1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI GIẢNG CHUYÊN đề QUẢN lý GIÁO dục TỔNG QUAN về KHOA học QUẢN lý và QUẢN lý GIÁO dục

86 258 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Khoa Học Quản Lý Và Quản Lý Giáo Dục
Trường học Khoa học kỹ thuật
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 224,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUYÊN ĐỀ 2 TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC 1 KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC 1 1 Khái niệm về quản lý và quản lý giáo dục 1 1 1 Khái niệm về quản lý Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ 2 TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO

DỤC

I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC 1 KHÁI NIỆM

VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

1.1-Khái niệm về quản lý và quản lý giáo dục

1.1.1- Khái niệm về quản lý

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (ngườiquản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, vănhoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc,các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sựphát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực,quốc gia, ngành, đơn vị, có thế là một con người cụ thể, sự vật cụ thể

Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiệntài chính, v.v để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước

Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một định hướngquản lý đặt ra phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối tượng phải tuân thủ

Quản lý nền sản xuất - xã hội là loại hình quản lý đặc biệt phát sinh từ tínhchất xã hội hoá lao động Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay laođộng chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đếnmột sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năngchung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của nhữngkhí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, cònmột dàn nhạc thì cần phải nhạc trường”

Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: Frederich Wiliam Taylor (1856-1915),Mỹ; Henri Fayol (1841-1925), Pháp; Max Weber (1864-1920), Đức đều đã khẳngđịnh: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội vềnội dung, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách hiểu không hẳn như nhau

Trong giáo trình: Khoa học quản lý (Tập 1 NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội.1999) đã ghi rõ:

"Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công

Trang 2

việc qua những nỗ lực của người khác.

Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng

sự khác cùng chung một tổ chức

Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhânnhằm đạt được các mục đích của nhóm

Quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó "

Có tác giả lại quan niệm:

Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thốngcon người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội

Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên cácthông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành củađối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định

Quản lý là sự tác động có ý thức, họp quy luật của chủ thể quản lý đến kháchthể quản lý nhằm đạt tới tiêu đề ra

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đốitượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng,các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môitrường

Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau ởnhững nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau:

- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất

là một đổi tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra

và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý Tác động cóthể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần

- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể,mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động

- Chủ thể phải thực hành việc tác động

- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một hoặcnhiều người (trong tổ chức xã hội)

Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có

sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình

Hiện nay, quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến

Trang 3

mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kể hoạch hoá, tổchức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.

Như vậy, có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướngdẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích

đã đề ra Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luônluôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân,cho tổ chức và cho cả xã hội

Quản lý là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tựnhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý và xã hộihọc Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mụcđích

1.1.2- Khái niệm về quản lý giáo dục

về nội dung khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau:

Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp cáclực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển

xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dụckhông chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáodục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dụcquốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân

Khi đề cập vai trò của quản lý đã trích câu sau đây của Karl Marx viết: “Mộtnghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển bản thân, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” Hoạtđộng quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động Quản lý; đó là hoạt độngchăm sóc, giữ gìn và sửa sang, sắp xếp để cho cộng đồng theo sự phân công hợp táclao động được ổn định và phát triển giáo dục là bộ phận của kinh tế - xã hội, hệ thốnggiáo dục, mạng lưới nhà trường là bộ phận kết cấu hạ tầng xã hội, do vậy: quản lýgiáo dục là quản lý một loại quá trình kinh tế xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hài hoà

sự phân hoá xã hội để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật phục vụ các yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội

Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, có tổ chứcđược hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông ViệtNam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục; tức là cụ thể hoá đường lối giáodục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân,

Trang 4

của đất nước.

Quản lý giáo dục (và nói riêng quản lý trường học) là những tác động có hệthống, có mục đích, có kế hoạch, họp qui luật của chủ thể quản lý đến tất cả các mắtxích của hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lýgiáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩaViệt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáodục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất

Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, họp quy luật của chủthể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các thành tố của hệ thống giáo dục nhằmđảm bảo hành bình thường của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống giáo dục, làm cho

hệ thống giáo dục phát triển liên tục cả về qui mô cũng như chất lượng

Sự đúc kết thực tiễn điều hành công tác đào tạo các nhà trường và phát triển

hệ thống giáo dục quốc dân trên cơ sở giáo dục học, điều khiển học, lý luận quản lýkinh tế - xã hội và một số khoa học khác hình thành nên lý luận quản lý giáo dục

Lý luận quản lý giáo dục có vai trò trọng yếu trong việc hình thành cơ sở khoahọc của:

- Chiến lược phát triển giáo dục, sự hình thành và phát triển cơ cấu hệ thốnggiáo dục quốc dân

- Các chính sách phát triển giáo dục, đòn bẩy kinh tế trong giáo dục, địnhmức kinh tế - sư phạm áp dụng vào việc phát triển các nhà trường trong hệ thốnggiáo dục quốc dân

- Bộ máy quản lý giáo dục ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở đảm bảothông nhất quản lý theo ngành và theo lãnh thổ

- Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng các yêu cầucủa việc thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục

1.2- Đặc điểm và bản chất của quản lý giáo dục

1.2.1- Đặc điểm của quản lý giáo dục

1) Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý.

Đây là đặc điểm cơ bản, đầu tiên của quản lý đã được đề cấp sơ bộ ở trên Nếuchủ thể quản lý không có thì việc quản lý đặt ra là vô nghĩa Thực tể chỉ rõ, nhiều tổchức mặc dù có tồn tại chủ thể quản lý trên danh nghĩa, nhưng do bất lực (về tiềmnăng, về lực lượng vật chất, về pháp lý, về nhân cách ) khái niệm quản lý đã trở

Trang 5

thành hình thức và phù phiếm Hoặc cũng có trường hợp ngược lại, có những tổ chức

do xuất hiện quá nhiều chủ thể quản lý mà các chủ thể này thế lực lại tương đồngnhau, những mục tiêu của của họ khác nhau, thì việc quản lý sẽ rất phức tạp đốitượng bị quản lý sẽ gặp muôn vàn trở ngại khó có thể tồn tại và phát triển bìnhthường

Quản lý giáo dục là quản lý việc đào tạo con người, việc hình thành và hoànthiện nhân cách, việc tái sản xuất nguồn lực người Đối tượng bị quản lý ở đây lànhững ai thực hiện hoặc nhận sự giáo dục và đào tạo Vì không có gì phức tạp bằngcon người cho nên có thế nói quản lý giáo dục, quản lý việc giáo dục và đào tạo conngười là loại quản lý khó khăn nhất, phức tạp nhất, nó đòi hỏi chủ thể quản lý phải cónhững năng lực, phẩm chất tương xứng với công việc Mọi đặc điểm của quản lý giáodục suy ra từ “đối tượng bị quản lý” rất đặc biệt này của nó

2) Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đối thông tin và đều có moi liên hệ

Đây là đặc điểm thứ hai của quản lý Quản lý được diễn ra nhờ các tín hiệucủa mình, đó là thông tin Thông tin chính là các tín hiệu mới, được thu nhận, đượchiểu và được đánh giá là có ích cho các hoạt động quản lý (tức cho cả chủ thể quản lý

và đối tượng bị quản lý) Chủ thể quản lý muốn tác động lên đối tượng thì phải đưa racác thông tin (mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết, quyết định ) đó chính là thông tin điềukhiển Còn đối tượng muốn định hướng hoạt động của mình thì phải tiếp nhận cácthông tin điều khiển của cấp trên (chủ thể) cùng các bảo đảm vật chất khác để tínhtoán và tự điều khiển lấy mình (nhằm thực thi mệnh lệnh của chủ thể)

Chính vì lý do kể trên, người ta đã kết luận quá trình quản lý là quá trìnhthông tin

Đối với chủ thể quản lý, sau khi đã đưa ra các quyết định cùng các bảo đảmvật chất cho đối tượng thực hiện, thì họ phải thường xuyên theo dõi kết quả thực hiệncác quyết định của đối tượng thông qua các thông tin phản hồi (được gọi là các mốiliên hệ ngược) của quản lý

3) Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi).

Đây là đặc điểm thứ ba của quản lý Đặc điểm này chỉ rõ:

- Khi đối tượng quản lý mở rộng về quy mô, phức tạp về các mối quan hệthì không phải chủ thế quản lý chịu bó tay, mà nó vẫn có thể tiếp tục quản lý có hiệu

Trang 6

quả nếu nó đổi mới quá trình quản lý thông qua việc cấu trúc lại hệ thống và việc uỷquyền quản lý cho các cấp trung gian.

- Trường hợp ngược lại, khi chủ thể quản lý trở nên xơ cứng, quan liêu, đưa

ra những tác động quản lý độc đoán, lỗi thời, phi lý thì không phải tất cả các đốitượng bị quản lý đều chịu bó tay, mà họ vẫn có thể thích nghi tồn tại theo hai cách

+ Họ phải tồn tại tương ứng với các tác động quản lý của chủ thể

+ Họ biến đổi cấu trúc của bản thân để thích nghi với các mệnh lệnh quản lýphi lý của chủ thể

4) Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật.

Đây cũng là đặc điểm quan trọng của quản lý Nói quản lý là một khoa học vìquản lý như đã xét ở trên, có đối tượng nghiên cứu riêng là các mối quan hệ quản lý.Quản lý còn có phương pháp luận nghiên cứu riêng và chung, đó là quan điểm triếthọc Mác-Lênin, là quan điểm hệ thống Quản lý có những phương pháp cụ thể được

sử dụng để nghiên cứu như các phương pháp phân tích, các phương pháp toán kinh

tế, các phương pháp tổ chức

- Hành chính, các phương pháp xã hội học, các phương pháp tâm lý, cácphương pháp lịch sử Quản lý đồng thời còn là một nghệ thuật vì nó còn tuỳ thuộcmột phần vào tài nghệ, bản lĩnh, nhân cách, trí tuệ, bề dày kinh nghiệm của ngườilãnh đạo của tố chức

- Quản lý còn là một nghề với nghĩa các nhà lãnh đạo tổ chức phải có trithức quản lý (qua tự học, tự tích luỹ và qua các quá trình được đào tạo ở các cấp độkhác nhau, hoặc ít nhất họ phải có các chuyên gia về quản lý làm trợ lý cho họ)

5) Quản lý gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng.

Người lãnh đạo có ưu thế quan trọng trong tổ chức, họ có khả năng điều khiểnngười khác và chi phổi các nguồn lực và tài sản của tổ chức Người lãnh đạo còn làngười có điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện các mong muốn của mình thông quaviệc sử dụng các con người khác trong quá trình dẫn dắt, thu hút, lôi kéo họ nhằmthực hiện mục tiêu chung của tổ chức Người lãnh đạo đồng thời dễ để lại danh tiếngcho người khác và cộng đồng nếu họ lãnh đạo tổ chức của mình phát triển và đạtđược mục tiêu của tổ chức

1.2.2 Bản chất của quản lý giáo dục

Nếu đứng trên quan điểm hệ thống và quản lý theo mục tiêu, thì khi xem xét

Trang 7

bản chất quản lý, chúng ta có thể đề cập đến nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khácnhau, đó là:

- Quản lý là những tác động có phương hướng và mục đích rõ ràng của chủthể quản lý Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hiệu quả của quản lý phải là hiệu quả sảnphẩm cuối cùng Đó chính là những lợi ích phục vụ cho con người

- Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao Đó là những quyếtđịnh đúng quy luật và có hiệu quả của chủ thể quản lý nhằm giải quyết tốt nhấtnhững vấn đề đặt ra trong cuộc sống

- Quản lý tuân theo nguyên tắc nhất định Xa rời nguyên tắc quản lý sẽchệch quỹ đạo, không đạt kết quả như mong muốn

- Quản lý là quá trình thực hiện đồng thời, hàng loạt các chức năng liên kếthữu cơ với nhau, bắt đầu từ kể hoạch hoá đến tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra

- Quản lý là quá trình sáng tạo các phương pháp Sau khi có mục tiêu và hệthống nguyên tắc, vấn đề còn lại có ý nghĩa quyết định trong thực tiễn chính làphương pháp Mọi phương pháp đều lệ thuộc vào điều kiện môi trường khách quan.Một khi điều kiện môi trường khách quan thay đổi thì mục tiêu, yêu cầu của phươngpháp quản lý phải thay đổi cho phù hợp Phương pháp còn là một nghệ thuật mangtính sáng tạo rất cao Với một mục tiêu của một hệ thống trong từng điều kiện củamôi trường khác nhau, bao giờ cũng xuất hiện một phương pháp giải quyết vấn đềhợp lý, hiệu quả nhất Đó chính là cơ chế quản lý hợp lý

- Sức mạnh của quản lý gắn liền với cơ cấu tổ chức nhất định Tài năng củangười lãnh đạo là phải thường xuyên đổi mới cơ cấu tổ chức quản lý để phù họp vớimục tiêu trong từng tình huống cụ thể, nhất định

- Quản lý thực chất là quản lý con người Con người quyết định tất cả.Nguyên nhân của mỗi sự thành bại đều có nguồn gốc sâu xa từ công tác cán bộ vàgiải quyết các mối quan hệ giữa những con người với nhau

- Quản lý gắn liền với thông tin, thông tin là nguyên liệu của quản lý Thựcchất quản lý là xử lý thông tin, nên chất lượng và hiệu quả của thông tin quyết địnhchất lượng hiệu quả quản lý Người lãnh đạo tài năng trước hết và quan trọng nhấtphải biết tổ chức tốt nhất công tác thông tin cho chính mình

- Quản lý phải phù hợp với môi trường Điều kiện của môi trường ảnhhưởng trực tiếp đến yêu cầu và giải pháp quản lý Người lãnh đạo không được cứng

Trang 8

nhắc, giáo điều và áp đặt cơ chế quản lý, phải nắm vững và đối phó linh hoạt với mọibiến đổi của môi trường.

