Nho giáo sinh ra từ một xã hội chiếm hữu nô lệ trên đường suy tàn, vì vậy, Khổng tử đã luyến tiếc và cố sức duy trì chế độ ấy bằng đạo đức. “Đạo” theo Nho gia là quy luật biến chuyển, tiến hoá của trời đất, muôn vật. Đối với con người, đạo là con đường đúng đắn phải noi theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp. Đạo của con người, theo quan điểm của Nho gia là phải phù hợp với tính của con người lập nên. Chính vì vậy, Nho giáo tác động mạnh mẽ đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của con người và tác động vào các khu vực khác của đời sống xã hội cũng như đối với xã hội Việt Nam. Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng. Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể thực hiện nên chúng ta cần vận dụng nó một cách hợp lý để góp phần đạt được mục đích của thời kỳ quá độ cũng như sau này. Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý và sự tác động của Nho giáo đến thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết. Việc đi sâu nghiên cứu đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ, tư tưởng của Nho giáo đã giúp chúng ta hiểu rõ tâm lý của người dân hơn và qua đó tìm được một phương cách để hướng cho họ một nhân cách chính và đúng đắn.
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHO GIÁO 5
1.1 Bối cảnh ra đời và phá triển của đạo Nho giáo 5
1.2 Một số nội dung trong học thuyết Nho giáo 6
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 14
2.1 Khái quát chung về ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về quản lý xã hội 14
2.2 Ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo tới việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay 16
Chương 3: MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ VIỆC ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT NHO GIÁO VỚI XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 26
3.1 Khái quát về nhà nước pháp quyền ở Việt Nam 26
3.2 Tác động của học thuyết Nho giáo tới xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam 28
KẾT LUẬN 31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo sinh ra từ một xã hội chiếm hữu nô lệ trên đường suy tàn, vì vậy,Khổng tử đã luyến tiếc và cố sức duy trì chế độ ấy bằng đạo đức “Đạo” theo Nhogia là quy luật biến chuyển, tiến hoá của trời đất, muôn vật Đối với con người, đạo
là con đường đúng đắn phải noi theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp Đạocủa con người, theo quan điểm của Nho gia là phải phù hợp với tính của con ngườilập nên Chính vì vậy, Nho giáo tác động mạnh mẽ đến nếp sống, thói quen, suynghĩ của con người và tác động vào các khu vực khác của đời sống xã hội cũngnhư đối với xã hội Việt Nam
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩaMác - Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó,
bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng Việc xoá bỏhoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể thực hiện nên chúng ta cần vận dụng nómột cách hợp lý để góp phần đạt được mục đích của thời kỳ quá độ cũng như saunày
Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý và sự tác động của Nho giáo đến thếgiới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết Việc đi sâu nghiêncứu đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ, tư tưởng của Nho giáo đã giúpchúng ta hiểu rõ tâm lý của người dân hơn và qua đó tìm được một phương cách đểhướng cho họ một nhân cách chính và đúng đắn
