B Khái niệm: Thị trường ngoại tệ giao sau currency future markets là thị trường giao dịch các hợp đồng mua bán ngoại tệ giao sau, sau đây gọi tắt là hợp đồng giao sau .Thị trường giao s
Trang 1Luận văn
Thị trường ngoại tệ giao
sau trên thế giới
Trang 2I) Giới thiệu chung về thị trường ngoại tệ giao sau: 4
1) Thị trường ngoại tệ giao sau: 4
A) Lịch sử hình thành: 4
B) Khái niệm: 4
C) Đặc điểm: 5
a) Giá cả: 5
b) Thanh toán bù trừ: 5
c) Ký quỹ: 5
d) Thỏa thuận chuyển giao: 6
e) Thời điểm giao hàng: (thời điểm đáo hạn hợp đồng): 7
f) Giới hạn mức đầu tư: 7
g) Thuế và phí giao dịch: 7
D) Thành phần tham gia giao dịch: 8
a) Những nhà đầu cơ (speculator): 8
b) Những người phòng hộ (hedgers): 9
c) Những người đầu cơ hưởng chênh lệch (Arbitrageurs): 9
d) Những đối tượng trên sàn giao dịch: 9
e) Những đối tượng khác tham gia trên thị trường: 10
E) Các loại lệnh để giao dịch: 10
2) Hợp đồng giao sau ngoại tệ: 12
A) Khái niệm: 12
B) Đặc điểm: 13
C) Giá hợp đồng giao sau: 14
a) Xác định giá hợp đồng giao sau: 14
b) Niêm yết giá: 15
D) Mục đích sử dụng hợp đồng giao sau: 18
a) Sử dụng hợp đồng giao sau vào mục đích đầu cơ: 18
b) Sử dụng vào mục đích phòng tránh rủi ro: 19
E) So sánh hợp đồng giao ngay và hợp đồng giao sau: 24
Trang 3a) Giống nhau: 24
b) Khác nhau: 25
F) Rủi ro Basic của hợp đồng giao sau: 26
a) Mối quan hệ giữa thị trường giao ngay và giao sau: 26
b) Sự hội tụ của giá giao sau và giá giao ngay vào ngày đáo hạn: 26
i) Basic dương: 26
ii) Basic âm: 27
II) Thị trường ngoại tệ giao sau CME: 29
1) Khái quát về quá trình hình thành và phát triển: 29
2) Quy Mô Hoạt Động: 32
A) Văn phòng hoạt động: 32
B) Nhân sự: 32
C) Các chỉ số tài chính: 33
D) Danh mục sản phẩm & dịch vụ: 33
3) Thành viên tham gia: 34
A) Cá Nhân (Individual membership): 35
B) Đoàn thể (Corporate memberships): 35
C) Đoàn thể điện tử (Electronic corporate memberships): 36
4) CÁCH THỨC TỔ CHỨC: 37
A) Sản phẩm (Product): 37
a) Các loại sản phẩm: 37
b) Kích cỡ hợp đồng (Contract Size): 39
c) Giới hạn mức đầu tư (Position Accountability): 39
d) Thời điểm chuyển giao (Months): 40
e) Giới hạn dịch chuyển giá tối thiểu (Tick size): 40
B) Bảng yết giá: 40
C) Thời gian giao dịch (trading hours): 41
D) Các loại lệnh: 41
a) Giới hạn (Limit): 42
b) Thị trường có giới hạn (Market to Limit): 42
c) Thị trường có phòng ngừa (Market with Protection): 42
Trang 4d) Dừng có giới hạn (Stop limit): 43
e) Dừng có phòng ngừa (Stop with Protection): 43
f) Số lượng nhỏ nhất (Minimum Quantity): 43
g) Ẩn số lượng (Hidden Quantity): 43
E) Phòng giao hoán (Clearing house): 44
F) Hạn mức duy trì tài khoản (Maintenance level): 44
G) Ghi điểm thị trường (Mark-to-Market): 45
H) Phí giao dịch (fees): 46
5) CÁCH THỨC GIAO DỊCH: 48
A) Quy trình: 48
B) Giao dịch trên sàn (Trading floor): 49
a) Phân biệt các đối tượng trên sàn: 49
b) Tín hiệu tay (Hands signal): 51
C) Giao dịch trên hệ thống điện tử (Electronic trading): 54
a) Các thời điểm của thị trường (Market States): 54
i) Trước khi mở cửa (Pre-Opening): 55
ii) Thời gian đặt lệnh (Pre-Opening/No-Cancel): 55
iii) Mở cửa (Open): 55
iv) Sau khi đóng cửa/ trước khi mở cửa (Post Close/Pre open (PCP): 55 v) Tạm dừng (Pause): 56
vi) Đóng cửa (Closed): 56
vii) Bảo trì (Maintenance Period): 56
b) Kết nối với thị trường: 56
Trang 5I) Giới thiệu chung về thị trường ngoại tệ giao sau:
1) Thị trường ngoại tệ giao sau:
Trên thế giới hiện có nhiều thị trường khác cũng tiến hành giao dịch hợp đồng future Tiêu biểu trong số đó là: Bolsa de Mercadorias Futuros (BM&F) ở Sao Paulo ,The London International Financial Futures Exchange (LIFFE) ,The Swiss Option and Financial Futures Exchange (SOFFEX) ,The Tokyo International Financial Futures Exchange (TIFFE) ,The singapore International Monetary Exchange (SIMEX) ,The Sydney Futures Exchange (SFE)
- Ngày nay, thị trường giao sau hiện nay hoạt động liên tục thông qua hệ thống Globex nối liền 12 trung tâm tài chính lớn trên thế giới Sự thay đổi giá cả của các loại hàng hóa chuyển biến từng giây một và gây ảnh hưởng không chỉ đến nền kinh tế của một quốc gia mà cả khu vực và toàn thế giới
B) Khái niệm:
Thị trường ngoại tệ giao sau (currency future markets) là thị trường giao dịch các hợp đồng mua bán ngoại tệ giao sau, sau đây gọi tắt là hợp đồng giao sau Thị trường giao sau thực chất chính là thị trường có kỳ hạn được tiêu chuẩn hóa về loại ngoại tệ giao dịch, số lượng ngoại tệ giao dịch và ngày chuyển giao ngoại tệ
Trang 6Các hợp đồng giao sau được giao dịch trên thị trường có tổ chức, gọi là sở giao dịch giao sau, được thanh toán bù trừ thông qua các trung tâm bù trừ được ủy quyền Sở giao dịch sẽ thiết kế một cơ chế bù trừ rất tinh tế, phức tạp để tối thiểu hóa mức độ rủi ro do mất khả năng thanh toán