- Theo quan điểm điều khiển học, quản lý là quá trình xử lý “đầu vào” và

“đầu ra” Thông thường đã trở thành tự nhiên: đầu ra của hệ thống này, ngay tức khắctrở thành đầu vào của hệ thống kia ở quá trình quản lý tiếp theo Chu kì quản lý lập đilặp lại liên tục Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp tồn tại”hìnhquản lý thường xử lý đầu vào trước; từ tình hình thực tế đặt ra các vấn đề đòi hỏingười lãnh đạo (bị động) xử lý Mọi xử lý đều lệ thuộc (bị ràng buộc) bởi thực trạngcủa các yếu tố đầu vào theo cách xử lý này, hiệu quả quản lý thấp, cấp dưới, cơ sởthường bị động, lệ thuộc toàn bộ vào ý tưởng, nhiệm vụ và điều kiện cấp trên tạo racho mình Hậu quả của mô hình này là thường dẫn đến tình trạng ỷ lại, kém sáng tạo,dựa dẫm và lệ thuộc vào cấp trên Trong cơ chế thị trường, tình thế quản lý lại ngượclại Nhà quản lý chỉ hoạt động khi có mục tiêu và yêu cầu đã được xác định sẵn, thậmchí được quyền tính toán lựa chọn trước một cách chủ động Chỉ sau khi xác địnhchuẩn xác đầu ra (mục tiêu cuối cùng) các hoạt động quản lý mới được triển khai.Thực chất của quá trình này là dựa vào và chịu sự chi phối bắt buộc của đầu ra, nhàquản lý phải tính toán, xử lý ngược trở ngại “bằng cách nào, làm như thế nào, vớinhững điều kiện nào để đạt cho được đầu ra” Như vậy, đây là mô hình quản lý hoàntoàn chủ động, nó yêu cầu hệ thống quản lý phải luôn luôn sáng tạo, linh hoạt, vàhoàn toàn chủ động Chỉ có như vậy mới thoả mãn được mọi nhu cầu không ngừngtăng thêm với chất lượng ngày càng cao của hệ thống Theo mô hình này người quản

lý phải xử lý đầu ra trước, sau đó mới xử lý đầu vào Có thể khẳng định rằng, đây là

mô hình quản lý theo mục tiêu Quản lý theo mục tiêu (quản lý theo hiệu quả sảnphẩm cuối cùng) là mô hình quản lý hiện đại nhất

Kinh nghiệm cho thấy, quản lý phải xuất phát, nắm vững, quán triệt các quyluật của vấn đề đặt ra Vấn đề đặt ra gắn liền với thực trạng hiện thực của hệ thống,

nó được ý thức đầy đủ, đúng đắn qua đầu vào Các yếu tố nghiệp vụ của quản lý gắn

bó hữu cơ, đồng đội, hài hoà, ăn khớp với nhau từ mục tiêu, nguyên tắc, chức năng,phương pháp, cơ cấu tổ chức và cán bộ

1.3- Người quản lý

Đã một đôi lần chúng ta nhắc đến Người quản lý (manager) Vậy người quản

lý là ai và phân loại họ như thế nào

Trang 9

Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lựckhác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động

có hiệu quả và đạt đến mục đích

Người quản lý được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Trước hết là sựphân loại theo “cấp quản lý”

Người quản lý cấp thấp (hay còn gọi là người quản lý tuyến đầu, người quản

lý cấp cơ sở) (First-line-manager), là người chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả donhững thành viên của bộ phận mà người đó phụ trách thực hiện Người quản lý cấpthấp có nhiệm vụ giám sát và uốn nắn tại chỗ hoạt động cũng như kết quả của hoạtđộng đó của những thành viên của tổ chức - khi họ tiến hành các hoạt động Ngườiquản lý cấp thấp có vai trò như một mối dây liên hệ giữa kết quả hoạt động của bộphận do người phụ trách với các bộ phận khác trong tổ chức Người quản lý cấp thấpnhất không dành nhiều thời gian để làm việc với cấp quản lý cao hơn hay các thànhviên thuộc những bộ phận khác Phần lớn thời gian của người quản lý cấp này là đểsát cánh với những người mà họ trực tiếp phải theo dõi, giám sát và đôn đốc Họ phảivật lộn với bộn bề công việc sự vụ và phải thông tin liên lạc, phải giải quyết vấn đềngay tại chỗ và tức thì Nói cách khác họ là người chỉ huy nơi “đầu sóng ngọn gió”,trên “tuyến lửa”, nơi các hoạt động diễn ra Người quản lý cấp trung gian (middlemanager) Hiển nhiên một tổ chức có quy mô nhỏ có thể chỉ cần đến một cấp quản lý.Nhưng khi tổ chức phát triển lớn, mở rộng hơn, người quản lý phải chăm lo đến việcđiều phối hoạt động của nhiều thành viên, phải xác định loại hình hoạt động cần cungứng cho xã hội Khi đó nảy sinh vấn đề về việc cần phải có những người quản lý cấptrung gian Đó là những người tiếp thu những chủ trương, chiến lược, chính sách cótầm rộng lớn và toàn diện từ người quản lý cấp cao và rồi thì chuyển tải chúng thànhnhững mục tiêu và kế hoạch chuyên biệt hơn, riêng lể hơn, cụ thể hơn cho ngườiquản lý cấp thấp để họ thực hiện Những người quản lý cấp trung gian điển hìnhthường giữ những chức vụ như trưởng phòng ban, chủ nhiệm khoa Họ có tráchnhiệm chỉ đạo, định hướng và điều phối hoạt động của những người quản lý cấp thấphoặc những người không giữ nhiệm vụ quản lý như các nhân viên văn thư, cán bộ trợ

lý, giáo viên

Người quản lý cấp cao (Top manager) là những người chịu trách nhiệm địnhhướng, chỉ đạo và vận hành toàn diện của cả một tổ chức Họ phải xây dựng, xác

Trang 10

định mục tiêu, chính sách, chiến lược cho toàn bộ tổ chức Mục tiêu do họ đặt ra,theo thứ bậc, trật tự trong tổ chức sẽ phải đi tới từng thành viên Người quản lý cấpcao thường xuyên phải đại diện cho tổ chức trong các hoạt động có tính cộng đồng,giao dịch, đàm phán thương thuyết Họ dành nhiều thời gian để trao đổi, tranh luậnvới người quản lý cao cấp khác trong tố chức hay với những người có liên quan ởnhững tổ chức, đơn vị khác.

Có một cách phân loại người quản lý theo “phạm vi” quản lý, phạm vi tácđộng và ảnh hưởng của họ Có thể chia ra hai loại chủ yếu sau đây:

Người quản lý theo chức năng (functional manager) là những người có tráchnhiệm giám sát, theo dõi, đôn đốc hoạt động của những người dưới quyền theo mộtchuyên môn hoặc kỹ năng hẹp, hoạt động trong một phạm vi hẹp, rất chuyên biệt

Người quản lý tổng hợp (general manager)/hay người tổng quản lý / là ngườichịu trách nhiệm về toàn bộ tổ chức hay những bộ phận quan yếu nhất của tổ chức

đó, những bộ phận bao trùm hay có ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực hoạt động cótính sống còn đối với tố chức Nói cách khác, người quản lý tổng hợp phải chủ trì haychịu trách nhiệm về một loạt các lĩnh vực chức năng

Người quản lý dự án (project manager) là người có trách nhiệm điều phốinhững nỗ lực khi lôi cuốn các cá nhân thuộc các bộ phận khác nhau trong một tổchức cùng thực hiện một dự án đặc biệt nào đó Vì lẽ các thành viên tham gia dự án

sẽ không những phải báo cáo công việc của dự án với người quản lý đơn vị của họ,

mà còn phải báo cáo với người quản lý dự án, cho nên người quản lý dự án phải có

kỹ năng liên nhân cách cực kỳ mạnh mẽ để đảm bảo công việc diễn tiến trôi chảy

Đây là một thuật ngữ sử dụng cho các hệ thống có các con người ở trong

Trang 11

chúng không đồng nhất và được giải thích tuỳ thuộc lĩnh vực nghiên cứu, cả hai thuậtngữ đều bao hàm ý tác động và điều khiển nhưng khác nhau về mức độ và phươngthức tiến hành Lãnh đạo (hướng dẫn) là quá trình định hướng dài hạn cho chuỗi cáctác động của chủ thể quản lý: còn quản lý là quá trình chủ thể tổ chức liên kết và tácđộng lên đối tượng bị quản lý để thực hiện các định hướng tác động dài hạn Lãnhđạo là quản lý nhưng mục tiêu rộng hơn, xa hơn, khái quát hơn Còn quản lý là lãnhđạo trong trường hợp mục tiêu cụ thể hơn và chuẩn xác hơn Người lãnh đạo là ngườitạo ra một viễn cảnh để có thể tập họp được con người vào tổ chức, còn người quản

lý là người tập họp sử dụng nhân tài vật lực để biến viễn cảnh thành hiện thực Cólúc, người quản lý cần phải làm người lãnh đạo và ngược lại Việc lãnh đạo và quản

lý do chủ thể quản lý tiến hành, chủ thể có thể duy nhất (một phân hệ, một lực lượng,một người ), mà cũng có thể là không duy nhất (gồm từ hai phân hệ trở lên); nhưng

để bảo đảm cho quá trình quản lý có hiệu quả cao, việc lãnh đạo và quản lý phảithống nhất hữu cơ với nhau, hoà nhập vào nhau Điều này trong thực tế không phảilúc nào cũng được thực hiện một cách trót lọt và trọn vẹn

Trong xã hội hiện đang lưu hành một thuật ngữ là “Quản trị” Thuật ngữ nàythường được sử dụng cho quản lý ở phạm vi các đơn vị kinh tế cơ sở (tập đoàn, tổngcông ty, công ty, doanh nghiệp, hộ kinh doanh v.v )

Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã đượctuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn đầu tổ chức, lãnh đạo bao hàmviệc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụnhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Hiển nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắtđầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnhhưởng quyết định tới hai chức năng kia

2- SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ LUẬN QUẢN LÝ

Các tư tưởng quản lý được hình thành trên nền tảng của những tiến bộ khoahọc, những giá trị văn hoá - tinh thần và sự phát triển của nền văn minh nhân loại.Bởi vậy, tư tưởng quản lý trong mỗi giai đoạn lịch sử, trong mồi khu vực đều cónhững sắc thái riêng biệt Tuy nhiên, về nguyên tắc, tất cả mọi lý thuyết quản lý đềuhướng tới việc giải quyết những vấn đề cơ bản do thực tế sản xuất kinh doanh đặt ra,như vấn đề nhân sự, ra quyết định, sử dụng hữu hiệu các nguồn tài nguyên hạn chế,phối hợp các nguồn lực và truyền thống trong tổ chức v.v