Trong thời gian qua, Việt Nam đã đang và sẽ xây dựng nhà nước phápquyền định hướng xã hội chủ nghĩa Do vậy để có thể thực hiện được thành công
đó nhất thiết cần có sự kế thừa và phát triển nội dung của các học thuyết chính trị
Trang 4xã hội để có thể áp dụng được những yếu tố tích cực nhằm có thể giúp cho việcxây dựng nhà nước pháp quyền được thực hiện có hiệu quả nhất.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên do vậy em đã lựa chọn
đề tài: “Ảnh hưởng của tư tưởng chính trị trong học thuyết Nho giáo tới việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” để làm
tiểu luận kết thúc môn Hệ tư tưởng học với mong muốn sẽ hiểu rõ hơn về vấn đềnày
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề Nho giáo nói chung cũng như ảnh hưởng của Nho giáo nói riêng làvấn đề đã được các nhà khoa học, các học giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiềugóc độ Xoay quanh vấn đề này chúng ta có thể kể đến các nhóm công trìnhnghiên cứu sau:
Thứ nhất, Các công trình nghiên cứu về Nho giáo
Thứ hai, Các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Nho giáo
Thứ ba, Các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của tư tưởng chính trịtrong học thuyết Nho giáo tới việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa ở Việt Nam hiện nay
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu ở rất nhiều khía cạnh và
đã có đóng góp rất lớn vào việc nghiên cứu Nho giáo Do vậy với đề tài củamình tác giả mong muốn sẽ góp một phần n hỏ vào việc nghiên cứu Nho giáo
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trang 5Khái quát chung về Nho giáo từ đó làm rõ ảnh hưởng của tư tưởng chính trị trong học thuyết Nho giáo tới xây dựng nhà nước pháp quyền cũng như đánh giá ảnh hưởng của Nho giáo tới xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Khái quát chung về Nho giáo;
- Ảnh hưởng của Nho giáo tới xây dựng nhà nước pháp quyền;
- Đánh giá về ảnh hưởng của Nho giáo tới xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Ảnh hưởng của tư tưởng chính trị trong họcthuyết Nho giáo tới việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi không gian: Nho giáo tại Việt Nam
Phạm vi thời gian: Trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, tư tưởng trong học thuyết Nho giáo và quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
5.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trang 6Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp.
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài được thực hiện sẽ góp phần làm rõ hơn một số nội dung về Nho giáo cũng như góp phần làm rõ hơn thực trạng sự tác động tích cực của Nho giáo đốivới vấn đề xây dựng nhà nức pháp quyền tại Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung tiểu luận được chia làm 3 chương và 6 tiết
Trang 7Chương 1: MỘT SỐ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHO GIÁO
1.1 Bối cảnh ra đời và phá triển của đạo Nho giáo
Tại Trung Quốc cổ đại, từ thế kỷ XIII đến thế kỷ III trước Công nguyên, thời
