Lý do chọn đề tài Công tác giáo dục thể chất trong trường học các cấp là một mặt giáo dục đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dâ
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA THỂ DỤC THỂ THAO
Trang 3Phần I : MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Công tác giáo dục thể chất trong trường học các cấp là một mặt giáo dục đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài cho đất nước, để đáp ứng nhu cầu đổi mới sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1992 có qui định : “ Chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học”.[3]
Giáo dục thể chất ( GDTC ) là một mặt giáo dục toàn diện cho học sinh Trong nhà trường GDTC là một phương tiện có hiệu quả để phát triển hài hòa cân đối hình thể, nhằm nâng cao năng lực thể chất và tố chất thể lực (TCTL) của người học sinh
Giáo dục thể chất trong các trường đại học, cao đẳng là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, là phương tiện quan trọng và có hiệu quả để phát triển hài hoà, cân đối cơ thể và các tố chất thể lực của học sinh, sinh viên
Thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của con người Mặt khác rèn luyện và phát triển thể lực, lại là một trong hai điểm cơ bản của quá trình giáo dục thể chất
Các tố chất thể lực có thể phát triển trong quá trình tiếp thu kỹ thuật Xong nếu chỉ bằng con đường này thì các tố chất thể lực phát triển rất chậm Vì vậy để hình thành và hoàn thiện các kỹ thuật động tác thì học sinh thường xuyên phải nâng cao trình độ thể lực của mình
Chuẩn bị các tố chất thể lực, có mục đích trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả học tập, tạo ra năng lực làm việc cao trong quá trình học tập và công tác sau này của họ
Nhân tố quan trọng nhất đảm bảo chuẩn bị thể lực toàn diện cho học sinh
là chuẩn bị thể lực chung rộng rãi, bởi vì giáo dục toàn diện các năng lực thể chất và thường xuyên sẽ làm phong phú vốn kỹ năng, kỹ xảo vận động, sẽ đảm bảo những điều kiện chung, cần thiết đem lại hiệu quả của mọi hoạt động
Trang 4Một trong những nhiệm vụ chính của chuẩn bị thể lực chung cho học sinh là: Phát triển toàn diện các tố chất thể lực bao gồm: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo, mềm dẻo Đây là năng lực thể chất quan trọng nhất của những người tập luyện thể dục thể thao và là tiền đề quan trọng nhất để họ thực hiện được những nhu cầu ngày càng cao và phức tạp trong học tập và cuộc sống Tuy nhiên trong 4 tố chất trên thì mỗi tố chất có một ý nghĩa và quan trọng khác nhau, nhưng tố chất Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được những yêu cầu
về số lượng và chất lượng động tác Nếu tố chất mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽ dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao, còn tố chất khéo léo có tác dụng tốt trong việc học tập các kỹ thuật thể thao, nó làm cho học sinh lĩnh hội nhanh kỹ thuật mới và thực hiện tốt hơn những yêu cầu vận động đã đặt ra.Họ có thể học tập nhanh không những một kỹ thuật mà cả những kỹ thuật phức tạp khác
Đem lại khả năng chịu đựng lượng vận động cho học sinh điều này có ý nghĩa trong huấn luyện cũng như thi đấu, khả năng này được áp dụng như phương tiện để khởi động và nghỉ ngơi tích cực cho học sinh Qua quan sát chúng tôi nhận thấy đối với học sinh trường THPT Hùng Vương thì tố chất khéo léo, mềm dẻo còn yếu và qua tìm hiểu các tài liệu, chưa có công trình nào
đi sâu nghiên cứu ứng dụng hệ thống các bài tập nhằm nâng cao tố chất mềm dẻo và khéo léo cho học sinh các trường THPT
Xuất phát từ những lý do nêu trên, với mong muốn đóng góp một phần vào
sự phát triển của nhà trường, nâng cao chất lượng trong giờ giảng dạy GDTC với mục đích là phát triển tố chất tố chất mềm dẻo và khéo léo học sinh THPT chúng tôi nghiên cứu đề tài:
“Ứng dụng bài tập phát triển tố chất khéo léo-mềm dẻo cho nam học sinh khối 10 trường THPT Hùng Vương-Thị Xã Phú Thọ-Phú Thọ”
1.2 Mục đích nghiên cứu: Ứng dụng được bài tập nhằm phát triển tố chất
khéo léo-mềm dẻo cho nam học sinh trường THPT Hùng Vương-Thị Xã Phú Thọ-Phú Thọ
Trang 51.3.Nhiệm vụ nghiên cứu: Căn cứ vào mục đích nêu trên, đề tài cần giải
quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng tố chất khéo léo-mềm dẻo của nam học
sinh trường THPT Hùng Vương - Thị Xã Phú Thọ - Phú Thọ
- Nhiệm vụ 2: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập nhằm phát triển
tố chất khéo léo - mềm dẻo cho nam học sinh khối 10 trường THPT Hùng Vương - Thị Xã Phú Thọ - Phú Thọ
Trang 6Phần II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Những quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục thể chất
Tư tưởng bao trùm của Hồ Chủ Tịch trong việc đặt nền tảng xây dựng sự nghiệp thể dục thể thao của nước ta là: Khẳng định rõ thể dục thể thao là một công tác cách mạng, vừa là nhu cầu, vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của quần chúng, một sự nghiệp của toàn dân, do dân và vì dân Mục tiêu của thể dục thể thao là bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của nhân dân, góp phần cải tạo nòi giống
Việt Nam, làm cho dân cường, nước thịnh
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, trong đó trí dục, đức dục được coi là những vấn đề hệ trọng nhằm giáo dục hình thành nhân cách người học sinh - sinh viên - người chủ tương lai của đất nước, những người lao động phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức
Định hướng về công tác giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ trong
những năm tới, Nghị quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IV giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu đã khẳng định: "Giáo dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu Chuẩn
bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện, không chỉ phát triển về trí tuệ trong sáng, về đạo đức lối sống mà phải là con người cường tráng về thể chất Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất
cả các ngành, các đoàn thể, trong đó có giáo dục - đào tạo, y tế và thể dục thể thao" [7]