Trang 12

Do đó, việc nghiên cứu quá trình phát triển của tư tưởng quản lý có ý nghĩa rất

quan trọng đối với các nhà quản lý “hiện tại và tương lai” Bởi thông qua đó chúng ta

có thể có được một ý niệm khái quất về bức tranh lịch sử tư tưởng, quản lý và từ đó

có thể tìm lấy câu trả lời cho câu hỏi “Phương pháp tốt nhất để quản lý một tổ chức là

- Quan điểm tiếp cận hệ thống trong quản lý

- Quan điểm hiện đại

2 Quan điểm truyền thống

a) Thuyết quản lý khoa học (Scientific Managenment)

a) Thuyết quản lý khoa học

Frederick Winslow Taylor (1856-1915), một kỹ nghệ gia Mỹ, tác giả của

“Những nguyên tắc khoa học của quản lý” (1911) - The scientific Principles of

Management - là một trong những người tiền khởi trong việc hình thành nên lý luận

quản lý hiện đại Trong khi tống kết hoạt động thực tiễn của mình Taylor đã đề xuất

4 nguyên tắc cơ bản để quản lý một cách khoa học:

Taylor còn là người khởi xướng việc trả lượng theo sản phẩm thay vì trả lương

công nhật và xây dựng một chế độ tiền thưởng đối với những sản phẩm tăng thêm so

với định mức

a) Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định

phương pháp tốt nhất để hoàn thành

b) Tuyển chọn công nhân một cách cẩn trọng và huấn luyện họ hoàn thành

nhiệm vụ bằng cách sử dụng các phương pháp có tính khoa học đã được hình thành

c) Người quản lý họp tác đầy đủ và toàn diện với công nhân để đảm bảo chắc

chắn rằng người công nhân sẽ làm việc theo những phương pháp đúng đắn

d) Phân chia công việc có trách nhiệm sao cho người quản lý có bổn phận

phải lập kế hoạch cho các phương pháp công tác khi sử dụng những nguyên lý khoa

học, còn người công nhân có bổn phận thực thi công tác theo đúng kế hoạch đó

Đánh giá chung về trường phái quản lý khoa học

Trang 13

Ngày nay, những ý tưởng của Taylor và các thành viên khác thuộc trường pháiquản lý khoa học vẫn được công nhận và áp dụng trong nhiều tố chức Nhiều tố chức

đã làm ra sản phẩm nhanh hơn và rẻ hơn so với mong muốn của Taylor, với sự đầu tưhuấn luyện những kỹ năng thích họp cho nhân viên của họ Công việc của Taylor đãdẫn đến việc các nhà quản lý ngày nay cải tiến quy trình tuyển dụng và huấn luyệnnhân viên và tìm kiếm một phương pháp hữu hiệu nhất để hoàn thành mỗi công việc

Tuy nhiên, hầu hết các thành viên của trường phái quản lý khoa học đềukhông quan tâm đến khía cạnh con người trong sản xuất Bởi các ông đều cho rằngcông nghệ giữ vai trò trung tâm, nhân công là một yếu tố của hao phí sản xuất vàcũng là một yéu tố bất định Khi thiết lập các nguyên lý và lý thuyết, cả Taylor vàFrank đều cho từng nhân viên được thúc đẩy chủ yếu bằng sự phục vụ để thu đượctiền bạc nhằm thoả mãn các nhu cầu kinh tế và vật chất của họ Các ông đã khôngthấy rằng người nhân viên còn có các nhu cầu xã hội, các điều kiện làm việc và sựthoả mãn nghề nghiệp còn quan trọng hơn so với tiền bạc

Sự phân chia công việc thành những nhiệm vụ đơn giản nhất và thiết lậpnhững nguyên tắc rõ ràng để hoàn thành những nhiệm vụ đó không phải luôn đem lạinhững sản phẩm có chất lượng, tinh thần làm việc cao và một tổ chức hoạt động hiệuquả Bởi người nhân viên còn muốn tham gia vào quá trình đưa ra những quyết địnhliên quan đến công việc cuả họ Họ muốn được hành động độc lập và thực hiện côngviệc trong điều kiện cho phép họ tự hoàn thiện bản thân

b) Thuyết quản lý hành chính (còn gọi là quản lý tổng quát) (Administrative

Management)

Henry Fayol (1841-1925)- là một nhà kỹ nghệ người Pháp, với tác phẩm

“Quản lý công nghiệp và quản lý tổng quát”- Administration Industrielle et Generale(1916) đã đề xuất một trong những vấn đề then chốt nhất của lý luận quản lý hiện đại,dựa trên nguyên tắc về sự phân công lao động trong quản lý: vấn đề các chức năngquản lý Theo Fayol, có các chức năng quản lý là: Dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức,điều khiển, phối hợp, kiểm tra Học thuyết quản lý của Fayol dựa trên 14 nguyên tắcsau đây:

a) Phân công lao động: nhằm nâng cao hiệu quả làm việc khi chia công việcthành những phần nhỏ để bố trí người làm hợp lý

b) Quyền hạn và trách nhiệm: phải được phân bố song song và phù hợp với

Trang 14

c) Kỷ luật: một tổ chức phải có hệ thống kỷ luật buộc các thành viên phảituân thủ Fayol nhấn mạnh: kỷ luật cần được tôn trọng chứ không nên sợ nó

d) Thống nhất chỉ huy: mỗi cấp dưới chỉ nhận lệnh của một cấp trên

e) Thống nhất định hướng: một tổ chức hay một đơn vị có mục tiêu riêng củamình và phải được thống nhất bởi một chương trình kế hoạch và một người lãnh đạo

f) Lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích chung

g) Trả lương xứng đáng

h) Tập trung hoá: người quản lý ra quyết định Phi tập trung hoá: người bịquản lý cùng góp phần ra quyết định

i) Sợi dây quyền lực: mồi người quản lý - cho đến người bị quản lý - là một

bộ phận của hệ thống chỉ huy thống nhất từ cấp cao nhất

j) Trật tự: sự sắp xếp đúng nơi đúng chỗ cho con người, công việc, vật tư, tưliệu

k) Sự bình đẳng: đảm bảo sự đối xử bình đẳng và công bằng trong tổ chức đơn vị

-l) Sự ổn định về nhân sự: là điều kiện để guồng máy hoạt động đều và cóhiệu quả

m) Sáng kiến: mọi sáng kiến của các thành viên được khuyến khích và tôntrọng

n) Tinh thần đồng đội: là cơ sở để điều chỉnh hành vi của mỗi thành viên kể

cả người quản lý Thúc đẩy tinh thần đồng đội sẽ đem lại sự hoà họp, thống nhất cho

tổ chức, đó là chìa khoá để thành công

Ngày nay, nhiều tổ chức vẫn áp dụng những nguyên tắc này trong quản lý saukhi đã điều chỉnh chúng cho phù hợp với đặc điểm riêng và tình hình hiện tại

c) Thuyết quản lý bàn giấy (còn gọi là thuyết quan liêu) - Bureaucratic Management Quản lý kiểu bàn giấy là một hệ thống dựa trên những nguyên tắc, hệ

thống thứ bậc, sự phân công lao động rõ ràng và những quy trình hoạt động củadoanh nghiệp Người sáng lập ra trường phái quản lý này là nhà xã hội học ngườiĐức, chuyên nghiên cứu về quản trị văn phòng của các cơ quan Chính phủ - MaxWeber (1864 - 1920) Mặc dù, ông là một trong những nhà lý thuyết quản lý đầu tiêngiải quyết những vấn đề của các tổ chức, nhưng những công trình nghiên cứu của ông

Trang 15

chỉ được phổ biến rộng rãi sau khi chúng được dịch thuật tiếng Anh vào năm 1947.

Max Weber được coi là cha đẻ của lý luận tố chức, đã có đóng góp đáng kểvào sự hình thành nên trào lưu lý luận quản lý đầu thế kỷ 20 Theo Weber, để quản lýtốt một tổ chức cần xác định rõ những vấn đề về quy luật, chuẩn mực của tổ chức,vấn đề quyền hạn của mỗi cấp quản lý cần được phân định rạch ròi, cần có nhữngcam kết ràng buộc mồi thành viên với tổ chức và ngược lại Tóm tắt thuyết bàn giấycủa ông gồm các điểm như sau:

a) Sự phân công lao động cũng như quyền hạn và trách nhiệm được xác định

e) Cần trả lương xứng đáng cho hoạt động của người quản lý

f) Người quản lý không nên là người sử hữu đơn vị được người đó điều hành g) Hoạt động quản lý của người quản lý phải tuân thủ chặt chẽ các quy tắc,

chuẩn mực, quy phạm và phải chịu sự kiểm tra

d) Đánh giá chung về các trường phải quản lý truyền thống.

Ngày nay, các lý thuyết quản lý truyền thống vẫn được nhiều tổ chức tiếp tụctìm tòi, cải tiến và vận dụng Điều đó thể hiện tính hữu hiệu và sức sống của những lýthuyết cổ điển trong xã hội hiện đại Bảng tóm lược (1) sẽ nêu lên một số đặc điểm,lợi ích và hại? thế của các lý thuyết quản lý này

Cả ba trường phái quản lý truyền thống đều nhấn mạnh đến những nguyên tắcchính thức của tổ chức và đều đề cập đến các mối quan hệ chính thức giữa các bộphận, nhiệm vụ và các yếu tố cơ cấu của tổ chức Đồng thời các lý thuyết gia quản lýtruyền thống còn nhấn mạnh vai trò của nhà quản lý trong hệ thống thứ bậc của tổchức

Nhìn chung những tư tưởng quản lý truyền thống là những thành tựu nổi bậttrong điều kiện kinh tế - xã hội tại thời điểm đó và nguyên lý tổ chức, điều hành củanhững tư tưởng này vẫn đang được áp dụng trong các tổ chức hiện đại

Bảng 1: Những đặc trưng chủ yếu của các lý thuyết quản lý truyền thống.

Trang 16

Quản lý bàn giấy Quản lý khoa học Quản lý kiểu hành chỉnh

Cơ cấu quyền lực chi tiết

Sự cam kết làm việc lâu dài

c) Động viên bằng

vật chất

* Đặc điểm

(1) Định rõ các chứcnăng quản lý

(2) Phân công lao động(3) Hệ thống cấp bậc(4) Quyền lực.(5) Công bằng

* Hạn chế

 Không đề cập đến môi

trường

 Không chú trọng đến tínhhợp lý trong hành động của

nhà quản lý

2.2- Quan điểm hành vi (hay quản lý tác phong - Behavior)

Là một trong bốn trào lưu chính của các học thuyết quản lý, thuyết hành vichú trọng đến việc tạo điều kiện để những nhà quản lý có ứng xử hợp lý khi độngchạm đến khía cạnh con người trong một tổ chức, một đơn vị

- Mary Parker Follett nhận thấy, quản lý là một dòng chảy, một tiến trình liêntục và rất năng động Bà cho rằng, nêu một vấn đề được giải quyết, thì trong quátrình các nhà quản lý giải quyết vấn đề đó sẽ làm nảy sinh những vấn đề mới Bàcũng nhấn mạnh đến hai khía cạnh

Phải quan tâm đến những người lao động trong quá trình giải quyết vấn đề.Các nhà quản lý phải năng động, thay vì áp dụng các nguyên tắc cứng nhắc

Follett đã quan sát đế nghiên cứu cách thức giải quyết công việc của các nhàquản lý và từ những quan sát đó, bà kết luận rằng sự phối hợp giữa vai trò quyết định

Trang 17

đối với các hoạt động quản lý Bà đưa ra 4 nguyên lý về phối hợp như sau:

Sự phối hợp sẽ được thực hiện hữu hiệu nhất khi những người chịu tráchnhiệm ra quyết định có sự tiếp xúc trực tiếp