kỳ Xuân Thu - Chiến quốc đã phát sinh ra các hệ thống, các dòng tư tưởng triết họcbao gồm: Nho giáo, Mặc gia, Đạo gia, Danh gia, Pháp gia, âm dương gia Trong đóNho giáo là học thuyết lớn nhất trong lịch sử chính trị, đạo đức của dân tộc Trunghoa và có ảnh hưởng rất lớn ở á Đông (Nhật bản, Triều tiên, Việt nam)
Nho giáo là một trường phái do Khổng Tử, tên thật là Khâu, hay còn gọi làTrọng Ni, người nước Lỗ (551 - 479 trước Công nguyên, thời Xuân Thu - Chiếnquốc) sáng lập Khổng Tử là người mở đường vĩ đại của lịch sử tư tưởng trungquốc cổ đại ông là nhà triết học, nhà chính trị và là nhà giáo dục nổi tiếng ở Trungquốc cổ đại Ông đã hệ thống những tri thức tư tưởng đời trước và quan điểm củaông thành học thuyết đạo đức chính trị riêng, gọi là Nho giáo Học thuyết của ôngđược hai nhà tư tưởng là Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển Mạnh Tửtheo hướng duy tâm, Tuân Tử theo hướng duy vật Trong lịch sử sau này dòngKhổng Mạnh có ảnh hưởng lâu dài nhất
Từ nhà Hán trở đi, Nho giáo được nhiều nhà tư tưởng phát triển và sử dụngtheo môi trường xã hội của nó Nho giáo được ra đời trong bối cảnh lịch sử sau: Vềkinh tế, lực lượng sản xuất đã có những bước tiến lớn, nhiều ngành nghề mới rađời, cộng thêm sự suy yếu của thế lực chính trị nhà Chu đã làm cho chế độ kinh tế
“Tỉnh điền” tan rã Trong xã hội xuất hiện sở hữu tư nhân về đất đai và do đó xuấthiện giai cấp mới là giai cấp địa chủ
Về chính trị, suốt thời Xuân Thu, mệnh lệnh của “Thiên tử nhà Chu” khôngcòn được tuân thủ; trật tự lễ nghĩa, cương thường xã hội đảo lộn; đạo đức suy đồi
Trang 8Đây là thời mà “Vua không ra đạo vua, tôi chẳng ra đạo tôi” Triết học tại thờiđiểm này trong xã hội nảy sinh ra hai mâu thuẫn lớn, đó là mâu thuẫn giữa giai cấpđịa chủ và tầng lớp thống trị quý tộc thị tộc nhà Chu và mâu thuẫn thứ hai gay gắthơn nhiều, là mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp địa chủ, mâu thuẫn thứ hai biểu hiện
là thế lực nào cũng muốn bá chủ Trung nguyên, dẫn tới cuộc chiến tranh giữa cácdòng họ, đẩy xã hội vào thời kỳ loạn lạc, thời “Đánh nhau tranh thành, thì giếtngười thây chết đầy thành; đánh nhau giành đất thì giết người thây chết đầy đồng”
Về văn hoá, người Trung hoa đã sáng tạo ra tri thức về nhiều lĩnh vực, đạt đượckiến thức vượt thời đại Chính trong thời đại lịch sử biến chuyển sôi động đó đã đặt
ra một loạt những vấn đề xã hội và triết học mới, buộc các nhà tư tưởng phải quantâm lý giải và làm nảy sinh một loạt các trường phái triết học đa dạng
Các dòng tư tưởng triết học thời này đều có chung một đặc trưng là quantâm giải quyết các vấn đề chính trị - đạo đức - xã hội và không quan tâm tới tôngiáo Đứng trên lập trường của bộ phận cấp tiến, trong tầng lớp quý tộc cũ nhàChu, Khổng Tử chủ trương lập lại kỷ cương nhà Chu Với mục đích ấy, ông đã lập
ra học thuyết mở trường dạy học, đi chu du khắp các nước chư hầu làm thuyếtkhách mong làm sáng đạo của mình trong thiên hạ Ông chủ trương xây dựng mẫungười quân tử dùng “đức trị, lễ trị” để đưa xã hội từ chỗ hỗn loạn trở nên ổn định
Tư tưởng trung tâm của Nho giáo là những vấn đề về chính trị, đạo đức của conngười và xã hội
1.2 Một số nội dung trong học thuyết Nho giáo
1.1.1 Quan điểm về bản chất con người
Nho giáo đặt vấn đề đi tìm một bản tính có sẵn và bất biến của con người.Đức Khổng Tử và Mạnh Tử đều quan niệm bản tính con người ta sinh ra vốn thiện.Bản tính “Thiện” ở đây là tập hợp các giá trị chính trị, đạo đức của con người Vậy