C) Đặc điểm:
a) Giá cả:
Giá cả được quyết định bởi các điều kiện cung cầu, nếu trên thị trường có nhiều người mua hơn người bán, giá hàng hóa sẽ tăng lên nhanh chóng, ngược lại trên thị trường mà người mua ít hơn người bán, giá sẽ giảm.Điều kiện cung cầu được hình thành do các lệnh đặt mua và bán khắp nơi trên thế giới đổ về và được tập trung tại sàn giao dịch thì sẽ trở thành các hợp đồng giao sau với những điều kiện ràng buộc nhất định giữa bên bán và bên mua Chính vì cơ chế đấu giá và cơ chế vận hành của thị trường giao sau đã làm giá cả hàng hóa phản ánh đúng giá trị thực của nó
b) Thanh toán bù trừ:
Phòng thanh toán bù trừ của thị trường là bộ phận bổ sung trên thị trường
và hoạt động như là bộ phận trung gian đối với những giao dịch hợp đồng tương lai Nhiệm vụ chủ yếu của phòng thanh toán là giữ cho tất cả các giao dịch được thực hiện trong ngày để tính toán vị thế của mỗi thành viên
Nhà đầu tư được yêu cầu giữ khoản ký quỹ với nhà môi giới, thành viên của phòng thanh toán bù trừ được yêu cầu giữ mức ký quỹ với phòng thanh toán
bù trừ Mức này gọi là mức ký quỹ thanh toán Khoản ký quỹ của thành viên ở phòng thanh toán bù trừ để điều chỉnh mức lời hoặc lỗ vào cuối mỗi ngày giao dịch theo cách tương tự như các nhà đầu tư
c) Ký quỹ:
Các khoản lãi , lỗ của hợp đồng giao sau được chi trả hàng ngày vào cuối giờ giao dịch Một nhà đầu tư không có khả năng chi trả thì sẽ buộc ngưng giao dịch, chính vì thế mà thị trường giao sau yêu cầu các bên tham gia trên thị trường phải ký quỹ
Trang 7Số tiền ký quỹ thùy thuộc vào số lượng hợp đồng và những quy định của sàn giao dịch giao sau
Tuy nhiên, chỉ có ba loại ký quỹ:
Mức ký quỹ ban đầu: do sàn giao dịch ấn định, và có thể hoàn lại dựa trên tính thanh khoản của các trạng thái Mức ký quỹ thường chiếm khoảng 5-15% giá trị hợp đồng
Mức ký quỹ duy trì là số dư tối thiểu trên tài khoản ký quỹ để duy trì một trạng thái mở sau khi đánh giá lại hàng ngày theo giá trị thị trường và điều chỉnh lãi lỗ
Mức quỹ bổ xung: khi số dư tối thiểu hoặc số tiền ký quỹ ban đầu bị thiếu hụt theo quy định của trung tâm thanh toán bù trừ, các nhà đầu tư cần thực hiện ký quỹ bổ xung
Mức tối thiểu ký quỹ ban đầu và duy trì do thị trường xác định Các mức
ký quỹ được xác định bởi nhiều biến đổi về giá của tài sản cơ sở Biến đổi càng lớn mức ký quỹ càng cao Mức ký quỹ duy trì khoảng 75% mức ký quỹ ban đầu
Ví dụ: về mức ký quỹ hợp đồng của đồng Peso Colombia của thị Nymex
có mức ký quỹ ban đầu là 2.750USD và hạn mức duy trì là 2.500USD:
d) Thỏa thuận chuyển giao:
Địa điểm giao hàng trong hợp đồng giao sau do thị trường trao đổi ấn định Việc giao hàng này xảy ra khi các bên mong muốn thi hành hợp đồng Khi địa điểm giao hàng được chọn, giá cả mà người bán nhận được điều chỉnh theo địa điểm giao hàng
Trang 8e) Thời điểm giao hàng: (thời điểm đáo hạn hợp đồng):
Hợp đồng tương lai thường chỉ rõ tháng giao hàng Đối với nhiều hợp đồng tương lai, thời gian giao hàng là trọn tháng
Tháng giao hàng thay đổi theo từng hợp đồng và được thị trường giao dịch chọn lựa để đáp ứng nhu cầu của những thành viên tham gia thị trường Thông thường, hợp đồng tương lai về tiền tệ ở thị trường IMM có tháng giao hàng là 3,6,9 và 12
Tại một thời điểm bất kỳ, hợp đồng sẽ được thực hiện trong tháng giao hàng gần nhất và một số tháng giao hàng tiếp sau đó
Thị trường sẽ nêu rõ khi nào thì bắt đầu tháng giao hàng và ngày cuối cùng phải thực hiện giao dịch đối với một hợp đồng cụ thể
Ví dụ về thời điểm giao hàng của hợp đồng EUR/USD ở thị trường Nymex có thời điểm giao hàng của hợp đồng trên là tháng 3, 6, 9 và 12:
f) Giới hạn mức đầu tư:
Giới hạn mức đầu tư là số lượng hợp đồng tối đa mà nhà đầu cơ có thể nắm giữ Mục đích của giới hạn là ngăn các nhà đầu cơ không được đầu cơ quá mức làm ảnh hưởng đến thị trường
*Ví dụ về hợp đồng tương lại USD/JPY tại thị trường TIFFE (Tokyo) có giới hạn mức đầu tư là 500 hợp đồng
g) Thuế và phí giao dịch:
Thuế (taxes): Mọi thông tin giao dịch trên thị trường tương lai (tất cả các vị thế trong các hợp đồng tương lai, lời hay lỗ….) của các tài khoản giao dịch đều được ghi nhận ,kiểm soát, và kết sổ vào ngày giao dịch cuối cùng của năm (31/12) để tiện cho việc tính thuế Lưu ý rằng theo luật, mã số thuế của một nhà đầu cơ có những quy định khác với mã số của những người phòng hộ Thường các nhà đầu cơ phải chịu bị đánh thuế với tỷ lệ cao hơn những đối tượng còn lại
Trang 9Đối với những lợi nhuận thu được thì chỉ bị đánh thuế theo quy luật 60 - 40, 60% lợi nhuận thu được sẽ bị đánh thuế là lãi vốn dài hạn, còn 40% sẽ bị đánh thuế như thu nhập thông thường