Sự phối hợp giữ vai trò rất quan trọng suốt giai đoạn đầu của hoạch định vàthực hiện các dự án

Sự phối hợp cần nhằm đến tất cả các yếu tố trong mồi tình huống cụ thể

Sự phối hợp phải được tiến hành liên tục

Follet cho rằng chính những nhà quản lí cấp tổ chức thực hiện sẽ là nhữngngười có thể đưa ra những quyết định tốt nhất Bởi vậy, theo Bà các nhà quản lí cấp

cơ sở là những người có địa vị thích họp nhất để phối hợp các nhiệm vụ sản xuất, bởi

họ có thể gia tăng sự truyền thông với các đồng nghiệp với công nhân sẽ có đượcnhững thông tin xác thực nhất, phục vụ cho việc ra quyết định Mặt khác, họ có thểvừa hoạch định, phối hợp và liên kết nhân viên trong quá trình sản xuất

Follett cũng chỉ rõ rằng, công việc của các nhà quản lý ở tất cả các cấp còn làthiết lập những mối quan hệ tốt với cấp dưới của họ, tuy quá trình này sẽ gặp một sốkhó khăn về mặt tâm lý và xã hội Các nhà quản lí cần tìm cách giải quyết nhữngxung đột trong nội bộ bộ phận do họ phụ trách và có lẽ tốt nhất là họ nên tích cực tiếpxúc và truyền thông trực tiếp với nhân viên và các đồng nghiệp Trong quá trình này

sẽ tạo ra sự hiểu biết giữa tất cả các bên

- Một chuyên gia quản lý khác cũng có đóng góp lớn vào trào lưu hành vi, đó

là Chester Barnard (1886-1961) Ông đề xuất "lý thuyết chấp thuận", trong đó chorằng cấp dưới sẽ sẵn sàng chấp thuận mệnh lệnh của người quản lý nếu họ hiểu rõyêu cầu của mệnh lệnh đó, nếu họ tin rằng những mệnh lệnh đó phù họp với mục tiêucủa tập thế của đơn vị, và họ thấy có ích lợi hiển nhiên trong việc thực hiện nhữngmệnh lệnh đó

Những nghiên cứu tại Hawthorne

Quan điểm về quản lý hành vi được nghiên cứu và thực hiện trong khoảngthời gian từ 1924 đến năm 1933 tại nhà máy Hawthorne thuộc công ty điện lực miềnTây, nằm tại Chicago - Hoa Kỳ

Cuối cùng, Mayo kết luận rằng sự gia tăng năng suất không phụ thuộc vào cácnguyên nhân vật chất, mà do một tập họp những phản ứng tâm lý rất phức tạp Ôngnhận định rằng: "khi những công nhân có sự chú ý đặc biệt thì năng suất sẽ tăng lên

Trang 18

bất kể các điều kiện làm việc có thay đổi hay không Hiện tượng này được gọi là hiệu

ứng Hawthorne" Những kết quả nghiên cứu này đã giúp Mayo và các cộng sự đưa ra

lý thuyết quản lí hành vi, được thể hiện trong cuốn sách nhân đề: "Những vấn đề con

người của nền văn minh công nghiệp"

2.3- Quan điểm tiếp cận hệ thống trong quản lý

Quan điểm (cách tiếp cận) hệ thống đã ra đời từ đầu những năm 40 của thế kỷ

XX, gắn liền với việc đổi mới công nghệ sản xuất vũ khí phục vụ đại chiến thể giới II

và sau này đã phát triển như một cách tiếp cận trong hoạt động khoa học cũng như

trong hoạt động thực tiễn của con người

Hệ thống là một tập họp những bộ phận vận hành tương tác với nhau để thực

hiện một mục đích chung Chẳng hạn, cơ thể con người là một hệ thống với nhiều cơ

quan, cơ bắp, xương và mạng lưới thần kinh hay một tổ chức cũng là một hệ thống

bao gồm nhiều phòng, ban, bộ phận được liên kết với mối liên hệ do mọi người cùng

làm việc với nhau Theo các nhà học giả thuộc các trường phái truyền thống, hay

trường phái hành vi thì tổng thể là một tổng số giản đơn các bộ phận của tổ chức

Trái lại, theo các nhà lý thuyết hệ thống thì tổng thể của một tổ chức lớn hơn tổng số

giản đơn các bộ phận của nó Bởi họ cho rằng một tổ chức luôn hoạt động trong một

môi trường cụ thể và các nhà quản lý phải chịu sự tác động của nhiều biến số môi

trường và biển số của tổ chức

Hệ thống là một tập họp các phân tử (thành tố) có liên hệ qua lại với nhau và

liên thuộc lẫn nhau, đây là một định nghĩa giản lược do Butterfly, một nhà sinh học

người Anh đề xuất năm 1960 khi ông viết cuốn "Lý luận hệ thống đại cương" Sau

này định nghĩa về hệ thống được làm phong phú hơn nhiều Có hai điểm cần lưu ý:

hệ thống là một thực thể hơn hẳn về chất so với những phần tử tạo nên nó, hệ thống

không tồn tại cô lập mà có liên hệ với các hệ thống khác và với môi trường bên

ngoài

Quan điểm hệ thống trong quản lý là quan điểm nêu lên cách tiếp cận một

trong bốn trào lưu chủ trong lý luận quản lý, giải quyết vấn đề bằng cách xem xét các

vấn đề trong khuôn khổ của cái gọi là đầu vào (nhập lượng) của hệ thống; quá trình

biến đổi; đầu ra (xuất lượng) của hệ thống, liên hệ ngược 30

Đầu vào: là những nguồn lực vật chất, con người, tài chính và thông tin được

đưa vào quá trình biến đổi và sẽ tạo thành đầu ra của hệ thống

Trang 19

Quá trình biến đổi: là công nghệ hay quá trình biến đổi, chuyển hoá đầu vào

để tạo thành đầu ra của hệ thống

Đầu ra: là kết quả của quá trình biến đổi khi hệ thống tiếp nhận đầu vào

Liên hệ ngược: là một hình thức thông tin về thực trạng của hệ thống và kếtquả hoạt động của nó

Người ta còn phân biệt các hệ thống đóng và hệ thống mở: hệ thống đóng là

hệ thống không có bất kỳ liên hệ nào với môi trường ngoài; hệ thống mở là hệ thống

có liên hệ qua lại với môi trường bên ngoài

Hệ thống con hay phân hệ là một bộ phận của hệ thống lớn, nó có đầy đủnhững tư cách của một hệ thống hoàn chỉnh

Như vậy có thể nói rằng, theo quan điểm hệ thống tất cả các tổ chức đều lànhững hệ thống và các hệ thống này số sự tác động qua lại, chi phối hay tương tácvới nhau tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa chúng

Quan điểm hiện đại

Các chức năng quản lý

Trong phần này, chúng ta bàn định sơ bộ về bốn chức năng quản lý chủ yếu,

cơ bản: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo - lãnh đạo và kiểm tra

Chức năng kế hoạch hoá là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục

và quyết định những biện pháp tốt nhát để thực hiện mục tiêu đó

Do vậy, khi tiến hành chức năng kế hoạch, người quản lý cần thực hiện hainhiệm vụ: xác định đúng những mục tiêu cần để phát triển giáo dục và quyết địnhnhững biện pháp có tính khả thi (phù hợp với quan điểm, đường lối trong từng giaiđoạn của Đảng và Nhà nước)

Tổ chức (organizing)

Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ýtưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyếtđịnh đối với sự chuyển hoá như thế

Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc cácquan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họthực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờviệc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồnvật lực và nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của

Trang 20

người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả.

Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, cácphòng ban cùng các công việc của chúng Và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ tiếpnối ngay sau các chức năng kế hoạch hoá và tổ chức

Chỉ đạo (leading)

Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã đượctuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Một số học giả gọi đó

là quá trình chỉ đạo (directing) hay tác động (influencing)

Lãnh đạo bao hàm việc liên kết liên hệ với người khác và động viên họ hoànthành những nhiệm vụ nhất định để đặc điểm đạt được mục tiêu của tổ chức Hiểnnhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu su khi lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàntất mà nó thấm vào ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia

Kiểm tra (controlling)

Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặcmột tố chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt độngsửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một kế quả hoạt động phải phù hợp với những chiphí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốnnắn

Đó cũng là quá trình điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau:

Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động

Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đãđặt ra

Người quản lý tiến hành những điều chỉnh những sai lệch

Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần

Thuyết quan hệ con người và phong cách lãnh đạo

Một người lãnh đạo có phong cách chỉ thị (directive style) - sẽ đưa ra nhữnghướng dẫn rõ ràng và chỉ thị cụ thể, riêng biệt Đối với người mới vào công tác, thìphong cách chỉ thị sẽ rất thích hợp Người mới đến thường là những người tận tuy,nhiệt tình, năng nổ Họ thường lo lắng khi phải bắt đầu công việc và bắt đầu phải họchỏi

Khi một thành viên đang học cách để hoàn thành nhiệm vụ, phong cách chỉ thịvẫn có ý nghĩa quan trọng, vì họ vẫn chưa sẵn sàng nhận lãnh toàn bộ trách nhiệm

Trang 21

trong việc hoàn tất công việc, nhiệm vụ được giao Nhưng người lãnh đạo cần bắt

đầu thể hiện hành vi giúp đỡ để xây dựng niềm tin cho họ và duy trì nhiệt tình cao

trong họ Phong cách này gọi là phong cách dẫn dắt (coaching style), nó khuyến

khích sự giao tiếp hai chiều và giúp hình thành niềm tin và động cơ làm việc cho

người thuộc cấp, mặc dù người lãnh đạo vẫn có nghĩa vụ (đối với họ) và kiểm soát

Khi các thành viên đã cảm thấy vững tin trong việc hoàn thành nhiệm vụ,

người lãnh đạo không cần ra chỉ thị nhiều nữa Tuy vậy, người lãnh đạo cần phải

nâng cấp sự giao tiếp thông qua sự lắng nghe chăm chú và cần giúp đỡ những nỗ lực

của người thuộc cấp sử dụng thành thạo và hiệu quả những kỹ năng mà họ đã học hỏi

được Phong cách này gọi là phong cách trợ giúp (supporting style), vì người lãnh

đạo và thuộc cấp chia xẻ quá trình ra quyết định, mối quan hệ chỉ thị không cần thiết

và không đáng trông chờ nữa Phong cách giao phó (delegating style) thích họp đối

với người lãnh đạo có trong tay những thành viên trưởng thành trong công việc, cả về

sự thành thạo cũng như về ý thức trách nhiệm Ngay cả khi người lãnh đạo còn phải

lo đến việc “nhận dạng” vấn đề, thì trách nhiệm thực hiện kế hoạch đã được giao phó

cho những thành viên giàu kinh nghiệm

3- NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ NHÀ

TRƯỜNG

1 Các quan điểm về quản lý giáo dục

I Quan điểm hiệu quả (Efficiency)

Là quan điểm quản lý giáo dục ra đời vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XX,

khi xuất phát từ việc áp dụng tư tưởng kinh tế vào quản lý giáo dục Theo quan điểm

hiệu quả, quản lý giáo dục phải được thực hiện sao cho hiệu số giữa đầu ra và đầu

vào của hệ thống giáo dục phải đạt cực đại

II Quan điểm kết quả (Effectiveness)

Ra đời vào đầu những năm 20 của thể kỷ XX Cơ sở tư tưởng của quan điểm

này là khoa học tâm lý sư phạm Quan điểm kết quả chú ý đến việc đạt mục tiêu giáo

dục nhiều hơn chú ý đến hiệu quả kinh tế của nó

III Quan điếm đáp ứng (Responsiveness)

Ra đời vào những năm 60 của thế kỷ XX Cơ sở tư tưởng của quan điểm này

là khía cạnh chính trị của giáo dục Quản lý giáo dục phải hướng tới việc làm cho hệ

Trang 22

thống giáo dục phục vụ, đáp ứng các đòi hỏi của sự phát triển đất nước, phát triển xãhội.