“Thiện” là gì? Thiện là rộng lượng, những đức tính có sẵn mang tính chân thiện
Trang 9mỹ như: Người ta ai cũng có lòng nhân ái, yêu thương con người (đức Nhân), aicũng có lòng biết ơn trong quan hệ (đức Nghĩa), ai cũng biết liêm sỉ, ai cũng cólòng cung kính, tôn trọng bề trên, nhường kẻ dưới (đức Lễ), ai cũng hiểu và biếtlàm điều thiện, biết xử lý công việc bằng kiến thức, lý trí của mình (đức Trí), aicũng có sự tin tưởng vào nhau (đức Tín)
Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là năm giá trị đạo đức lớn của conngười Ngũ thường là có sẵn và bất biến trong mỗi con người Xuất phát từ quanniệm cho rằng bản tính của con người là thiện, Khổng Tử đã xây dựng phạm trù
"Nhân" với tư cách là phạm trù trung tâm trong triết học của ông Theo ông, mộttriều đại muốn thái bình thịnh trị thì người cầm quyền phải có đức Nhân, một xãhội muốn hoà mục thì phải có nhiều người theo về điều Nhân Chữ Nhân được coi
là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và những quan hệ giữangười với người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội
Người có đức nhân là người làm được năm điều trong thiên hạ: “cung,khoan, tín, mẫn, tuệ” Cung thì không khinh nhờn,khoan thì được lòng người, tínthì người tin cậy, mẫn thì có công, huệ thì đủ khiến được người Người có đứcnhân phải là người “trước làm điều khó, sau đó mới nghĩ tới thu hoạch kết quả”.Theo Khổng Tử, người muốn đạt được đức nhân phải là người có “Trí” và “Dũng”.Nhờ có Trí, con người mới có sự sáng suốt minh mẫn để hiểu biết được đạo lý, xétđoán được sự việc, phân biệt được phải - trái, thiện - ác, để trau dồi đạo đức vàhành động hợp “thiên lý” Người có Dũng ở đây theo Khổng Tử không phải là kẻ ỷvào sức mạnh, vì lợi mà suy nghĩ và hành động bất chấp đạo lý Người nhân cóDũng phải là người có thể tỏ rõ ý kiến của mình một cách cao minh, có thể hànhđộng một cách thanh cao khi vận nước loạn lạc, khi người đời gặp phải hoạn nạn.Người nhân có Dũng mới tự chủ được mình, mới quả cảm xả thân vì nhân nghĩa
Trang 10Với Khổng Tử, đạo sống của con người là phải “Trung dung, trung thứ”,nghĩa là sống đúng với mình và sống phải với người, thương mình như thươngngười, việc gì mình không muốn chớ đem cho người, mình muốn lập thân thì cũnggiúp người lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt NếuKhổng Tử cho rằng chữ Nhân là cái gốc đạo đức của con người, thì theo ông, đểtrở thành một con người hoàn thiện, một điều kiện tất yếu khác là phải “hiểu biếtmệnh trời” để sống “thuận mệnh” Ông viết: "Không biết mệnh trời thì không lấy
gì làm quân tử", nhưng ông kêu gọi mọi người trước hết phải tìm sức mạnh vươnlên ở trong chính bản thân mỗi người, đừng trông chờ vào trời đất quỷ thần: “Đạongười chưa biết thì làm sao biết được đạo quỷ thần” Con người phải chú trọng vào
sự nỗ lực học tập, làm việc tận tâm, tận lực, còn việc thành bại như thế nào, lúc đómới tại ý trời
Tuy nhiên trong triết học Nho giáo, nếu Khổng Tử và Mạnh Tử cho rằng conngười vốn có bản tính thiện thì Tuân Tử đưa ra lý luận bản tính con người là ác:
“Tính người là ác, thiện là do người làm ra”; nhưng trong quan điểm sai lầm đócũng có nhân tố hợp lý như: hành vi đạo đức của con người là do thói quen màthành, phẩm chất con người là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội và kết quả của sựhọc tập, giáo dục lâu ngày mà nên, từ đó ông cho rằng có thể giáo dục, cải hoá conngười từ ác thành thiện được Nếu ra sức tu dưỡng đạo đức thì bất cứ người nàocũng đều có thể đạt được địa vị “người quân tử” Tuân Tử đề cao khả năng và vaitrò của con người Ông khẳng định trời không thể quyết định được vận mệnh củacon người Việc trị hay loạn, lành hay dữ là do con người làm ra chứ không phảitại trời Nếu ý chí của con người hành động thuận theo trật tự của giới tự nhiên thì
sẽ được hạnh phúc, trái lại thì sẽ gặp hoạ
Tiến lên một bước nữa, ông đề ra học thuyết con người có thể cải tạo được
tự nhiên Ông cho rằng con người không thể chờ đợi tự nhiên ban phát một cách bị
Trang 11động mà phải vận dụng tài trí, khả năng của mình, dựa vào quy luật của tự nhiên
mà sáng tạo ra những của cải, sản vật để phục vụ cho đời sống con người Nhưvậy, Nho giáo thể hiện là một học thuyết có tính nhân văn rất cao, nhìn thấy nétđẹp của con người và rất tin tưởng vào con người, tin tưởng vào khả năng giáo dụccon người
1.1.2 Quan điểm về xã hội học
Nho giáo đứng trên quan điểm duy tâm để giải quyết những vấn đề xã hộibởi vì khi giải quyết những vấn đề xã hội, Nho giáo không xuất phát từ việc phântích cơ sở kinh tế của xã hội như triết học Mác, mà xuất phát từ những quan hệchính trị - đạo đức, coi đó là quan hệ nền tảng của đời sống xã hội Nho giáo quytất cả những quan hệ xã hội về quan hệ chính trị - đạo đức Nho giáo khái quátnhững quan hệ chính trị - đạo đức ấy vào ba mối quan hệ rường cột, gọi là tamcương, bao gồm: - Quan hệ vua - tôi - Quan hệ cha - con - Quan hệ chồng - vợ
Quan hệ thứ nhất thuộc quan hệ quốc gia, còn hai quan hệ sau thuộc quan hệgia đình Điều này nói lên rằng trong quan niệm về xã hội, Nho giáo đặc biệt quantâm tới những quan hệ nền tảng của xã hội là quan hệ gia đình Quan hệ gia đình ởđây mang tính chất tông tộc, dòng họ Xã hội trị hay loạn trước hết thể hiện ở chỗ
có giữ vững được ba quan hệ ấy hay không Xã hội là tam cương - tam cương làquốc gia Mỗi cương thay đổi xã hội loạn
1.1.3 Quan điểm về giáo dục
Trước hết, Nho giáo có nêu quan điểm về một xã hội lý tưởng Lý tưởngcao nhất của đức Khổng Tử cũng như các tác giả sau này của Nho giáo là xây dựngmột xã hội “Đại đồng” Khái niệm xã hội đại đồng của Nho giáo không phải là một
xã hội đặt trên nền tảng của một nền sản xuất phát triển cao mà là một xã hội “anhoà”, trong đó sự an hoà được đặt trên nền tảng của sự công bằng xã hội Xã hội an
Trang 12hoà ở đây là xã hội bao gồm nhiều quốc gia lớn nhỏ, mạnh yếu khác nhau, trong đóquốc gia nhỏ yếu thờ phụng quốc gia lớn mạnh và ngược lại, quốc gia lớn mạnhche chở cho quốc gia nhỏ yếu.
Xã hội mà mọi người sống hoà thuận giữa trong ngoài, trên dưới, trưởngthứ, trong đó người bề trên vui vẻ mà trị, không ỷ thế quyền lực; người dưới vui vẻ
mà nhận sự trị, không oán hờn Một xã hội lấy hoà thuận, khoan thứ làm đầu;không cần có một nền kinh tế phát triển mà chỉ cần công bằng xã hội Khái niệmcông bằng của Nho giáo không phải là thứ quan niệm “cào bằng” tiểu nông mà làcông bằng trên cơ sở địa vị xã hội của mỗi cá nhân, mỗi dòng họ Để thực hiện xãhội lý tưởng, xã hội đại đồng, xã hội an hoà trên, Nho giáo không đặt vấn đề vềmột cuộc cách mạng, không cầu cứu ở bạo lực, mà tìm cứu cánh ở một nền giáodục Đức Khổng Tử là người đầu tiên lập ra trường tư, mở giáo dục ra toàn dân Cógiáo dục và tự giáo dục thì mỗi người mới biết phận vị của mình mà nhìn nhậnhành động trong cuộc sống cho đúng
