1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực

69 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề SKKN Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Ngữ Văn (Phần Đọc - Hiểu Văn Bản) Cho Học Sinh Ban Khoa Học Tự Nhiên Ở Trường THPT Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
Tác giả Trần Thị Thương, Lê Thị Kim Ngân
Trường học Trường THPT Hoàng Mai
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 5,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bài đọc hiểu trong chương trình được thiết kế với mục tiêu đảm bảo kiến thức về thể loại văn học, tác phẩm văn học tiêu biểu, nắm được một số khái niệm và thao tác phân tích tác phẩm

Trang 2

TN THPT Tốt nghiệp Trung học phổ thông

NL/ PTNL Năng lực/Phát triển năng lực

SKKN Sáng kiến kinh nghiệm

Trang 3

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 2

2 Giải pháp nâng cao chất lượng dạy-học môn Ngữ văn

(phần Đọc-hiểu văn bản) cho HS ban KHTN ở trường THPT theo định hướng phát triển NL

8

2.1 Lựa chọn, vận dụng các hình thức và phương pháp giảng

dạy môn Ngữ văn (phần Đọc-hiểu văn bản) theo định hướng phát triển NL cho HS ban KHTN

8

2.2 Giải pháp tăng cường NL học phần Đọc- hiểu văn bản

theo định hướng phát triển NL cho HS ban KHTN 22

Tài liệu tham khảo Phụ lục

Trang 4

Cùng với các môn học khác, Ngữ văn là môn học đóng vai trò rất quan trọng đối với việc định hướng phát triển NL HS Chương trình SGK Ngữ văn đang sử dụng ở trường THPT được soạn theo hướng tích hợp ba môn: Đọc hiểu

- Tiếng Việt - Tập làm văn, đều lấy văn bản làm trục chính và sử dụng ngữ liệu

từ văn bản để giảng dạy Các bài đọc hiểu trong chương trình được thiết kế với mục tiêu đảm bảo kiến thức về thể loại văn học, tác phẩm văn học tiêu biểu, nắm được một số khái niệm và thao tác phân tích tác phẩm văn học, có được những kiến thức sơ giản về thi pháp, về lịch sử văn học Việt Nam, Không chỉ thế, dạy ĐHVB là dạy kĩ năng đọc - hiểu, nghe, nói, viết, hướng tới khám phá cái hay, cái đẹp từ những tác phẩm văn chương nhằm khơi dậy, hình thành và phát triển nhân cách cho HS, bồi dưỡng cho các em tri thức và làm phong phú đời sống tâm hồn, hướng các em tới Chân – Thiện – Mĩ Trên tinh thần đó, dần hình thành và phát triển phẩm chất, NL của HS

Tuy nhiên, qua thực tiễn quá trình giảng dạy, khảo sát thực tế tại trường THPT Hoàng Mai, chúng tôi nhận thấy rằng bên cạnh các em có tinh thần học tập nghiêm túc, có ý thức hình thành và rèn luyện những NL và phẩm chất tốt đẹp qua bộ môn này, vẫn còn đó tình trạng, HS theo định hướng ban KHTN thường xem nhẹ vai trò môn Ngữ văn, nhất là phần ĐHVB Thái độ, tâm lí tiếp cận môn học này gần như không có sự hứng thú, ít có sự tích cực trong hoạt động học tập dẫn đến tình trạng học đối phó Vì vậy, kết quả học tập, thi cử môn học này thu được từ HS chưa cao

Đội ngũ GV môn Ngữ văn, về cơ bản đều có NL chuyên môn vững vàng, tận tâm và có tinh thần trách nhiệm cao trong giảng dạy, đã rất cố gắng đổi mới PPDH để có những bài giảng hay, lí thú và hấp dẫn cho các em Tuy nhiên, còn một bộ phận GV chưa có giải pháp hiệu quả nhằm kích thích NL tự học, tự nghiên cứu, NL cảm thụ văn chương cho các em, nhất là khi được phân công giảng dạy môn Ngữ văn ở các lớp ban KHTN PPDH được sử dụng chủ yếu vẫn thiên về kiểu thầy cô giảng, ghi bảng hoặc trình chiếu qua slide, còn trò chỉ việc nghe, ghi nhớ và biết nhắc lại đúng những điều đã được giảng là đủ Cách dạy này gần như không hình thành được phẩm chất, NL nào ở HS, mặc dù, đối tượng HS ban KHTN có rất nhiều tiềm năng về tư duy, khả năng sáng tạo Vì vậy, giờ ĐHVB chưa thu hút được sự chú ý của các em, HS ngày càng tỏ ra bàng quan, thờ ơ với văn chương

Đứng trước thực tiễn này, bản thân chúng tôi luôn trăn trở, mong muốn tìm ra giải pháp để HS THPT nói chung, HS ban KHTN nói riêng có tinh thần, ý thức thái độ đúng đắn với bộ môn Cao hơn là, các em sẽ yêu thích môn Văn đồng thời nâng cao chất lượng học tập môn học này

Trang 5

2

Chính từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn đem những hiểu biết và kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình dạy học xin được trình bày đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập môn Ngữ văn (phần Đọc -hiểu văn bản) cho HS ban khoa học tự nhiên ở trường THPT theo định hướng phát triển NL” Qua đó, chúng tôi mong muốn đóng góp vào việc nâng cao chất lượng học- thi môn học Ngữ văn cho HS nói chung, HS ban KHTN nói riêng Đồng thời, hình thành ở các em những NL cần có đáp ứng yêu cầu theo định hướng của chương trình GDPT mới

2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

- Quá trình học tập, ôn luyện của HS ban KHTN

- Các PPDH, HTDH phần ĐHVB tại trường THPT cho lớp thuộc ban KHTN 3.2 Đối tượng nghiên cứu

HS khối lớp 10,12 trường THPT Hoàng Mai (ban cơ bản) không có tiết tự chọn môn Ngữ văn

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn

- Phương pháp thống kê, so sánh

- Phương pháp phân tích, khái quát hóa, hệ thống hóa

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm…

5 Kế hoạch nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu trong một thời gian khá dài, từ năm 2019 đến nay Nó đúc rút từ kinh nghiệm giảng dạy của những người viết và từ việc đánh giá kết quả học tập của HS, trong đó có HS ban KHTN

- Thời gian viết và hoàn thiện: 2021-2022

6 Những đóng góp của đề tài

Kết quả của đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập môn Ngữ văn (phần Đọc -hiểu văn bản) cho HS ban khoa học tự nhiên ở trường THPT theo định hướng phát triển NL” của chúng tôi sẽ giúp một số lượng lớn

HS THPT ban KHTN giải quyết khó khăn khi học tập môn Ngữ văn So với những công trình nghiên cứu về vấn đề tìm giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn học này, đề tài của chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu thực trạng học tập,