IV Quan điểm phù hợp (Relevance)

Ra đời vào những năm 70 của thế kỷ XX Cơ sở tư tưởng của quan điểm này

là vấn đề văn hoá Quản lý giáo dục phải đạt được mục tiêu phát triển giáo dục trongđiều kiện bảo tồn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc

3.2- Quản lý nhà trường

1 Quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường bao gồm hai loại: (i) tác động của những chủ thể quản lýbên trên và bên ngoài nhà trường; (ii) tác động của những chủ thể quản lý bên trongnhà trường

(1) Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản lýgiáo dục trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập,giáo dục của nhà trường

Quản lý nhà trường cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bênngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng đượcđại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhàtrường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát tri en đó

(2) Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm cáchoạt động (a) quản lý giáo viên; (b) quản lý học sinh; (c) quản lý quá trình dạy học -giáo dục; (d) quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường học; (e) quản lý tài chínhtrường học; (f) quản lý lớp học như nhiệm vụ của giáo viên; (g) quản lý mối quan hệgiữa nhà trường và cộng đồng

2 Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường

Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải tiếnquản lý giáo dục theo hướng tăng cường phân cấp quản lý nhà trường cho các chủ thếquản lý bên trong nhà trường với những quyền hạn và trách nhiệm rộng rãi hơn đểthực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề tại chỗ

Các nội dung chủ yếu của quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường baogồm:

Nhà trường là thực thể trung tâm của bất kỳ sự biến đổi nào trong hệ thốnggiáo dục

Trang 23

2 Nhà trường tự chủ giải quyết những vấn đề sư phạm - kinh tế - xã hộicủa mình với sự tham gia tích cực và có trách nhiệm của những thực thể hữu quanngoài nhà trường.

3 Nâng cao trách nhiệm và tính tự quản của mỗi giáo viên

4 Hỉnh thành các cơ cấu cần thiết và thiết thực để các thực thể hữuquan ngoài nhà trường có thể thực sự tham gia vào việc điều phổi công việc nhàtrường Đồng thời tăng cường trách nhiệm và quyền hạn của giáo viên tham gia quátrình ra quyết định quản lý trong nhà trường

5 Hình thành các thiết chế hỗ trợ về tài chính và các nguồn lực cầnthiết khác để giáo viên thực sự tham gia công việc quản lý nhà trường Hình thành cơchế phân cấp quản lý tài chính, nhân sự, thực hiện thậm chí cải tiến thích họp nộidung và phương pháp giảng dạy phù họp với đặc điểm cụ thể của nhà trường

6 Hình thành và hoàn thiện hệ thống thông tin giữa các thực thể trong

và ngoài nhà trường tham gia trực tiếp vào các hoạt động quản lý nhà trường

7 Xây dựng môi trường giáo dục trong nhà trường và xây dựng nhàtrường thành một hệ thống mở nhằm công khai hoá các hoạt động của nhà trường

8 Hình thành thiết chế đánh giá kết quả hoạt động sư phạm của nhàtrường dựa trên những thực thể trực tiếp tham gia quá trình sư phạm và quá trìnhquản lý nhà trường mục tiêu quản lý giáo dục

Khi được giao nhiệm vụ quản lý một đơn vị, tổ chức hay một cơ sở giáo dụcnào đó, người quản lý sẽ phải tự hỏi: Ta sẽ dẫn đối tượng đi tới đâu? để đạt tới đíchnào? đích phải đến như thế nào? Để trả lời được những câu hỏi đó cần phải hiểu vềnhững thuật ngữ mục tiêu, mục đích và các khái niệm mục tiêu quản lý và mục tiêuquản lý trong giáo dục và những đặc trưng của nó

1 Mục tiêu quản lý giáo dục và đào tạo

b Khái niệm mục tiêu quản lý giáo dục và đào tạo

Mục tiêu quản lý giáo dục là trạng thái được xác định trong tương lai của đổi tượng quản lý hoặc của một số yếu tố cấu thành nó.

Từ định nghĩa về mục tiêu quản lý nêu trên, ta có thể xác định được hai đặc

điểm về trạng thái của mục tiêu quản lý giáo dục như sau: một là, trạng thái của mục

tiêu là trạng thái chưa có hoặc đang có mà ta muốn đạt tới hoặc muốn duy trì Từ đặcđiểm này cho thấy mục tiêu của mỗi trường học hay của hệ thống giáo dục thường

Trang 24

mang tính lý thuyết cao hoặc kỳ vọng quá lớn của những người quản lý đối với cácđối tượng được quản lý Do đó khi lựa chọn mục tiêu, người quản lý phải xác địnhkhoảng cách giữa "lí thuyết” hoặc "kì vọng” với thực trạng của đơn vị sao cho mục

tiêu có tính khả thi Hai là trạng thái của mục tiêu quản lý là trạng thái chỉ có được

thông qua tác động quản lý và sự vận động của các đổi tượng quản lý, bởi lẽ, sựnghiệp của của mỗi con người hay của bất kỳ hệ thống nào phải do chính họ tự thânvạn động và không có ai có thể làm thay cho họ được

Khi nghiên cứu về mục tiêu quản lý giáo dục cũng cần phải hiểu rõ về đốitượng quản lý giáo dục hoặc các yếu tố cấu thành nó Trong lí luận và thực tế quản lýcho thấy có thể xác định đối tượng ở hai cấp: ở cấp quản lý cơ sở và ở cấp quản lý vĩ

mô Trong giáo dục, trường học là cấp cơ sở, mỗi trường học là một tế bào của hệthống giáo dục, nên trường học là đối tượng quản lý ở cấp cơ sở Tập họp các trườnghọc ở các cấp học, ngành học khác nhau tạo thành hệ thống các trường học, hệ thốngcác trường học lại được quản lý theo các cấp hành chính, do đó sự nghiệp giáo dụctrên mồi một địa bàn là đối tượng quản lý đối với các cơ quan quản lý giáo dục cáccấp (cấp vĩ mô hiểu theo nghĩa rộng)

Hệ thống giáo dục bản thân là một hệ thống xã hội, nên đối tượng của quản lý

giáo dục cũng thể hiện ở 4 thành tố cơ bản là: Tư tưởng (gồm quan điếm, đường lối, chính sách, chế độ, nội dung, phương pháp, tổ chức và kết quả); Con người (cán bộ công chức ngành giáo dục và học sinh, sinh viên); Quá trình biến đổi (việc dạy và học diễn ra theo không gian và thời gian); Vật chất (gồm cơ sở vật chất và trang thiết

bị kỹ thuật phục vụ cho dạy và học)

Xem xét đối tượng quản lý giáo dục có thể thấy được dặc điểm của nhữngthành tố trong mục tiêu quản lý giáo dục như sau:

+ Mỗi thành tố thuộc đối tượng quản lý giáo dục đều có những qui định vềchất và lượng nhất định Những qui định này mang tính chất lịch sử, xã hội, địaphương cả trước và sau khi biến đổi Chẳng hạn qui định trình độ chuẩn hoá độingũ giáo viên mầm non, tiểu học, ở điều 77 Luật Giáo dục chỉ rõ “có bằng tốt nghiệptrung học sư phạm đối với giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học", song qui định này

ở mồi địa phương, lãnh thổ cũng còn khác nhau

+ Hệ thống giáo dục là một bộ phận của hệ thống xã hội, vì vậy, muốn tồn tại

và phát triển, hệ thống giáo dục phải luôn giữ được sự cân bằng động đối với môi

Trang 25

trường xã hội Thời bao cấp, sự nghiệp giáo dục phát triển trên quan điểm giáo dục làphúc lợi của xã hội; Ngày nay, trong thời kì đổi mới, giáo dục phát triển phải trên nềntảng đáp ứng những yêu cầu theo sự đặt hàng của kinh tế - xã hội và phải có sự đầu

tư cần thiết của nền kinh tế - xã hội

+ Để giữ được sự cân bằng động đối với môi trường xã hội, hệ thống giáo dụcphải là một hệ tự điều khiển Trong những năm qua, để đổi mới công tác quản lý giáodục, Bộ đã ban hành nhiều văn bản, qui chế, qui định khác nhau về chế độ kiểm tra,đánh giá hoặc thi, tuyển và cấp phát bằng cấp, song trong thực tế đã có những tácđộng làm nhiễu trong quá trình thực hiện gây ra những hiện tượng lộn xộn trongnhiều khâu quản lý làm khó khăn cho quản lý của ngành và của cả xã hội, do đó cácvăn bản và qui định này hàng năm được Bộ xem xét, điều chỉnh và hoàn thiện chophù họp

Những đặc điểm nói trên của hệ thống phải được phản ánh trong quá trình xácđịnh, lựa chọn mục tiêu quản lý giáo dục

c Hệ thống mục tiêu quản lý giáo dục và đào tạo

Hệ thống mục tiêu quản lý giáo dục nếu xét về mặt nội dung thì bao gồmnhững vấn đề sau đây: về những kết quả giáo dục và đào tạo cần đạt được; trình độphát triển mọi mặt của một cơ sở giáo dục; về đội ngũ sư phạm; về cơ sở vật chất kĩthuật; về tổ chức và quản lý

Như vậy hệ thống mục tiêu quản lý giáo dục bao gồm những vấn đề cơ bảnsau:

+ Đảm bảo quyền học tập của học sinh các ngành học, cấp học, lớp học đúngchỉ tiêu, đúng tiêu chuẩn

+ Đảm bảo yêu cầu chất lượng và hiệu quả đào tạo

+ Phát triển tập thể sư phạm đủ, đồng bộ và nâng cao trình độ về chuyên môn,nghiệp vụ và đời sống

+ Đảm bảo quyền lao động của các cán bộ công chức và chất lượng lao động.+ Xây dựng, sử dụng và bảo quản tốt cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ thuậtphục vụ việc dạy và học

+ Xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý và các tổ chức chính trị, đoàn thểtrong mồi cơ sở và hệ thống quản lý giáo dục

+ Phát trien và hoàn thiện các mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục và xã hội để

Trang 26

làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ.

Như vậy, hệ thống mục tiêu quản lý giáo dục là một hệ mục tiêu rất phức tạp

đề cập tới các hoạt động của trường học cũng như các điều kiện cần thiết cho quátrình sư phạm diễn ra ở cơ sở giáo dục cũng như các hệ thống giáo dục khác Việcxây dựng hệ thống mục tiêu quản lý giáo dục phải dựa trên cơ sở phân loại mục tiêu

d Các đặc điểm của mục tiêu quản lý giáo dục và đào tạo

Như trên đã trình bày, hệ thống mục tiêu quản lý giáo dục là một hệ thốngmục tiêu phức tạp, hệ thống mục tiêu quản lý giáo dục có những đặc điểm cụ thể nhưsau:

1 Mục tiêu phân cấp và mạng lưới mục tiêu

Quản lý một đối tượng phức tạp và có qui mô rộng lớn như hệ thống giáo dụcthì bộ máy quản lý giáo dục cũng có cấu trúc phúc tạp tương ứng Bộ máy có cấu trúcphức tạp và chia thành nhiều cấp Chẳng hạn trong quản lý giáo dục có 4 cấp: BộGiáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng giáo dục - đào tạo và cấp cơ sởquản lí trường học, mỗi cấp lại có thể chia thành nhiều bộ phận Mỗi cấp, mỗi bộphận trong nhiệm vụ công tác của mình ở mỗi giai đoạn đều có những mục tiêu khácnhau Mục tiêu của cấp trên định hướng cho các hoạt động của cấp dưới, song nhiềukhi mục tiêu của cấp trên muốn thực hiện được nhiều khi phụ thuộc vào việc thựchiện mục tiêu của cấp dưới vì mục tiêu của cấp dưới chủ yếu phải phục vụ cho mụctiêu của cấp trên và là bộ phận của mục tiêu cấp trên

Như vậy, mục tiêu của hệ thong giáo dục được phân cấp lập thành một hệ thông mục tiêu phân cấp, trong đó, mục tiêu của cơ quan quản lý giáo dục cấp trên

là mục tiêu chung cho toàn bộ hệ thống, cấp dưới và từng đơn vị có mục tiêu riêng của từng cấp, từng đơn vị

Các mục tiêu chung và mục tiêu riêng hợp thành một mạng lưới các kết quả vàcác trạng thái (sự kiện) mong muốn Người quản lý cần quan tâm đến sự liên hệ giữacác mục tiêu trong mạng lưới sao cho kết quả của các mục tiêu bộ phận hợp thànhmục tiêu chung đồng thời khắc phục những mâu thuẫn có thể có giữa các mục tiêuhoặc giữa các biện pháp để thực hiện các mục tiêu giữa các cấp quản lý hoặc giữa các

bộ phận chức năng của từng cấp quản lý

Điều cần thiết và lí tưởng là làm sao để có được một mạng lưới mục tiêu phổi hợp, hô trợ nhau.