Theo Khổng Tử: Tại học tri đại là học cho đến mức biến hoá được conngười, làm cho người gần khâm phục, người xa yêu mến; Tại thân dân là sự họcphải xuất phát từ tình yêu thương con người Bởi vì đạo học là đạo người, chỉ có ai
có tình thương yêu con người thì mới hiểu được lý lẽ của sự học Tại chi vi chithiện là học cho đến hoàn thiện Muốn vậy phải đến nơi có sự kiện, sự vật mà tìmhiểu ngọn nguồn của tạo hoá Mục đích của sự học là tạo lập ý chí, lý tưởng nhâncách và hoàn thành nhiệm vụ Học phải đạt đến: Thành ý - Chánh tâm - Tu thân -
Tề gia - Trị quốc - Bình thiên hạ
Nội dung của giáo dục Nho giáo, giáo dục và tự giáo dục, hướng vào việcgiáo dục những chuẩn mực chính trị - đạo đức đã hình thành từ ngàn xưa, được nêugương sáng trong cổ sử mà thôi nên cách dạy của Nho giáo là chỉ dạy làm người
Trang 13nói chung, không hề đề cập đến khoa học, kinh tế, nghề nghiệp, tức không hướngvào phương diện kỹ nghệ và kinh tế Thừa thời gian mới học đến lục nghề Đây làmột nền giáo dục thiên lệch Đồng thời, nguyên tắc giáo dục trong Nho giáo lànguyên tắc tự giác: nguyên tắc tự nguyện làm sáng tỏ, thường dùng phương phápnêu gương
1.1.4 Quan điểm về quản lý xã hội (trị quốc)
Để theo đuổi mục tiêu lý tưởng xây dựng xã hội đại đồng, Nho giáo nêunguyên tắc quản lý xã hội như sau:
Nguyên tắc 1: Thực hiện nguyên tắc tập quyền cao độ (Chế độ quân chủtrung ương tập quyền cao độ) Trong phạm vi quốc gia, toàn bộ quyền lực tậptrung vào một người là Hoàng đế Thời Khổng Tử, để thực hiện chế độ tập quyền,xây dựng chế độ công hữu về đất đai (đất đai thuộc nhà vua) Đức Khổng Tử rất cangợi chế độ kinh tế "tỉnh điền"
Nguyên tắc 2: Thực hiện “chính danh” trong quản lý xã hội “Chính danh”nghĩa là mỗi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng cương vị, địa vịcủa mình: vua phải ra đạo vua, tôi phải ra đạo tôi, cha phải ra đạo cha, con phải rađạo con, chồng phải ra đạo chồng, vợ phải ra đạo vợ Nếu như mọi người khôngchính danh thì xã hội ắt trở nên loạn lạc Không thể có một xã hội trị bình mànguyên tắc chính danh bị vi phạm Trong Nho giáo, Khổng Tử đặc biệt đề cao giữadanh và thực Thực do học, tài và phận quy định
Nguyên tắc 3: Thực hiện Văn trị - Lễ trị - Nhân trị Đây là nguyên tắc cótính chất đường lối căn bản của Nho giáo Văn trị: Đề cao trị bằng hiểu biết Tạo ra
vẻ đẹp của một nền chính trị để mọi người tự giác tuân theo Lễ trị: Dùng tổ chức,thiết chế xã hội để trị quốc Đề cao nghi lễ giao tiếp trong trị quốc Nhân trị: Trịquốc bằng lòng nhân ái, mở rộng ân trạch của hoàng cung tới bốn phương Khổng
Trang 14Tử cho rằng trị quốc là việc rất khó, nhưng cũng rất dễ làm nếu đức Minh quân biết
sử dụng ba loại người: Cả quyết can đảm, Minh đản (trí thức) và Nghệ tinh Nhàvua muốn trị vì đất nước và muốn có đức nhân phải biết dùng người và thực hiện
ba điều: Kính sự: Chăm lo đến việc công Như tín: Giữ lòng tin với dân Tiếtdụng: Tiết kiệm tiêu dùng Về đạo Vua - Tôi, Khổng Tử viết: “Vua phải tự mìnhlàm thiện, làm phải trước thiên hạ để nêu gương và phải chịu khó lo liệu giúp đỡdân”
