp, các bạn khác sẽ đóng góp
ý kiến và hoàn thiện bản đồ tư duy dưới sự cố vấn của tôi
Học sinh Lê Huyền Trang; Trần Thị Khánh Lộc – lớp12A2 trường THPT 1-5 lên
vẽ sơ đồ tư duy sau khi đã chuẩn bị ở nhà
Trang 24Sơ đồ tư duy sau khi các em hoàn thành
Với sự chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức của các em, tiết học trở nênrất sôi nổi và hầu hết các em đều nắm được những nội dung quan trọng trongchương trình GDCD 12 của học kỳ I để làm bài kiểm tra cuối kỳ đạt hiệu quả caonhất
Mỗi một chủ đề là lượng kiến thức rất nhiều do vậy muốn đạt hiệu quả caotrong ôn tập chủ đề thì những nội dung trước cần làm tốt Khi học sinh đã nhớ vàhiểu nội dung từng bài qua sơ đồ thì việc hình thành sơ đồ tổng quát theo chủ đề làrất dễ dàng, từ khóa đến đâu thì các em sẽ hình dung ra các nội dung nhỏ trong đóTrước hết từ một vấn đề lớn hay một chủ đề lớn, giáo viên phải dẫn dắt học sinhtìm được các nội dung chính, khái quát nhất sau đó tiếp tục tìm ra các ý lớn của nộidung chính, mỗi ý lớn lại tiếp tục tìm kiếm ý nhỏ,…
Việc sử dụng sơ đồ tư duy vào để ôn tập chủ đề sẽ giúp học sinh có cái nhìnkhái quát nhất, ngắn gọn nhất, dễ nhớ nhất nội dung bài học, giúp các em ghi nhớ,
ôn tập, liên kết các kiến thức một cách mạch lạc nhất.(Phụ lục 3)
III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Trang 25Lộc 4, Tỉnh Nghệ An nơi chúng tôi đang giảng dạy để học sinh chuẩn bị hànhtrang cho kỳ thi TN THPT năm 2022.
3 Phương pháp thực hiện
Sau khi học tập kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên trường THPT Nghi Lộc 4,
Tôi tiến hành dạy thực nghiệm ở hai lớp (Lớp 12A8 tổng số 40 HS và lớp 12A2tổng số 41 HS) của trường THPT 1-5 theo mẫu giáo án thiết kế của đề tài và hai tiết
ở lớp đối chứng (Lớp 12A4 tổng số 37 HS và lớp 12A6 tổng số 28 HS) theo mẫugiáo án từ trước tới nay vẫn làm trong học kỳ I của năm học 2021-2022 Sau khi dạyxong tiến hành đánh giá sự tiến bộ của học sinh So sánh kết quả đánh giá ở lớp thựcnghiệm và đối chứng để rút ra các kết luận cần thiết
4 Thiết kế giáo án có sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy học các chủ đề cho học sinh lớp 12
Trong những năm qua, bản thân tôi luôn trăn trở là làm thế nào để nâng caochất lượng, hiệu quả dạy học cho các em học sinh lớp 12 Bởi đây là năm cuối cấpcác em cần trang bị cho mình những kiến thức tốt nhất, vững vàng nhất để đối đầuvới kỳ thi TN vô cùng quan trọng Tôi đã cố gắng rất nhiều trong đổi mới cách dạy
và các học để tạo hứng thú học tập cho học sinh trong giờ học môn GDCD Tuynhiên, trong quá trình dạy tôi thấy học sinh không hào hứng mà có biểu hiện uểoải, không tập trung Qua 5 năm dạy học lớp 12, tôi tiến hành khảo sát cộng với kìthi thử TN THPT lần 1 năm học 2021-2022 của nhà trường thì kết quả cho thấychất lượng rất thấp Học sinh đạt điểm dưới trung bình còn rất nhiều, điểm từtrung bình trở lên chỉ chiếm 50% Từ kết quả đó, bản thân tôi rất băn khoăn, trăntrở không biết cần phải có cách ôn như thế nào để giúp học sinh hứng thú học,không đơn điệu và nhàm chán, giúp các em hiểu bài, nhớ lâu và có kĩ năng làm bài
để đạt kết quả mong đợi
Trong những lần học tập chuyên đề môn GDCD, qua giao lưu, học hỏi vớitrường bạn, đặc biệt là trường THPT Nghi Lộc 4, tôi phát hiện ra rằng các trườngbạn thường xuyên sử dụng kỷ thuật sơ đồ tư duy để nâng cao chất lượng dạy họcmôn GDCD lớp 12 Để sử dụng sơ đồ tư duy dạy học một cách khoa học, có hệthống, chúng ta cần:
Bước 1: Hệ thống chương trình môn GDCD lớp 12
Tổng thể chương trình lớp 12 gồm 35 tiết/35 tuần với 9 bài với tổng số tiết
21 tiết lý thuyết, 8 tiết ôn tập, 2 tiết thực hành; 4 tiết kiểm tra (giữa kỳ và cuối kỳ)
PPCT
Ghi chú
3 Chủ đề: Quyền bình đẳng của công dân trong
một số lĩnh vực của đời sống xã hội 4
4 Bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn 1
Trang 265 Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản 4
6 Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ 3
7 Bài 8: Pháp luật với sự phát triển của công dân 3
8 Bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của
đất nước
2
Căn cứ vào chương trình tổng thể và nội dung từng bài, từng chủ đề với bộmôn GDCD kiến thức chủ yếu là lí thuyết, lượng kiến thức vừa dài, lại khá trừutượng bởi vậy để tiếp tục nâng cao hiệu quả dạy và học cho HS, tôi đã chọn cách
sử dụng “Sơ đồ hóa kiến thức trọng tâm” qua các bài cụ thể để dẫn dắt học sinh kếthợp việc sử dụng phương pháp tình huống, đóng vai, trò chơi, câu chuyện phápluật,… nêu vấn đề để gợi mở triển khai nội dung, gợi lại kiến thức đã học giúp các
+ Giúp học sinh hiểu được:
- Người có hành vi tham nhũng là người vi phạm pháp luật, xâm phạmquyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước
- Người có hành vi tham nhũng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định
của pháp luật
2 Về kĩ năng.
- Giúp học sinh biết cách thực hiện pháp luật phù hợp với lứa tuổi
- Phân biệt hành vi vi phạm pháp luật do tham nhũng với các hành vi viphạm pháp luật khác
- Phân biệt trách nhiệm pháp lí đối với vi phạm luật do tham nhũng với các
- Đồng tình với việc xử lí vi phạm đối với người có hành vi tham nhũng.
4 Các năng lực và phẩm chất hướng tới hình thành và phát triển ở học sinh
- Về phẩm chất: Thông qua việc giảng dạy sẽ góp phần hình thành,
phát triển cho học sinh các phẩm chất như: nhân ái, trung thực, trách nhiệm
- Về năng lực:
Năng lực chung: năng lực tự học và tự chủ, năng lực giao tiếp và hợp tác,
năng lực giải quyết vấn đề
Trang 27Năng lực đặc thù môn GDCD: thông qua bài học sẽ góp phần hình thành,
phát triển cho học sinh như: năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực phát triển bản thân
II SƠ ĐỒ HÓA KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
Khái niệm: Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của
pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
Các hình thức thực hiện pháp luật
Sử dụng pháp luật : Các cá nhân, tổ chức sử dụng đúng đắn
các quyền của mình, làm những gì mà pháp luật cho phép làm.
Thi hành pháp luật : Các cá nhân , tổ chức thực hiện đầy đủ những
nghĩa vụ, chủ động làm những gì mà pháp luật quy định phải làm.
Tuân thủ pháp luật : Các cá nhân , tổ chức kiềm chế để không
làm những điều mà pháp luật cấm làm.
Áp dụng pháp luật : Các cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quyền căn cứ
vào pháp luật để ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hoặc thay đổi việc
thực hiện các quyền, nghĩa vụ cụ thể của cá nhân, tổ chức.
Các loại
vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí.
Mục đích TNPL: Buộc cá chủ thể vi phạm
pháp luật chấm dứt hành vi trái PL, giáo dục, răn đe những người khác để họ tránh, hoặc kiếm chế những việc làm trái pháp luật.
Vi phạm hình sự: Là những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm
quy định tại Bộ luật Hình sự Ngườiphạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.
