1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11

67 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Tiết Ôn Tập Qua Bài “Ôn Tập Phần Văn Học” Ngữ Văn 11
Tác giả Trần Thị Thanh Nhàn
Trường học Trường Thpt Cát Ngạn
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2021 - 2022
Thành phố Thanh Chương
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện các nội dung ôn tập từ phần khởi động đến hình thành kiến thức mới, hoạt động vận dụng và mở rộng…; sân khấu hoá một số tác phẩm/ đo

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY TIẾT ÔN TẬP

QUA BÀI “ÔN TẬP PHẦN VĂN HỌC” NGỮ VĂN 11

LĨNH VỰC: NGỮ VĂN

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGHỆ AN

Trang 2

TRƯỜNG THPT CÁT NGẠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY TIẾT ÔN TẬP

QUA BÀI “ÔN TẬP PHẦN VĂN HỌC” NGỮ VĂN 11

LĨNH VỰC: NGỮ VĂN

Tác giả : TRẦN THỊ THANH NHÀN Tổ: Văn – Ngoại ngữ

Năm học: 2021 - 2022

Điện thoại: 0763 167 078

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Năm học 2021 - 2022, chúng tôi viết sáng kiến kinh nghiệm có tên “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy tiết ôn tập qua bài “Ôn tập phần văn học” Ngữ văn 11 Tôi cam kết sản phẩm này là của cá nhân tôi tham khảo các tài

liệu và tổng hợp viết nên không sao chép SKKN của người khác để nộp Nếu nhà trường và tổ chuyên môn phát hiện ra tôi sao chép của ai hay có sự tranh chấp về quyền sở hữu thì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước ban chuyên môn về tính trung thực của lời cam đoan này

Thanh Chương, ngày 22/4/2022

Người viết SKKN

Trang 4

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 5

5 4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

19 II MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY HỌC BÀI “ÔN TẬP PHẦN

VĂN HỌC” HIỆN ĐẠI VIỆT NAM LỚP 11

15

20 1 Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học bài ôn tập 15

21 1.1 Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn 15

22 1.2 Xây dựng và khai thác tư liệu hình ảnh, âm thanh vào dạy học 16

23 1.3 Khai thác các phần mềm vào thiết kế và dạy học bài Ôn tập 18

Trang 6

25 2 Hình thức sân khấu hoá: cho học sinh diễn kịch một số tác

31 1 Những chuyển biến về hứng thú học tập 42

38 1 Đối với nội dung nghiên cứu của đề tài 47

Trang 7

đề trên diện rộng, kĩ năng hợp tác, … và những năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt

Chương trình Ngữ văn THPT, trong phân môn đọc - hiểu có nhiều bài “ Ôn tập”, như: Ôn tập Văn học dân gian Việt Nam, Ôn tập văn học trung đại Việt Nam,

Ôn tập văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945,

Ôn tập văn học Việt Nam từ 1945 đến nay Song, trên thực tế, rất khó để tiến hành một bài ôn tập đạt hiệu quả cao

Bởi lẽ, nội dung bài ôn tập rộng nhưng thời gian ôn tập thì có hạn Hơn nữa,

ôn tập những nội dung đã học, nếu chỉ tiến hành một cách đơn điệu theo các nội dung ở sách giáo khoa sẽ dễ gây nhàm chán trong học sinh

Bài “Ôn tập phần văn học” (văn học hiện đại Việt Nam) được tiến hành sau khi đã học toàn bộ phần văn học hiện đại lớp 11, gồm 22 tiết (trong đó có 17 tiết chính khoá và 5 tiết tự chọn, theo chương trình nhà trường của Trường THPT Cát Ngạn) Với lượng kiến thức cần ôn tập lớn, trong khi thời lượng ôn tập có hạn (2 tiết) Cho nên, cần tìm ra những phương pháp ôn tập mới hơn, hay hơn, lôi cuốn học sinh tham gia và dễ dàng tổng hợp, xâu chuỗi những kiến thức đã học

Hiện nay, tuy đã có một số dề tài, tài liệu đề cập đến vấn đề dạy học bài ôn tập Ngữ Văn nhưng vẫn chỉ là trên lý thuyết mang tính chất chung chung mà chưa

có nghiên cứu cụ thể nên việc áp dụng còn khó khăn, chưa thật sự hiệu quả Do đó việc xây dựng các biện pháp và sử dụng vào một chủ đề, một bài cụ thể vẫn rất cần được quan tâm thực hiện

Xuất phát từ những lí do trên, cùng những kinh nghiệm có được qua thực tế giảng dạy, được sự động viên, giúp đỡ của các bạn bè đồng nghiệp bản thân tôi

mạnh dạn thực hiện đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy tiết ôn tập qua bài “Ôn tập phần văn học” Ngữ văn 11 Với mong

muốn góp phần vào trào lưu đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với mục tiêu đào tạo và sách giáo khoa và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ngữ Văn, đồng thơi từng bước làm quen với công tác nghiên cứu khoa học

2 Tính mới của đề tài

Những giải pháp mà bản thân tôi đề xuất và thực hiện ở đây là sự đúc rút từ

Trang 8

2

thực tiễn dạy học, chưa có đề tài nào đề cập đến Đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện các nội dung ôn tập (từ phần khởi động đến hình thành kiến thức mới, hoạt động vận dụng và mở rộng…); sân khấu hoá một số tác phẩm/ đoạn trích; kết hợp với việc vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học… Những hình thức ôn tập trên sẽ giúp cho tiết ôn tập trở nên hấp dẫn, kích thích được khả năng làm việc và tự tổng hợp, xâu chuỗi kiến thức của học sinh, đồng thời các em

có cơ hội trải nghiệm tác phẩm thông qua việc diễn kịch (sân khấu hoá)

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu mà tôi áp dụng cho đề tài là học sinh khối lớp 11 Trường THPT Cát Ngạn - huyện Thanh Chương - tỉnh Nghệ An

- Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ôn tập ở các bài Ôn tập

phần văn học (văn học hiện đại Việt Nam)

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Bài Ôn tập phần văn học (văn học hiện đại Việt Nam) lớp 11

Trong chương trình Ngữ văn lớp 11 có 2 bài Ôn tập văn học hiện đại ở cuối Học kì 1 và cuối Học kì 2 Cụ thể gồm các bài sau:

- Ôn tập phần văn học (Trang 102- SGK Ngữ văn 11, Tập 1-NXB GD 2006)

- Ôn tập phần văn học (Trang 115- SGK Ngữ văn 11, Tập 2-NXB GD 2006)

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết:

+ Phương pháp thu thập các nguồn tài liệu lý luận

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu đã thu thập

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Điều tra thực trạng dạy và học bài Ôn tập văn học hiện đại Việt Nam

+Trao đổi với giáo viên trong tổ, nhóm chuyên môn

+ Thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp thống kê và xử lí số liệu…

6 Kế hoạch nghiên cứu

Trang 9

3

Bảng tiến độ thực hiện công việc:

STT Thời gian Nội dung công việc Sản phẩm

Trang 10

4

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Cơ sở lí luận:

1.1 Lý luận chung

Quan điểm của các nhà khoa học: Theo quan điểm đổi mới thì quá trình dạy

học gồm “một hệ thống các hành động có mục đích của giáo viên tổ chức hoạt động trí óc và chân tay của học sinh, đảm bảo cho học sinh chiếm lĩnh được nội dung học, đạt được mục tiêu xác định; Làm cho nhiệm vụ học tập tới tất cả các học sinh;Tạo điều kiện cho nhiều phong cách, tiềm năng học tập khác nhau; Tạo môi trường cho sự hòa trộn, thúc đẩy lẫn nhau trong học sinh vì sự phát triển toàn diện; Tạo cơ hội cho học sinh tự tìm hiểu chính mình, tự khẳng định mình” (Trích từ tài liệu tập huấn “Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá”của Bộ GD&DDT)