Cụ thể hoá đánh giá công tác thể dục thể thao trong những năm qua, chỉ thị 36 CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng về công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới đã nhận định: "Những năm gần đây công tác thể dục thể thao đã có tiến bộ, phong trào thể dục thể thao ở một số địa phương và ngành đã được chú ý đầu tư nâng cấp, xây dựng mới.Tuy nhiên, thể dục thể thao của nước
ta còn ở trình độ rất thấp, số người thường xuyên tập luyện thể dục thể thao còn rất ít, đặc biệt là thanh niên chưa tích cực tham gia tập luyện, hiệu quả giáo dục
Trang 7thể chất trong trường học và trong các lực lượng vũ trang còn thấp.Đội ngũ cán
bộ thể dục thể thao còn thiếu và yếu về nhiều mặt" [1]
Trong các văn bản nghị quyết của Đảng đã khẳng định: Phải xây dựng nền thể dục thể thao có tính dân tộc, khoa học và nhân dân, phát triển rộng rãi phong trào thể dục thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao và tăng cường công tác giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp với khẩu hiệu: "Khoẻ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" Cũng như khẳng định phát triển thể dục thể thao là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội, là nhiệm vụ của toàn xã hội
Chỉ thị 36 CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng đã nêu: "Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác thể dục thể thao là hình thành nền thể dục thể thao phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần của nhân dân Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện thể dục thể thao trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên" [1]
Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sự nghiệp thể dục thể thao nước nhà, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị 133/TTg về xây dựng quy hoạch phát triển ngành thể dục thể thao Trong đó đã nêu: "Ngành thể dục thể thao phải xây dựng định hướng phát triển có tính chiến lược, trong đó quy định rõ các môn thể thao và các hình thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa tuổi, tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của quần chúng: Khoẻ
để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bộ giáo dục đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc giáo dục thể chất trong nhà trường Cải tiến nội dung giảng dạy thể dục thể thao nội khoá, ngoại khoá, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh ở các cấp học, quy chế bắt buộc ở các trường, nhất là các trường Đại học phải có sân bãi, phòng tập thể dục thể thao, và có kế hoạch tích cực đào tạo đội ngũ giáo viên thể dục thể thao đáp ứng nhu cầu ở tất cả cấp học"
Giáo dục thể chất và thể thao học đường phải thực sự có vị trí quan trọng trong việc góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể chất có đủ sức khoẻ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,
Trang 8hiện đại hoá đất nước, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng Đồng thời xây dựng nhà trường thành những cơ sở phong trào thể dục thể thao quần chúng của học sinh, sinh viên Quán triệt sâu sắc nội dung của các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, và các văn bản pháp lệnh của Chính phủ về công tác thể dục thể thao trong tình hình mới, đồng thời để khắc phục thực trạng giảm sút sức khoẻ thể lực của học sinh, sinh viên hiện nay, hai ngành giáo dục đào tạo và thể dục thể thao đã thống nhất những nội dung, biện pháp và hợp đồng trách nhiệm chỉ đạo nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục thể chất của học sinh, sinh viên: "Hai ngành nhất trí xây dựng chương trình mục tiêu, cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, sức khoẻ, bồi dưỡng năng khiếu thể thao học sinh, sinh viên Kiến nghị với Nhà nước phê duyệt thành chương trình quốc gia và được đầu tư kinh phí thích đáng"
Để đưa công tác giáo dục thể chất trong nhà trường trở thành một khâu quan trọng trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo, cũng như xác định nhận thức đúng về vị trí giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp, thì cần phải được triển khai thực hiện đồng bộ với các mặt giáo dục tri thức và nhân cách từ tuổi thơ cho đến Đại học Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã ra Quyết định ban hành quy chế về công tác giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp trong đó đã khẳng định: "Giáo dục thể chất được thực hiện trong hệ thống nhà trường từ mầm non đến Đại học, góp phần đào tạo những công dân phát triển toàn diện Giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, nhằm giúp con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức Thể chất - sức khoẻ tốt là nhân tố quan trọng trong việc phát triển sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc" [3]
Trong các trường phổ thông giáo dục thể chất có tác dụng tích cực trong việc hoàn thiện cá tính, nhân cách, những phẩm chất cần thiết cho nghiệp vụ và hoàn thiện thể chất của học sinh Việc tiến hành giáo dục thể chất nhằm giữ gìn sức khoẻ và phát triển thể lực, tiếp thu những kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản, còn có tác dụng chuẩn bị tốt về mặt tâm lý và tinh thần của người cán bộ
Trang 9tương lai Đồng thời giúp họ hiểu biết phương pháp khoa học, để tiếp tục rèn luyện thân thể, củng cố sức khoẻ, góp phần tổ chức xây dựng phong trào thể dục thể thao trong nhà trường
2.2 Công tác Giáo dục thể chất trong các trường học ở Việt Nam
2.2.1 Giáo dục thể chất [6]
Khái niệm về giáo dục thể chất nằm trong khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng Điều đó, có nghĩa rằng cũng như giáo dục nói chung, GDTC là một quá trình sư phạm với đầy đủ những đặc điểm của nó, vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà giáo dục và học sinh phù hợp với nguyên tắc
sư phạm đặc điểm nổi bật của GDTC là ở chỗ, đó là quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực Tổng hợp những quá trình đó, xác định khả năng thích nghi thể lực của con người