Trang 27

ở những đối tượng tuy phức tập nhưng co qui mô nhỏ thường có cấu trúc bộmáy quản lý đơn giản, trong trường hợp này, nhiều mục tiêu khác nhau của nhữngmặt hoạt động khác nhau do một bộ phận của tổ chức hoặc thậm chí do một ngườixác định và triển khai thực hiện, do đó việc thống nhất và phối hợp giữa các mục tiêuquản lý thuận lợi hơn Bộ máy quản lý một trường học là thí dụ điển hình về hiệntượng này.

Đa mục tiêu:

Thoạt đầu nhiều nhà giáo dục và quản lý giáo dục có cảm giác rằng trườnghọc và hệ thống giáo dục chỉ có một "Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người ViệtNam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp,trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồidưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng vàbảo vệ tố quốc” (Điều 2 Luật Giáo dục) Nhưng nếu phân tích kĩ hơn, ta sẽ thấy rằngcác trường học cũng như toàn bộ hệ thống giáo dục đều có nhiều mục tiêu cùng mụclúc

Trong thực tế các trường học trực tiếp hoặc gián tiếp đồng thời có 3 chứcnăng: giáo dục và đào tạo; nghiên cứu và triển khai các công nghệ khoa học và sảnxuất hay phục vụ sản xuất Ngoài ra trong giáo dục còn có các mục tiêu xã hội khácnhư công bằng, bình đẳng, văn minh và để thực hiện được tất cả các chức năng,nhiệm vụ này mỗi cơ sở giáo dục phải có những mục tiêu về xây dựng đội ngũ sưphạm, về cơ sở vật chất về tổ chức và quản lý do đó nảy sinh tính đa mục tiêu

Vĩ tính đa mục tiêu nên không thế cỏ một tiêu chí duy nhất nào đó đê đánh giá nhà trường hay một cơ sở giáo dục hoạt động có hiệu quả hay không Nhấn mạnh một mục tiêu nào đó là làm lu mờ đì những mục tiêu khác khiến cho những người quản lý bỏ qua các công việc quan trọng khác hô trợ cho chính mục tiêu đó.

Như ở phần trên đã đề cập đến, mỗi cấp, mồi bộ phận, mỗi hệ thống quản lýđều có nhiều mục tiêu, đã có nhiều chuyên gia quản lý tìm cách xác định số lượngmục tiêu thích hợp

Tuy nhiên chưa có con số nào có tính thuyết phục Do vậy trong mọi trường hợp sổ lượng mục tiêu phải tuỳ thuộc vào khả năng của người quản lý có thể bao quát, tự làm được những mục tiêu nào và phân công, phân cáp cho cấp dưới thực hiện những mục tiêu nào trong sự giám sát, kiểm tra cần thiết.

Trang 28

Trong công tác kế hoạch của từng cơ sở giáo dục, muốn xây dựng và thựchiện các kế hoạch một cách có hiệu quả thì cần phải xác định rõ mục tiêu trước mắt(mục tiêu ngắn hạn), mục tiêu lâu dài (mục tiêu dài hạn), trong đó người quản lý cầnxác định được mục tiêu ưu tiên đế tập trung mọi khả năng thực hiện dứt điểm nhữngmục tiêu quan trọng.

Vì vậy, để đảm bảo thực hiện được các kế hoạch người ta thường phải bắt đầubằng xây dựng các mục tiêu và kế hoạch dài hạn rồi lùi dần về hiện tại với các mụctiêu ngắn hạn Như vậy việc thực hiện các mục tiêu ngắn hạn sẽ đảm bảo đạt tới mụctiêu dài hạn bằng cách phối hợp những kế hoạch ngắn hạn thành một kế hoạch dàihạn một cách chặt chẽ, lôgic và khả thi

Các mục tiêu định tính và mục tiêu định lượng:

Muốn có ý nghĩa và khả thi mục tiêu phải xác đáng Cách dễ nhất để có được

sự xác đáng là đề ra các mục tiêu dưới dạng định lượng Tuy nhiên có nhiều mục tiêukhông thể định lượng được một cách hợp lý Đặc biệt là ở cấp quản lý càng cao thìmục tiêu càng khó định lượng Trong những trường hợp đó phải xác định các mụctiêu định tính

Nhiều mục tiêu định tính cũng xác đáng tuy rằng nó không cụ thể và khôngchính xác bằng mục tiêu định lượng Trong thực tiễn công tác, bước đầu tiên trongviệc xác định mục tiêu của nhà quản lý ở các cấp quản lý giáo dục thường là việc đềxuất các mục tiêu định tính, sau đó mới cố gắng tìm cách định lượng hoá các mụctiêu có thể lượng hoá được

Mục tiêu ngân sách.

Thường mục tiêu được coi như các kết quả của các nhiệm vụ phải thực hiện.Nhưng nhiều chuyên gia quản lý giáo dục đã thấy rất rõ là mọi mục tiêu có đạt đượchay không đều phụ thuộc vào một ngân quĩ đã được tính toán kĩ và được cung cấpđúng kế hoạch Chính vì vậy ngân quĩ lại trở thành mục tiêu số một của mọi nhà quản

lý giáo dục các cấp

Đây là mục tiêu mà các nhà quản lý giáo dục cần lưu ý và cần am hiểu Mỗi

kế hoạch công tác nhằm thực hiện một hệ thống mục tiêu cần đi liền với một ngânquĩ đủ đảm bảo để biến các mục tiêu thành hiện thực Ngày nay, trong thực tế côngtác, có nhiều nhà quản lý giáo dục đã phải mất rất nhiều công sức để "tìm” tiền choviệc thực hiện các mục tiêu quản lý Tiền vừa là mục tiêu lại vừa là phương tiện đẻ

Trang 29

thực hiện mục tiêu quản lý khác.

- Quá trình quản lý theo mục tiêu

Ở đây ta sẽ xem xét quá trình quản lý theo mục tiêu diễn ra trong thực tiễncông tác quản lý như thế nào Thông thường các nhà quản lý giáo dục đề cập tớinhững vấn đề cơ bản trong cách xác định mục tiêu; các bước cơ bản của quản lý theomục tiêu; trách nhiệm đối với các mục tiêu và phương pháp quản lý theo mục tiêu

Cách xác định mục tiêu quản lý giáo dục

Những căn cứ đế xác định mục tiêu quản lý giáo dục:

Có 4 căn cứ để xác định mục tiêu quản lý giáo dục:

Thông thường, căn cứ để xác định mục tiêu quản lý của mối cơ sở giáo dục

được bắt đầu từ việc xác định nhu cầu phát triển kinh tế - xá hội của đất nước, của từng vùng lãnh thổ hay của từng địa phương Đây là tiêu chí quan trọng để xác định

đơn đặt hàng của kinh tế - xã hội đối với giáo dục và cũng là cơ sở để xác định hướng

đi lâu dài của giáo dục

Căn cứ thứ hai là nhu cầu phát triển giáo dục của đất nước, cộng đồng, lãnh thô hay của địa phương Những nghị quyết của Đảng, Nhà nước và của ngành về

phát triển giáo dục là cơ sở để xác định nhu cầu này Từ những nghị quyết của Đảng,chính sách của nhà nước và chỉ thị của ngành, người quản lý từng cấp và từng cơ sởhay từng bộ phận phải khẳng định được những mục tiêu mang tính tiên quyết trongđịnh hướng các hoạt động và những mục tiêu phấn đấu của hệ thống và của từng đơnvị

Sau khi tìm hiểu những căn cứ một và hai sẽ dự kiến được một hệ thống cácmục tiêu quản lý giáo dục, người quản lý dân chủ thường cho phép cấp dưới hoặctừng đơn vị thảo luận, phân tích xen những mục tiêu đã dự kiến có xác đáng không,

bộ phận củ họ có thể tham gia thực hiện những mục tiêu nào hoặc cho phép họ kiếnnghị điều chỉnh những mục tiêu cho thích hợp và xác đáng hơn Quá trình thảo luậnnày sẽ nảy sinh nhiều sáng kiến, đôi khi tìm ra được những cơ hội chưa hề biết đến.Thật sai lầm nếu như người quản lý có trách nhiệm lại dùng mệnh lệnh áp đặt cácmục tiêu cho hệ thống hoặc cho từng cấp hay cho từng cơ sở giáo dục

Căn cứ thứ ba là việc đánh giá hiện trạng của nhà trường hay hệ thống giáodục trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội cúng như các điều kiện đặc trưng khác

ở địa phương hay trong phạm vi từng vùng, hoặc toàn lãnh thổ quốc gia Trên cơ sở

Trang 30

đánh giá hiện trạng phát triển giáo dục mà tìm ra được những mặt mạnh cũng nhưnhững bức xúc của nhà trường, của giáo dục, tìm nguyên nhân và hướng khắc phục.

Căn cứ thứ tư là những điều kiện về nhân lực, vật lực, tài lực và quĩ thời gian

đế đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu Khi xem xét những điều kiên về nguồn lực

và thời gian, cần lưu ý rằng, số đông các nhà quản lý ở cấp dưới bao giờ cũng đòi hỏinhiều nguồn lực và thời gian lớn hon mức cần thiết để thực hiện các mục tiêu Đểtính toán và cân đối được chính xác người ta phải lấy mục tiêu giáo dục làm nền tảng,rồi từ đó xem xét tới các mục tiêu điều kiện khác

Phương pháp xác định mục tiêu quản lý giáo dục

Đe xác định và lựa chọn mục tiêu quản lý giáo dục có thể có nhiều nhómphương pháp khoa học khác nhau, phương pháp thông dụng trong thực tiễn quản lýgiáo dục là nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

a Phương pháp tiếp cận ngoại suy Bản chất của phương pháp này là phân

tích, đánh giá tính hiện thực của mục tiêu Người quản lý cần xác đinh hệ thống mụctiêu theo 3 tiêu chí: mục tiêu phải thực hiện, mục tiêu cần thực hiện (hay mục tiêuphấn đấu) và mục tiêu nên làm Trên cơ sở hệ mục tiêu đã xác định và điều kiện vềnguồn lực và thời gian cho phép mà quyết định những mục tiêu cho cơ sở hay từngcấp thực hiện

Để thực hiện phương pháp này có thể thực hiện một trình tự 4 bước như sau:

- Lựa chọn những trạng thái tất yếu, có tính qui luật và mong đợi, coi đó là

bộ phận cấu thành của mục tiêu quản lý Chẳng hạn những mục tiêu về phát triển sốlượng cũng như mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục

- Lựa chọn những trạng thái có thể có và mong đợi, tìm biện pháp nhậpchúng vào mục tiêu quản lý Tạo thêm điều kiện để biến cái có thể thành cái tất yếu.Chẳng hạn những mục tiêu mong muốn về xây dựng và phát triển đội ngũ sư phạmhoặc mục tiêu mong đợi về cơ sở vật chất thiết bị dạy học

- Xác định những trạng thái tất yếu hoặc có thể có nhưng không mong đợi,tìm cách hạn chế chúng trong mục tiêu quản lý bằng biện pháp, phương tiện nhấtđịnh

- Xác định những trạng thái mong muốn nhưng không thể có một cáchkhách quan và không đưa những trạng thái đó vào mục tiêu quản lý

Việc xác định mục tiêu theo phương pháp này có thể tiến hành qua việc lập

Trang 31

bảng ma trận như sau:

- Phương pháp tiếp cận tối: Xác định mục tiêu trên cơ sở tính toán để chỉ

sử dụng ít phương tiện, chi phí nhỏ nhất mà đạt hiệu quả lớn nhất

Phương pháp này có thể sử dụng bảng ma trận SWOT (theo 4 thành tố Mạnh,Yếu, Thuận lợi và Khó khăn) Trên cơ sở phân tích các mục tiêu theo phương phápnày, cho phép người quản lý lựa chọn được chiến lược hành động tối ưu