Trong Luật Giáo dục có đề cập “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học; khả năng làm việc nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Việc vận dụng linh hoạt các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tiết

ôn tập, như: ứng dụng công nghệ thông tin, sân khấu hóa, vận dụng linh hoạt các phương pháp truyền thống, sẽ đem lại hiệu quả cao cho tiết ôn tập văn học

1.2 Bài Ôn tập phần văn học trong chương trình Ngữ văn THPT

1.2.1 Đặc trưng kiểu bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ văn

Trong chương trình Ngữ văn, bài Ôn tập là bài tổng hợp tri thức của một quá trình học tập trong một thời gian nhất định Kiến thức bài Ôn tập phần văn học (Văn học hiện đại) bao gồm: văn học sử, kiến thức về văn bản,… Khi triển khai giảng dạy, GV cần yêu cầu HS có cái nhìn bao quát, toàn diện một giai đoạn văn học, xâu chuỗi các kiến thức để nắm bắt được vấn đề cơ bản của bài học

Bài Ôn tập khối lượng kiến thức nhiều, đa dạng về các phần và phong phú

về thể loại (Tác phẩm, tiếng Việt, Làm văn, Lí luận văn học; Thơ, văn xuôi, kịch, nghị luận, …) Vì vậy, khi thực hiện các bài Ôn tập cả GV và HS thường có tâm lí

e ngại Nhưng, nhất thiết không được bỏ qua bài học này, bởi tầm quan trọng của

nó Trong chương trình Ngữ văn, chúng ta quan tâm nhiều hơn đến việc đọc- hiểu các tác phẩm văn học cho đúng phong cách, thể loại, nhưng việc rèn luyện kĩ năng khái quát, tổng hợp cho đến việc hình thành quan điểm văn học ở HS cũng quan trọng không kém

Bài Ôn tập hướng tới nhiều mục tiêu:

+ Hệ thống hóa các kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm, giai đoạn văn học

Trang 11

+ Kiến giải, nhận xét về tác giả, thời kỳ văn học…

+ Biết phân tích theo từng cấp độ: sự kiện - tác phẩm- hình tượng và ngôn ngữ theo phong cách chức năng

Như vậy, có thể nói, mục tiêu của bài Ôn tập là mục tiêu kép, chứ không đơn thuần là hệ thống hay nhắc lại các kiến thức đã học một cách đơn điệu, tẻ nhạt Nó hướng tới rèn luyện cho HS những năng lực chung và năng lực đặc thù của bộ môn Ngữ văn, như: năng lực hợp tác khi làm việc nhóm, năng lực giao tiếp khi trình bày vấn đề, năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy và tổng hợp vấn đề, năng lực khái quát hóa và so sánh… Bên cạnh đó, bài Ôn tập cũng giáo dục cho HS những phẩm chất như: chăm chỉ, trách nhiệm, yêu nước…Đồng thời, từ những tri thức đã có để hình thành những tri thức mới, ở dạng khái quát Do đó, đòi hỏi HS phải có tư duy khái quát, tổng hợp, so sánh, đánh giá các đơn vị kiến thức khác nhau

Bài Ôn tập còn được xem là kiểu bài bản lề nối kết giữa các giai đoạn văn học, các thể loại văn học Ở phạm vi của đề tài nghiên cứu gồm các giai đoạn: Bài

Ôn tập phần văn học (hiện đại) học kì 1 lớp 11 khép lại phần tác phẩm văn xuôi

chuẩn bị bước sang phần Thơ mới ở học kì 2; Bài Ôn tập phần văn học (hiện đại) học kì 2 lớp 11 khép lại giai đoạn văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, chuyển sang phần văn học giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX Cũng bởi đây là kiểu bài bản lề cho nên để có thể nắm bắt toàn bộ nội dung chương trình học thì HS phải nỗ lực vượt qua kiểu tư duy đơn lẻ, phân lập để có được tư duy tổng hợp, khái quát Tri thức mà người học

có được không phải từ một văn bản, một bài học mà là cả một quá trình tiếp nhận Khi tiến hành dạng bài này đúng phương pháp, phù hợp với đối tượng, HS sẽ tự giác tiếp nhận và hứng thú với nó Hơn nữa, bài ôn tập thường nằm cuối mỗi phần, mỗi giai đoạn văn học, cho nên nó còn là bản lề giữa kiến thức cũ và mới Muốn tiếp nhận phần mới tốt thì phần nền móng cũ phải vững chắc Kiến thức và kĩ năng hình thành cho HS thông qua bài ôn tập, vì vậy, cũng không nên tham vọng chuyển tải một cách ôm đồm GV nên lựa chọn những kiến thức cơ bản, tổng quát, giúp

HS hình thành tư duy logic, bồi dưỡng tư duy hình tượng

Ngoài ra, bài Ôn tập cũng là dạng bài giáo dục ý thức học tập của HS Đối với bài học này, HS phải làm việc hết mình, sự tiến triển và hiệu quả của giờ học phụ thuộc nhiều vào khả năng học tập của HS Trước giờ học, nếu HS có sự chuẩn

bị chu đáo, trong giờ học, HS làm việc tích cực, thì giờ ôn tập càng đảm bảo chất lượng

1.2.2 Nội dung các bài Ôn tập văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 11

Trang 12

6

Trong chương trình Ngữ văn THPT ở lớp 11, có 2 bài Ôn tập phần văn học (phần văn học hiện đại) Tùy thuộc vào nội dung các bài học trước đó, nội dung ôn tập được đưa ra một cách cụ thể, bám sát chương trình SGK Có thể hình dung một cách khái quát nội dung các bài Ôn tập như sau:

* Về cấu trúc: có hai phần, phần nội dung ôn tập và phương pháp ôn tập Phần nội dung điểm lại các tác phẩm theo các thể loại và nội dung cần ôn tập của

nhóm tác phẩm đó Ví dụ, ở bài Ôn tập phần văn học cuối SGK ngữ văn lớp 11, ở phần ôn tập thể loại thơ, SGK nêu ra “Về thơ, chương trình gồm các tác phẩm: Lưu biệt khi xuất dương(Phan Bội Châu), Hầu Trời (Tản Đà), Vội vàng (Xuân Diệu), Tràng giang (Huy Cận ), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Chiều tối (Hồ Chí Minh),

Từ ấy (Tố Hữu) Khi ôn tập các tác phẩm này, cần nắm được lí thuyết về thể loại

thơ để vận dụng vào việc phân tích các tác phẩm Cần nắm vững những vấn đề về nội dung và nghệ thuật; nhận ra được nội dung cảm hứng, hình tượng nhân vật trữ tình, phát hiện ra các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của mỗi bài thơ

Phần phương pháp ôn tập, gợi ý một số hình thức ôn tập và nêu ra các câu

hỏi ôn tập Ví dụ, ở bài Ôn tập phần văn học cuối SGK ngữ văn lớp 11, SGK đưa

ra 8 câu hỏi ôn tập phủ cơ bản các tác phẩm và các thể loại tác phẩm

* Về số lượng câu hỏi: Ở mỗi bài ôn tập đều có hệ thống câu hỏi triển khai nội dung ôn tập trên cơ sở thống nhất với mục tiêu bài học về năng lực và phẩm chất