Giáo dục thể chất được chia thành hai mặt chuyên biệt, dạy học động tác
2 Cung cấp cho học sinh, những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện thể dục thể thao, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các
Trang 10phương tiện nói trên để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động thể dục thể thao cơ sở
3 Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của học sinh, phát triển cơ thể một cách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục các thói quen xấu trong cuộc sống, nhằm sử dụng thời gian vào công việc có ích đạt hiệu quả tốt trong quá trình học tập và đạt được những chỉ tiêu thể lực quy định cho từng đối tượng và năm học trên cơ sở rèn luyện thân thể theo lứa tuổi
4 Giáo dục óc thẩm mỹ cho sinh viên và tạo điều kiện để nâng cao trình
độ thể thao của vận động viên, học sinh, sinh viên
Hoạt động thể dục thể thao trong các trường học, là một thành phần quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh ,sinh viên để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục của hoạt động thể dục thể thao, cần quán triệt sự thống nhất của hai mặt:
Thứ nhất: Giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, là phương tiện quan trọng và có hiệu quả để phát triển hài hoà, cân đối cơ thể và các tố chất thể lực của sinh viên
Thứ hai: Giáo dục thể chất trong các trường học là một quá trình
sư phạm, nó có tác dụng tích cực đến phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, tác phong và thẩm mỹ Nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho người cán bộ khoa học tương lai
2.2.2 Phát triển các tố chất thể lực một trong những mục tiêu của GDTC
Thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của con người Mặt khác rèn luyện và phát triển thể lực, lại là một trong hai điểm cơ bản của quá trình giáo dục thể chất
Các tố chất thể lực có thể phát triển trong quá trình tiếp thu kỹ thuật Song nếu chỉ bằng con đường này thì các tố chất thể lực phát triển rất chậm Vì vậy để hình thành và hoàn thiện các kỹ thuật động tác thì sinh viên thường xuyên phải nâng cao trình độ thể lực của mình
Trang 11Chuẩn bị các tố chất thể lực, có mục đích trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả học tập, tạo ra năng lực làm việc cao trong quá trình học tập và công tác sau này của sinh viên
Nhân tố quan trọng nhất đảm bảo chuẩn bị thể lực toàn diện cho học sinh
là chuẩn bị thể lực chung rộng rãi, bởi vì giáo dục toàn diện các năng lực thể chất và thường xuyên sẽ làm phong phú vốn kỹ năng, kỹ xảo vận động, sẽ đảm bảo những điều kiện chung, cần thiết đem lại hiệu quả của mọi hoạt động
Một trong những nhiệm vụ chính của chuẩn bị thể lực chung cho học sinh là: Phát triển toàn diện các tố chất thể lực bao gồm: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo, độ dẻo Đây là năng lực thể chất quan trọng nhất của những người tập luyện thể dục thể thao và là tiền đề quan trọng nhất để họ thực hiện được những nhu cầu ngày càng cao và phức tạp trong học tập và cuộc sống
Về phương diện sinh học, chuẩn bị thể lực toàn diện dựa trên cơ sở học thuyết sinh lý của Paplop, xem cơ thể con người như một thể hoàn chỉnh, trong đó các tố chất thể lực của con người có mối quan hệ mật thiết với nhau Phát triểm một tố chất thể lực nào đó, đều ảnh hưởng đến sự phát triển của các tố chất thể lực khác Nguyên tắc phát triển toàn diện trong giáo dục thể chất cho đối tượng là sinh viên có ý nghĩa đặc biệt, ở lứa tuổi học sinh cơ thể còn đang phát triển, quá trình lớn chưa kết thúc Cần tác động có mục đích tới quá trình giảng dạy thể dục thể thao đối với họ Hiệu quả tác động của các bài tập nhằm phát triển các tố chất thể lực, phần lớn phụ thuộc vào phương pháp tập luyện Các tố chất thể lực chung bao gồm: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và sự khéo léo Trong giới hạn của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu
về sự phát triển của 2 tố chất mềm dẻo và khéo léo
2.3.Cơ sở sinh lý của tố chất khéo léo ( năng lực phối hợp vận động) [4] 2.3.1.Khái niệm :
Khéo léo là khả năng của con người thực hiện những động tác phối hợp phức tạp và khảr năng hình thành những động tác mới phù hợp với yêu cầu vận động và hoàn cảnh thay đổi
Trang 12Theo quan điểm sinh học, sự khéo léo thể hiện bới khả năng hình thành những đường liên hệ tạm thời, hoàn thành những động tác phối hợp phức tạp , cần thiêt trong tình huống phức tạp và luôn thay đổi Thực chất sự khéo léo là một năng lực hỗn hợp của cơ thể, vì thế nó liên quan đến sự hoàn thiện kỹ năng vận động [4]
2.3.2 Đặc điểm của năng lực phối hợp vận động (tố chất khéo léo )
Nếu như các năng lực sức mạnh, sức nhanh, sức bền dựa trên cơ sở của hệ thống thích ứng về mặt năng lượng thì năng lực phối vận động (NLPHVĐ) lại phụ thuộc chủ yếu vào các quá trình điều khiển hành động vận động Việc xác định năng lực phối hợp vận động về cơ bản dựa trên cơ sở lý luận của tâm lý học hiện đại về khái niệm năng lực và dựa trên cơ sở học thuyết vận động Theo quan điểm này NLPHVĐ là một phức hợp các tiền đề của người tập (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thắng lợi một hoạt động TT nhất định Năng lực này được xác định trước hết thông qua các quá trình điều khiển (các quá trình thông tin) và được người tập hình thành và phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và năng lực khác như SN,SM,SB Năng lực phối hợp của người tập được thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng và có chất lượng cũng như việc hoàn thiện củng cố và vận dụng các kỹ xảo về kỹ thuật TT Tuy nhiên, giữa NLPHVĐ và kỹ xảo về kỹ thuật TT có điểm khác nhau cơ bản Trong khi kỹ xảo về kỹ thuật TT chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ vận động cụ thể thì NLPHVĐ là tiền đề cho rất nhiều hành động vận động khác nhau Căn cứ vào đặc điểm các loại hoạt động TT và yêu cầu riêng của chúng về PHVĐ, người ta phân thành bảy loại NLPHVĐ: Năng lực liên kết vận động Đó là năng lực nhằm liên kết các hoạt động vận động của từng bộ phận cơ thể, các phần động tác trong mối quan hệ với hoạt động chung của cơ thể theo mục đích hành động nhất định Nó thể hiện sự kết hợp các yếu tố về không gian, thời gian và dùng sức trong quá trình vận động Năng lực 40 liên kết vận động có ý nghĩa đối với tất cả các môn TT, đặc biệt các môn TT mang tính chất kỹ thuật như thể dục dụng cụ, các môn bóng và các môn