Phí giao dịch (Fees): Phí giao dịch chỉ được trả cho các FCM (Futures Commission Merchant) khi các giao dịch tương lai được bù đắp, hoặc trong ngày giao hàng hoặc trong lúc tái thanh toán tiền mặt lần cuối
Ví dụ về hợp đồng EUR/USD ở thị trương ICE có mức phí trên một hợp đồng là 0,94 đôla
D) Thành phần tham gia giao dịch:
a) Những nhà đầu cơ (speculator):
Là những người chấp nhận rủi ro cao để tìm kiếm lợi nhuận cao từ sự giao động giá Họ có thể giữ vị thế mua (long position) hay vị thế bán (shot position) hay cả hai vị thế cho cùng một loại hàng hóa (spread position) Có thể chia làm 2 loại nhà đầu cơ:
• Nhà đầu cơ vị thế (position traders): họ thường dựa vào các vị thế
và giữ chúng trong vài ngày, vài tuần hay vài tháng Họ thường sử dụng các phân tích kỹ thuật để dự đoán sự biến động giá và xem hướng giá cả trong tương lai, từ
đó sẽ vào các vị thế thích hợp để tìm kiếm lợi nhuận
• Nhà đầu cơ ngày (day traders): chỉ đầu cơ dựa vào sự biến động giá chỉ trong một ngày giao dịch.Họ không bao giờ trở về nhà với một vị thế trong tay Giao dịch ngày thường tốn kém chi phí vì họ phải theo thông tin, biến động giá cả thường xuyên, và tốn các chi phí cho những giao dịch trong suốt một ngày, với mục đích kiếm được vài tick lợi nhuận trong một giao dịch
Trang 10b) Những người phòng hộ (hedgers):
Là những người tham gia giao dịch tương lai để phòng ngừa các rủi ro do
sự biến động giá bất lợi cho họ
ví dụ: Cty Việt Nam nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ, thanh toán tiền sau 1
tháng, tỷ giá hiện tại USD/VND=20.800 Lo lắng tỷ giá sẽ tăng lên sau 2 tháng, cty đã kí kết một hợp đồng giao sau ngoại tệ với khối lượng ngoại tệ tương tự và
ở và vị thế mua Sau 2 tháng, tỷ giá tăng lên thì cty không phải gánh chịu khoản tiền do tăng tỷ giá nhờ vào tỷ giá đã ấn định trong hợp đồng giao sau
c) Những người đầu cơ hưởng chênh lệch (Arbitrageurs):
Là những người tìm kiếm lợi nhuận bằng cách xem xét một loại hàng hóa nào đó cùng những hàng hóa tương đương để bán hai giá khác nhau ở hai thị trường khác nhau
Họ là những người dựa vào mối quan hệ giữa giá giao ngay và giá tương lai, hay những biến động cung cầu nhất thời làm rối loạn giá để kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giữa giá giao ngay và giá tương lai
d) Những đối tượng trên sàn giao dịch:
Những người giao dịch trên các sàn giao dịch có thể được phân loại theo mục tiêu và chức năng :
• Những người giao dịch sàn (Floor traders): là những thành viên giao dịch các hợp đồng tương lai ở các khu vực tương lai (futures pit) Những người giao dịch tài khoản riêng của anh ta gọi là một local, họ tạo ra tính thanh khoản cho thị trường vì họ hoạt động như những nhà đầu cơ giao dịch rất ngắn hạn
Họ muốn mua hợp đồng tương lai ở giá đã đặt (bid) và nhanh chóng bán lại ở một mức giá phù hợp (asked) Họ phải đăng ký với ủy ban giao dịch hàng hóa tương lai (CFTC) để được hoạt động
• Những nhà môi giới sàn (floor brokers): giúp thi hành lệnh cho các bên, ví dụ như các FCM (Futures commission merchant), hoạt động gần giống như các công ty môi giới chứng khoán, bằng cách thu phí giao dịch (khoảng $1 hay $2 một hợp đồng) Họ cũng phải đăng ký với CFTC để được hoạt động
Trang 11• Một chủ thể nữa là những người giao dịch sàn mà hoạt động như cả một local và một nhà mội giới, thường được gọi là dual trading Họ thường thực hiện mua 2 hợp đồng trong một khoảng thời gian ngắn ở 2 mức giá khác nhau, một cho khách hàng và một cho chính anh ta Nên để được phép hoạt động, anh
ta phải trải qua những thủ tục kiểm tra dài dòng và hệ thống kiểm soát nhằm hạn chế sự lạm dụng của anh ta
e) Những đối tượng khác tham gia trên thị trường:
• Những người cộng tác (Associated persons-APs): là những cá nhân làm việc cho FCM bằng cách nhận lệnh và chấp nhận lệnh Gần giống những người môi giới chứng khoán
• Các nhà tư vấn giao dịch hàng hóa (Commodity trading CTAs): phân tích thị trường tương lai, cung cấp thông tin, phát triển hệ thống giao dịch, đồng thời đưa ra các lời khuyên, tư vấn cho các nhà giao dịch
advisers-• Các nhà môi giới giới thiệu (Introducing brokers-IBs): Là những cá nhân trực tiếp kinh doanh với các FCM và các CTA, nhưng chính họ không phải
là các AP và các CTA Một IB thường chào mời và chuyển lệnh, khi một lệnh được nhận,nó được đưa vào một FCM để thi hành.Những IB khác thì góp các khoản quỹ nhỏ thành một khoản lớn để có thể trở thành một CTA mà đòi hỏi khoản đầu tư tối thiểu lớn
• Các nhà huy động quỹ hàng hóa (Commodity pool operators - CPOs): hoạt động như các quỹ tương hỗ trong thị trường chứng khoán, huy động vốn của các nhà đầu tư nhỏ và sử dụng để giao dịch tương lại