- Bài Ôn tập phần văn học (Trang 102- SGK Ngữ văn 11, Tập 1-NXB GD

2006): Số lượng câu hỏi là 8 câu ( 4 câu phần nội dung và 4 câu phần vận dụng)

- Bài Ôn tập phần văn học (Trang 115- SGK Ngữ văn 11, Tập 2-NXB GD

2006): Số lượng câu hỏi là 8 câu ( 3 câu phần nội dung và 5 câu phần vận dụng)

* Về năng lực: Hệ thống câu hỏi đưa vào các bài ôn tập đã bao quát được nội dung chương trình các bài văn học hiện đại từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 Các câu hỏi khái quát nội dung kiến thức về một giai đoạn văn học, về một số thể loại tiêu biểu, sau đó sử dụng các câu hỏi ở các tác phẩm cụ thể để chứng minh; ngoài ra, còn có một số câu hỏi ở dạng so sánh, nâng cao Nhìn chung, càng về sau, lượng kiến thức ở câu hỏi vận dụng nhiều hơn, yêu cầu cao hơn Lẽ ra, song song với yêu mục tiêu đặt ra, bài ôn tập phải hướng đến phát triển nhiều năng lực cho HS Tuy nhiên, hiện nay, các câu hỏi ở SGK chủ yếu đang tập trung vào năng lực tái hiện và phân tích Trong khi đó, đòi hỏi cần phải phát triển cho HS nhiều năng lực hơn thế Đó là các năng lực như: phân tích, so sánh, tổng hợp kiến thức, hợp tác…

* Về phẩm chất: Dạy học trong xu thế hiện nay, bên cạnh phát triển các năng lực cho người học, cần chú ý đến việc hình thành các phẩm chất Song, với cấu trúc và hệ thống câu hỏi ở trong SGK hiện hành, các phẩm chất chưa được chú trọng nhiều, chủ yếu là chăm chỉ, trách nhiệm… ở bề ngoài mà chưa đi sâu vào bản chất

Trang 13

- Về chương trình: cuối mỗi phần hoặc mỗi giai đoạn văn học đều có phần

ôn tập và thời lượng nhất định giành cho tiết ôn tập (ít nhất 2 tiết) Như vậy, GV

có cơ hội để giúp HS củng cố, hệ thống và khái quát hóa, rèn luyện kĩ năng tổng hợp vấn đề kiến thức đã học cho HS Còn HS, bài ôn tập là lúc nhìn lại những kiến thức đã học, chuẩn bị tâm thế cho việc tiếp thu những kiến thức mới

- Về nội dung bài dạy: Bài Ôn tập định hướng nội dung ôn tập một cách cụ thể, đó là gồm có hai phần: nội dung ôn tập và phương pháp ôn tập Thêm vào đó, SGK còn gợi ý một số hình thức ôn tập giúp cho GV và HS có những định hướng

cơ bản để triển khai Hệ thống câu hỏi đa dạng, toàn diện, bao quát nội dung chương trình đã học, đồng thời đảm bảo kết hợp song song giữa kiến thức và kĩ năng Câu hỏi cũng chú trọng khai thác những điểm đực sắc trong nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm đã học

Bài dạy có những thuận lợi về tiềm năng tri thức và kĩ năng, nếu người dạy đầu tư và khai thác đúng cách thì đây sẽ là kiểu bài phong phú nhất trong chương trình

- Về thực tiễn dạy học: Hiện nay, do yêu cầu của việc đổi mới dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất cho HS, kiểu bài ôn tập đáp ứng đầy đủ các yêu cầu ấy

2.1.2 Khó khăn

- Về chương trình: Thời lượng giành cho bài ôn tập so với khối lượng kiến thức cần ôn tập còn hạn hẹp Mỗi bài ôn tập có số tiết từ 2 đến 3 tiết (tùy vào KHGD của từng trường trong chương trình nhà trường), song kiến thức cần ôn tập lại là cả một giai đoạn văn học với nhiều thể loại khác nhau Khó có thể giải quyết một cách thấu đáo lượng kiến thức phong phú như vậy trong một thời lượng hạn hẹp

- Về nội dung bài học: Ở phần phương pháp ôn tập, hệ thống câu hỏi không

tránh khỏi một số nhược điểm, như GS Phan Trọng Luận khẳng định: “Không thể

có ảo tưởng về một cuốn sách giáo khoa, nhất là SGK Ngữ văn hoàn hảo 100%”

+ Hệ thống câu hỏi chưa chú trọng phát triển năng lực khái quát-tổng hợp

cho HS, mà chỉ chủ yếu đơn thuần yêu cầu HS tái hiện kiến thức, kĩ năng phân tích tác phẩm để minh họa cho kiến thức khái quát Các câu hỏi yêu cầu HS suy luận,

so sánh, khái quát, sáng tạo còn ít

+ Thêm vào đó, hệ thống câu hỏi chưa phong phú, các bài ôn tập đang sử dụng một vài mô típ hỏi ( như nội dung và nghệ thuật tác phẩm hoặc phân tích

Trang 14

8

nhân vật/ hình tượng,…) Điều đó cho thấy, hệ thống câu hỏi chưa chú trọng phát triển những năng lực khác nhau của HS, như năng lực đọc- hiểu, vận dụng, khái quát, xâu chuỗi vấn đề…

- Về thực tiễn dạy học:

+ Về phía giáo viên: Đa số GV thường có tâm lí chung là ngại dạy bài ôn tập một cách bài bản và cho rằng đây là bài hệ thống lại kiến thức đã học, nên chủ yếu cho HS trả lời các câu hỏi ở SGK

Về phương pháp thực hiện: Hầu hết GV khi xây dựng Kế hoạch bài dạy, phần nội dung đều triển khai giống như các câu hỏi nên ra ở SGK, còn hoạt động của thầy và trò thì chưa thấy thể hiện rõ biện pháp tổ chức giờ dạy hấp dẫn, lôi cuốn, sinh động Chủ yếu, GV giao các câu hỏi, HS làm, thậm chí, làm ở lớp chưa xong, GV gioa về nhà làm tiếp

Hơn nữa, việc chuẩn bị giáo án (KHBD) cho tiết ôn tập phù hợp với các đối tượng HS trong thời gian hạn hẹp, đòi hỏi GV cần có sự tận tâm, sự định hướng cân nhắc cẩn trọng, bên cạnh đó là sự hỗ trợ đắc lực của các thiết bị dạy (máy tính, tivi, các phần mềm dạy học, sơ đồ, bảng biểu, …) Thế nhưng, trên thực tế, tài liệu tham khảo cho các tiết ôn tập rất ít ỏi Sách giáo viên, từ nhiều năm, nó được xem

là tài liệu tham khảo tin cẩn, là định hướng cần thiết cho GV, bởi nó được Hội đồng các nhà khoa học giáo dục biên soạn công phu Thế nhưng, vẫn có những bài

ôn tập chỉ định hướng chung chung Trong thực tế, hầu như không có GV đăng kí thao giảng hoặc cho dự giờ những tiết ôn tập Đến đây, có thể khẳng định rằng, rất nhiều GV còn lúng túng, e ngại khi dạy các tiết ôn tập

+ Về phía HS: Khi học xong phần tác phẩm đọc hiểu, HS thường có tâm lí

xả hơi, kiểu như vậy là đã xong những bài quan trọng HS mang tâm lí bài ôn tập chỉ là phụ thêm, chỉ là “ cho có” mà thôi Vì thế, rất ít HS chuẩn bị bài, hoặc nếu

có, cũng là làm qua loa để “qua mặt” GV Hầu hết, HS không tự giác soạn bài, không tìm tòi sáng tạo, xem đây là cơ hội để vận dụng và phát triển các năng lực cho bản thân