- Phương pháp tiếp cận thích ứng: Bản chất của phương pháp này là hướng sự

vận động tới mục tiêu bằng hạn chế và loại trừ các yểu tố không xác định Điều này

có thể liên quan đến trình độ hiểu biết của người quản lý về tương lai Tuỳ theo sựhiểu biết của người quản lý mà người ta xác định mục tiêu cần đạt tới

o Trách nhiệm đổi với các mục tiêu

Để thực hiện tốt các mục tiêu, tốt nhất là phải gắn mỗi mục tiêu với trách nhiệm của một hay một sổ người trong tổ chức Chẳng hạn, ở cấp cơ sở trường học,

Hiệu trưởng có trách nhiệm với các mục tiêu về hoạt động dạy và học; mục tiêu xâydựng và phát triển đội ngũ sư phạm; mục tiêu về tổ chức và hoạt động của các bộphận trong trường còn phó hiệu trưởng có trách nhiệm về mục tiêu các hoạt độnggiáo dục khác trong nhà trường, mục tiêu về xây dựng, sử dụng và bảo quản cơ sở vậtchất - thiết bị dạy học

Thực tế cho thấy, việc phân công trách nhiệm giữa những người quản lý vớinhững mục tiêu hoạt động đôi khi còn thiếu rõ ràng, hiện tượng này cần được khắcphục, kể cả những mục tiêu cần phải phối hợp thực hiện cho nhiều người, nhiều bộphận thì người quản lý cũng phải xác định rõ trách nhiệm cho từng người, từng bộphận và qui định cụ thể lề lối làm việc giữa họ với nhau cho đến khi công việc làmxong

Trách nhiệm đối với các mục tiêu quản lý còn liên quan chặt chẽ với việc xácđịnh thái độ cần thiết trong việc quản lý mục tiêu giáo dục Trong quản lý giáo dụcthường xuất hiện 3 kiểu thái độ khác nhau trong việc xác định mục tiêu bao gồm:

Thải độ duy ý chí do thoát ly thực tiễn dẫn đến các mục tiêu được xác định

thiếu căn cứ, cứng nhắc trong tổ chức, quản lý; bảo thủ và thiếu phản ứng nhanhnhạy trước thực tiễn đa dạng và phong phú nên không kịp thời xem xét và sửa đổinhững quyết định đã lỗi thời, không dám nhìn nhận thực tế và dẫn đến phản ứng quámuộn

Trang 32

Thái độ cơ hội do quan niệm rằng không sắp đặt được tương lai vì có quá

nhiều điều chưa biết, tốt nhất là nắm lấy công việc và thời cơ mà hành động ở từngnơi, từng lúc sẽ có thể có hiệu quả và có thể tránh được những sai lầm lớn Nhưng cónguy cơ lâm vào sự ứng biến thiếu lôgic, thiếu hệ thống, thiếu phương hướng dẫnđến khả năng đi chệch mục tiêu hoặc thậm chí có nguy cơ tiêu phí thời gian, côngsức, tiền của mà không đạt được kết quả gì

Thái độ thực tế khắng định sự cần thiết phải trù tính cho tương lai bằng cách

áp dụng các phương pháp khoa học để giảm bớt sự không chắc chắn của tương laimuốn hoạch định Đó là yêu cầu của kế hoạch hoá các hoạt động Độ nhạy cảm đốivới thay đổi của thực tiễn và khả năng thích ứng của người quản lý chỉ có được khihuy động được trí tuệ, công sức và tình cảm của mọi thành viên của tập thể lao độngvào việc thực hiện mục tiêu đã đề ra

o Quản lý theo mục tiêu:

Một trong những sự phát triển đáng lưu ý nhất trong quản lý là việc làm chocác chương trình quản lý theo mục tiêu trở thành một phương pháp cơ bản trong quản

lý giáo dục

Quản lý theo mục tiêu là huy động mọi biện pháp, mọi cách thức để đạt tớimục tiêu đã xác định Việc quản lý theo mục tiêu cho phép cấp dưới cũng như từngthành viên của tổ chức có thể đo lường được kết quả công việc của họ trong khi thựchiện cũng như khi làm xong công việc, trên cơ sở đó cấp dưới làm tốt được việc tựkiểm tra và tự điều chỉnh trong quá trình thực hiện mục tiêu

Để quản lý theo mục tiêu cần thực hiện theo những bước cơ bản sau:

- Xác định mục tiêu

- Phân tích mục tiêu và quyết định chiến lược hành động

- Triển khai thực hiện các mục tiêu

- Kiếm tra đánh giá việc thực hiện mục tiêu

Việc quản lý theo mục tiêu có hai yêu cầu cơ bản sau:

Một là, đổi mới cách đánh giá cấp dưới và nhân viên, không đánh giá ngườilao động thông qua tính cách cá nhân mà thay vào đó là sự đánh giá về kết qủa, hiệuquả lao động của họ

Hai là, việc áp dụng phương pháp quản lý theo mục tiêu chỉ chú trọng vào cácmục tiêu ngắn hạn vì nó tránh được những sai lệch trong việc thực hiện các nguyên

Trang 33

tắc quản lý Tuy nhiên định hướng này cũng có nguy cơ dẫn đến chỉ chú ý theo đuổinhững mục tiêu trước mắt mà sao nhãng việc thực hiện các mục tiêu lâu dài, có lợiích to lớn hơn.

Câu hỏi thảo và bài tập

- Thế nào là mục tiêu quản lý giáo dục nêu những đặc trưng của trạng thái mụctiêu quản lý giáo dục?

- Một số người quản lý phản đối việc xác định mục tiêu dài hạn Đ/c thấy ý kiến

đó đúng không? Vì sao?

- Đ/c có muốn thực hiện phương pháp quản lý theo mục tiêu không? Liệu đ/c sẽgặp khó khăn gì khi thực hiện phương pháp quản lý này?

- Bài tập: Đ/c hãy xác định những căn cứ trên cơ sở đó xác định mục tiêu quản

lý giáo dục của đơn vị hay cấp quản lý của mình trong một năm học?

- Sử dụng một phương pháp cụ thể để xác định mục tiêu và chiến lược hànhđộng của đơn vị hay cấp quản lý giáo dục của mình trong một năm học? chức năngquản lý giáo dục

Chức năng quản lý được qui định một cách khách quan bởi chức năng hoạtđộng của khách thể quản lý Từ chức năng quản lý xác định được nội dung hoạt độngcủa chủ thế quản lý Những khái niệm chức năng quản lý, quá trình quản lý, chu trìnhquản lý đã được sớm hình thành trong quá trình quản lý sản xuất công nghiệp từ đầuthế kỷ 20 Chúng đã phát triển, hoàn thiện và đã được sử dụng trong cả lĩnh vực quản

lý kinh tế - xã hội cũng như trong quản lý giáo dục Do đó khi nghiên cứu khái niệmchức năng quản lý giáo dục cần đề cập một cách đầy đủ tới các vấn đề khái niệmchức năng quản lý, phân loại chức năng quản lý, quá trình quản lý và chu trình quảnlý

- Khái niệm về chức năng quản lý giáo dục

o Chức năng quản lý:

Định nghĩa: chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt

thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mộtmục tiêu nhất định Khái niệm “chức năng quản lý “xuất hiện gắn liền với sự phâncông và hợp tác lao động trong quá trình sản xuất Trong nền sản xuất thủ công, mộtngười thợ thực hiện một chuỗi các hoạt động liên tiếp theo một qui trình công nghệnhất định để hoàn thành một sản phẩm Trong nền sản xuất công nghiệp, dưới tiến bộ

Trang 34

của khoa học - công nghệ, quá trình sản xuất một sản phẩm được chia ra thành nhiềucông đoạn, mồi công đoạn có nhiệm vụ thực hiện một dạng hoạt động chuyên biệt đểtạo ra các bán thành phẩm, phối hợp các bán thành phẩm để có được sản phẩm củaquá trình sản xuất (quá trình sản xuất công nghiệp tất nhiên cho ra đời các sản phẩmđược nhiều hơn, nhanh hơn tiến tới có chất lượng hơn và giá thành được hạ hơn trongkiểu sản xuất thủ công) Như vậy để tạo ra một sản phẩm trong dây chuyền mồinhóm công nhân đã thực hiện một dạng hoạt động nhất định Mỗi dạng hoạt độngchuyên biệt đó nhằm đạt tới một đích nhất định được gọi là chức năng sản xuất.

Từ chức năng sản xuất của khách thể được phản ánh vào hoạt động quản lý

mà tạo nên hệ thống chức năng quản lý Như vậy hệ thống chức năng quản lý đượcqui định một cách khách quan bởi chức năng hoạt động của khách thể quản lý

Chức năng quản lý giáo dục là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thôngqua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêuquản lý giáo dục nhất định

Trong hoạt động quản lý, “chức năng quản lý giáo dục” là điểm xuất phát đểxác định chức năng của cơ quan quản lý giáo dục và cán bộ quản lý giáo dục

o Phân loại chức năng quản lý giáo dục

Nhiều nhà khoa học và quản lý thực tiễn đã đưa ra những quan điểm khácnhau về phân loại chức năng quản lý:

- Theo truyền thống, H Fayol đưa ra 5 chức năng quản lý (thường gọi lànhững yếu tố Fayol) đó là:

 Ke hoạch (Planning)

 Tổ chức (organising)

 Chỉ huy (Directing)

 Phối hợp (Co - ordinating)

 Kiểm tra (Controlling)

- Theo D.M Kruk có 5 chức năng, đó là:

Trang 35

- V.G afanaxiep một chuyên gia nổi tiếng về quản lý xã hội của Liên X”cũnêu lên 5 chức năng quản lý sau:

 Xử lý và thông qua quyết định

 Tổ chức

 Điều chỉnh

 Kiểm kê và kiểm tra

- Theo G Kh PôPốp, các chức năng quản lý được phân chia như sau:

 Quản lý sơ bộ (bao gồm xác định mục tiêu, dự đoán, kế hoạch hoá)

 Quản lý cụ thể (tổ chức, ra lệnh, chỉ huy)

 Kiểm tra (kiểm kê, phân tích, mối liên hệ ngược)

- Theo quan điểm của Tổ chức UNESCO, hệ thống chức năng quản lýbao gồm 8 vấn đề sau:

C Chỉ đạo (bao gồm cả sửa chữa, uốn nắn và phối họp)

D Kiểm tra (bao gồm cả thanh tra, kiểm soát và kiểm kê)

Như vậy, tuy có nhiều cách phân loại chức năng quản lý khác nhau (khác nhau

về số lượng chức năng và tên gọi các chức năng) song về thực chất các hoạt động cónhững bước đi giống nhau để đạt tới các mục tiêu Ngày nay có thể còn có những tác

Trang 36

giả trình bày chức năng quản lý nói chung (hoặc chức năng quản lý giáo dục nóiriêng) theo những quan điểm phân loại khác nhau nhưng nền tảng của vấn đề vẫn là 4chức năng cơ bản theo quan điểm quản lý hiện đại.

oQuá trình quản lý giáo dục

Quá trình quản lý là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm thực hiện

hệ thống các chức năng quản lý để đưa hệ quản lý tới mục tiêu đã dự kiến

Như vậy quá trình quản lý giáo dục là quá trình thực hiện bốn chức năng: kếhoạch, tố chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đưa hệ thống giáo dục tới các mục tiêu đãđặt ra

Lý luận và thực tiễn quản lý đã khẳng định quá trình quản lý giữ vai trò trungtâm trong hệ thống quản lý vì nó chính là căn cứ xác định nội dung của hoạt độngquản lý, các tổ chức các giai đoạn liên tục trong quá trình quản lý, thậm chí còn làcăn cứ xác định và hình thành công nghệ quản lý

Quá trình quản lý có đặc trưng cơ bản là các giai đoạn hoạt động quản lýthường diễn ra theo một chu kỳ Chu kỳ trong quản lý trường học là một năm học bắtđầu từ tháng 9 năm trước đến tháng 6 năm sau Chu kỳ trong quản lý của các cơ quanquản lý lại xác định theo năm dương lịch, do đó, đế có hiệu quả cao trong quản lýgiáo dục, các cơ quan quản lý cần tính tới đặc điểm chu kỳ của nhà trường trong việcxây dựng kế hoạch và triển khai các hoạt động