Trang 6

3

chất lượng thi cử môn Ngữ văn của các HS các lớp ban KHTN Từ đó, kết luận

và đề xuất những giải pháp khả thi, phù hợp với tầm đón nhận, tâm lí và NL của các em ban KHTN ở trường THPT Giúp các em vừa yêu thích môn học, yêu thích những văn bản văn bản trong và ngoài nước, đồng thời có thể phát huy được những NL cần có, đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT mới đặt ra

7 Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm

Ngoài phần Đặt vấn đề và Kết luận, đề tài của chúng tôi có những nội dung cơ bản sau:

Trang 7

4

PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở khoa học

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Yêu cầu của chương trình GDPT 2018

Dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất NL HS là yêu cầu cấp thiết của đổi mới dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Điều 30 của Luật giáo dục mới năm 2019 nêu rõ: "Phương pháp GDPT phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học

và đặc điểm đối tượng HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kĩ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và NL người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục"

Nghị quyết 29- NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Hội nghị

TW 8 khóa XI về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” cũng khẳng định: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện

NL và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”

Quán triệt tinh thần đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng Chương trình GDPT (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) xác định nội dung trọng tâm của việc đổi mới căn bản, toàn diện GDPT là sự phát triển NL của người học, từ

đó nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển đất nước, Trong đó quy định mục tiêu hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm; đồng thời, hình thành và phát triển cho HS những NL cốt lõi (bao gồm những NL chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: NL

tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo)

và những NL đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục

Chương trình GDPT – chương trình tổng thể (ban hành kèm theo Thông

tư số 32/2018/TT-BGDDT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT) và Chương trình GDPT – Chương trình môn Ngữ văn (ban hành kèm theo Thông

tư số 32/2018/TT-BGĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT khẳng định: Ngữ văn được coi là môn học công cụ, theo đó, môn học này cùng với các môn học khác hình thành cho HS các NL chung như đã nói ở trên Đặc biệt, nó còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành NL giao tiếp tiếng Việt, NL cảm thụ văn học- những NL mang tính đặc thù của môn học này

Về NL giao tiếp Tiếng Việt: Tiếng Việt chính là công cụ để chúng ta giao tiếp trong cuộc sống cũng như trong học tập Vì vậy bộ môn Ngữ văn phải có nhiệm vụ trang bị cho HS khả năng sử dụng tiếng Việt một cách phù hợp và hiệu quả trong tình huống giao tiếp NL giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở cả 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng

Trang 8

HS phải có khả năng phát hiện, đánh giá và thưởng thức cái đẹp trong văn học và cuộc sống, biết làm chủ cuộc sống, biết làm chủ cảm xúc của bản thân, biết hành động hướng theo cái đẹp, cái thiện Cảm nhận vẻ đẹp ngôn ngữ, nhận

ra những giá trị thẩm mĩ trong văn học, biết rung cảm, hướng thiện, vận dụng được những giá trị thẩm mĩ mà văn học đã mang lại trong thực tế cuộc sống HS

có NL cảm thụ văn chương tốt thì mới hiểu được ý nghĩa của bài văn, bài thơ, đoạn văn, đoạn thơ và mới thấy được nét đẹp của thơ văn, làm cho tâm hồn các

em thêm phong phú

1.1.2 Đặc trưng cấu trúc chương trình và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn

Cấu trúc của chương trình SGK Ngữ văn hiện nay, ít nhiều đã tạo điều kiện cho việc dạy học ĐHVB theo định hướng phát triển NL cho HS Như đã giới thiệu, SGK Ngữ văn hiện nay tuy được soạn theo hướng tích hợp ba môn: Đọc hiểu - Tiếng Việt - Tập làm văn, nhưng đều lấy văn bản làm trục chính và

sử dụng ngữ liệu từ văn bản để giảng dạy Vì vậy, có thể thấy, bộ phận Đọc hiểu đóng một vai trò quan trọng, có thể ví như cánh cửa đầu tiên để hình thành NL tiếp nhận văn bản và là tiền đề để hướng đến NL tạo lập văn bản Dạy ĐHVB có giá trị quan trọng không chỉ cung cấp kiến thức mà còn hướng HS phát triển được những NL cần thiết

Bên cạnh đó, yêu cầu đổi mới cách ra đề theo định hướng phát triển NL cũng được chương trình Ngữ văn 2018 quy định rõ: “Đánh giá định kì thường thông qua các đề kiểm tra hoặc đề thi viết Đề thi, kiểm tra có thể yêu cầu hình thức viết tự luận (một hoặc nhiều câu); có thể kết hợp hình thức trắc nghiệm khách quan và hình thức tự luận để đánh giá đọc hiểu và yêu cầu viết bài văn về một chủ đề nào đó theo từng kiểu văn bản đã học trong chương trình…Trong việc đánh giá kết quả học tập cuối năm học, cuối cấp học, cần đổi mới cách thức đánh giá…; sử dụng và khai thác ngữ liệu bảo đảm yêu cầu đánh giá được năng lực của học sinh, khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép tài liệu có sẵn; tránh dùng lại các văn bản ngữ liệu đã học để đánh giá được chính xác khả năng đọc hiểu và phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học” Điều này đồng nghĩa với việc, GV cần hướng dẫn HS nắm được phương pháp ĐHVB, không chỉ là các văn bản trong chương trình SGK, đồng thời còn có thể vận dụng để đọc hiểu các văn bản cùng thể loại có độ khó tương đương

Để đáp ứng yêu cầu trên, mỗi GV ở từng cấp học nói chung, GV bậc THPT nói riêng phải không ngừng đổi mới PPDH, HTDH, KTĐG một cách đầy sáng tạo, linh hoạt sử dụng trong quá trình giảng dạy để phù hợp với từng đối tượng HS, phát huy tối đa những sở trường, NL tiềm ẩn của các em

Trang 9

6

1.2 Cơ sở thực tiễn và thực trạng vấn đề nghiên cứu

1.2.1.Thực trạng chung của HS ban KHTN khi học tập môn Ngữ văn Đáp ứng xu thế thời đại, yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục theo định hướng phát triển NL, việc dạy - học Ngữ văn cũng phải không ngừng thay đổi theo hướng mới Hướng hoạt động dạy-học Ngữ văn vào hình thành và phát triển các NL cơ bản thiết yếu, đáp ứng với các yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói

Dạy- học Ngữ văn theo phương pháp mới là chuyển hóa NL của người học văn trong tác phẩm, thành NL cho từng HS, coi trọng khả năng tiếp nhận văn bản của HS, chú trọng giảng dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của