Môn Ngữ văn mặc dù “rất cần thiết cho sự lớn khôn tinh thần của các em” (Đỗ Kim Hồi), song nhiều em chưa nhận thức rõ vai trò, vị trí của nó trong nhà trường Đa số các em tỏ ra không yêu thích môn Ngữ văn, cộng thêm thị hiếu và nhu cầu thi cử, các em thường tập trung nhiều hơn cho các môn khoa học tự nhiên

Vì vậy, bài ôn tập văn học cũng theo đó mà trở nên tẻ nhạt, nhàm chán trong tâm lí các em

2.2 Khảo sát thực trạng

2.2.1 Khảo sát thực trạng học bài Ôn tập phần văn học của học sinh

Để làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực trạng học bài ôn tập của học sinh ở trường THPT, tôi đã sử dụng phiếu khảo sát về hứng thú đối với nội dung

bài Ôn tập phần văn học và phương pháp dạy của GV ở bài này

Trang 15

Câu 1: Em có hứng thú với nội dung bài “ Ôn tập phần văn học” lớp 11, SGK

tập 1?

a Rất hứng thú

b Hứng thú ít

c Không hứng thú

Câu 2: Em có hứng thú với phương pháp dạy học bài “ Ôn tập phần văn học”

lớp 11, SGK tập 1 của giáo viên?

Trang 16

10

2.2.2 Khảo sát thực trạng dạy bài Ôn tập phần văn học của giáo viên

Để làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực trạng dạy học bài Ôn tập văn học của giáo viên trên địa bàn, tôi đã sử dụng phiếu khảo sát về hứng thú dạy đối

với nội dung bài Ôn tập phần văn học và các phương pháp tiến hành dạy bài Ôn

tập của GV

Quá trình khảo sát được tiến hành với tất cả các GV dạy môn Ngữ văn ở các trường THPT ở huyện Thanh Chương: THPT Cát Ngạn, THPT Thanh Chương 3, THPT Nguyễn Sỹ Sách, THPT Thanh Chương 1, THPT Đặng Thúc Hứa, THPT Đặng Thai Mai, THPT Nguyễn Cảnh Chân

Cách thức khảo sát: Tôi lập biểu mẫu khảo sát trên trang tính và gửi đường link cho các GV qua zalo/mesenger của cá nhân Giáo viên tham gia khảo sát bằng cách nhấp vào đường link, chọn phương án trả lời và gửi kết quả

Các câu hỏi được đưa ra để khảo sát:

Câu 1: Thầy (cô) có hứng thú với nội dung bài “ Ôn tập phần văn học” lớp 11,

b.Hướng dẫn học sinh trả lời theo các câu hỏi ở SGK

c.Chủ yếu cho học sinh tự làm bài tập

Câu 3: Thầy(cô) có ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học bài “Ôn tập

phần văn học”, lớp 11, SGK tập 1?

a.Ứng dụng ở mức tối đa có thể

b.Có ứng dụng nhưng rất ít

c.Không ứng dụng

Trang 17

2.3.1 Kết quả khảo sát thực trạng học bài Ôn tập phần văn học của học sinh

KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG HỌC CỦA HỌC SINH

Câu 1: Em có hứng thú với nội dung bài “Ôn tập phần văn học” lớp 11?

Tổng số HS tham

gia khảo sát

Rất hứng thú (Số lương-tỷ lệ)

Hứng thú ít (Số lương-tỷ lệ)

Không hứng thú (Số lương-tỷ lệ)

Trang 18

12

Hình 1.3 Kết quả thống kê câu hỏi 1 trên trang khảo sát đối với học sinh

Câu 2: Em có hứng thú với phương pháp dạy học bài “Ôn tập phần văn học” của giáo viên?

Tổng số HS tham

gia khảo sát

Rất hứng thú (Số lương-tỷ lệ)

Hứng thú ít (Số lương-tỷ lệ)

Không hứng thú (Số lương-tỷ lệ)

Hình 1.4 Kết quả thống kê câu hỏi 2 trên trang khảo sát của học sinh

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG HỌC CỦA HỌC SINH

- Ở câu 1: Kết quả thăm dò cho thấy số học sinh hứng thú với nội dung bài

Ôn tập không nhiều, thậm chí đa số các em thấy không hứng thú Số này chiếm đến hơn 50% số học sinh tham gia khảo sát Điều này cho thấy nội dung bài Ôn tập chưa thực sự hấp dẫn các em Có thể nội dung ôn tập đơn điệu hoặc quá ôm đồm

Trang 19

13

- Ở câu 2: Số học sinh rất hứng thú với phương pháp dạy của GV có vẻ khả quan hơn Tín hiệu này đồng nghĩa với việc một số GV cũng đã đầu tư cho giờ dạy

Ôn tập và cũng đã lôi cuốn được một số HS vào bài học Tuy nhiên, đa số học sinh

tỏ ra không hứng thú, mặn mà gì với cách truyền tải của giáo viên Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, có thể kể đến như: giáo viên chưa chú trọng nội dung bài ôn tập văn học, chưa có sự đổi mới linh hoạt trong phương pháp lên lớp, còn thực hiện một cách sơ sài hoặc đơn điệu…

2.3.2 Kết quả khảo sát thực trạng dạy bài Ôn tập phần văn học của giáo

viên

KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY CỦA GIÁO VIÊN

Câu 1: Thầy(cô) có hứng thú với việc dạy học bài “Ôn tập phần văn học”?

Tổng số GV tham

gia khảo sát

Rất hứng thú (Số lương-tỷ lệ)

Bình thường (Số lương-tỷ lệ)

Không hứng thú (Số lương-tỷ lệ)

Hình1.5 Thống kê tỷ lệ trả lời câu hỏi 1 trên trang khảo sát của giáo viên

Câu 2: Thầy(cô) đã sử dụng những phương pháp nào khi dạy bài “Ôn tập phần văn học”?

Tổng số GV tham

gia khảo sát

Vận dụng đa dạng các hình thức dạy

học (Số lương-tỷ lệ)

Hướng dẫn học sinh trả lời theo các câu hỏi SGK (Số lương-tỷ lệ)

Chủ yếu cho HS tự làm bài tập

(Số lương-tỷ lệ)

Trang 20

14

Hình 1.6 Thống kê tỷ lệ trả lời câu hỏi 2 trên trang khảo sát của giáo viên

Câu 3: Thầy(cô) có ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học bài “Ôn tập phần văn học” lớp 11, SGK tập 1?