Theo ông, nhà cầm quyền phải thực hiện ba điều: “Bảo đảm đủ lương thựccho dân được no ấm, phải xây dựng được lực lượng binh lực mạnh để đủ bảo vệdân, phải tạo lòng tin cậy của dân đối với mình” Nếu bất đắc dĩ phải bỏ bớt nhữngđiều kiện trên thì trước hết hãy bỏ binh lực, sau đó đến bỏ lương thực, nhưngkhông thể bỏ lòng tin của dân đối với vua, nếu không thì chính quyền xã tắc sẽ sụp
đổ Ngược lại, dân và bề tôi đối với vua phải như đối với cha mẹ mình, phải tỏlòng trung của mình đối với vua
Tiếp tục thuyết “Nhân trị” của Khổng Tử, Mạnh Tử đề ra tư tưởng “Nhânchính” Theo Mạnh Tử, việc chăm dân, trị nước là vì nhân nghĩa, chứ không phải
vì lợi và Mạnh Tử chủ trương một chế độ “bảo dân”, trong đó người trị vì phải locái lo cho dân, vui cái vui của dân, tạo cho dân có sản nghiệp riêng và cuộc sốngbình yên, no đủ, như thế dân không bao giờ bỏ vua Đồng thời ông cũng khuyêncác bậc vua chúa phải giữ mình khiêm cung, tiết kiệm, gia huệ cho dân, thu thuếcủa dân có chừng mực
Đặc biệt Mạnh Tử có quan điểm hết sức mới mẻ và sâu sắc về nhân quyền.Ông nói: “Dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ vi”, vì theo ông, có dân mới cónước, có nước mới có vua Thậm chí ông cho rằng dân có khi còn quan trọng hơnvua Kẻ thống trị nếu không được dân ủng hộ thì chính quyền sớm muộn cũng sẽ
Trang 15phải sụp đổ, nếu vua tàn ác, không hợp với lòng dân và ý trời thì sẽ có thể bị truấtphế
Nguyên tắc 3: Đề cao nguyên lý công bằng xã hội Đức Khổng Tử đã nói:
“Không lo thiếu mà lo không đều, Không lo nghèo mà lo dân không yên” Sựkhông công bằng là đầu mối của loạn xã hội Cơ sở công bằng trong tôn giáo:Theo phái Mặc gia: Công bằng theo kiểu cào bằng Theo phái Nho giáo: Côngbằng trên cơ sở danh của mình Tức là công bằng theo danh (địa vị xã hội) tronghưởng quyền lợi phân phối theo chức vụ, địa vị
Trang 16Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỚI VIỆC XÂY
DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 2.1 Khái quát chung về ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về quản lý xã hội
Để theo đuổi mục tiêu lý tưởng xây dựng xã hội đại đồng, Nho giáo nêunguyên tắc quản lý xã hội như sau:
Nguyên tắc 1: Thực hiện nguyên tắc tập quyền cao độ (Chế độ quân chủtrung ương tập quyền cao độ) Trong phạm vi quốc gia, toàn bộ quyền lực tậptrung vào một người là Hoàng đế Thời Khổng Tử, để thực hiện chế độ tập quyền,xây dựng chế độ công hữu về đất đai (đất đai thuộc nhà vua) Đức Khổng Tử rất cangợi chế độ kinh tế “tỉnh điền”
Nguyên tắc 2: Thực hiện “chính danh” trong quản lý xã hội “Chính danh”nghĩa là mỗi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng cương vị, địa vịcủa mình: vua phải ra đạo vua, tôi phải ra đạo tôi, cha phải ra đạo cha, con phải rađạo con, chồng phải ra đạo chồng, vợ phải ra đạo vợ Nếu như mọi người khôngchính danh thì xã hội ắt trở nên loạn lạc Không thể có một xã hội trị bình mànguyên tắc chính danh bị vi phạm Trong Nho giáo, Khổng Tử đặc biệt đề cao giữadanh và thực Thực do học, tài và phận quy định
Nguyên tắc 3: Thực hiện Văn trị - Lễ trị - Nhân trị Đây là nguyên tắc cótính chất đường lối căn bản của Nho giáo Văn trị: Đề cao trị bằng hiểu biết Tạo ra
vẻ đẹp của một nền chính trị để mọi người tự giác tuân theo Lễ trị: Dùng tổ chức,thiết chế xã hội để trị quốc Đề cao nghi lễ giao tiếp trong trị quốc Nhân trị: Trịquốc bằng lòng nhân ái, mở rộng ân trạch của hoàng cung tới bốn phương