TT đối kháng hai người Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính làm cơ sở
Trang 13cho năng lực này là: phân tích thị giác và phân tích cảm giác cơ bắp Năng lực định hướng: đó là năng lực xác định, thay đổi tư thế và hoạt động của cơ thể trong không gian và thời gian Ví dụ như trên sân bóng, trên võ đài hoặc trên dụng cụ thể dục Năng lực định hướng có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn TT mang tính chất kỹ thuật, các môn bóng và các môn TT đối kháng hai người, vì trong các môn này người tập luôn phải thay đổi tư thế và vị trí của mình trong không gian Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính làm cơ sở cho năng lực này là phân tích thị giác Năng lực thăng bằng: đó là năng lực ổn định trạng thái thăng bằng của của cơ thể (thăng bằng tĩnh) hoặc duy trì và khôi phục nó trong
và sau khi thực hiện động tác (thăng bằng động) Năng lực thăng bằng có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn TT như: Thể dục nghệ thuật, thể dục dụng cụ, trượt băng nghệ thuật,trượt băng tốc độ, bơi thuyền, Judo, vật,… Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính làm cơ sở cho năng lực này là: cơ quan phân tích thị giác, phân tích tiền đình, phân tích cảm giác cơ bắp Năng lực nhịp điệu: đó
là năng lực nhận biết được sự luân chuyển các đặc tính chuyển động trong quá trình một động tác hoặc thể hiện nó trong khi thực hiện động tác Năng lực này chủ yếu thể hiện ở sự tiếp thu một nhịp điệu từ bên ngoài như âm nhạc, những
âm thanh đơn giản, hay sự tri giác bằng mắt và sau đó có thể tái hiện chính xác nhịp điệu đó trong quá trình thực hiện động tác Năng lực nhịp điệu có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn TT như: thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, aerobic, khiêu vũ, trượt băng nghệ thuật và là cơ sở quan trọng để tiếp thu kỹ thuật trong các môn TT khác Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính làm cơ sở cho năng lực này là: phân tích tiền đình,phân tích xúc giác và phân tích cảm giác cơ bắp Năng lực phản ứng: đó là khả năng dẫn truyền nhanh chóng và thực hiện các phản ứng vận động một cách hợp lý và nhanh chóng đối với một tín hiệu (đơn giản hoặc phức tạp) Năng lực phản ứng có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn bóng, các môn TT đối kháng hai người, các môn chạy tốc độ (100m), bơi…
Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính làm cơ sở cho năng lực này là: phân tích thị giác và phân tích thính giác Năng lực phân biệt vận động: đó là năng lực thực hiện động tác một cách chính xác cao và tinh tế từng hoạt động riêng lẻ,
Trang 14từng giai đoạn của quá trình đó Năng lực này thể hiện qua sự phân biệt có ý thức và chính xác các thông số về thời gian, không gian và dùng sức trong biểu tượng vận động của người tập Năng lực phân biệt vận động có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn TT mang tính chất kỹ thuật, các môn TT đối kháng hai người, bơi lội… Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin chính làm cơ sở cho năng lực này
là phân tích cảm giác cơ bắp Năng lực thích ứng: đó là năng lực chuyển chương trình hành động phù hợp với hoàn cảnh mới hoặc tiếp tục thực hiện hành động
đó theo phương thức khác dựa trên các cơ sở tri giác những thay đổi của hoàn cảnh hoặc dự đoán các thay đổi đó Sự thay đổi quá trình thực hiện động tác do tình huống thay đổi có thể được 41 người tập đoán trước, có thể bất ngờ hoặc hoàn toàn không đoán được Trong trường hợp tình huống thay đổi không lớn lắm thì năng lực này thể hiện ở việc thay đổi các thông số vận động riêng lẻ trên
cơ sở giữ nguyên nhiệm vụ vận động Còn khi có những thay đổi lớn thì năng lực đó biểu hiện ở sự chuyển đổi chương trình hành động một cách nhanh chóng
và hợp lý Năng lực thích ứng có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn TT mang tính chất đối kháng hai người và đối với các môn bóng Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin làm cơ sở cho năng lực này là: phân tích thị giác, phân tích xúc giác và phân tích cảm giác cơ bắp Việc phân chia năng lực phối hợp vận động thành bảy năng lực riêng có tính đặc thù khác nhau không có nghĩa là chúng tách rời nhau mà ngược lại các năng lực này luôn có mối quan hệ khăng khít, thống nhất,
là một tập hợp các tiền đề cho các hoạt động TT khác nhau Từng năng lực thể hiện rõ yêu cầu nổi trội của nó trong các hoạt động cụ thể
2.3.3 Ý nghĩa của năng lực phối hợp vận động :
Như đã trình bày ở trên, năng lực phối hợp vận động là cơ sở cho việc tiếp thu nhanh chóng và thực hiện một cách hiệu quả các hành động vận động phức tạp Do vậy, phát triển tốt các năng lực này sẽ giúp cho con người (đặc biệt là trẻ em) sau này có thể thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, hợp lý và đẹp các hoạt động vận động trong đời sống hàng ngày, trong lao động sản xuất, trong lĩnh vực quốc phòng và đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong hoạt động TT nâng cao Ý nghĩa đó được thể hiện ở những điểm sau: Phát triển ở một trình độ
Trang 15cao tất cả các năng lực phối hợp vận động và phát triển có mục đích các năng lực đó mà từng hoạt động TT chuyên sâu đòi hỏi làm cơ sở quan trọng để người tập nâng cao chất lượng các kỹ năng, kỹ xảo cơ bản tiếp thu được ở môn TT chuyên sâu Có trình độ cao về khả năng phối hợp vận động (bên cạnh một vốn
kỹ xảo vận động phong phú) sẽ học được nhanh và hoàn thiện các bài tập phức tạp trong các giai đoạn huấn luyện tiếp theo Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn TT đòi hỏi kỹ thuật phức tạp Có khả năng phối hợp vận động cao