HS, coi HS là chủ thể của hoạt động học

Tuy nhiên, cách dạy-học truyền thống vẫn chưa thực hiện được nhiệm vụ này Qua thực tiễn quá trình dạy học, qua khảo sát các HS ban KHTN, các cô giáo giảng dạy môn Ngữ văn, tại trường THPT Hoàng Mai (Phiếu khảo sát ở Phụ lục 1,2), chúng tôi thu được kết quả: Rất nhiều HS THPT, nhất là HS ban KHTN nói riêng tiếp cận môn Ngữ văn, đặc biệt là phần ĐHVB rất hời hợt, gần như không có sự hứng thú, ít có sự tích cực trong hoạt động học tập Thực trạng lười đọc tài liệu, thậm chí đọc văn bản trong sách giáo khoa rất phổ biến Đa số

HS đều chỉ ra rằng thông tin, con chữ trên văn bản là khô khan và một chiều, không có hình ảnh trực quan và ít có giá trị cao trong thực tiễn đời sống HS khẳng định việc học tập môn Ngữ văn chỉ có thể biết thêm một số kiến thức về tác giả, tác phẩm, gần như không hình thành được NL của bản thân qua môn học này HS ban KHTN tồn tại tình trạng học lệch rất rõ rệt Các em chỉ muốn dành một thời gian rất nhỏ trên lớp, để “tranh thủ” học Văn, “đối phó” với GV Toàn

bộ thời gian khác dành để học và làm đề các môn khối A, A1, B…Vì vậy, kết quả thu được từ HS cả trong học tâp và thi cử còn hạn chế Kết quả định lượng qua những lần thi KSCL hay thi TN THPTQG chưa đạt được như kì vọng đặt ra

Bên cạnh đó, phương pháp dạy ĐHVB một số GV chưa thực sự đúng hướng Người “đọc hiểu” ở các tiết dạy ĐHVB chủ yếu vẫn là GV Các thầy cô vẫn lên lớp với nội dung của bài học (đã được chuẩn bị sẵn trong giáo án) Trong giờ học ĐHVB, GV thường làm nhiệm vụ “cảm thụ hộ” HS Phần nhiều

GV chỉ hướng dẫn HS chiếm lĩnh tri thức bằng cách nêu lên hệ thống câu hỏi hướng để HS trả lời luân phiên, thậm chí “nói như một cái máy” vì có thể các

em chỉ phát biểu dựa vào SGK, các tài liệu tham khảo Về phía HS, các em thường tiếp cận VBĐH dừng lại ở mức đọc thành tiếng Xuyên suốt cả thời gian của giờ học ĐHVB, GV mới là trung tâm bình giảng Quá trình HĐHVB chỉ dừng lại ở khâu “đọc - chép”, “chiếu - chép”, nhiệm vụ của HS là “nghe - chép” hoặc “nhìn - chép” Lâu dần, hoạt động này sẽ trở nên nhàm chán, việc dạy- học văn học ở trường phổ thông không đáp ứng mục tiêu hình thành và phát triển NL cho HS

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm môn Ngữ văn là môn học rất giàu tính hình tượng, kiến thức nhiều, đòi hỏi

HS có phẩm chất, năng lực nền tảng Thứ hai, xuất phát từ phía HS, nhiều em chưa đánh giá đúng vị trí của môn Ngữ văn, chưa có ý thức học tập Đặc biệt, học định hướng thi các môn KHTN, vì thế mà những nhiều em đều rất thờ ơ khi

Trang 10

7

học tập môn bộ môn này, đa số các em ban KHTN đang tồn tại tư duy “chỉ cần đậu đại học khối A, A1, B với số điểm cao, còn điểm môn Ngữ văn chỉ cần đủ điểm đậu tốt nghiệp THPT Quốc gia là được” Thêm vào đó, từ năm học 2019-

2020 đến nay, do ảnh hưởng của đại dịch Covid nên các em phải học trực tuyến trong một thời khá dài, nên nhiều em đã lười học càng thêm càng sao nhãng việc học tập môn Ngữ văn Thứ ba, xuất phát từ phía GV, người dạy chưa phân tích hết các yếu tố đến từ HS để hiểu vì sao HS không tích cực học, hai là quá rập khuôn kiến thức của SGK, phương pháp tổ chức, kĩ thuật tổ chức hoạt động dạy học chưa phù hợp với đối tượng HS không chuyên Văn nên chưa kích thích được hứng thú của các em

Một trong những đặc điểm tư duy, tâm sinh lí lứa tuổi của HS THPT, HS ban KHTN là các em ngày càng có nhu cầu tự bộc lộ khả năng, cách nghĩ, cách giải quyết vấn đề riêng của mình Điều HS cần ở GV là sự động viên, khích lệ,

có hứng thú Các em sẽ không hào hứng khi bị áp đặt tư duy thụ Đứng trước tình huống này, nếu GV không trau dồi cho mình trình độ, kiến thức, bản lĩnh đứng lớp và tư duy khách quan, cởi mở…chúng ta có thể vội vàng phủ nhận những lí lẽ mới mẻ hoặc nặng nề hơn là phê bình, lên án cách nhìn, cách cảm của các em Chính điều đó khiến cho môn Văn không tạo được hứng thú, không phát triển được những tiềm năng sẵn có của HS ban KHTN Và quan trọng hơn, dần dần các em cũng không còn hứng thú với môn học- đó là căn nguyên sâu xa của việc, HS ngày càng xa lánh với bộ môn quan trọng này

1.2.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay, đã có rất nhiều bài báo khoa học, nhiều tài liệu, công trình luận văn Thạc sỹ, Tiến sỹ… nghiên cứu vấn đề dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển NL HS Tiêu biểu là những bài viết của TS Nguyễn Trọng Hoàn: Một số vấn đề về ĐHVB ngữ văn và Hình thành NL đọc cho HS trong dạy học Ngữ văn; GS.TS Nguyễn Thanh Hùng với bài Đọc hiểu văn chương bài: Những khái niệm then chốt của vấn đề đọc hiểu văn chương; GS.TS Trần Đình

Sử viết bài ĐHVB- Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay; TS Nguyễn Viết Chữ với bài Về việc bồi dưỡng kĩ năng đọc – nghe – nói- viết cho HS trong dạy học Ngữ văn; Công trình Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển NL người học ở trường phổ thông của hai tác giả Lê Đình Trung-Phan Thị Thanh Hội; công trình Phương pháp dạy học phát triển