Quá trình quản lý có tính chu kỳ được gọi là chu trình quản lý Chu trình quản

lý là sự kết hợp các chức năng quản lý theo một trật tự thời gian xác định, trong đócác hoạt động quản lý diễn ra kế tiếp nhau

Bàn về hoạt động quản lý giáo dục, chúng ta cần tìm hiểu người quản lý phảilàm gì, điều đó cũng chính là tìm hiểu các chức năng quản lý giáo dục và người quản

lý tiến hành công việc trong từng giai đoạn của từng chức năng quản lý như thế nào

2 Chức năng kế hoạch trong quá trình quản lý giáo dục

A Chức năng kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu phát triểngiáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó

Khi tiến hành chức năng kế hoạch, người quản lý cần hoàn thành được hainhiệm vụ là xác định đúng những mục tiêu cần để phát triển giáo dục và quyết địnhđược những biện pháp có tính khả thi (phù họp với quan điểm, đường lối theo từnggiai đoạn phát triển của đất nước)

Trang 37

B Vị trí, vai trò của chức năng kế hoạch trong quá trình quản lý

Chức nàng Kế hoạch là chức năng đầu tiên của một quá trình quản lý, nó có

vai trò khởi đầu, định hướng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình quản lý và là cơ

sở để huy động tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu và là căn cứ choviệc kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị vàtừng cá nhân

C Nội dung của chức năng kế hoạch:

Nội dung của chức năng kế hoạch thể hiện ở 4 hoạt động cơ bản sau:

- Xác định mục tiêu và phân tích mục tiêu

- Xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu

- Triển khai thực hiện các kế hoạch

- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch (đánh giá, tổng kết việc thựchiện kế hoạch, báo cáo trước tập thể và cơ quan quản lý cấp trên)

Để thực hiện chức năng kế hoạch, người quản lý nhà trường có thể chia quátrình thực hiện các nội dung trên này thành 4 giai đoạn: giai đoạn tiền kế hoạch (giaiđoạn xác định mục tiêu), giai đoạn lập kế hoạch, giai đoạn triển khai thực hiện kếhoạch, giai đoạn đánh giá, tổng kết việc thực hiện kể hoạch

Sản phẩm của giai đoạn tiền kế hoạch là hệ thống các mục tiêu quản lý của mỗi đơn vị, tổ chức; Sản phẩm của giai đoạn lập kế hoạch là hệ thống các bản kế

hoạch như: kế hoạch chiến lược (tương ứng với loại kế hoạch dài hạn từ 3 năm đến 5năm); qui hoạch (kế hoạch gắn với một nội dung hoạt động, trên một địa bàn và trongmột thòi gian cụ thể); kế hoạch hành động (các loại kế hoạch năm học hay kế hoạch

học kỳ, kế hoạch tháng ); Giai đoạn thực hiện kế hoạch là quá trình đang biến đổi

nên sản phẩm của quản lý là sự thể nghiệm tính đúng đắn của các quyết định quản lý

và sự điều chỉnh cần thiết để đảm bảo đạt tới các mục tiêu; Sản phẩm của giai đoạn đánh giá, tông kết thực hiện kế hoạch là bản báo cáo về các kết quả đã đạt được trong

đó chỉ rõ cách đo lường, đánh giá và các bài học rút ra trong quá trình thực hiện kếhoạch và chuẩn bị cho quá trình quản lý tiếp theo

Theo khía cạnh nội dung của vấn đề, chức năng kế hoạch phải tính tới quátrình thực hiện các chức năng quản lý khác và kéo dài suốt quá trình quản lý Do đó,tính kế hoạch phải cao hon, triệt để hon để đảm bảo việc đạt tới các mục tiêu, đócũng chính là nguyên do chủ yếu xuất hiện thuật ngữ kế hoạch hoá trong lý luận và

Trang 38

để đạt tới các mục tiêu của tô chức.

2 Chức năng tổ chức trong quá trình quản lý giáo dục

a Chức năng tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra.

b Vị trí, vai trò của chức năng Tổ chức trong quá trình quản lý Chức năng

Tổ chức là chức năng thứ hai trong quá trình quản lý nó có vai trò hiện thực hoá cácmục tiêu của tố chức và đặc biệt là chức năng tổ chức có khả năng tạo ra sức mạnhmới của tổ chức, cơ quan, đơn vị thậm chí của cả hệ thống nếu việc phân phối, sắpxếp nguồn nhân lực được khoa học và hợp lý Sức mạnh mới của tổ chức có thểmạnh hơn nhiều lần so với khả năng vốn có của nó nên người ta còn nhấn mạnh vaitrò này bằng tên gọi "hiệu ứng tổ chức"

I Nội dung chức năng tổ chức.

Để thực hiện được vấn đề phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực, chức năng

tổ chức thực hiện những nội dung chủ yếu sau:

I Xác định cấu trúc tổ chức của chủ thể quản lý tương ứng với các đốitượng quản lý

II Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân sự (giáo viên và công nhân viên).III Xác định cơ chế hoạt động và các mối quan hệ của tổ chức

IV Tổ chức lao động một cách khoa học của người quản lý

Tổ chức là một khâu - song là khâu quan trọng “nhất” của quản lý Để thể

hiện được vai trò quan trọng này, chức năng tổ chức phải hình thành một cẩu trúc

tổ chức tối ưu của hệ thống quản lý và phối hợp tốt nhất các hệ thống quản lý với hệ

thống bị quản lý

I Cấu trúc tổ chức là tổng hợp các bộ phận, đơn vị và cá nhân khác nhau,

có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá, có quyền hạn và tráchnhiệm nhất định được bố trí theo các cấp và các khâu khác nhau, nhưng cùng nhằm

Trang 39

bảo đảm thực hiện các chức năng quản lý và cùng hướng vào đích chung.

Trong quản lý giáo dục nói chung hay quản lý trường học nói riêng có thể xácđịnh cấu trúc tổ chức theo các kiểu mô hình khác nhau như: cấu trúc trực tuyến, cấu

trúc tham mưu, cấu trúc chức năng, cấu trúc trực tuyển - chức năng hay cấu trúc trực

tuyến - tham mưu - chức năng và cấu trúc chương trình - mục tiêu

Một bong những mô hình cấu trúc thường dược áp dụng là mô hình cấu trúctrực tuyến - tham mưu: + Cấu trúc trực tuyến - tham mưu - chức năng là một mô hìnhphối hợp các mô hình mô tả nêu trên kết hợp với sự phân cấp quản lý rõ ràng và triệt

để giữa các bộ phận và đơn vị trong trường học Với cách tổ chức hoạt động theo môhình này, bộ máy tổ chức trong một đơn vị sẽ có khả năng thực hiện được các yêucầu: tổ chức gọn, dễ hoạt động và có hiệu lực nhanh (xem sơ đồ hình 5)

Hình 1: Sơ đồ cẩu trúc trực tuyến - tham mưu - chức năng

II Nội dung quan trọng thứ hai của chức năng tổ chức là việc xây dựng vàphát triển đội ngũ nhân sự Đây là quá trình hoạt động và phát triển đội ngũ cán bộcông chức trong hệ thống giáo dục hoặc trường học ương đó thể hiện rõ các khâu: quihoạch đội ngũ; tuyển chọn bồi dưỡng; sử dụng; thẩm định (đánh giá lao động của cán

bộ công chức); thường xuyên thuyên chuyển và đề bạt hoặc bãi miễn đối với cán bộcông chức

Sản phẩm của công tác xây dựng và phát triển đội ngũ là nhà trường và hệthống giáo dục có được một đội ngũ cán bộ công chức giỏi được chuẩn hoá (giỏi vềchuyên môn và nghiệp vụ)

III Nội dung thứ ba của chức năng tổ chức là xác định cơ chế quản lý vàgiải quyết các mối quan hệ của tổ chức

Cơ chế quản lý hiểu theo nghĩa chung nhất bao gồm thiết chế tổ chức và các

chế độ quy phạm cho tổ chức vận dụng trong đời sống thực tiễn Trong quá trình hoạtđộng của nhà trường, chủ thể quản lý phải xác lập được một mạng lưới các mối quan

hệ tổ chức và giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các bộ phận bên trong nhà trường

và giữa nhà trường với bên ngoài, bên trên và cộng đồng xã hội để tạo điều kiện tốtcho quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường

IV Để hiện thực hoá các mục tiêu, người quản lý cần phải tổ chức lao độngcủa chính mình và lao động của cả đơn vị một cách khoa học trên cơ sở vận dụng

Trang 40

sáng tạo các chức năng quản lý Việc tổ chức lao động một cách khoa học và việc sửdụng thời gian và công sức dành cho các hoạt động một cách khoa học và hợp lý đểdạt tới các mục tiêu một cách có hiệu quả trong hoàn cảnh của mỗi đơn vị, tổ chứchoặc nhà trường.

3 CHỨC NĂNG CHỈ ĐẠO TRONG QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC

a Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ củanhững người khác nhằm đạt tới các mục tiêu với chất lượng cao

b Chức năng Chỉ đạo là chức năng thứ ba trong một quá trình quản lý nó có

vai trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hoá các mục tiêu Chức năng chỉ đạođược xác định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động nhằm đạt được các mụctiêu có chất lượng và hiệu quả Thực chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động

và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới những người khác nhằm biến những yêu cầuchung của tổ chức, hệ thống giáo dục và nhà trường thành nhu cầu của mọi cán bộcông chức, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác và mang hết khả năng để làmviệc Do vậy chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiệncác mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạtđộng

c Nội dung chủ yếu của chức năng chỉ đạo.

Chức năng chỉ đạo là một chức năng quản lý quan trọng và cần thiết cho việchiện thực hoá các mục tiêu, do đó trong chỉ đạo giáo dục phải quán triệt phươngchâm "duy trì - ổn định - đổi mới - phát triển” trong các hoạt động của nhà trường và

cả hệ thống giáo dục, từ đó, chức năng chỉ đạo trong giáo dục cần thực hiện các nộidung sau:

1 Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ

2 Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích

3 Giám sát và sửa chữa

4 Thúc đẩy các hoạt động phát triển

Chức năng chỉ đạo có nguồn gốc từ hai thuật ngữ Directing (điều hành) và

thuật ngữ Leading (Lãnh đạo), do đó, chỉ đạo vừa có ý nghĩa ra chỉ thị để điều hànhvừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ (ảnh hưởng tới quá trình hình thànhđộng cơ làm việc) của mọi thành viên trong toàn bộ hệ thống trên cơ sở sử dụng đúngđắn các quyền của người quản lý

Ngày đăng: 03/07/2022, 10:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

vừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ (ảnh hưởng tới quá trình hình thành động cơ làm việc) của mọi thành viên trong toàn bộ hệ thống trên cơ sở sử dụng đúng đắn các quyền của người quản lý. - BÀI GIẢNG CHUYÊN đề QUẢN lý GIÁO dục  TỔNG QUAN về KHOA học QUẢN lý và QUẢN lý GIÁO dục
v ừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ (ảnh hưởng tới quá trình hình thành động cơ làm việc) của mọi thành viên trong toàn bộ hệ thống trên cơ sở sử dụng đúng đắn các quyền của người quản lý (Trang 41)
Theo hình thức, quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng kế hoạch đến các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra - BÀI GIẢNG CHUYÊN đề QUẢN lý GIÁO dục  TỔNG QUAN về KHOA học QUẢN lý và QUẢN lý GIÁO dục
heo hình thức, quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng kế hoạch đến các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra (Trang 44)
Hình 1. Sơ đồ mối quan hệ giữa quyết định chiến lược và quyết định hành động - BÀI GIẢNG CHUYÊN đề QUẢN lý GIÁO dục  TỔNG QUAN về KHOA học QUẢN lý và QUẢN lý GIÁO dục
Hình 1. Sơ đồ mối quan hệ giữa quyết định chiến lược và quyết định hành động (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w