Khổng Tử cho rằng trị quốc là việc rất khó, nhưng cũng rất dễ làm nếu đứcMinh quân biết sử dụng ba loại người: Cả quyết can đảm, Minh đản (trí thức) và
Trang 17Nghệ tinh Nhà vua muốn trị vì đất nước và muốn có đức nhân phải biết dùngngười và thực hiện ba điều: Kính sự: Chăm lo đến việc công Như tín: Giữ lòngtin với dân Tiết dụng: Tiết kiệm tiêu dùng Về đạo Vua - Tôi, Khổng Tử viết:
“Vua phải tự mình làm thiện, làm phải trước thiên hạ để nêu gương và phải chịukhó lo liệu giúp đỡ dân” Theo ông, nhà cầm quyền phải thực hiện ba điều: “Bảođảm đủ lương thực cho dân được no ấm, phải xây dựng được lực lượng binh lựcmạnh để đủ bảo vệ dân, phải tạo lòng tin cậy của dân đối với mình” Nếu bất đắc dĩphải bỏ bớt những điều kiện trên thì trước hết hãy bỏ binh lực, sau đó đến bỏ lươngthực, nhưng không thể bỏ lòng tin của dân đối với vua, nếu không thì chính quyền
Đặc biệt Mạnh Tử có quan điểm hết sức mới mẻ và sâu sắc về nhân quyền.Ông nói: “Dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ vi”, vì theo ông, có dân mới cónước, có nước mới có vua Thậm chí ông cho rằng dân có khi còn quan trọng hơnvua Kẻ thống trị nếu không được dân ủng hộ thì chính quyền sớm muộn cũng sẽphải sụp đổ, nếu vua tàn ác, không hợp với lòng dân và ý trời thì sẽ có thể bị truấtphế - Nguyên tắc 3: Đề cao nguyên lý công bằng xã hội Đức Khổng Tử đã nói:
“Không lo thiếu mà lo không đều, Không lo nghèo mà lo dân không yên” Sựkhông công bằng là đầu mối của loạn xã hội Cơ sở công bằng trong tôn giáo: Theo
Trang 18phái Mặc gia: Công bằng theo kiểu cào bằng Theo phái Nho giáo: Công bằng trên
cơ sở danh của mình Tức là công bằng theo danh (địa vị xã hội) trong hưởngquyền lợi phân phối theo chức vụ, địa vị
2.2 Ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo tới việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Nho giáo là học thuyết chính trị có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóatinh thần của người phương Đông, chiếm địa vị thống trị tư tưởng trong suốt thời
kỳ lịch sử ở Trung Quốc và nhiều nước Đông Á, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, ViệtNam, Singapore…để từ đó hình thành nên không gian “Văn hóa Khổng giáo” củaĐông phương Học thuyết đức trị do Khổng Tử (551- 479 tr.CN) khởi xướng vàđược các đại biểu Mạnh Tử (372-289 tr.CN), Tuân Tử (298-238 tr.CN) tiếp tục bổsung và phát triển Các sách: Tứ thư (gồm Luận ngữ - Đại học- Trung dung - Mạnh
Tử và Ngũ kinh (các kinh Dịch – Thi – Thư - Lễ - Xuân Thu) là những tác phẩmvăn hóa độc đáo, kinh điển của học thuyết đức trị Từ những tác phẩm này, toát lênnhững nội dung chủ yếu sau đây:
2.1.1 Đề cao đạo đức (đức trị)
Mỗi học thuyết tư tưởng ra đời làm nền tảng tư tưởng cho một giai cấp nhấtđịnh Đức trị là học thuyết của người quân tử - mẫu người mà các nhà đức trị đềcao, kỳ vọng vào khả năng gánh vác sứ mệnh thời đại của họ Theo quan niệm củađức trị, quân tử phải hội đủ các điều kiện là: đạt Đức và đạt Đạo Đạo của ngườiquân tử là tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ; Đức của người quân tử là Nhân
- Trí - Dũng Nhân là lòng yêu thương con người, Trí là hiểu người và Dũng đượchiểu là sức mạnh hay lòng can đảm
Trong đó, Nhân được xem là phạm trù xuất phát điểm, hạt nhân cốt lõi củahọc thuyết đức trị - cái “cốt” lý luận giúp các nhà cai trị lập lại trật tự và xây dựng