NL HS phổ thông của nhóm tác giả do Huỳnh Văn Sơn (chủ biên); Dạy học PTNL môn Ngữ văn trung học phổ thông của Đỗ Ngọc Thống và nhóm cộng sự…Phát triển NL đọc - hiểu cho HS THPT đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT mới của Nguyễn Thị Thanh Lâm; Một số biện pháp phát triển NL văn học cho HS phổ thông đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT môn Ngữ văn (2018) của Phạm Thị Thu Hiền; Các SKKN của rất nhiều thầy cô giáo cũng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng dạy- học phần Đọc hiểu văn bản Tiêu biểu có Một số biện pháp nâng cao NL ĐHVB Ngữ văn cho HS THPT của tác giả Trần Thị Oai; Phát triển NL ĐHVB cho HS trung học phổ thông trong dạy học ngữ văn (qua dữ liệu lớp 10) của Đoàn Thị Thanh Huyền…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này đều khẳng định tầm quan trọng của phân môn ĐHVB trong chương trình Ngữ văn, chú trọng đến khâu hướng

Trang 11

8

dẫn HS đọc và tiếp cận văn bản văn học Đặt ra những yêu cầu thiết yếu phải đổi mới việc dạy và học văn học trong nhà trường phổ thông Các tài liệu đều đi đến kết luận rằng các kĩ năng cơ bản cần hình thành cho HS qua việc ĐHVB là nghe

- nói - đọc - viết Tuy nhiên, các công trình đó chưa cụ thể hoá cách thức giảng dạy, cách thức học tập cho từng đối tượng HS khác nhau Việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng học tập môn Ngữ văn cho HS ban KHTN ở trường THPT theo định hướng phát triển NL chưa được chú trọng đi sâu khai thác, chú ý một cách đúng mức

2 Giải pháp nâng cao chất lượng dạy-học môn Ngữ văn (phần Đọc -hiểu văn bản) cho HS ban KHTN ở trường THPT theo định hướng phát triển

NL

2.1 Lựa chọn, vận dụng các hình thức và phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn (phần Đọc- hiểu văn bản) theo định hướng phát triển NL cho HS ban KHTN

Cùng với sự phát triển của xã hội, sự vận động của con người, phải là sự thay đổi của giáo dục, đặc biệt là thay đổi phương pháp và hình thức giảng dạy

Sự thay đổi ấy cần bắt đầu từ việc chuyển đổi từ giáo dục tiếp cận nội dung sang giáo dục tiếp cận NL Điều đó cũng đồng nghĩa với việc cần phải đặt yêu cầu phát triển NL HS lên hàng đầu Ngữ văn là môn học có yêu cầu đặc biệt quan trọng về khả năng tưởng tượng, sử dụng ngôn từ và quan tâm nhiều hơn đến tư tưởng tình cảm của HS Vì vậy, đối với việc giảng dạy theo định hướng phát triển NL môn Ngữ văn cho HS thuộc ban KHTN – những môn học quan tâm nhiều hơn về mặt tư duy logic trở thành một vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn nữa

2.1.1 Lựa chọn, vận dụng các hình thức giảng dạy môn Ngữ văn theo định hướng phát triển NL cho HS ban KHTN

ĐHVB là một trong những phân môn hay mà khó của bộ môn Ngữ văn Khi học, HS cần nắm được hệ thống kiến thức khá lớn bao gồm trong văn bản, ngoài văn bản cùng hệ thống kiến thức liên môn đi kèm Vì vậy, khi giảng dạy kiến thức này với HS ban KHTN, cần phải làm sao các em không bị nhàm chán,

có hứng thú trong giờ học và cao hơn nữa là có thể tự tìm kiến thức ngoài để tham khảo, nâng cao năng lực văn chương của mình Ngoài PPDH, HTDH truyền thống, GV có thể thêm tìm tòi, linh hoạt vận dụng các cách thức dạy học mới phù hợp với đối tượng HS ban KHTN

Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể của từng đơn

vị bài ĐHVB mà GV sẽ lựa chọn những HTDH, PPDH tích cực hoạt động của

HS, hình thành NL cho các em Đặc biệt chú ý phát huy tối đa khả năng lập luận

và tư duy của đối tượng HS ban KHTN

Quá trình dạy học trên lớp ban KHTN, chúng tôi thường sử dụng một số hình thức dạy học nhằm làm giảm áp lực cho HS, chú ý nhiều đến hứng thú của các em, không đòi hỏi việc ghi nhớ kiến thức mà chủ yếu để các em học tập theo nhiều hình thức nhẹ nhàng, có sự kết nối, hỗ trợ cặp/nhóm để tạo không khí học tập Một số hình thức dạy học được sử dụng thường xuyên bao gồm:

Trang 12

9

Hình thức dạy học theo nhóm Ở hình thức này, HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong một khoảng thời gian nhất định, mỗi nhóm sẽ tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở được phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp

Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển NL cộng tác làm việc và NL giao tiếp của HS

Cách chia nhóm: Chia nhóm theo bàn học, theo mùa sinh, theo các màu sắc yêu thích, theo cùng trình độ, theo giới tính, theo sở thích, Kinh nghiệm bản thân cho thấy nên chia nhóm trong đó có cả HS giỏi, khá, trung bình, yếu là tốt nhất Số lượng HS giỏi, khá, trung bình, yếu giữa các nhóm phải bằng nhau

để đảm bảo công bằng Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ tuỳ theo vấn đề thảo luận Tuy nhiên, nhóm từ 4 - 6 HS là tốt nhất Quy trình giảng dạy với thời gian một tiết (45 phút), GV tiến hành tuần tự các bước lên lớp theo quy định chung

GV nêu chủ đề cần thảo luận, chia nhóm vào thời điểm thích hợp của tiết học, giao câu hỏi cho các nhóm Yêu cầu các nhóm thảo luận, quy định thời gian thảo luận và phân công vị trí ngồi thảo luận cho các nhóm Các nhóm tiến hành thảo luận Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận Các nhóm khác lắng nghe, chất vấn, trao đổi bổ sung ý kiến GV bổ sung nội dung mà HS trình bày còn thiếu cho hoàn thiện GV đưa ra định hướng đúng những vấn đề HS cần nhớ sau khi thảo luận HS ghi nhớ hoặc ghi chép nội dung chính của bài học vào vở

Qua việc dự giờ đồng nghiệp và giảng dạy, bản thân chúng tôi thấy rằng: Thông thường, sau khi thảo luận xong, các nhóm thường cử một người thay mặt nhóm lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình và hầu hết đó đều là những

HS khá, giỏi, có kĩ năng trình bày vấn đề khá tốt Kết quả thảo luận được trình bày chủ yếu bằng hình thức viết lên giấy khổ lớn dán lên bảng Đến đây, HS coi như “xong nhiệm vụ” Đến phần GV chữa bài của HS, vì tâm lý sợ HS trình bày rườm rà sẽ “cháy” giáo án, nên GV thường chữa bài của các em thật nhanh GV chỉ chú ý xem các em viết được bao nhiêu phần trăm kiến thức và xem nhẹ cách các em trình bày vấn đề, bỏ qua cả lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu và sự thiếu hợp

lý của bố cục trình bày Thậm chí, HS sẽ không có cơ hội được trình bày quan điểm cá nhân và như vậy sẽ không rèn được năng lực tư duy, phản biện, giải quyết vấn đề của mình