và rộng, người tập sẽ tiếp thu nhanh các phương pháp nhằm phát triển thể lực chung, nhằm khởi động trước các buổi tập và thi đấu có lượng vận động cao hoặc nhằm nghỉ ngơi tích cực Đánh giá được khách quan mức độ phát triển cá biệt của người tập về khả năng phối hợp vận động sẽ góp phần tích cực vào việc tuyển chọn các VĐV có năng khiếu Đặc biệt là các VĐV thuộc các môn TT mang tính chất kỹ thuật phức tạp
2.3.4 Phương pháp phát triển khả năng phối hợp vận động
Việc lựa chọn các phương tiện tập luyện nhằm phát triển khả năng phối hợp vận động cần phải tuân theo một số nguyên tắc sau: Phương pháp chính là tập luyện, phương tiện chính là các bài tâp thể lực Năng lực chỉ phát triển thông qua hoạt động Do vậy, muốn phát triển NLPHVĐ phải thông qua sự tập luyện một cách tích cực, thông qua việc học và hoàn thiện các bài tập được lựa chọn làm phương tiện để phát triển năng lực này Việc học tập các kỹ xảo vận động cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển các NLPHVĐ Ngoài ra có thể sử dụng các bài tập tâm lý (mentales training) để phát triển năng lực xử lý thông tin và nhanh chóng hình thành các biểu tượng vận động theo nhiệm vụ vận động đặt ra
2.3.5 Các bài tập được sử dụng làm phương tiện phát triển khả năng phối hợp vận động
Cần yêu cầu người tập thực hiện chính xác và thường xuyên phải kiểm tra tính chính xác của bài tập một cách có ý thức Năng lực tri giác và điều khiển cách hành động vận động được phản ánh và giữ lại trong ý thức của người tập, lặp lại nhiều lần sai lầm về kỹ thuật sẽ dẫn đến việc củng cố các biểu tượng sai
về kỹ thuật động tác và hạn chế sự phát triển kỹ xảo Cần sử dụng các phương
Trang 16tiện tập luyện nhằm phát triển chức năng của các cơ quan phân tích Các cơ quan phân tích là một phần của hệ thống thần kinh–cơ, được coi là một bộ phận của
“thực thể sinh lý” của khả năng phối hợp vận động Phương thức hoạt động của
nó ảnh hưởng đến trình độ của khả năng phối hợp vận động Do vậy cần sử dụng các phương tiện phụ nhằm phát triển chúng Việc phát triển có mục đích một cơ quan phân tích cũng có tác dụng phát triển nhiều NLPHVĐ riêng lẻ Ví dụ, sử dụng ghế quay để phát triển chức năng tiền đình góp phần nâng cao năng lực thăng bằng và đồng thời nâng cao năng lực định hướng Cần sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao yêu cầu về phối hợp vận động của các bài tập thể lực Sau đây là một số biện pháp chính: Đa dạng hóa việc thực hiện động tác Ví dụ, có thể thay đổi các giai đoạn của động tác hoặc thay đổi vận động của các bộ phận
cơ thể như: đi, chạy, nhảy với các động tác tay khác nhau, thực hiện động tác với các nhịp điệu khác nhau… Thay đổi điều kiện bên ngoài Thực hiện động tác trong điều kiện nâng cao độ khó của môi trường như: thực hiện động tác với các dụng cụ có độ cao khác nhau, các trọng lượng khác nhau, với các đối thủ khác nhau hoặc trong các phạm vi hoạt động khác nhau như thi đấu trên sân hẹp… Phối hợp các kỹ xảo kỹ thuật với nhau Ví dụ: liên kết các động tác trong thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật hoặc trong các môn bóng ( ném, bắt, chạy – chuyền bóng, chạy- ném bóng…) Thực hiện động tác với yêu cầu thời gian Ví
dụ, phải thực hiện động tác trong một thời gian ngắn nhất ( tuy nhiên phải đảm bảo độ chính xác) Phương pháp này có tác dụng phát triển năng lực phản ứng, năng lực định hướng và năng lực liên kết vận động Thay đổi việc thu nhận thông tin Việc thu nhận và xử lý các thông tin về thị giác, thính giác, xúc giác, thăng bằng và cảm giác cơ bắp có ý nghĩa đặc biệt nhằm điều khiển vận động
Do vậy, cần phải yêu cầu người tập kiểm tra một cách có ý thức việc điều khiển các động tác trong quá trình vận động Có thể sử dụng thêm các thông tin phụ nhằm đạt mục đích như trên: Sử dụng gương nhằm nâng cao khả năng kiểm tra
về thị giác khi thực hiện các động tác phức tạp đối với người tập TT hoặc sử dụng thêm các điểm đích trong các bài tập phản ứng Để nâng cao độ khó trong khi thực hiện bài tập, có thể hạn chế thông tin, thông thường là các thông tin về
Trang 17thị giác, ví dụ như làm động tác thăng bằng mà mắt nhìn lên trên, nhìn sang bên hoặc nhắm mắt… Thực hiện các bài tập có yêu cầu cao về phối hợp vận động khi đã xuất hiện mệt mỏi Sau một lượng vận động phù hợp, yêu cầu người tập phải thực hiện các bài tập đòi hỏi sự phối hợp vận động phức tạp (trong trường hợp này, người tập phải nắmvững kỹ thuật, nếu không sẽ có hậu quả xấu do thực hiện sai kỹ thuật) Phải ngừng tập, nếu xuất hiện sai lầm kỹ thuật do mệt mỏi gây nên Sau các buổi tập thể lực với các bài tập phát triển chung, có thể thực hiện các bài tập nhằm phát triển năng lực định hướng, năng lực phân biệt, năng lực thích ứng…Thí dụ, thực hiện các bài tập phức tạp vào phần cuối buổi tập, thực hiện các bài tập thăng bằng sau khi đã lộn hoặc quay nhiều lần Các phương pháp nhằm phát triển NLPHVĐ rất phong phú, có thể phối hợp chúng với nhau hoặc thực hiện một cách có trọng điểm từng phương pháp Việc lựa chọn và sử dụng từng phương pháp cần căn cứ vào đặc điểm của từng năng lực cần phát triển Cần thường xuyên nâng cao mức độ khó khăn về phối hợp vận động của các bài tập, vì chỉ nâng cao kích thích đối với cơ thể mới tạo được một trình độ thích ứng cao hơn
2.4 Cơ sở sinh lý của tố chất mềm dẻo [4]
2.4.1 Khái niệm : Mềm dẻo là khả năng thực hiện động tác với biên độ lớn 2.4.2 Đặc điểm của tố chất mềm dẻo: Năng lực mềm dẻo là một trong những
tiền đề để người tập có thể giành được thành tích cao trong môn TT chuyên sâu Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn Biên độ tối đa của động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo Trước đây, người ta xếp năng lực mềm dẻo cùng nhóm với các tố chất thể lực như SM, SN, SB Hiện nay có nhiều quan điểm xếp năng lực mềm dẻo vào nhóm các năng lực phối hợp vận động Năng lực mềm dẻo được phân thành hai loại: mềm dẻo tích cực và mềm dẻo thụ động Mềm dẻo tích cực là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp nhờ sự nỗ lực của cơ bắp Mềm dẻo thụ động là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp nhờ tác động của ngoại lực như: trọng lượng của