Các đối tượng này muốn tham gia thị trường tương lai cần phải đăng ký với CFTC để được hoạt động
E) Các loại lệnh để giao dịch:
- Lệnh thị trường: lệnh này yêu cầu giao dịch thực hiện ngay lập tức ở
mức giá tốt nhất sẵn có trên thị trường
- Lệnh giới hạn: nêu giá riêng biệt lệnh có thể được thực hiện chỉ với
mức giá này hoặc một mức khác thích hợp hơn cho nhà đầu tư Vì vậy nếu nhà đầu tư muốn ở vị thế mua với giá giới hạn là 30$ lệnh sẽ chỉ thực hiện khi giá là 30$ hoặc thấp hơn
Trang 12- Lệnh dừng hoặc lệnh chấm dứt thiệt hại: lệnh được thực hiện ở mức
giá tốt nhất khi giá mua hoặc giá bán được lập ở giá đặc biệt hoặc thấp hơn Giả
sử rằng lệnh dừng để bán là 30$ được ban hành khi giá thị trường la 35$ Lệnh bán khi và chỉ khi giá xuống đến mức 30$ Thực tế, lệnh dừng trở thành lệnh thị trường ngay khi giá đặc biệt đã là cao nhất mục đích của lệnh dừng là thường đóng trạng thái nếu sự thay đổi giá không thích hợp xảy ra Lệnh này sẽ giới hạn mức lỗ có thể xảy đến
- Lệnh dừng có giới hạn: là sự phối hợp của lệnh dừng và lệnh giới hạn
lệnh trở thành lệnh giới hạn ngay khi giá mua và giá bán được lập bằng hoặc thấp hơp giá dừng hai giá phải được nêu ở mức lệnh giới hạn dừng: giá dừng và giá giới hạn giả sử rằng ở thời điểm giá thị trường là 35$, giới hạn dừng để mua là giá dừng là 40$ và giá giới hạn là 41$ Ngay khi giá mua hoặc giá bán là 40$, giới hạn dừng trở thành lệnh giới hạn là 41$ Nếu giá dừng và giá giới hạn như nhau, lệnh đôi khi được gọi là lệnh dừng và giới hạn
- Lệnh đến mức mua bán: được thực hiện ở mức giá tốt nhất sau khi
giao dịch xảy ra ở mức giá riêng biệt hoặc mức giá thích hợp hơn mức giá riêng biệt thực tế lệnh này trở thành lệnh thị trường một khi giá riêng biệt là cao nhất lệnh này được lập ra để đảm bảo lợi nhuận nếu xảy ra sự thay đổi giá thích hợp
- Lệnh tùy ý: được thực hiện khi lệnh thị trường bị loại mà sự thực hiện
có thể hoãn lại tùy vào nhà môi giới để có thể chọn giá tốt hơn
Ngoài ra có một vài lệnh nêu điều kiện thời gian Trừ khi có thông báo khác, lệnh là lệnh trong ngày và hết hạn vào cuối ngày giao dịch Lệnh mở hoặc lệnh đến khi nào hủy bỏ sẽ có hiệu lực đến khi thực hiện hoặc chấm dứt giao dịch này của hợp đồng lệnh mua bán thực hiện ngay lập tức hoặc thôi như tên của lệnh phải thực hiện ngay lập tức hoặc không thì hủy bỏ
Trang 132) Hợp đồng giao sau ngoại tệ:
A) Khái niệm:
Hợp đồng giao sau ngoại tệ là một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác định bởi Sở giao dịch (IMM)
Hợp đồng giao sau còn là một cam kết pháp lý của các bên về việc mua hoặc bán một lượng tài sản vào một thời điểm trong tương lai thông qua Sở giao dịch và các cơ quan trung gian ở một giá được định trước
Sự cam kết pháp lý về một hành vi trong tương lai này có thể được các bên hủy bỏ một cách hợp pháp khi lập một hợp đồng giao sau khác ngược lại vị thế mà mình đã có Cũng vì lý do đó mà ta có thể chia hợp đồng giao sau thành hai loại :
- Hợp đồng giao sau được thanh lý sau khi giao hàng Đây là loại hợp đồng tồn tại một sự giao hàng thực sự theo như thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng Trong trường hợp này, về bản chất thì HĐGS tương tự như hợp đồng kỳ hạn (forward)
- Hợp đồng giao sau được thanh lý trước ngày giao hàng ghi trong hợp đồng Đây là loại hợp đồng không có sự giao hàng trên thực tế xảy ra, các bên chấm dứt sự ràng buộc của mình đối với phía bên kia bằng nghiệp vụ thanh toán
bù trừ, nghĩa là các bên mua hoặc bán lại chính loại hàng hóa đó ngược với vị thế
mà mình đã có (vị thế mua hoặc bán trước đây) Đây là dạng phổ biến, nhờ đó
mà tồn tại thị trường giao sau
Về lịch sử hình thành, hợp đồng giao sau xuất hiện lần đầu tiên vào thế
kỷ thứ 3 trước Công nguyên , chúng được ghi chép trong các bản lưu tay của Aristotle , một triết gia Hy Lạp.Hợp đồng giao sau (future contracts) được Thị Trường Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Market – IMM) đưa ra lần đầu tiên năm 1972 ở Chicago nhằm cung cấp cho những nhà đầu cơ (Speculators) một phương tiện kinh doanh và cho những người ngại rủi ro (Hedgers) một công
Trang 14cụ phòng ngừa rủi ro hối đoái.Trên thế giới hiện có nhiều thị trường khác cũng tiến hành giao dịch hợp đồng giao sau
B) Đặc điểm:
Hợp đồng giao sau có nhiều đặc điểm riêng biệt, không có ở các hợp đồng khác Dựa vào định nghĩa và thực tiễn, hợp đồng giao sau có thể được chia thành các đặc điểm chính sau:
- Giao dịch giao sau được chuẩn hoá (standardized) về loại ngoại tệ
giao dịch, doanh số giao dịch, và ngày giao dịch