Để khắc phục tình trạng này, theo chúng tôi, trong phần trình bày của HS,

GV cũng cần phải quy định điểm số cho cả phần viết trình bày sơ đồ, bảng phụ, các sản phẩm phát huy NL số trên các phần mềm (nếu có), và cho điểm cả cách thuyết trình của HS GV cần tạo điều kiện cho tất cả thành viên trong nhóm được trình bày quan điểm, kể cả những người rụt rè e thẹn hay ngại trước đám đông, GV có thể yêu cầu HS đó đại diện trình bày ý kiến của nhóm mình Thậm chí, qua sự quan sát của mình, nếu thấy HS nào chưa thực sự tập trung, GV có thể yêu cầu chính em đó đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm

Về phần trình bày kết quả thảo luận GV cần khuyến khích các em trình bày dưới nhiều hình thức như trình bày bằng lời; đóng vai; viết hoặc vẽ lên giấy khổ lớn, các sản phẩm phần mềm hỗ trợ học tập như canva, powerpoint, mindmap…; một người thay mặt nhóm trình bày, hoặc một người trình bày một

Trang 13

Để giúp HS mài sắc NL tư duy và sử dụng ngôn ngữ, trong khi sử dụng phương pháp này, GV cũng có thể sử dụng thêm phương pháp phản ứng nhanh

và xử lý tình huống Đừng để phương pháp thảo luận chỉ còn là hình thức vì không đủ thời gian cần thiết để hoàn thành Như vậy sự thay đổi về mặt phương pháp chỉ là “cái bình mới cho rượu cũ” là việc thuyết giảng của GV

Hoạt động nhóm trên lớp và qua phòng zoom (theo chế độ breakout rooms)

HS tiến hành trình bày sản phẩm sau thảo luận nhóm (ở nhà hoặc tại lớp)

Một hình thức khác dạy ĐHVB có thể phát huy được NL của HS là hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học Hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học cũng là một hình thức dạy học thu được nhiều hiệu ứng tích cực từ HS

Trang 14

11

Nhìn chung, trong hình thức sân khấu, TPVH có thể được diễn lại một cách sống động từ văn bản nguyên tác, hoặc vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia Đây là hoạt động dạy học phù hơp với việc dạy và học các đơn vị bài học văn bản văn học Đặc biệt ở những tác phẩm kịch, văn học dân gian Phần trình diễn chính là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao sự tương tác, sự tham gia của khán giả Thông qua hình thức này tăng cường sự nhận thức, thúc đẩy HS để HS đưa ra những quan điểm, suy nghĩ và những cách xử lí tình huống, khả năng ứng phó với những thay đổi của cuộc sống… Qua hình thức này, HS có thể đồng thời phát triển được NL giải quyết sáng tạo, giao tiếp, hợp tác…Đồng thời, các em cũng nhận thức được sự khác nhau, khoảng cách từ văn bản văn chương đến nghệ thuật sân khấu

Ví dụ: Có thể chuyển thể sang kịch bản văn học một số trích đoạn như trích đoạn trong Chí Phèo; trích đoạn trong Hồn Trương Ba da hàng thịt; trích đoạn trong Rômêo và Juliet; văn bản Tấm Cám Ngay trong cả những văn bản thơ, HS cũng có những vở kịch rất độc đáo

Đoạn trích Chí khí anh hùng Đoạn trích Tấm Cám

Phân cảnh vượt thác leo ghềnh của người lái đò trong Người lái đò Sông

Đà (Nguyễn Tuân) do HS 12A13 dựng cảnh Hoạt động sắm vai cũng đóng vai trò rất hữu hiệu trong việc dạy học ĐHVB cho HS ban KHTN Sắm vai là hình thức giúp HS thực hành cách ứng

xử, bày tỏ thái độ trong những tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng

Trang 15

12

tượng và ý nghĩ sáng tạo của các em Thông qua sắm vai, HS được rèn luyện, thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn, tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của các

em, khích lệ thay đổi thái độ và hành vi theo hướng tích cực trước một vấn đề hay đối tượng nào đó Đồng thời, qua các HS diễn xuất hay trình bày vấn đề, giải quyết vấn đề đặt ra, GV sẽ đánh giá được những ưu và khuyết điểm trong ngôn ngữ của HS Từ đó, phát huy điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu ở việc sử dụng ngôn ngữ của các em

Có nhiều hình thức sắm vai như: Cho HS sáng tạo lời nói, ý nghĩ nhân vật thay cho tác giả; Nhập vai người kể chuyện để bình luận, đánh giá về nhân vật, sự kiện, tình huống theo quan điểm của mình; Ðóng vai nhân vật để phát biểu suy nghĩ chủ quan về những con người, hoàn cảnh, sự kiện, tình huống trong tác phẩm; Tham dự vào tác phẩm với tư cách là người trong cuộc: ví dụ đặt mình vào vị trí nhân vật và hình dung thái độ, phản ứng của mình trước các

sự kiện; Ðóng kịch để diễn tả lại hành động, tâm trạng nhân vật, ngâm thơ, vẽ lại bức tranh mà tác giả đã miêu tả trong tác phẩm theo tưởng tượng của bản thân

Sản phẩm tranh vẽ chân dung các nhân vật trong tác phẩm Vợ nhặt qua

tưởng tượng của các nhóm HS

Trang 16

13

Cảnh phiên tòa giả định ở tòa án huyện (phân đoạn trong Chiếc thuyền

ngoài xa) Phương pháp sắm vai được tiến hành theo các bước nhất định bao gồm:

- Nêu tình huống sắm vai (phù hợp với chủ đề hoạt động; phải là tình huống mở; phù hợp với trình độ HS) - Cử nhóm chuẩn bị vai diễn (có thể chuẩn bị trước khi tiến hành họat động): yêu cầu nhóm sắm vai xây dựng kịch bản thể hiện tình huống sao cho sinh động, hấp dẫn, mang tính sân khấu nhưng không đưa ra lời giải hay cách giải quyết tình huống Kết thúc sắm vai là một kết cục mở để mọi người thảo luận.- Thảo luận sau khi sắm vai: khi sắm vai kết thúc, người dẫn chương trình đưa ra các câu hỏi có liên quan để HS thảo luận - Thống nhất và chốt lại các ý kiến sau khi thảo luận