cơ thể, lực ấn, ép của giảng viên hoặc bạn tập… Năng lực mềm dẻo phụ thuộc vào đàn tính của cơ bắp và dây chằng Tính chất đàn hồi cao của bộ máy vận
Trang 18động và sự phát triển chưa ổn định của hệ thống xương, khớp trong lứa tuổi thiếu niên là điều kiện rất thuận lợi để phát triển năng lực mềm dẻo
2.4.3 Ý nghĩa của năng lực mềm dẻo:
Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được những yêu cầu về số lượng và chất lượng động tác Nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽ dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển năng lực TT như:
- Thời gian học và hoàn thiện các kỹ xảo vận động bị kéo dài hoặc thậm chí không thể hoàn thiện được kỹ thuật động tác
- Sự phát triển của các năng lực (SN,SM,SB và NLPHVĐ) bị hạn chế hoặc không đầy đủ
- Biên độ động tác bị hạn chế Do vậy ảnh hưởng đến sức nhanh của động tác (quãng đường tăng gia tốc ngắn)
Ví dụ trong môn ném đẩy, VĐV phải thực hiện động tác với sự nỗ lực rất lớn và do vậy chóng dẫn đến mệt mỏi - Chất lượng thực hiện động tác bị hạn chế, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến thành tích thi đấu của VĐV Ví dụ như các môn thể thao có tính chất kỹ thuật (thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, khiêu
vũ, nhảy cầu…) ở các môn TT này chất lượng động tác là tiêu chuẩn để đánh giá thành tích của VĐV
2.4.4 Phương pháp phát triển năng lực mềm dẻo
Phương pháp chính để phát triển năng lực mềm dẻo là kéo giãn cơ bắp và dây chằng Người ta thường sử dụng phương pháp này dưới các hình thức sau:
- Kéo giãn trong thời gian dài: duy trì sự kéo giãn các nhóm cơ và dây chằng trong nhiều giây tới khi có cảm giác đau gần tới giới hạn chịu đựng Thông thường mỗi bài tập kéo giãn khoảng 10 – 20 giây và lặp lại bài tập đó từ
3 – 4 lần
- Tăng sự đàn hồi khi kéo giãn tới khi đạt được mức tối đa bằng các động tác lăng đơn giản ( như lăng chân phía trước, phía bên hoặc phía sau) hoặc đè ép theo dạng đàn hồi ( do GV hoặc bạn tập) cho tới khi các nhóm cơ bị kéo giãn đạt được biên độ lớn nhất
Trang 19- Kết hợp các động tác kéo giãn bằng đá lăng với việc dừng lại ở vị trí cao nhất của đá lăng (vị trí kết thúc) Ví dụ, lăng chân sang bên độ 6 đến 8 lần, sau
đó dừng lại ở vị trí cao nhất từ 3 đến 5 giây Lặp lại bài tập đó từ 5 – 6 lần
2.4.5 Ngu ên tắc phát triển năng lực mềm dẻo
Việc lựa chọn các bài tập phát triển năng lực mềm dẻo cần xuất phát từ yêu cầu của môn TT chuyên môn, từ các bài tập chuyên môn khác và từ trình độ phát triển của người tập Cần rèn luyện mềm dẻo một cách liên tục và hệ thống Tốt nhất là tập luyện hàng ngày Bởi sau khi đạt được trình độ cao nếu ngừng tập hoặc để cách quãng nhiều buổi tập thì năng lực mềm dẻo sẽ giảm sút nhanh chóng Đàn tính của cơ bắp và dây chằng cũng như khả năng làm việc của cơ bắp, phụ thuộc vào sự tuần hoàn máu Do vậy, trước các bài tập mềm dẻo cần khởi động kỹ Giữa các bài tập mềm dẻo cần bố trí xen kẽ các bài tập thả lỏng hoặc xoa bóp nhẹ Cần kết hợp các bài tập phát triển năng lực mềm dẻo thụ động với các bài tập phát triển năng lực mềm dẻo tích cực Không nên sắp xếp các bài tập mềm dẻo vào phần cuối buổi tập hoặc sau phần tập sức mạnh vì mệt mỏi làm giảm khả năng đàn tính của cơ bắp, làm giảm hiệu quả tập luyện mềm dẻo và có thể gây ra chấn thương Sức mạnh có liên quan đến năng lực mềm dẻo tích cực
Do vậy cần đưa các bài tập phát triển sức mạnh chuyên môn vào chương trình huấn luyện năng lực mềm dẻo
2.5 Đặc điểm tâm sinh lý tuổi 16 – 17 ( khối 10 THPT) [4]
2.5.1 Đặc điểm tâm lý tuổi 16 – 17
Ở thời kỳ này, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức
- Cảm giác, tri giác: có chủ định đã đạt tới mức độ rất cao Quan sát trở nên
có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Quá trình quan sát đã chịu sự kiểm soát của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ Tuy vậy quan sát của thanh niên học sinh cũng gặp khó khăn nếu thiếu sự chỉ đạo của giáo viên.Cảm giác, tri giác đã phát triển mạnh và đạt tới ngưỡng của người lớn Nhờ vậy các em có khả năng quan sát, khả năng phối hợp vận động tốt hơn lauws tuổi trước rất nhiều
Trang 20- Tư duy và tưởng tượng: hoạt động tư duy có sự thay đổi lớn Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học hoặc đã bắt gặp Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Khi tư duy các em biết dựa vào nhận thức bản chất sự vật hiện tượng.Khả năng tưởng tượng phong phú, đa dạng, tưởng tượng tái tạo chính xác đối với khách quan
Tưởng tượng sáng tạo đã phù hợp với thực tiễn Tuy nhiên các em vẫn thích triết lý, suy luận và kết luận hay vội vàng, bồng bột
- Trí nhớ và chú ý: đã có nhiều tiến bộ về trí nhớ và chú ý, trí nhớ và chú ý
có mục đích, có ý thức ngày càng phát triển và giữ vai trò chủ đạo Cường độ, khối lượng chú ý và trí nhớ đã ổn định, do vậy cùng lúc các em có thể tập trung nhiều đối tượng để nhận thức Ở tuổi này ghi nhớ có chủ định, giữ vai trò chủ đạo tropng hoạt động trí tuệ đồng thời đóng vai trò của ghi nhớ lohic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày càng tăng lên rõ rệt
- Xúc cảm, tình cảm, ý chí: tuổi thanh niên là lứa tuổi mang tính chất tập thể Điều quan trọng đối với các em là được sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi, luôn cảm thấy mình cần cho nhóm, có uy tín, có vị trí cao nhất trong nhóm
Ở lứa tuổi này quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hơn hẳn với quan hệ với người lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn Đời sống tình cảm rất đa dạng phong phú đặc biệt là tình cảm bạn bè, tình cảm nghề nghiệp và xã hội đã thể hiện rõ rệt và bền vững Tình cảm giữa nam và nữ cũng được tích cực háo rõ rệt
- Về thế giới quan, tuổi thanh niên học sinh là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan – hệ thống quan điểm về xã hội để hình thành một hệ thống quan điểm nhân sinh quan riêng để hình thành quan điểm nhân sinh quan Tuy nhiên một số em còn chưa quan tâm đến sự hình thành thế giới quan hoặc còn thụ động nên chịu ảnh hưởng của tàn dư tiêu cực của quá khứ.[4]