- Nét khác biệt nổi bật nữa là giao dịch giao sau được thực hiện tập
trung thông qua môi giới ở sàn giao dịch
- Hợp đồng giao sau phải có tiền bảo chứng và đa số các hợp đồng giao
sau đều được thanh lý trước thời hạn Hợp đồng giao sau có tính thanh khoản
cao hơn bởi vì phòng giao hoán sẵn sàng đứng ra “đảo hợp đồng” bất cứ khi nào
có một bên yêu cầu.Khi đảo hợp đồng thì hợp đồng cũ bị xóa bỏ và hai bên thanh
toán cho nhau phần chênh lệch giá trị tại thời điểm đảo hợp đồng Đặc điểm này
khiến cho hầu hết các hợp đồng giao sau đều tất toán thông qua đảo hợp đồng, chỉ có khoản 1,5% hợp đồng giao sau được thực hiện thông qua chuyển giao ngoại tệ vào ngày đến hạn Cũng chính đặc điểm này khiến hợp đồng giao sau nói chung là công cụ thích hợp cho các nhà đầu cơ
- Hợp đồng giao sau chỉ sẵn sàng cung cấp đối với một vài loại ngoại tệ
mà thôi Chẳng hạn, thị trường Chicago thường cung cấp hợp đồng giao sau phổ
biến với sáu loại ngoại tệ mạnh đó là GBP, CAD, EUR, JPY, CHF và AUD Ví
dụ ở thị trường Chicago các hợp đồng giao sau được tiêu chuẩn hóa như sau:
Trang 15C) Giá hợp đồng giao sau:
a) Xác định giá hợp đồng giao sau:
Xác định công thức:
Ta có các thông số:
S0: là tỷ giá giao ngay
F0: tỷ giá giao sau
rf: là lãi suất phi rủi ro ở nước ngoài trong thời gian T
r: là lãi suất phi rủi ro ở trong nước trong thời gian T
T: thời gian thực hiện hợp đồng (tính bằng năm)
Lãi suất phi rủi ro thông thường được xác định thông qua trái phiếu chính phủ
Tình huống minh họa: Trường hợp đối với 1 nhà đầu tư tại Mỹ, có 2
cách chuyển đổi 1.000GBP sang dollar sau một khoản thời gian 1 năm sau
Trong đó, S 0 =1,75, F 0 là tỷ giá giao sau, r = 10% và r f =6% Chiến lược bao
gồm: Mua dollar giao ngay và Bán hợp đồng giao sau dollar kỳ hạn 1 năm Ta có:
- Đối với chiến lược mua dollar giao ngay và đầu tư với lãi suất r
=10% trong thời gian 1 năm
1.000 GBP tại thời điểm 0
1.000x1.75xe10x1dollar tại thời điểm 1
Trang 16Đầu tiên lấy 1.000 GBP mua được 1.000 x 1,75 dollar tại thời điểm 0
,đầu tư khoản tiền này đến thời điểm 1 năm với mức lãi suất r,ta có 1.000 x
1,75xe10x1 dollar
- Đối với chiến lược bán hợp đồng giao sau kỳ hạn 1 năm
Dùng 1.000 GBP đầu tư với lãi suất rf đến thời hạn T ta có 1.000 x (e
- Khi lãi suất nước ngoài lớn hơn lãi suất trong nước (r < r f ), từ công
thức trên ta thấy rằng F luôn luôn nhỏ hơn S (F < S ) và F giảm khi thời gian đáo
hạn hợp đồng T tăng
- Tương tự như vậy, khi lãi suất trong nước lớn hơn lãi suất nước ngoài (r > rf ), F luôn luôn lớn hơn S(F>S) và F tăng khi kỳ hạn T tăng
b) Niêm yết giá:
- Giá giao sau được niêm yết một cách thuận tiện và dễ hiểu nhất.Bảng yết giá giao sau được công bố rộng rãi trên trang web chính thức của của thị trường giao sau phổ biến như trang www.cme.com và trên web của nhà cung cấp khác Ngoài ra giá giao sau còn được công bố hằng ngày trên các tờ báo phổ biến như báo The Wall Street
- Tỷ giá thường được công bố cho mỗi phiên giao dịch áp dụng chung cho tất cả các thành viên tham gia trên thị trường.Tỷ giá niêm yết được xác định bằng
cơ chế đấu giá trong từng phiên giao dịch,giá giao sau được quyết định bởi các điều kiện cung cầu, nếu trên thị trường có nhiều người mua hơn người bán, giá hàng hóa sẽ tăng lên nhanh chóng, ngược lại trên thị trường mà người mua ít hơn người bán, giá sẽ giảm.Mức dịch chuyển giá tối thiểu được ấn định luôn trong phương thức niêm yết giá của từng loại giao dịch
Trang 17 Khi tham gia giao dịch nhà đầu tư cần lưu ý những điểm sau khi đọc bảng yết giá
Bảng yết giá giao sau tại thị trường CME
- Tỷ giá giao sau thường được niêm yết bằng cách xác định số lượng dollar trên một đơn vị ngoại tệ, nghĩa là chọn USD là đồng định giá cho một số cặp phổ biến như: AUD/USD, CHF/USD, JYP/USD, GBP/USD…
- Các cặp tỷ giá khi niêm yết được viết dưới dạng ký hiệu ví dụ như:
6A (AUD/USD), 6C (CAD/USD), 6F(CHF/USD) ,6B(GBP/USD), 6J(JYP/USD), 6E(EUR/USD)
Trang 18- Trên thị trường giao dịch, hợp đồng giao sau khi niêm yết được chia thành một số nhóm nhằm giúp cho nhà đầu tư dễ dàng trong việc chọn lựa như:
G10 Currency Pairs (10 cặp tỷ giá phổ biến), E-micros (những hợp đồng giao sau có kích cỡ bằng 1/10 so với hợp đồng giao sau truyền thống), Emerging Market Currency Pairs (những hợp đồng giao sau mới nổi)
Bảng yết giá hợp đồng giao sau:
Nguồn: http://futures.tradingcharts.com/marketquotes/E6 Tên thị trường giao dịch sẽ được thể hiện rõ trong dấu ngoặc cạnh tên đồng tiền giao dịch, trong ví dụ trên đây đồng EUR sẽ được giao dịch trên Globex
Thời gian đáo hạn hợp đồng và tháng giao dịch được thể hiện dọc ở góc
trái cột đầu tiên, tháng giao dịch phổ biến đối với hợp đồng giao sau là tháng
3,6,9,12