Hình thức học tập sắm vai nhiều khi rất vui nhờ những chi tiết hài hước, ngộ nghĩnh do HS- “diễn viên bất đắc dĩ” tạo nên Hình thức sắm vai đặc biệt phát huy tác dụng bởi nó giúp HS được thực hành giao tiếp, được quan sát trực tiếp hoạt động nói với sự kết hợp sinh động của phương tiện âm thanh và các yếu tố phi ngôn ngữ

Qua thời gian triển khai phương pháp này, chúng tôi nhận thấy, nếu áp dụng nó trong không gian lớp học và thời lượng tiết học có hạn thì phương pháp này sẽ ít có hiệu quả Nhưng khi sử dụng ở tiết ngoại khóa hoặc tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp lại rất có hiệu quả Nếu tiến hành trong phạm vi lớp học cần khích lệ (nhiều khi phải chỉ định) cả những HS nhút nhát cùng tham gia Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai

Các hoạt động sắm vai này cần nhiều thời gian để các em vừa có thể

“diễn”, trình bày khả năng ngôn ngữ của mình Đồng thời qua đó cũng có thời gian để điều chỉnh uốn nắn các em và định hướng về tư tưởng hành động đúng

Trang 17

Một hình thức dạy học ĐHVB có thể phát huy được phẩm chất và NL HS THPT ban KHTN hiệu quả là Thuyết trình

Thuyết trình là một trong những phương thức hiệu quả giúp HS rèn luyện năng lực giao tiếp, sử dụng tiếng Việt một cách bài bản Tuy nhiên, hình thức này không giống cách truyền thụ “một chiều” trong dạy học truyền thống mà

GV đã sử dụng để dẫn đến thói quen học thuộc lòng - nhớ - đọc trong đại bộ phận HS Việc tổ chức cho HS thuyết trình nhằm rèn luyện cho HS có tinh thần

tự học một cách tích cực, biết ăn nói lưu loát, phát biểu ý kiến một cách tự nhiên, rành mạch Trong đó, HS chủ động chuẩn bị bài, trình bày và thảo luận

GV chỉ là người đóng vai trò hướng dẫn cách thức chuẩn bị, phân công trình bày chứ không trực tiếp tham gia chuẩn bị và trả lời thay học trò Chỉ đến lúc các em kết thúc thảo luận, GV mới tổng kết và đưa ra nhận xét, đánh giá, cho điểm Như vậy, rõ ràng phương pháp dạy học này đã thực sự biến các em HS trở thành trung tâm của giờ học

Để có một buổi thuyết trình thành công, theo chúng tôi, GV cần hướng dẫn HS thực hiện một số việc cần thiết sau: Phân nhóm (Cách phân nhóm như trong phương pháp thảo luận nhóm đã trình bày) Sau đó, GV hướng dẫn HS về cách thu thập thông tin và xây dựng cấu trúc bài thuyết trình (Xác định rõ ràng chủ đề của bài thuyết trình; lên sơ thảo dàn ý cho bài thuyết trình (Bài có bao nhiêu phần, mỗi phần gồm mấy phần nhỏ)); lập dàn ý chi tiết; sắp xếp chỉnh sửa các ý cho phù hợp với tiến trình bài nói và hợp logic; biên tập lại câu chữ, bỏ các

ý thừa, bổ sung ý thiếu, xem xét cách chuyển ý giữa các nội dung; đọc lại bài lần nữa, viết một bản tóm tắt gợi ý ngắn gọn để xem trong lúc thuyết trình (để dễ nhớ lại và tránh việc đọc lại nguyên văn bài thuyết trình) GV cần hướng dẫn HS các bước chuẩn bị trên để đảm bảo nội dung bài thuyết trình đúng trọng tâm, đầy

đủ và rõ ràng Trong quá trình hướng dẫn HS thực hiện những bước này, GV đã phần nào rèn luyện được cho các em cách thức trình bày nói, viết như thế nào

Để phương án này đảm bảo hiệu quả trong việc rèn NL cho HS, chúng tôi thường chú ý: Sau các bước chuẩn bị, tùy theo nội dung và yêu cầu của bài học

mà GV đưa ra bài tập cho các nhóm, phần bài tập nên giao theo hình thức bốc thăm để đảm bảo sự công bằng

GV phải hình thành được bộ công cụ Rubic đánh giá cụ thể cho bài thuyết trình của HS dựa trên ba tiêu chí: phong cách thuyết trình (sử dụng phi ngôn từ khi thuyết trình có đạt hiệu quả không?), nội dung thuyết trình, phần giao lưu trả lời câu hỏi của các bạn trong lớp…GV nên có điểm thưởng cho các bạn trong

Trang 18

15

lớp có câu hỏi hay và cho các bạn có câu trả lời hấp dẫn GV phải hình thành ở

HS tinh thần phê và tự phê bằng cách yêu cầu cả lớp trước khi đặt câu hỏi cho bạn thuyết trình, đưa ra nhận xét về những mặt tích cực và hạn chế của bài thuyết trình của các bạn

Tuy vậy, hình thức dạy học này đòi hỏi GV một bản lĩnh đứng lớp để can thiệp kịp thời khi những tranh luận đi lệch mục tiêu dạy học

Để hình thành cho HS các NL qua các bài thuyết trình, GV cần chỉ cho các em các cách luyện nói như: tập nói chậm và rõ ràng, tập nói trong thời gian quy định, lưu ý các em là nói, trình bày cho các bạn hiểu, chứ không phải đọc văn bản, đồng thời với lời nói là các hành động, cử chỉ phi ngôn ngữ, giúp bài thuyết trình trở nên sinh động, lôi cuốn hơn GV nên giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm chuẩn bị trước ít nhất 1 tuần Khuyến khích các em đưa nội dung bài học của mình vào những tình huống và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Từ đó, hình thức thuyết trình sẽ được các em vận dụng linh động thông qua các phương tiện như trình chiếu Powerpoint, qua canva, xây dựng tình huống giao tiếp, thuyết minh

về tranh ảnh….để làm nổi bật nội dung bài học

HS thuyết trình sản phẩm học tập theo nhiều hình thức khác nhau

GV có thể hình thành và phát triển NL cho HS ban KHTN trong giờ dạy học ĐHVB bằng hình thức vừa học vừa chơi Chơi là hình thức còn học là mục đích Đây là hình thức dạy học có khả năng hấp dẫn, cuốn hút sự tham gia, sự tập trung của HS, đem lại hiệu quả nhất định bởi “biết mà học không bằng vui

mà học” (Khổng Tử)