2.5.2.Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 16 – 17: [4]
Ở độ tuổi 12 – 20 là độ tuổi đang trong thời kỳ phát triển cả về mặt tâm lý cũng như sinh lý Bởi các em ở độ tuổi này đang là thời kỳ của tuổi dậy thì, cơ
Trang 21thể phát triển về chiều cao lẫn cân nặng Tuổi dậy thì có thể đến muộn với người này nhưng cũng có thể đến sớm với người khác
+ Hệ thần kinh:
Hệ thần kinh tiếp tục phát triển để đi đến hoàn thiện.Khả năng tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển tạo thuận lợi cho việc hình thành chóng phản xạ có điều kiện Đây là đặc điểm thuận lợi để các
em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác Tuy nhiên một số bài tập mang tính chất đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm cho các em nhanh chóng mệt mỏi Cần thay đổi hình thức tập luyện một cách phong phú đặc biệt tăng cường các hình thức thi đấu, trò chơi để gây sự hứng thú và tạo điều kiện hoàn thành tốt các bài tập chính .[4]
Ngoài ra do sự hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên, làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng đã ảnh hưởng đến hoạt động thể lực Vì vậy giáo viên cần
sử dụng các bài tập thích hợp và thường xuyên quan sát phản ứng cơ thể học sinh để có biện pháp giải quyết kịp thời .[4]
+ Hệ vận động:
Hệ xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển Mỗi năm nam cao từ 1 – 3 cm, tập luyện TDTT một cách thường xuyên liên tục làm cho bộ xương khỏe mạnh hơn, ở tuổi này các xương nhỏ như: xương cổ tay, xương bàn tay hầu như đã hoàn thiện, các em có thể tập một số bài tập như: treo chống, mang vác các vật nặng mà không làm tổn hại hoặc không tạo sự phát triển lệch lạc của cơ thể Cột sống đã ổn định hình dáng nhưng vẫn chưa hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo cho nên việc tiếp thu bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua hệ thống bài tập như:
đi, chạy, nhảy, thể dục nhịp điệu, thể dục cơ bản cho các em vẫn rất cần thiết và không thể xem nhẹ .[4]
+ Hệ cơ:
Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ co vẫn còn tương đối yếu, các cơ bắp phát triển tương đối nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay) còn các cơ nhỏ (cơ bàn tay, cơ ngón tay) phát triển chậm hơn Các cơ co phát triển sớm hơn các
Trang 22cơ duỗi Nói chung cuối thời kỳ học sinh trung học phổ thong là thời kỳ cơ bắp phát triển nhanh nhất .[4]
Do vậy cần tập những bài tập phát triển sức mạnh để góp phần thúc đẩy sự phát triển các cơ Nhưng các bài tập không nên chỉ có treo và chống cùng với các bài tập lực đối kháng khác nữa Tập như vậy vừa phát triển các cơ co, cơ duỗi vừa giảm nhẹ sức chịu đựng của các cơ khi tập liên tục trong thời gian dài,các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho các loại cơ (to, nhỏ) được phát triển đều .[4]
+ Hệ tuần hoàn:
Hệ tuần hoàn của học sinh lứa tuổi 16 – 17 đang phát triển và đi đến hoàn thiện Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh mạch đập của nam từ 70 – 80 lần/phút Hệ thống điều hòa vận mạch phát triển tương đối hoàn chỉnh Phản ứng
hệ tuần hoàn trong hệ thống tim mạch tương đối rõ rệt nhưng sau vận động mạch đập và huyết áp hồi phục tương đối nhanh Vì vậy lứa tuổi này có thể tập các bài tập có khối lượng vận động và cường độ vận động lớn và thường xuyên kiểm tra trạng thái sức khỏe của học sinh .[4]
+ Hệ hô hấp:
Hệ hô hấp đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình của anm từ 67- 72 cm Diện tích tiếp xúc cảm phổi khoảng 100 – 120 cm² gần bằng tuổi trưởng thành Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng, lứa tuổi 16 – 17 khoảng 3 – 4 lít, tần số hô hấp gàn giống người lớn 10 – 20 lần/phút
Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sức co giãn của lồng ngực ít, chủ yếu là co giãn cơ hoành.Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú ý thở bằng ngực và các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình, dài có tác dụng đến phát triển hệ hô hấp
Tóm lại: Từ đặc điểm sinh lý chúng tôi đưa ra phương pháp và khối lượng
bài tập một cách hợp lý với lứa tuổi này là do cơ thể của các em đang phát triển
và dần hoàn thiện về các cơ quan trong hệ thống của cơ thể Do vậy việc sử dụng các bài tập phát triển các tố chất thể lực là rất cần thiết nhằm góp phần tạo cho các em có thể nâng cao sức khỏe, đạt được thành tích cao trong thi đấu
Trang 23Phần III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:
3.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích các tài liệu có liên quan
Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học Phương pháp này giúp cho việc hệ thống hóa các kiến thức có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã thu thập và nghiên cứu trên các tài liệu: Các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các văn bản pháp quy của ngành về công tác GDTC Trường học, các sách, tạp chí, tài liệu khoa học và các kết quả nghiên cứu của các tác giả, các nhà khoa học
3.1.2 Phương pháp quan sát sư phạm: [9]
Việc sử dụng phương pháp quan sát sư phạm nhằm trực tiếp theo dõi nội dung tập trong giờ chính khóa của học sinh bằng cách : Ghi số lượng các bài tập, số lượng học sinh trong lớp, cách thức tổ chức, hướng dẫn giờ học, thời gian tiến hành cho mỗi nội dung tập luyện TLC, các hình thức bài tập được sử dụng,
số lần lặp lại bài tập TLC
3.1.3 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu: [9]
Là phương pháp sử dụng trong quá trình điều tra thực trạng việc sử dụng các bài tập, phương pháp đánh giá trong quá trình giảng dạy để lựa chọn được các bài tập nghiên cứu ứng dụng trong quá trình nghiên cứu, đối tượng phỏng vấn là các cán bộ giảng dạy TDTT số người được phỏng vấn là 16người
Kết quả của quá trình phỏng vấn đã được chúng tôi xử lý bằng phương pháp toán học thống kê Nội dung phỏng vấn có thể tham khảo ở phụ lục 1