Tổng số GV tham

gia khảo sát

Ứng dụng ở mức tối đa có thể

Có ứng dụng nhưng rất ít

Không ứng dụng

Hình 1.7 Thống kê tỷ lệ trả lời câu hỏi 3 trên trang khảo sát của giáo viên

Trang 21

15

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY CỦA GIÁO VIÊN

- Câu 1: Tâm thế của giáo viên khi dạy bài Ôn tập, qua thăm dò, đã phản ánh một thực trạng có vấn đề Tôi đã tiến hành khảo sát lấy ý kiến của 42 /66 giáo viên dạy môn Ngữ văn ở các trường THPT trên địa bàn huyện Thanh Chương Kết quả cho thấy, tỉ lện giáo viên hứng thú với việc dạy học bài Ôn tập rất thấp, số này chỉ chiếm chưa đến 21%, trong khi số giáo viên không hứng thú lên đến gần một nửa

số người được khảo sát ( 48,8%) Như vậy, vấn đề ở đây là, ngay cả bản thân giáo viên dạy cũng không mấy mặn mà với nội dung bài Ôn tập

- Câu 2: Kết quả thăm dò về việc sử dụng phương pháp dạy học cũng không mấy khả quan Đa số giáo viên lên lớp với bài này chủ yếu hướng dẫn cho học sinh

tả lời theo các câu hỏi SGK, thậm chí chủ yếu cho học sinh tự làm bài tập Vai trò

tổ chức, hướng dẫn của giáo viên rất mờ nhạt Giáo viên chưa tập trung cho việc đầu tư tìm tòi các hình thức tổ chức Ôn tập đa dạng, phong phú để kích thích hứng thú học tập cho học sinh

- Câu 3: Việc ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên cũng chưa được quan tâm

II MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY HỌC BÀI “ÔN TẬP PHẦN VĂN HỌC” HIỆN ĐẠI VIỆT NAM LỚP 11

1 Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học bài ôn tập

1.1 Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn

CNTT mang lại cho giáo viên nhiều lợi ích: khuyến khích được sự sáng tạo

và linh hoạt; giải quyết được vấn đề thiếu hụt về thời gian; chia sẻ bài dạy, tài liệu giảm thiểu khối lượng công việc; tạo hứng thú và hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp dạy học

CNTT đối với người học: Có thể khẳng định CNTT giúp nâng cao hứng thú học tập; tạo điều kiện để học sinh tham gia và hợp tác cùng nhau, phát triển kỹ năng xã hội và con người; Giúp học sinh sáng tạo và tự tin; giảm việc ghi chép và năm được nhiều thông tin một cách linh hoạt

Đối với vấn đề dạy học các bài ôn tập trong chương trình ngữ văn 11, CNTT

có thể giúp giải quyết những khó khăn trong dạy học như: dạy học gắn với thực tiễn; hạn chế sự khô khan, mờ nhạt tính văn chương, tạo hứng thú học tập

Hiện nay, trường THPT Cát Ngạn cũng như các trường THPT ở miền núi,

đã có những chuyển mình về xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị học tập Cơ bản học sinh đã được tiếp cận với CNTT Có phòng học được trang bị màn hình led, hoặc ít nhất cũng đã trang bị mạng Internet, máy chiếu Việc ứng dụng CNTT vào dạy học có đủ điều kiện để thực hiện, miễn sao người dạy có đủ quyết tâm và say mê với chuyên môn

Trang 22

16

Sau đây là một số biện pháp ứng dụng CNTT vào dạy học bài ôn tập Ngữ văn mà tôi đã nghiên cứu ứng dụng

1.2 Xây dựng và khai thác tư liệu hình ảnh, âm thanh vào dạy học

Hiện nay, các đồ dùng dạy học có sẵn và tự làm phục vụ cho dạy học không nhiều, đặc biệt ở môn Ngữ văn lại càng hạn chế Các đồ dùng trực quan hầu như không có, tranh ảnh minh họa trong sách giáo khoa không nhiều Chính vì vậy, bản thân giáo viên phải chú trọng xây dựng thư viện tư liệu điện tử phục vụ tốt cho công tác giảng dạy, đặc biệt là tư liệu cho bài Ôn tập

- Trước đây giáo viên xây dựng kho tư liệu bằng cách đọc, tham khảo tài liệu, sách, báo và chép lại những thông tin cần thiết vào sổ tích lũy chuyên môn

- Hiện nay việc ứng dụng CNTT giúp giáo viên xây dựng thư viện tư liệu thuận lợi, phong phú, khoa học hơn và không mất nhiều thời gian như trước đây Việc khai thác tư liệu có thể lấy từ các nguồn :

+ Khai thác thông tin, tranh, ảnh, tư liệu bài giảng từ mạng Internet

+ Khai thác tranh ảnh từ sách, tài liệu, báo chí, tạp chí

Trong đó, mạng Internet là nguồn vô cùng tiện lợi và hữu ích trong thời đại công nghệ 4.0 Từ mạng Internet, GV có thể tìm kiếm được nhiều nguồn thông tin cho cùng một nội dung, trên cơ sở đó, lựa chọn vận dụng phù hợp với mục tiêu bài dạy Trong quá trình tham khảo các tư liệu, khi gặp những tư liệu quý, GV lưu lại

và cho vào kho tư liệu của mình

+ Khai thác từ băng hình, phim video, các phần mềm, tranh ảnh, bản đồ, hình vẽ thông qua chức năng cung cấp thông tin của máy tính

Ví dụ: Khai thác các đoạn phim về các tác giả văn học, các tác phẩm văn học được chuyển thể thành phim hoặc bài hát, khúc ngâm …cần thực hiện thao tác:

Mở các băng hình, các đĩa CD - Rom, lựa chọn các đoạn phim có thể làm tư liệu giảng dạy, sử dụng phần mềm cắt các đoạn phim rồi lưu vào máy tính thành các file dữ liệu trong thư viện tư liệu để phục vụ giảng dạy…

Từ các nguồn khai thác trên giáo viên sẽ lưu trữ cho mình một thư viện tư liệu phong phú, đa dạng để phục vụ cho công tác giảng dạy Tuy nhiên cần lưu trữ thành từng file dữ liệu để dễ dàng tìm kiếm khi sử dụng

Kho tư liệu bao gồm nhiều loại tư liệu hỗ trợ cho bài học như: sơ đồ tư duy, video bài giảng, video trích đoạn phim liên quan đến tác phẩm, tranh ảnh về tác giả

và tác phẩm, video giới thiệu về thể loại, bài hát thuộc thể loại nào đó, trích đoạn kịch …

Khi dạy bài Ôn tập phần văn học (Ngữ văn 11) tôi đã thiết kế, khai thác và

sử dụng các tư liệu hình ảnh (tranh ảnh, video), âm thanh cụ thể như:

- Sơ đồ tư duy bài Khái quát Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945: sử dụng cho câu hỏi số 1 phần phương pháp ôn tập

Trang 23

17

- Sơ đồ tư duy về tình huống truyện trong các tác phẩm: Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao): sử dụng cho câu hỏi số 4 phần phương pháp

ôn tập

- Video trích đoạn phim “Làng Vũ đại ngày ấy”, video trích đoạn phim

“Trò đời”: sử dụng cho câu hỏi số 4 và số 5 phần phương pháp ôn tập

Hình 2.1 Hình ảnh phim “Làng Vũ Đại ngày ấy”

Trang 24

18

Với các tư liệu đã chuẩn bị ở trên, GV đưa vào kho tư liệu, sắp xếp hợp lí Trước khi tiến hành bài dạy ít nhất một tuần, GV cung cấp cho HS khai thác kho tư liệu để chuẩn bị bài học

1.3 Khai thác các phần mềm vào thiết kế và dạy học bài Ôn tập

Bên cạnh việc xây dựng kho tư liệu, các phần mềm dạy học cũng hỗ trợ đắc lực cho việc dạy học, trong đó có bài Ôn tập văn học Cùng với sự phát triển của thời đại công nghệ 4.0, các phần mềm phục vụ dạy học ngày càng đa dạng Các phần mềm có thể ứng dụng vào dạy học bài Ôn tập như: Padlet, Google Classroom, Zoom, Mind Map, Canva giáo dục, Xmind.net, Youtube,…

1.3.1 Sử dụng phần mềm Padlet để chuẩn bị cho tiết học

Trước khi tiến hành bài Ôn tập một tuần, GV tạo một Padlet, yêu cầu HS chuẩn bị một số nội dung và gửi lên Padlet để GV kiểm tra việc làm bài của HS ở nhà

Ở Bài Ôn tập phần văn học (Ngữ văn 11, tập 1), GV ra câu hỏi để chuẩn bị:

Câu hỏi 1: Tiểu thuyết hiện đại khác tiểu thuyết trung đại như thế nào? Chỉ

ra biểu hiện của tiểu thuyết hiện đại trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ”- Vũ Trọng Phụng)?