Hình thức này có thể được thực hiện ở mọi hoạt động nhưng sẽ đặc biệt hiệu quả khi áp dụng ở đầu tiết học để tập trung sự chú ý của HS, từ đó tạo không khí sinh động cho lớp học, tạo hứng thú học tập cho các em, dẫn dắt HS đến với nội dung bài học Hoặc thực hiện ở cuối tiết học để củng cố kiến thức, luyện tập, vận dụng, rèn luyện khả năng tổng hợp, phản xạ của HS

Để vận dụng thành công hình thức dạy học này, GV cần chuẩn bị trò chơi thú vị (có tính cạnh tranh, có thưởng/ phạt kết hợp các phương tiện dạy học để tạo không khí vui nhộn,…), trò chơi cần thu hút được đa số hoặc tất cả HS tham gia Đặc biệt cần giới hạn thời gian và hạn chế sử dụng sức lực của HS và sử dụng với mục đích chính là học tập Sau khi kết thúc trò chơi, GV sẽ đặt ra vấn

đề và tổng kết lại những sản phẩm thu được Trò chơi học tập sẽ gợi được sự hào hứng, tích cực và cởi mở của HS để bắt đầu một bài học với tâm thế thoải

Trang 19

16

mái hoặc thay đổi bầu không khí sau khi trải qua những hoạt động học tập căng thẳng Bên cạnh đó, HS sẽ dễ nhớ kiến thức hơn, có thể tự củng cố và xâu chuỗi lại những gì đã học Hoạt động rèn luyện sự nhanh nhạy, tư duy sáng tạo đúng lứa tuổi HS Khi thực hiện trò chơi học tập, GV cần chú ý tránh việc sử dụng khối lượng kiến thức nặng vào trò chơi, khiến trò chơi mất đi bản chất vốn có; tránh việc để quá thời gian cho phép hoặc để lại ảnh hưởng không tốt đến những bài học sau (trường hợp thưởng phạt nặng để HS cạnh tranh nhiều),… Để đảm bảo công bằng trong quá trình cả lớp/ các đội tham gia trò chơi, GV cần yêu cầu

HS không sử dụng tài liệu, các thiết bị công nghệ thông tin để giúp HS có thể ghi nhớ nhanh, đồng thời rèn NL phản xạ…

Sử dụng trò chơi đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong mỗi bài giảng phần Đọc- hiểu văn bản, hiệu ứng thu về rất tích cực, HS vừa củng cố kiến thức một cách nhẹ nhàng nhưng vẫn rất sôi nổi và thú vị

Ví dụ:

Biến giờ ĐHVB Người lái đò Sông Đà Trò chơi củng cố sau bài học do HS thực hiện

thành những Trạm đọc

https://www.youtube.com/watch?v=3JkEOjJtX0w Đường link một số video trò chơi của HS thực hiện sau khi học tác phẩm văn học

Hình thức dạy học trải nghiệm cũng là một thế mạnh trong việc dạy học ĐHVB cho HS ban KHTN hiệu quả nhằm rèn luyện NL tư duy, ngôn ngữ, sáng tạo, giao tiếp…

Hình thức trải nghiệm chủ yếu được chúng tôi sử dụng thường xuyên trong dạy ĐHVB ở các lớp KHTN là “Một ngày làm GV”: Nếu như các hình thức trên có thể áp dụng khi thực hiện từng hoạt động dạy học cho HS thì hình thức này, GV có thể để HS là người trực tiếp điều khiển giờ dạy trực tiếp

Khi thực hiện phương pháp, GV sẽ yêu cầu một nhóm HS bất kì chuẩn bị bài giảng về một nội dung kiến thức nào đó, các nhóm còn lại sẽ làm nhiệm vụ chuẩn bị câu hỏi để đến lớp lắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi Nhóm HS được yêu cầu trình bày sẽ là trung tâm của lớp học, nhóm có thể chuẩn bị Powerpoint bài giảng, viết bảng, tạo ra các hoạt động học tập để các bạn trong lớp cùng tham gia GV lúc này sẽ tham gia lớp học với vai trò một người lắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi và chốt kiến thức cuối cùng

Đối với phương pháp trình bày, HS sẽ được thử đứng ở vị trí là người thuyết trình, rèn được kĩ năng nói và xử lí tình huống trước đám đông HS được

Trang 20

17

chủ động tìm kiến thức và hệ thống kiến thức, phát triển NL tự học, hợp tác, phản biện Kĩ năng lập luận và phân tích cũng được sử dụng triệt để ở hoạt động này Đối với các HS lắng nghe, các bạn sẽ được phát triển NL đánh giá đồng đẳng, kĩ năng đặt câu hỏi, thảo luận, tranh luận để đưa ra đáp án cuối cùng Và

GV chỉ nên sắp xếp một số tiết để HS tự trình bày, tránh việc lạm dụng hình thức này dẫn đến việc quá tải trong việc học các môn khác của HS Ngoài ra, sử dụng liên tục cũng khiến HS nhàm chán, mất đi hứng thú tìm tòi, sáng tạo

Trải nghiệm “Một ngày làm Giáo viên” của HS các lớp ban KHTN

Trải nghiệm thực tế bằng các việc tham gia hoạt động ngoài giờ lên lớp thu được hiệu ứng tích cực, sôi nổi từ HS Các em có điều kiện thay đổi không khí học tập, mở mang kiến thức, có những trải nghiệm thực tế, gần gũi và chân thực so với chỉ tiếp cận kiến thức đơn thuần của SGK Việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cần tuân thủ những nguyên tắc sau: gắn với đời sống; tự nguyện; hấp dẫn, phù hợp với đối tượng; bổ trợ cho hoạt động dạy học chính khoá

Chẳng hạn khi học những văn bản có liên quan đến danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử hoặc sự kiện lịch sử, GV có thể dành tiết học để cho HS tổ chức các hoạt động tìm hiểu ngoài, hoặc bằng hình thức xem phim tư liệu/ video clip/ hình ảnh… liên quan đến bài học Từ đó cả lớp và GV cùng nhau thảo luận

về vấn đề được đặt ra trong bài học Hình thức trải nghiệm này sẽ giúp HS tìm hiểu được thêm nhiều kiến thức ngoài văn bản Thay đổi không khí học tập từ việc bổ sung kiến thức từ thầy cô chuyển sang tự tìm và tự hiểu kiến thức HS có thể thu thập từ nhiều kênh thông tin, từ các phương tiện GV chuẩn bị, từ bạn học

và từ GV cung cấp Từ đó, phát triển NL tự học tự chủ, khả năng tranh biện,…

Trong năm học 2021-2022, dựa vào đặc điểm vị trí địa lí của thị xã Hoàng Mai- 1 địa phương có biển, chúng tôi đã tổ chức cho HS tham quan và cảm nhận thực tế một số ấn tượng về hai văn bản Sóng và Chiếc thuyền ngoài xa Sau đó, dựa trên trải nghiệm thực tế của các em, viết bài thu hoạch trước khi học tập hai đơn vị văn bản này Quả thực, các em đã có một tâm thế mới khi tiếp cận với hai đơn vị bài học này khi học tập trên lớp