3.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm: [9]
3.1.4.1.Đánh giá mềm dẻo:
a Dẻo gập thân : Đơn vị đo : cm
Trang 24- Dụng cụ : Bục hỡnh hộp cú độ dài 50cm, một đầu cú đớnh thước kẻ sao
cho vạch số 0 khớp với mặt phẳng nằm ngang của bục, chiều dương (+) ở trờn, chiều õm (-) ở dưới
- Phương phỏp tiến hành:
+ Thực hiện và kết thỳc: Người được đo đứng 2 chõn trờn bục, hai chõn chụm sỏt, cỏc ngún chõn sỏt đầu bục, sau đú gập thõn về trước và cố gắng vươn sõu xuống dưới, giữ thẳng khớp gối trong 2 giõy
- Kết quả: Thực hiện 2 lần, tớnh kết quả ở lần gập tốt nhất Kết quả đo ược tớnh bằng cm
đ-b Xoạc ngang: Đánh giá độ mềm dẻo của hệ thống khớp và dây chằng
- Cách đánh giá: Thành tích đ-ợc tính bằng khoảng cách đo đ-ợc từ mông tới đất, đơn vị đo là cm
3.1.4.2 Đỏnh giỏ khộo lộo:
Trong nghiờn cứu đó sử dụng cỏc test của Giỏo sư tiến sĩ khoa học A.M Slờmin, năm1995 Cỏc test được giới thiệu trong giỏo trỡnh phương phỏp nghiờn cứu khoa học TDTT, Nhà xuất bản TDTT Hà Nội 1999
Dưới đõy, là cỏc test sư phạm được sử dụng:
a Thăng bằng sau khi quay thõn
- Tư thế chuẩn bị: Đứng nghiờm
- Động tỏc cơ bản: Từ tư thế đứng nghiờm, trong 3” quay 3 vũng (3x3600
) Sau đú nhắm mắt lại đứng lờn 1 chõn (trỏi) nhấc chõn phải đưa lờn cao sang bờn
để đứng thăng bằng thực hiện 5 lần, mỗi lần 15” (bắt đầu mỗi lần đều quay 3 vũng) giữa mỗi lần nghỉ 30” Tớnh thời gian trung bỡnh 5 lần thực hiện
Trang 25b Test phối hợp động tỏc: Động tỏc cổ, tay, chõn và thõn mỡnh
- Tư thế chuẩn bị: Đứng nghiờm
- Động tỏc cơ bản: Nhịp 1 bước chõn phải về trước tay trỏi sang ngang Nhịp 2 bước chõn trỏi tay phải sang ngang Nhịp 3 thu chõn phải về tư thế đứng nghiờm, 2 tay hạ xuống dưới Nhịp 4 bật nhảy 2 tay đỏnh lờn cao rồi hạ xuống dưới Nhịp 5,6,7,8 tiếp tục động tỏc như trờn song bắt đầu động tỏc từ chõn trỏi, tay phải Người dạy làm mẫu chậm 1 lần, sau đú người thực hiện làm theo nhịp đếm của người dạy, khụng được làm thử
- Cỏch đỏnh giỏ cho theo hệ thống thang điểm 10
+ 10 điểm: Khụng mắc lỗi nào
+ 9,5 điểm: Mắc 1 lỗi ( thiếu phối hợp giữa tay – chõn, quờn 1 cử động) + 9,0 điểm: Mắc 2 lỗi
+ 8,5 điểm: Mắc 3 lỗi cứ như vậy mắc thờm 1 lỗi trừ đi 0,5 điểm
- Cách đánh giá: Thành tích đ-ợc tính bằng thời gian từ khi xuất phát cho tới khi thực hiện chạy đ-ợc một vòng trở về vạch xuất phát, đơn vị đo băng giây
đồng hồ
3.1.5 Phương phỏp thực nghiệm sư phạm: [9]
Phương phỏp này được dựng trong quỏ trỡnh đỏnh giỏ hiệu quả cỏc bài tập phỏt triển thể lực cho học sinh cỏc trường THPT
3.1.6 Phương phỏp toỏn học thống kờ [12]
Phương phỏp này được sử dụng để xử lý số liệu thu thập được trong quỏ trỡnh nghiờn cứu thực trạng GDTC và xỏc định hiệu quả của cỏc biện phỏp hoạt động ngoại khoỏ đó lựa chọn Những tham số được sử dụng trong đề tài
Trang 26b a
n n
x x t
5
V V W
n
2 2
Trong đó: X1: Kết quả kiểm tra lần thứ nhất X2: Kết quả kiểm tra lần thứ hai
xd: Trung bình chuẩn mức độ tăng trưởng n: Số quan sát
n x
x i
Trang 273.2 Đối tƣợng nghiên cứu:
- Đối tượng : Các bài tập nhằm phát triển tố chất khéo léo-mềm dẻo
cho nam học sinh THPT Hùng Vương-Thị Xã Phú Thọ-Phú Thọ
- Khách thể : Học sinh nam khối 10 trường THPT Hùng Vương-Thị Xã
Phú Thọ-Phú Thọ
Trang 28Phần IV: KẾT QUẢ NGHIEN CỨU ĐẠT ĐƯỢC Chương 1 Đánh giá thực trạng tè chÊt khÐo lÐo-mÒm dÎo của nam häc sinh khối 10 tr-êng THPT Hùng Vương
1.1.Các test đã được sử dụng để đánh giá tố chất khéo léo-mềm dẻo của các tác giả trong và ngoài nước
Với mục đích lựa chọn một cách khoa học, khách quan và chính xác các test đánh giá tố chất khéo léo mềm dẻo, đề tài đã tiến hành phỏng vấn bằng phiếu với
16 huấn luyện viên, các nhà chuyên môn, giáo viên, chuyên gia trong tỉnh Phú thọ
về các test đã được sử dụng để đánh giá tố chất khéo léo mềm
Các test được đưa ra trong phiếu phỏng vấn là kết quả của việc nghiên cứu các tài liệu liên quan và sự quan sát sư phạm các buổi tập của học sinh, dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo TDTT Phỏng vấn được tiến hành theo cùng một cách đánh giá, trên cùng một hệ thống các test và trên cùng một đối tượng Kết quả phỏng vấn các test được phản ánh ở bảng 1.1
ảng 1.1 Kết quả phỏng vấn các tets đánh giá tố chất khéo léo-mềm dẻo ST
Những test được lựa chọn là những test có sự tán đồng ít nhất từ 80 ý kiến trở lên ở mức thường xuyên sử dụng Thống nhất với quan điểm đó ở mức
Trang 29tán đồng thường xuyên sử dụng (rất quan trọng), chúng tôi chọn được 5 test đánh giá tố chất mềm dẻo và khéo léo có tỷ lệ trên 80 qua phiếu phỏng vấn đủ điều kiện để đưa vào kiểm nghiệm tiếp theo, đó là :
Để thực hiện nhiệm vụ này chúng tôi tiến hành kiểm tra tố chất mềm dẻo
và khéo léo của các em học sinh nam trường THPT Hùng Vương qua các test đã được chọn lựa.Kết quả được thể hiện ở bảng 1.2
ảng 1.2 Thực trạng tè chÊt khÐo lÐo-mÒm dÎo của nam häc sinh tr-êng THPT Hùng Vương
Dẻo gập thân ( cm)
Xoạc ngang ( cm)
Thăng bằng sau khi quay thân 3600(s)
Test phối hợp động tác (điểm)
Chạ dích dắc (s)
Trang 30Kết quả bảng trên cho thấy : thành tích của nội dung dẻo gập thân, xoạc ngang có sự thay đổi có ý nghĩa giữa các khối 10 11 và 12 Nó thể hiện càng lên lớp cao thì độ cứng càng tăng cao Ví dụ thành tích bài dẻo gập thân ở khối
10 có X là 11.086.00, thì khối 11 là 12.876,11 và khối 12 là 12,896,02 , ta
có t tính so sánh giữa các khối có ý nghĩa với giá trị t = 2.58, t= 2.21 và t = 2.35
> t bảng = 1,96 Như vậy ta có thể tạm kết luận tố chất mềm dẻo sẽ bị hạn chế theo tuổi khi tuổi càng cao thì độ dẻo kém dần
Đối với 3 nội dung còn lại đó là : Thăng bằng sau khi quay thân 3600
Test phối hợp động tác, chạy díc dắc thì ta thấy các thành tích tương đối ổn định giữa các khối không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở cả 3 nội dung Ví dụ: Thành tích của nội dung Thăng bằng sau khi quay thân 3600(s) của khối 10 là 17,30 ± 3,10 , khối 11 là 17,50 ± 2,85 và khối 12 là 17,35 ± 2,50, giá trị t tính < t
bảng Như vậy đối với tố chất khéo léo ở các khối khi lứa tuổi khác nhau thì tố chất khéo léo không có sự thay đổi