Câu hỏi 2: Nêu đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch

Lam), Chữ người tử tù ( Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao) Từ đó, chỉ ra điểm

khác biệt giữa văn học hiện thực và văn học lãng mạn

Với 2 câu hỏi trên, GV gửi lên Padlet, yêu cầu HS làm và sau đó gửi lên trang Padlet của lớp mình GV sẽ vào đọc và kiểm tra phần bài làm của các em

Hình 2 3 Hình ảnh trang padlet bài tập của học sinh

1.3.2 Sử dụng phần mềm MindMap

MindMap là một trong những phần mềm vẽ sơ đồ tư duy đa dạng, phong

phú về tính năng giúp người dùng có thể tạo ra các bảng vẽ, sơ đồ sáng tạo độc đáo

Trang 25

19

Trong mindmap có hai yếu tố bao gồm:

+ Điểm trung tâm: Đây chính là ý tưởng lớn mà chúng ta đang tìm hiểu, nằm

ở trung tâm sơ đồ tư duy Đây chính là điểm nút, nơi các “nhánh” tỏa ra khắp nơi

+ “Nhánh”: Chính là những đường thẳng nối điểm trung tâm tới những ý

tưởng nhỏ hơn Từ các nhánh lớn, người thiết lập bản đồ tư duy có thể trỏ ra những

“nhánh” nhỏ hơn, làm rõ nội dung của các đường nhánh lớn

Ngoài việc sử dụng chữ và các đường kẻ nối nhau trong mindmap, bạn hoàn toàn có thể sử dụng hình ảnh minh họa cho các đường nhánh và điểm nút trung tâm Như vậy, GV có thể sử dụng loại sơ đồ tư duy này để sơ đồ hóa nội dung các phần/ bài/nội dung ôn tập

Ví dụ: Sơ đồ tư duy bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng) gồm

6 nhánh lớn (Tác giả, Tác phẩm, Niềm vui, Cảnh đám tang, Nghệ thuật, Nội dung), trong mỗi nhánh lớn có các nhánh nhỏ cụ thể

Hình 2.4 Sơ đồ tư duy bài “Hạnh phúc của một tang gia”

1.4 Xây dựng bài giảng điện tử

Xây dựng bài giảng điện tử là một trong các phương thức ứng dụng CNTT hữu hiệu nhất Đặc biệt, trong vài năm trở lại đây, các nhà trường rất chú ý đến việc tăng cường cơ sở vật chất phục vụ dạy học Việc lắp đặt tivi tại các phòng lớp học đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng bài giảng điện tử của GV Phần

Trang 26

20

mềm CNTT được giáo viên Ngữ văn sử dụng phổ biến nhất hiện nay là phần mềm Powerpoint Đây là phần mềm đơn giản, dễ thiết kế trình chiếu và có tác dụng tích cực, rõ nét nhất Khi giới thiệu, trình bày và khái quát nội dung bài học, mỗi slide được coi là một bộ phận cũng là một hệ thống con trong hệ thống các nội dung mà bài học cần thể hiện Ở mỗi slide, giáo viên có thể chọn hiệu ứng, đưa các tư liệu (phim, ảnh, nhạc, bài đọc tác phẩm…) làm cho bài giảng sinh động lôi cuốn hơn

Ôn tập phần văn học là bài mang tính khoa học cao, song nó cũng góp phần quan trọng trong việc trau dồi tư tưởng, tình cảm cho học sinh Thông qua cách truyền thụ của người giáo viên, các em sẽ lĩnh hội được nhiều cái hay, cái đẹp ở mỗi tác phẩm văn học Để học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp ấy thì người giáo viên phải lựa chọn cho mình một cách truyền thụ sao cho có hiệu quả nhất Một trong những lựa chọn đó chính là ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng

dạy Nói như TS Đỗ Ngọc Thống “Đã đến lúc nếu không nói là đã quá muộn, cần nghiên cứu và triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở bộ môn Ngữ văn một cách rộng rãi, đúng hướng và có hiệu quả”.

Đổi mới phương pháp dạy Văn bằng cách vận dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy có nhiều hình thức và tùy theo sự sáng tạo của mỗi giáo viên Một trong những cách làm hiệu quả mà tôi đã và đang thực hiện tại trường Cát Ngạn trong các năm học vừa qua là thiết kế Bài giảng điện tử bằng phần mềm Powerpoint, tích hợp giảng dạy ngữ văn với âm nhạc, phim ảnh, băng hình tư liệu, sơ đồ tư duy

1.4.1 Sử dụng phần mềm Powerpoint để tạo ra các trò chơi cho phần Khởi

động

TRÒ CHƠI Ô CHỮ VĂN HỌC

(Sử dụng cho bài Ôn tập phần văn học ở SGK Ngữ văn 11, tập 2- Ôn tập phần Văn

học Việt nam từ 1945 đến hết thế kỉ XX, thể loại Thơ ca)

Trang 28

22

Hình 2.6 Học sinh háo hức xung phong và trả lời các câu hỏi

1.4.2 Sử dụng phần mềm Powerpoint để tạo ra các trò chơi cho phần Hình

thành kiến thức

TRÒ CHƠI NHÌN HÌNH ẢNH ĐOÁN TÁC PHẨM

(Sử dụng cho bài Ôn tập phần văn học ở SGK Ngữ văn 11, tập 1- Ôn tập phần Văn

học Việt nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945)

-Mô tả trò chơi: Trò chơi dùng để ôn tập phần truyện và tiểu thuyết Trong giai

đoạn này có 4 tác phẩm/ đoạn trích: Hai đứa trẻ ( Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao), Hạnh phúc cuả một tang gia (Vũ Trọng

Phụng) Trò chơi được thiết kế có 4 ô, mỗi ô là một hình ảnh liên quan đến một tác phẩm/ đoạn trích:

+Hình ảnh 1: Hình ảnh đoàn tàu và mấy người bán hàng

+Hình ảnh 2: Ba người đàn ông, trong đó có một người cổ đeo gông và đang viết Thư pháp, hai người còn lại vẻ khúm núm

+Hình ảnh 3: Tại vườn chuối có một người đàn ông và một người đàn bà

+Hình ảnh 4: Cảnh một đám tang, có nhiều vòng hoa, có kèn Tây kèn ta…

Bốn hình ảnh này sẽ được che khuất và được đánh số từ 1 đến 4 GV chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm chọn 1 hình ảnh GV kích chuột đề hình ảnh lộ ra,

GV sẽ đưa ra các câu hỏi yêu cầu cho mỗi nhóm thảo luận Hết thời gian thảo luận,

GV cho đại diện các nhóm trình bày kết quả, còn các nhóm khác trao đổi, nhận xét, đặt thêm các câu hỏi cho nhóm trình bày

- Câu hỏi dành cho các hình ảnh:

+ Hình ảnh 1:

Câu 1: Hình ảnh này gợi em nhớ đến tác phẩm nào, của ai?

Trang 29

23

Câu 2:Nêu ngắn gọn nội dung tư tưởng và đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm? Câu 3:Nêu một vài biểu hiện của bút pháp lãng mạn trong tác phẩm?

+Hình ảnh 2:

Câu 1: Hình ảnh này gợi em nhớ đến tác phẩm nào, của ai?