Vi phạm hành chính: Là hành vi vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm cho
xã hội thấp hơn tội phạm, xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước Người vi
phạm phải chịu trách nhiệm hành chính.
Vi phạm dân sự: Là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm tới các quan hệ tài
sản và quan hệ nhân thân Người vi phạm phải chịu trách nhiệm dân sự.
Vi phạm kỉ luật: Là vi phạm pháp luật xâm phạm các quan hệ lao
động, công vụ nhà nước … do pháp luật lao động, pháp luật hành chính bảo vệ Người vi phạm phải chịu trách nhiệm kỉ luật.
Trang 28Từ sơ đồ trên, giáo viên có thể tiến hành theo 2 cách sau:
Cách 1: Giáo viên vẽ sơ đồ đã thiết kế ở hình trên vào tờ giấy A4 bằng cách
chuẩn xác hóa kiến thức khung (cơ bản) từ đó sử dụng câu hỏi đàm thoại và gợi
mở để học sinh tiếp tục tìm hiểu kiến thức cụ thể để hoàn thiện bài học một cáchtuần tự có hệ thống và chi tiết từng nội dung Bằng hình ảnh trực quan, học sinhquan sát lưu lại trong não bộ một hệ thống khung kiến thức, từ đó giải mã khungkiến thức bằng việc giải quyết nội dung qua sự gợi mở của giáo viên Trong sơ đồhóa, giáo viên sử dụng bút màu để ghi đậm các từ, cụm từ (gọi là từ khóa) để dễquan sát, gây sự chú ý, nhớ lâu hơn, chính xác hơn giúp học sinh không bị nhầmkhái niệm này với khái niệm khác, không nhầm kiến thức phần này với kiến thứcphần khác, đảm bảo tính chính xác giúp cho việc xác định đáp án đúng trong đềnhanh chóng và chính xác hơn
Cách 2: Giáo viên sử dụng phần mềm sơ đồ hóa trên máy tính để chiếu hình
ảnh lên máy chiếu cho học sinh quan sát
Trước khi chiếu sơ đồ hóa kiến thức, giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh như:Bài này các em cần nắm những kiến thức cơ bản nào? (HS liệt kê kiến thức)sau đó giáo viên chốt
Sau khi chốt kiến thức, giáo viên chiếu sơ đồ hóa kiến thức ở hình đã thết kế
ở trên cho học sinh quan sát và ghi nhớ, từ đó giáo viên sử dụng phương pháp nêuvấn đề, vấn đáp học sinh tìm hiểu cụ thể nội dung bài học Qua sơ đồ hóa kiến thức
Trang 29giáo viên sẽ nhấn mạnh các từ, cụm từ mang tính chất từ khóa để học sinh khắcsâu, nhớ lâu kiến thức để vận dụng vào việc giải quyết câu hỏi trắc nghiệm kháchquan
Tôi thực hiện theo 2 cách làm trên vì căn cứ vào đặc trưng môn GDCD thì
sơ đồ hóa kiến thức đã chứng tỏ được ưu thế và hiệu quả trong nhiều bài để ôn tậpcho học sinh Đặc biệt là những bài cung cấp lí thuyết, bài dài, nhiều kiến thức,kiến thức gần giống nhau như: Bài 2: Thực hiện pháp luật – GDCD 12
Bài này theo PPCT là 3 tiết học, nhiều nội dung như:
- Khái niệm: Thực hiện pháp luật
- Các hình thức thực hiện pháp luật: Gồm 4 khái niệm
- Khái niệm: Vi phạm pháp luật
- Trách nhiệm pháp lí
- Các loại vi phạm pháp luật: Gồm 4 khái niệm
- Các loại trách nhiệm pháp lí: Gồm 4 loại trách nhiệm pháp lí
Với lượng kiến thức nhiều như vậy mà giáo viên không sử dụng sơ đồ hóa
để khái quát kiến thức chắc chắn học sinh sẽ không thể nhớ kiến kiến thức chứchưa nói đến việc hiểu kiến thức hơn nữa có thể học sinh bị lẫn lộn bởi nội dungcác khái niệm Chẳng hạn 4 khái niệm của các hình thức thực hiện pháp luật gầngiống nhau qua nhiều năm học sinh hay bị lẫn vì có khi khái niệm chỉ khác một vài
từ còn tổng thể cứ gần như nhau Chẳng hạn như:
Sử dụng pháp luật: Cá nhân, tổ chức sử dụng đúng đắn các quyền củamình, làm những gì mà pháp luật cho phép làm.