- Bảng yết giá phổ biến sẽ thể hiện rõ các thông tin theo thứ tự: giá mở cửa trong ngày (open), giá cao nhất trong ngày (high),giá thấp nhất trong ngày(low),giá mới nhất (last) và sự thay đổi giá mới nhất so với giá đóng cửa ngày hôm qua(change),số lượng hợp đồng được giao dịch trong ngày(vol), và thời gian cập nhật(time),giá đóng cửa ngày trước Ngoài ra, bảng niêm yết gía trên báo còn công bố thêm mục lãi suất mở cửa(open interest)
- Các bảng niêm yết thường không thể hiện mức ký quỹ yêu cầu và giới hạn duy trì hợp đồng
Trang 19D) Mục đích sử dụng hợp đồng giao sau:
Giao dịch giao sau xác lập được một thị trường mà người mua người bán trao đổi mua bán với những mục đích khác nhau như: phòng ngừa rủi ro biến động giá ( hedging), đầu cơ( speculator) trong sự biến động giá
a) Sử dụng hợp đồng giao sau vào mục đích đầu cơ:
Chúng ta dễ nhận thấy rằng giao dịch giao sau giống như hoạt động “cá
cược”, trong đó Sở giao dịch đóng vai trò người tổ chức, người mua hợp đồng giao sau một loại ngoại tệ nào đó chính là người đánh cược rằng ngoại tệ đó sẽ
lên giá.Ngược lại, người bán hợp đồng giao sau một loại ngoại tệ nào đó chính là
người đánh cược rằng ngoại tệ đó sẽ xuống giá trong tương lai Chủ thể đầu cơ(
speculator) thường không quan tâm đến mua / bán các loại tiền tệ cơ bản mà chỉ
hy vọng tìm kiếm lợi nhuận trên sự chuyển động giá trong ngắn hạn với niềm tin rằng tỷ giá sẽ thay đổi
Nguyên lý chung : Nếu giá ngoại tệ lên thì người mua hợp đồng giao
sau ngoại tệ đó lời và sẽ được ghi có vào tài khoản.Ngược lại nếu giá ngoại tệ xuống thì người mua giao sau ngoại tệ đó lỗ và sẽ bị ghi nợ vào tài khoản.Tương
tự, nếu giá ngoại tệ giảm thì người bán giao sau ngoại tệ đó sẽ lời và được ghi
có vào tài khoản.Ngược lại nếu giá ngoại tệ lên thì người bán giao sau ngoại tệ
đó lỗ và sẽ bị ghi nợ vào tài khoản.Tiền lời hoặc lỗ bằng chênh lệch tỷ giá ngày hôm nay so với ngày hôm trước nhân với trị giá hợp đồng
Nắm rõ tính chất trên đây của hợp đồng giao sau chúng ta có thể sử dụng
nó vào mục đích đầu cơ.Để làm rõ việc sử dụng hợp đồng giao sau vào mục đích đầu cơ như thế nào chúng ta xem xét tình huống sau đây:
Tình huống: Nhà đầu cơ thị trường giao sau dự báo sau vài ngày đồng
Rand sẽ xuống giá so với USD,tỷ giá ZAR/USD tăng Nhằm kiếm tiền từ cơ hội này, một nhà đầu tư mua ngay 10 hợp đồng giao sau USD , mỗi hợp đồng trị giá 1.000 USD với tỷ giá 8,2 ZAR/USD Hợp đồng này sẽ đến hạn vào 4 ngày tới
Để bắt đầu, trước tiên nhà đầu tư phải bỏ 4.600 Rand( 460 Rand cho 1 hợp đồng) vào tài khoản ký quỹ ban đầu và phải duy trì mức ký quỹ tối thiểu là 4.500 Rand
Diễn biến hợp đồng như sau:
Trang 20Thời
gian
Hoạt động Thanh toán Tài khoản ký quỹ
Ngày 1 -Nhà đầu tư mua 10 hợp
đồng giao sau USD trị giá
6.600+1.500=R8.100
Nhà đầu tư sẽ bán hợp đồng tại mức giá 8,5 ZAR/USD trong tương lai.Lợi nhuận kiếm được là 3.500 Rand [10 x $1.000 x (R8,55 – R8,20) = R3.500 Khoản ký quỹ 4.600 Rand sẽ được hoàn lại và phần lợi nhuận kiếm được trong việc đầu tư 4.600 Rand là 3.500 Rand ,lời 76% trên số tiền đã đầu tư
Qua tình huống minh họa trên đây chúng ta thấy nếu giá ngoại tệ lên thì người mua hợp đồng giao sau thắng còn người bán thì thua và ngược lại.Số tiền người mua thắng bằng chính số tiền người bán thua và ngược lại.Sở giao dịch với
tư cách là người tổ chức, không tham gia cá cược, nên không thắng hoặc thua nhưng thu được hoa hồng phí bất chấp ai thắng ai thua
b) Sử dụng vào mục đích phòng tránh rủi ro:
Trang 21Đối với chủ thể tham gia phòng ngừa, họ thường là những người sản xuất, chế biến, xuất nhập khẩu hàng hóa…khi giao dịch trên thị trường thường luôn đặt mình ở những vị thế thích hợp để phòng ngừa, bảo hiểm và hạn chế rủi
ro với sự biến động giá không thể dự đoán được.Tuy nhiên, hợp đồng giao sau chỉ cung cấp giới hạn cho một vài ngoại tệ và một vài ngày thanh toán trong năm nên khả năng phòng ngừa rủi ro của nó hơi hạn chế.Mặc dù vậy, hợp đồng giao sau vẫn có thể sử dụng như là một công cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối
Nguyên lý chung:Khi có một khoản phải trả bằng ngoại tệ và lo sợ rằng
ngoại tệ đó sẽ lên giá khi khoản phải trả đến hạn thì nên mua một hợp đồng giao sau ngoại tệ đó(Long hedge- phòng ngừa vị thế mua).Bằng cách này có thể tạo ra hai trạng thái ngoại tệ trái ngược nhau: trạng thái âm khi nợ một khoản phải trả
và trạng thái dương khi mua hợp đồng giao sau với cùng loại ngoại tệ đó Hai trạng thái ngoại tệ trái chiều nhau ấy sẽ tự hóa giải rủi ro Trường hợp có một khoản phải thu,thay vì khoản phải trả, thì làm ngược lại (Short hedge- phòng ngừa vị thế bán)
Quản lý rủi ro ngoại hối đối với khoản phải trả ((Long hedge- phòng