Câu 2:Nêu ngắn gọn nội dung tư tưởng và đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm? Câu 3:Nêu một vài biểu hiện của bút pháp lãng mạn trong tác phẩm?

+Hình ảnh 3:

Câu 1: Hình ảnh này gợi em nhớ đến tác phẩm nào, của ai?

Câu 2:Nêu ngắn gọn nội dung tư tưởng và đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm? Câu 3:Nêu một vài biểu hiện của bút pháp hiện thực trong tác phẩm?

+Hình ảnh 4:

Câu 1: Hình ảnh này gợi em nhớ đến tác phẩm nào, của ai?

Câu 2:Nêu ngắn gọn nội dung tư tưởng và đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm? Câu 3:Nêu một vài biểu hiện của bút pháp hiện thực trong tác phẩm?

Với cách tổ chức trò chơi này, HS sẽ rất hứng thú từ việc chọn hình ảnh cho đến việc được phép đặt câu hỏi thêm cho các nhóm khác

Hình 2.7 Học sinh thích thú với trò chơi nhìn hình đoán tác phẩm

Trang 30

24

1.4.3 Sử dụng phần mềm Powerpoint để tạo ra các trò chơi cho phần Luyện

tập

TRÒ CHƠI CHIẾC NÓN KỲ DIỆU

(Sử dụng cho bài Ôn tập phần văn học ở SGK Ngữ văn 11, tập 1- Ôn tập phần Văn

học Việt nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945)

- Mô tả trò chơi:

+ Trò chơi dùng cho hoạt hoạt động Luyện tập khi Ôn tập phần truyện, tiểu thuyết

và kịch Trong giai đoạn này có 4 tác phẩm/ đoạn trích: Hai đứa trẻ ( Thạch Lam),

Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao), Hạnh phúc cuả một tang gia (Vũ Trọng Phụng), Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài ( trích Vũ Như Tô) Trò chơi được

thiết kế mô phỏng chương trình “Chiếc nón kì diệu” trên truyền hình

+ Vòng quay có 11 ô, trong đó có 8 ô là 8 câu hỏi liên quan đến kiến thức cần Luyện tập ở 5 tác phẩm/ đoạn trích trên; 3 ô còn lại bao gồm 1 ô mất lượt, 1 ô phần thưởng và 1 ô may mắn

+ Luật chơi như sau: Mỗi học sinh tham gia trò chơi được bấm quay 1 lần, sau đó dùng lại Mũi tên dừng lại ở ô nào sẽ thực hiện nội dung ở câu đó Nếu mất lượt thì không được quay tiếp, nếu trúng ô Phần thưởng, sẽ được chọn lật phần thưởng, nếu mũi tên dừng lại ở ô từ số 1-8 sẽ có câu hỏi văn học tương ứng

- Câu hỏi dành cho các ô từ số 1 đến số 8 như sau:

Câu 1: Xét về phong cách nghệ thuật, Thạch Lam được xếp vào nhóm các tác giả

thuộc dòng văn học nào?

a.Văn học lãng mạn

b.Văn học hiện thực

c.Văn học cách mạng

d.Không thuộc dòng văn học nào cố định

Câu 2: “Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui” là lời của ai?

a.Chí Phèo nói với Thị Nở

b.Bà Ba nói với Chí Phèo

c.Bá Kiến nói với Chí Phèo

d.Thị Nở nói với Chí Phèo

Câu 3: Ông là một nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp Ông là ai?

a.Thạch Lam

b.Nguyễn Tuân

c.Vũ Trọng Phụng

Trang 31

25

d.Ngô Tất Tố

Câu 4: Nội dung nổi bật của đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” là:

a.Phơi bày thực trạng xã hội thối nát và tình cảnh khổ cực của nhân dân

b.Nỗi đau khổ của một gia đình có đám tang

c.Vạch trần bản chất xã hội thượng lưu lố lăng, đồi bại; Sự giả dối, vô đạo đức của con người trong tang gia

d.Niềm hạnh phúc của mọi người vì được tham gia vào cải cách xã hội

Câu 5: Nguyên nhân nào dẫn đến mâu thuẫn dân chúng đã đứng lên chống lại

triều đình?

a.Nhân dân muốn lập vị vua mới

b.Vua quan sống sa đọa, ăn chơi thỏa thích mà đời sống nhân dân nghèo khổ c.Do vua ban hành chính sách mới không hợp lòng dân

d.Do vua chúa nhu nhược để giặc xâm chiếm đất nước

Câu 6: Dòng nào sau đây không phải là nhận định về nhân vật Huấn Cao?

a.Là người mang cái đẹp của tài hoa, hòa hợp với cái đẹp của khí phách, thiên lương

b.Là người mang chí lớn không thành, nhưng trước sau vẫn coi thường gian truân, khổ ải, xem khinh cái chết, dù biết nó đã kề bên, tư thế luôn hiên ngang, lồng lộng giữa ngục tù

c.Là người có nhân cách, có lương tâm, nhưng trong thời đại nhiễu nhương, phải đành lòng phục vụ cho một triều đại đã suy thoái

d.Tư thế, suy nghĩ, cách ứng xử, hành động của ông là vẻ đẹp của một nhân cách hiên ngang, bất khuất tỏa sáng giữa đêm tối của một xã hội tù ngục vô nhân đạo

Câu 7: Mở đầu là hình ảnh “cái lò gạch cũ” và kết thúc cũng như thế Điều đó có

d.Đời sống nông dân làng Vũ Đại hoang tàn như cái lò gạch cũ

Câu 8: Thủ pháp nghệ thuật thành công nhất của đoạn trích “Hạnh phúc của một

tang gia” là:

Trang 32

26

a.Nghệ thuật tả thực

b.Nghệ thuật khắc học chân dung nhân vật

c.Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật

d.Nghệ thuật trào phúng

-Phần thưởng:

1.Một tràng pháo tay 2.Một tràng cười

3.Một cái bút 4.Một gói bim bim

5.Một bông hoa 6.Một cái bắt tay của bạn khác giới

Hình 2 8 Không khí sôi nổi khi các em HS chơi trò chơi “Chiếc nón kì diệu”

trong bài ôn tập Ngữ văn

Trang 33

27

2 Hình thức sân khấu hoá: cho học sinh diễn kịch một số tác phẩm/ đoạn trích VHHĐ đã học

2.1.Vai trò của hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học

Sân khấu hóa tác phẩm/ đoạn trích văn học tức là chuyển tải các văn bản văn học thành hình thức nghệ thuật như kịch, múa, hát…Sân khấu hóa nhưng vẫn đảm bảo tính chân, thiện, mỹ, vẫn đảm bảo nội dung tác phẩm/ đoạn trích

Sân khấu hóa tác phẩm/ đoạn trích văn học là một hình thức truyền tải nội dung, ý nghĩa tác phẩm hữu ích và rất hiệu quả.Thay cho việc chỉ đơn thuần đọc tác phẩm, trả lời các câu hỏi, phân tích các hình tượng, học sinh sẽ cảm thụ tác phẩm văn học bằng cách thâm nhập vào các hình tượng nhân vật, hóa thân thành các nhân vật Khi muốn vào vai một nhân vật nào đó, các em phải nghiên cứu kĩ tác phẩm, tính cách nhân vật thì mới lột tả được một cách chân thực nhất chân dung của nhân vật