Thi hành pháp luật: Các cá nhân, tổ chức thực hiện đầy đủ những nghĩa
vụ, chủ động làm những gì mà pháp luật quy định phải làm.
Tuân thủ pháp luật: Các cá nhân, tổ chức không làm những điều mà pháp luật cấm.
quy định của PL để làm phát sinh, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên…
Trang 30Các khái niệm của các hình thức thực hiện pháp luật trên đây gần giốngnhau vì vậy học sinh dễ nhầm, dẫn đến hay làm sai Do vậy, sử dụng sơ đồ hóa sẽgiúp học sinh hiểu kiến thức, nhớ một cách chính xác để vận dựng vào bài làm củamình đạt hiệu quả cao nhất Ở bài 2 không chỉ dừng lại ở các khái niệm, các hìnhthức thực hiện pháp luật làm học sinh dễ nhầm mà nội dung về các loại vi phạmpháp luật và trách nhiệm pháp lí kiến thức dài, nội dung nhiều học sinh rất khó nhớ
bởi ngoài 4 khái niệm: Vi phạm hình sự; Vi phạm hành chính; Vi phạm dân sự; Vi phạm kỉ luật thì học sinh còn phải nắm được chủ thể vi phạm; chủ thể áp dụng; độ
tuổi; chế tài xử phạt Từ thực tế đó, giáo viên muốn học sinh dễ hiểu cần phải sửdụng sơ đồ hóa kiến thức giúp học sinh tường minh từng vấn đề và ghi nhớ từngvấn đề nội dung bài học có như vậy mới đảm bảo cho việc nắm bài và thực hànhqua bài thi kiểm tra một cách hiệu quả
Trong những bài học như vậy, giáo viên và học sinh có thể dùng sơ đồ hóakhái quát toàn bộ nội dung bài học, những kiến thức cơ bản và trình bày một cáchtường minh trong sách giáo khoa
Nội dung kiến thức giáo viên gợi mở, vấn đáp học sinh được thể hiện quanhiều nhánh cấp1, cấp 2, cấp 3 vv mỗi nhánh là một chuỗi kiến thức cơ bản trọngtâm mà học sinh cần đạt được
Sau đó dựa vào các nội dung chính trong bản đồ tư duy, GV tiếp tục hướngdẫn gợi mở để phân tích kĩ hơn nội dung kiến thức bài học Việc sử dụng bản đồ tưduy trong bài học này giúp cho GV nêu vấn đề, vấn đáp và học sinh dựa vào SKG
và hồi tưởng lại kiến thức đã học để trả lời theo hệ thống thiết lập thành một bảng
hệ thống kiến thức đầy đủ, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ Đồng thời khi nội dung bàihọc đã được hệ thống tinh gọn trên bản đồ tư duy, GV và học sinh có nhiều thờigian tìm hiểu, nhớ và nhắc lại kiến thức đã học trong bài
5 Kết quả thực nghiệm
5.1 Trước khi áp dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn GDCD
- Nhiều học sinh có tâm lý ngại học, chủ yếu học để thi, bài nào biết bài đó,học vẹt, học thuộc lòng mà không nắm được bản chất của bộ môn, hay nói cáchkhác các em học đối phó là chủ yếu
- Trong giờ học, có nhiều em không thực sự tập trung, tâm lý uể oải trong quátrình học vẫn còn
- Kết quả trong kiểm tra, đánh giá chưa cao Hơn 10% học trung bình Số họcsinh thực sự hứng thú với môn GDCD không nhiều
5.2 Sau khi áp dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn GDCD
Lớp đối
chứng
Sỹsố
Số HSgiỏi (Tỷ lệ
%)
Số HSKhá (Tỷ
lệ %)
Số HS TB(Tỷ lệ %)
Số HS Yếu(Tỷ lệ %)
Số HS kém(Tỷ lệ %)