Ví dụ công ty Import VN có 1 khoản phải trả vào 3 tháng sau trị giá hợp
đồng là 1 triệu USD,để phòng ngừa rủi ro công ty đã thỏa thuận mua 100 hợp
đồng giao sau (mỗi hợp đồng trị giá 10.000 USD) vào 3 tháng sau Tỷ giá giao sau (USD/VND)=16.000.Khi đáo hạn, có hai khả năng xảy ra:
• Nếu ngoại tệ lên giá so với nội tệ, tỷ giá giao ngay 3 tháng sau là
16.100 USD/VND, thì doanh nghiệp sẽ có lợi do biến động tỷ giá từ hợp đồng
giao sau, nhưng bị thiệt từ sự gia tăng chi phí của khoản phải trả Khi ấy, doanh
nghiệp lấy lợi từ hợp đồng giao sau bằng 100*10.000*(16.100-16.000) =100
triệu VND bù đắp cho phần thiệt của khoản phải trả là 1*16.100 =16.100 triệu
Trang 22VND.Nhờ vậy tổn thất do rủi ro ngoại hối được giảm thiểu hay có thể kiểm soát
và công ty sẽ cố định được phần chi phí của mình là 16.000 triệu VND
• Nếu ngoại tệ giảm giá so với nội tệ, tỷ giá giao ngay 3 tháng sau bằng
15.900USD/VND thì doanh nghiệp sẽ bị thiệt do mua hợp đồng giao sau, nhưng
có lợi từ khoản phải trả do biến động tỷ giá làm giảm chi phí của khoản phải trả
Khi ấy doanh nghiệp lấy lợi từ khoản phải trả bằng 1*15.900=15.900 triệu
VND bù đắp cho phần thiệt của hợp đồng giao sau là 15.900) = 100 triệu Nhờ vậy tổn thất do rủi ro ngoại hối được giảm thiểu hay có
100*10.000*(16.000-thể kiểm soát và công ty sẽ cố định được phần chi phí của mình là 16.000 triệu
VND
Trang 23Quản lý rủi ro ngoại hối đối với khoản phải thu (Short hedge- phòng
ngừa vị thế bán)
Để có thể bảo hiểm rủi ro ngoại hối đối với một khoản phải thu bằng ngoại tệ, doanh nghiệp có thể thực hiện bán ngoại tệ theo hợp đồng giao sau có trị giá và thời hạn tương đương với khoản phải thu
Ví dụ: công ty Export VN có 1 khoản phải thu vào 6 tháng sau trị giá
hợp đồng là 1 triệu USD,để phòng ngừa rủi ro công ty đã thỏa thuận bán 100
hợp đồng giao sau (mỗi hợp đồng trị giá 10.000 USD) vào 6 tháng sau Tỷ giá giao sau (USD/VND)=15.990.Khi đáo hạn, có hai khả năng xảy ra:
• Nếu ngoại tệ lên giá so với nội tệ,tỷ giá giao ngay 6 tháng sau là
16.000 ,thì doanh nghiệp sẽ có lợi do biến động tỷ giá từ khoản phải thu số tiền
bằng 1*16.000 = 16.000 triệu VND nhưng bị thiệt do bán ngoại tệ theo hợp
đồng giao sau bằng 100*10.000*(16.000-15.990)=10 triệu VND Lấy lợi từ hợp
đồng này bù đắp cho thiệt của hợp đồng kia, công ty sẽ cố định phần lợi nhuận
là 15.990 triệu VND
Trang 24• Nếu ngoại tệ giảm giá so với nội tệ, tỷ giá giao ngay 6 tháng sau là
15.500 thì doanh nghiệp sẽ có lợi do bán ngoại tệ theo hợp đồng giao sau bằng 100*10000*(15.990-15.500)=490 triệu VND nhưng bị thiệt do biến động tỷ giá của khoản phải thu bằng ngoại tệ là 1*15.500=15.500 triệu VND Lấy lợi từ
hợp đồng này bù đắp cho thiệt của hợp đồng kia, công ty sẽ cố định phần lợi
nhuận là 15.990 triệu VND
Tuy nhiên, do hợp đồng giao sau giao dịch trên thị trường theo trị giá đã được chuẩn hóa nên thường trị giá khoản phải thu và trị giá hợp đồng giao sau không khớp với nhau theo một tỷ lệ nhất định nên hợp đồng giao sau chỉ có thể
Trang 25giúp cắt giảm hay kiểm soát rủi ro chứ chưa hẳn hoàn toàn loại trừ rủi ro Chẳng hạn trên thị trường giao sau trị giá hợp đồng giao dịch đối với GBP là 62.500 nếu doanh nghiệp có khoản phải thu trị giá 650.000GBP thì có thể phòng ngừa rủi ro bằng cách mua 10 hợp đồng giao sau hết 625.000 còn lại 25.000GBP không được phòng ngừa
E) So sánh hợp đồng giao ngay và hợp đồng giao sau: a) Giống nhau:
- Đều có 3 thành phần tham gia thị trường: nhà bảo hộ, nhà đầu cơ, nhà kinh doanh chênh lệch giá.: nhà bảo hộ, nhà đầu cơ, nhà kinh doanh chênh lệch giá
- Tài sản cơ sở, thời gian đáo hạn trong tương lai, giá đáo hạn trong tương lai được quy định tại thời điểm hiện tại
Trang 26 Không chuẩn hoá: các quy
định do 2 bên tự thỏa thuận như
về độ lớn, ngày giao hàng
Giao dịch trên thị trường
OTC (gọi điện thoại toàn cầu)
Các NH niêm yết giá mua và
giá bán với một mức độ chênh lệch giữa giá mua và giá bán
Hợp đồng tương lai được thực
hiện trao đổi trên thị trường và chịu sự chi phối bởi quy định bởi SGD
Được chuẩn hoá về mọi điều
khoản: độ lớn, ngày giao hàng theo quy định của SGD
Giao dịch trên các SGD, vì vậy
HĐ tương lai có tính thanh khoản cao hơn
Bắt buộc ký quỹ với một lượng
nhất định và điều chỉnh theo thị trường hàng ngày
HĐ tương lai được kết chuyển
giá trị hàng ngày, nên có thể đóng trạng thái bất cứ lúc nào mà không cần chờ đến ngày đáo hạn hợp đồng Vì vậy phần lớn HĐ tương lai ít có giao nhận thực sự
Thường là trước ngày đáo hạn
hợp đồng: Chưa tới 2% HĐ được thanh toán thông qua việc chuyển giao ngoại tệ,
Được thực hiện bởi Phòng
Thanh toán bù trừ
Cty thanh toán bù trừ giúp