Và khi đó, các em sẽ hiểu sâu sắc nội dung ý nghĩa tư tưởng nhà văn gửi gắm Sân khấu hóa là hình thức dạy học phù hợp với việc hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất cho HS Hình thức tiếp cận tác phẩm văn học này đòi hỏi sự chuẩn bị công phu cả phía GV và HS Giáo viên sẽ định hướng cho HS trong việc xây dựng kịch bản, lời thoại, bối cảnh, thời lượng,… Như vậy, học sinh có cơ hội trải nghiệm rất nhiều vai trò khác nhau khi xây dựng kịch bản, chọn diễn viên, diễn xuất, tạo bối cảnh, chọn âm thanh, ánh sáng, quay phim,… Sản phẩm kịch, dù là diễn trực tiếp trên lớp hay quay video cũng là sản phẩm của tập thể, của cả một ekip, một nhóm học sinh Cho nên, đây là cơ hội phát triển năng lực hợp tác, làm việc nhóm, năng lực cảm thụ nghệ thuật, năng lực truyền tải nghệ thuật…Đồng thời, với việc liên quan nhiều đến yêu tố sân khấu, cho nên giúp các em thấy được mối liên hệ chặt chẽ giữa các bộ môn nghệ thuật, mà văn học và sân khấu là một ví

dụ tiêu biểu cho điều đó

Sân khấu hóa giúp văn học gắn với đời sống thực tế Câu chuyện trong văn bản văn học không còn đóng khung trong SGK Ngữ văn, trong các bài học truyền giảng của giáo viên trên lớp, mà nó chính là đời sống thực tế được phản ánh vào trang văn Hay nói cách khác, đây là cách để kéo văn học về với đời sống, là cách giúp văn học xích gần với đời sống

2.2.Cách thức thực hiện

- Chuẩn bị kịch bản: GV lựa chọn tác phẩm/ đoạn trích và lên ý tưởng Sau

đó giao cho các nhóm xây dựng kịch bản GV duyệt kịch bản, chỉnh sửa kịch bản

và giao cho học sinh thực hiện

- Chuẩn bị diễn viên: Các nhóm trên cơ sở kịch bản đã xây dựng, lựa chọn diễn viên phù hợp nhất với các vai

- Chuẩn bị trang phục: Trang phục phải đảm bảo sự phù hợp cao nhất với phần kịch của nhóm HS có thể tự tạo ra các trang phục từ các vật liệu đơn giản hoặc có sẵn: mượn, cắt dán, hoặc thuê trang phục

Ngày đăng: 03/07/2022, 08:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Nguyễn Thị Huế (2014), Mấy vấn đề nghiên cứu văn học dân gian gần đây, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề nghiên cứu văn học dân gian gần đây
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thị Huế
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2014
2. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên)(2006), SGK Ngữ văn 11, tập 1, NXB GD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 11, tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB GD Việt Nam
Năm: 2006
3. Phan Trọng Luận ( chủ biên), Trương Dĩnh (2004), Phương pháp dạy học văn (Tập 1), NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn (Tập 1)
Tác giả: Phan Trọng Luận ( chủ biên), Trương Dĩnh
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2004
4. Phan Trọng Ngọ (Chủ biên), Dương Diệu Hoa, Nguyễn Thị Mùi (2001), Tâm lí học hoạt động và khả năng ứng dụng vào lĩnh vực dạy học, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học hoạt động và khả năng ứng dụng vào lĩnh vực dạy học
Tác giả: Phan Trọng Ngọ (Chủ biên), Dương Diệu Hoa, Nguyễn Thị Mùi
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
5. Nhiều tác giả (2007), Kỷ yếu Hội thảo khoa học dạy hạo Ngữ văn ở trường phổ thông theo chương trình và SGK mới, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học dạy hạo Ngữ văn ở trường phổ thông theo chương trình và SGK mới
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2007
6. Đỗ Ngọc Thống (2012, )Tài liệu chuyên văn tập 3, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chuyên văn tập 3
Nhà XB: NXB GD
7. Giáo trình ứng dụng CNTT cơ bản của NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và trường ĐH khoa học Tự nhiên, trung tâm tin học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ứng dụng CNTT cơ bản
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và trường ĐH khoa học Tự nhiên

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

25 2. Hình thức sân khấu hoá: cho học sinh diễn kịch một số tác phẩm/ đoạn trích VHHĐ đã học - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
25 2. Hình thức sân khấu hoá: cho học sinh diễn kịch một số tác phẩm/ đoạn trích VHHĐ đã học (Trang 6)
Hình 1.1. Hình ảnh trang khảo sát thực trạng học bài ôn tập của học sinh - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
Hình 1.1. Hình ảnh trang khảo sát thực trạng học bài ôn tập của học sinh (Trang 15)
Hình1.2. Hình ảnh trang khảo sát giành cho giáo viên dạy học môn Ngữ Văn - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
Hình 1.2. Hình ảnh trang khảo sát giành cho giáo viên dạy học môn Ngữ Văn (Trang 17)
Hình 1.4. Kết quả thống kê câu hỏi 2 trên trang khảo sát của học sinh - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
Hình 1.4. Kết quả thống kê câu hỏi 2 trên trang khảo sát của học sinh (Trang 18)
12Hình 1.3. Kết quả thống kê câu hỏi 1 trên trang khảo sát đối với học sinh - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
12 Hình 1.3. Kết quả thống kê câu hỏi 1 trên trang khảo sát đối với học sinh (Trang 18)
13 - Ở câu 2: Số học sinh rất hứng thú với phương pháp dạy của GV có vẻ khả - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
13 Ở câu 2: Số học sinh rất hứng thú với phương pháp dạy của GV có vẻ khả (Trang 19)
Hình1.5. Thống kê tỷ lệ trả lời câu hỏi 1 trên trang khảo sát của giáo viên - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
Hình 1.5. Thống kê tỷ lệ trả lời câu hỏi 1 trên trang khảo sát của giáo viên (Trang 19)
14Hình 1.6. Thống kê tỷ lệ trả lời câu hỏi 2 trên trang khảo sát của giáo viên - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
14 Hình 1.6. Thống kê tỷ lệ trả lời câu hỏi 2 trên trang khảo sát của giáo viên (Trang 20)
Hình 1.7. Thống kê tỷ lệ trả lời câu hỏi 3 trên trang khảo sát của giáo viên - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
Hình 1.7. Thống kê tỷ lệ trả lời câu hỏi 3 trên trang khảo sát của giáo viên (Trang 20)
Hình 2.1. Hình ảnh phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
Hình 2.1. Hình ảnh phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” (Trang 23)
Hình 2.2. Hình ảnh phim “Trò đời” - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
Hình 2.2. Hình ảnh phim “Trò đời” (Trang 23)
Hình 2.3. Hình ảnh trang padlet bài tập của học sinh - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
Hình 2.3. Hình ảnh trang padlet bài tập của học sinh (Trang 24)
Hình 2.4. Sơ đồ tư duy bài “Hạnh phúc của một tang gia” - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
Hình 2.4. Sơ đồ tư duy bài “Hạnh phúc của một tang gia” (Trang 25)
Hình 2.5. Hình ảnh trò chơi ô chữ văn học bài “Ôn tập văn học” - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
Hình 2.5. Hình ảnh trò chơi ô chữ văn học bài “Ôn tập văn học” (Trang 27)
Hình 2. 8. Không khí sôi nổi khi các em HS chơi trò chơi “Chiếc nón kì diệu” trong bài ôn tập Ngữ văn - SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy TIẾT ôn tập QUA bài ôn tập PHẦN văn học NGỮ văn 11
Hình 2. 8. Không khí sôi nổi khi các em HS chơi trò chơi “Chiếc nón kì diệu” trong bài ôn tập Ngữ văn (Trang 32)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w