bảo hiểm rủi ro của đối tác
Thanh tóan hàng ngày bằng
cách trích tài khỏan của bên thua
và ghi có vào TK của bên được
Chênh lệch giá mua và giá
bán được niêm yết ở Sàn giao dịch
Trang 27F) Rủi ro Basic của hợp đồng giao sau:
Basic risk là hiệu số giữa giá giao và giá tương lai
Basic = Giá giao ngay – giá giao sau
Giá giao ngay = giá gao sau => Basic = 0
Gía giao ngay > giá giao sau => Basic >0
Giá giao ngay < giá giao sau => Basic <0
Ví dụ: Giá giao ngay = 250$, giá giao sau = 200$ => basic =250-200 =
+50basic
Giá giao ngay = 300$, giá giao sau = 350$ => basic = 300350 = 50basic
-a) Mối quan hệ giữa thị trường giao ngay và giao sau:
Các biến động tăng lên hay giảm xuống của giá giao sau không quan trọng mà quan trọng là mức độ biến động và chiều hướng của giá giao sau và giá giao ngay có đồng nhất với nhau hay không.Nếu điều này không được đảm bảo
Trang 28ii) Basic âm:
Nếu giá mua giao ngay quá thấp tại thời điểm giao hàng, nhà sản xuất sẽ nắm giữ hàng tồn kho và tiến hành bán giao sau, nếu có nhiều người làm như thế
sẽ tạo nên sức ép làm giảm giá giao sau, trong khi đó sự khan hiếm hàng hóa trên thị trường giao ngay làm cho giá giao ngay tăng lên, giá giao ngay và giá giao sau dần cũng sẻ hội tụ vào thời điểm đáo hạn
a Phương trình lợi nhuận của các chiến lược phòng ngừa:
Trang 29Phòng ngừa vị thế bán: = ST – S0 – (ft –f0)
Phòng ngừa vị thế mua: = -ST + S0 +(fT –f0)
Basic tại thời điểm t0: b0 = s0 - f0
Basic tại thời điểm t1: b1 = s1 - f1
Phòng ngừa rủi ro tại vị thế bán có thể viết lại pt lợi nhuận như sau:
=St - ft - (s0 – f0) = bt –b0
Ví dụ: Ngày 1/1/2009, PetroVietnam có một khoản phải thu bằng ngoại tệ vào 3
tháng tới trị giá 1 triệu USD, để phòng ngừa biến động của tỷ giá, tập đoàn đã ký
1 hợp đồng tương lai sẽ bán 1 triệu USD với giá thực hiện trong hợp đồng tương
lai là fo = 21.000VND/1 USD, đáo hạn trong vòng 3 tháng nữa, tức là vào ngày
1/4/2009
Giả sử vào thời điểm đáo hạn, giá USD giao ngay S T chỉ còn là 20.000VND
Vậy lợi nhuận của PetroVietnam có được là bao nhiêu?
Petrovietnam phòng ngừa ở vị thế bán, giả sử giá giao ngay ở thời điểm ngày
1/1/2009 là So = 21.000VND và giá tương lai ngày 1/4/2009 là ft =
19.000VND.Vậy lợi nhuận của Petrovietnam trong hợp đồng này = bt – bo = (20.000-19.000)-(21.000-21.000) = 1000VND Vậy trong hợp đồng này
Petrovietnam lời 1000VND.Tại thời điểm ký kết hợp đồng rủi ro basic = 0 (So
=fo), nhưng tại thời điểm đáo hạn rủi ro basic = 20.000-19.000=1000VND,
chính basic ở thời điểm đáo hạn đã làm cho doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận, như vậy trong trường hợp này basic là có lợi
Phòng ngừa rủi ro chuyển những thay đổi trong giá giao ngay thành những thay đổi trong basic
- Thay đổi trong basic ít biến động hơn thay đổi trong giá giao ngay
vì thế những vị thế nào có phòng ngừa rủi ro sẽ ít rủi ro hơn những vị thế không phòng ngừa
- Rủi ro basic là kết quả từ những gì không chắc chắn liên quan đến những thay đổi trong basic nên hành vi phòng ngừa rủi ro là hoạt động đầu cơ nhưng chúng lại tạo ra rủi ro ít hơn nhiều so với vị thế không phòng ngừa
Trang 30b Basic mở rộng và basic thu hẹp: basic risk có thể cải thiện hoặc
làm giảm đi thành quả của phòng ngừa
II) Thị trường ngoại tệ giao sau CME:
1) Khái quát về quá trình hình thành và phát
triển:
CME Group là tên gọi tắt của Chicago Mercantile Exchange Group, một
tập đoàn hàng đầu thế giới với bề dày lịch sử hàng trăm năm sở hữu và điều hành các sàn giao dịch phái sinh.Lịch sử CME Group xoay quan việc hình thành và
phát triển của 2 công ty sỡ hữu và quản lí các sàn giao dịch tài chính là Chicago
Board of Trade và Chicago Mercantile Exchange
Từ Chicago Mercantile Exchange:
Vào năm 1898, Chicago Butter and Egg Board, được thành lập với mục
đích giúp các thương nhân trao đổi và thực hiện giao dịch hang hóa Ban đầu
sàn giao dịch này chỉ thực hiện 2 loại hợp đồng giao dịch tương lai với duy nhất
2 loại nông phẩm là bơ và trứng.Chicago Butter and Egg Board hoạt động dưới
hình thức một tổ chức phi lợi nhuận.Đến năm 1919, tổ chức này được tái cơ cấu,
và thay đổi tên gọi, trở thành sàn giao dịch Chicago Mercantile Exchange (CME) với mục đích cung cấp cho nhà đầu tư những sản phẩm giao dịch tương lai mới,
chuyên về sản phẩm nông nghiệp, không chỉ giới hạn ở bơ và trứng gia cầm.Điển hình như việc CME giới thiệu loại hợp đồng giao dịch tương lai dựa trên sản phẩm thịt đông lạnh vào năm 1961, và sau đó là hợp đồng giao dịch tương lai dựa trên gia súc sống vào năm 1964
Nếu như trước thập niên 70 của thế kỷ 20, CME chỉ chuyên biệt trong việc cung cấp những hợp đồng tương lai về sản phẩm nông nghiệp thì bước vào