Trang 21

18

Trải nghiệm cảnh biển buổi sáng ở Quỳnh Lập, Quỳnh Phương (TX Hoàng Mai)

dưới góc chụp và quay của HS trường THPT Hoàng Mai

Tổ chức hoạt động này có thể “tạo nên chiếc cầu nối, sự liên kết chặt chẽ giữa tri thức lí thuyết với kĩ năng thực hành”, giữa văn bản văn học trong nhà trường với thực tiễn đời sống xã hội… góp phần đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học, giảm tải chương trình, phát huy tính linh hoạt, sáng tạo của quá trình dạy học, tạo hứng thú cho HS”

2.1.2 Lựa chọn, vận dụng các phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn theo định

hướng phát triển NL cho HS ban KHTN

Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về PPDH Ở đây, PPDH được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS, trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học

Khi lựa chọn phương pháp, trước hết cần chú ý đến những điểm chung về mục tiêu phát triển NL của môn Ngữ văn và các bộ môn KHTN, đó là NL lập luận và tư duy Đặc trưng cơ bản của HS thuộc ban KHTN chủ yếu học tập và suy nghĩ theo lối tư duy rõ ràng mạch lạc, áp dụng công thức, vẽ sơ đồ,… thay

vì học theo lối học thuộc, cảm thụ, liên tưởng, tập viết,… như các HS thuộc ban KHXH Vì vậy, khi dạy học, GV cần chú ý tránh việc nạp kiến thức dài dòng, rườm rà vào đầu HS, bắt HS ghi chép học thuộc mà phải hướng dẫn HS tìm hiểu sáng tạo theo cách của chính các em Từ đó, HS sẽ thích mà học, chứ không phải vì bị ép buộc mà sợ phải học Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức(tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”

Đi vào vấn đề lựa chọn phương pháp giảng dạy phân môn ĐHVB cho HS ban KHTN, phương pháp đầu tiên cần được vận dụng một cách đa dạng đó là Đọc sáng tạo Đối với HS KHTN, đây là phương pháp không thể thiếu bởi trên thực tế, các em rất lười đọc tài liệu, SGK ở nhà Vì vậy, việc đọc bước đầu sẽ giúp các em có cái nhìn tổng quát về văn bản, nắm được các nội dung cơ bản, nhất là với những văn bản dài như kí, kịch, truyện ngắn…Đồng thời, khi HS nắm được tinh thần chung của VBVH, HS sẽ rất chủ động trong việc triển khai cách ghi chép, lập sơ đồ tư duy…Tuy nhiên, đọc đơn điệu trên lớp qua SGK, nhiều HS sẽ không tập trung, không hấp dẫn Thế nên, GV có thể thay đổi đọc

Trang 22

sẽ dễ gây nhàm chán dẫn đến buồn ngủ, HS uể oải, và không có tinh thần chuẩn

bị bài ở nhà vì biết rằng lên lớp cô sẽ đọc hoặc cho các bạn đọc Bên cạnh đó, các biện pháp đọc này còn mang lại thái độ hứng thú tiếp cận văn bản cho người đọc, đọc trước văn bản ở nhà và tự xác định mạch ý chính – góp phần giúp HS

có thể tự hiểu trước văn bản theo cách của mình (GV có thể liên hệ chia bố cục), phát triển được NL tự học, hợp tác và giúp HS phát hiện được những khuynh hướng và năng khiếu nghệ thuật (nếu có)

Tuy nhiên, về mặt hạn chế có thể những biện pháp đọc này sẽ không mang lại hiệu quả cao về việc đẩy mạnh cảm xúc hoặc cảm nhận sâu của HS Đồng thời, với những văn bản dài, nhất là truyện, kí, kịch…sẽ rất mất thời gian nếu đọc toàn bộ tác phẩm GV có thể giải quyết hạn chế này bằng cách đặt một

số câu hỏi gợi mở để sau khi đọc để đặt vấn đề sẽ học sau đó hoặc có thể kết hợp một số lời bình giảng để gây hứng thú thẩm mĩ cho HS

Phương pháp tiếp theo trong quá trình dạy học chi tiết GV có thể áp dụng triệt để trong mọi hoạt động dạy học đó là sử dụng phiếu học tập Mỗi văn bản đọc hiểu sẽ có hệ thống câu hỏi (có thể là cho sẵn trong SGK hoặc GV tự đưa ra) Tuy nhiên, thay vì liên tục đàm thoại với HS về những câu hỏi đó, GV sẽ sử dụng các phiếu học tập để đưa hoạt động học tập về phía trung tâm là HS Phiếu học tập có thể được sử dụng dưới hai hình thức: làm việc cá nhân hoặc làm việc theo nhóm Trong thời đại công nghệ số, GV có thể thay phiếu học tập bằng giấy thành phiếu học tập thiết kế qua Google form Ở đó, HS có thể làm việc rất nhanh gọn, tiện lợi, phát huy được NL số cá nhân

Trong quá trình chuẩn bị phiếu học tập, GV có thể đưa ra các câu hỏi dưới dạng: điền vào chỗ trống, tìm dẫn chứng cho các luận điểm (có thể lập bảng), phân tích hiệu quả biểu đạt,… Hoặc có thể sáng tạo bằng cách yêu cầu

HS vẽ sơ đồ tư duy (cho một đoạn trong văn bản hoặc cho một ý trong mạch văn bản Ngoài ra khi HS làm phiếu cá nhân, GV có thể tham khảo phiếu học tập KWL KWL là dạng biểu đồ thuộc công cụ tổ chức đồ hoạ được thiết kế để giúp

HS học tập Trong đó K: know – điều HS biết về văn bản, W: want to know – điều HS muốn biết về văn bản và L: learned – những gì HS đã học được sau tiết học Khi thực hiện phiếu học tập bằng KWL, GV cần cho HS thực hiện cá nhân

và tờ phiếu sẽ theo sát HS từ đầu đến cuối tiết Đối với mỗi mục trong biểu đồ,

GV có thể đưa ra những câu hỏi gợi ý tuy nhiên không cần gợi ý quá nhiều để phiếu có thể phát huy linh động sự sáng tạo và mong muốn học hỏi của HS Khi

tổ chức hoạt động nhóm với phiếu học tập, GV nên để các em thảo luận về một

Trang 23

Ví dụ:

Phiếu học tập trên Google form

https://quizizz.com/join/quiz/62548bd4ca16b5001d3d53af/start?studentShare=true&fbclid=IwAR0J3pqAUT0KqD9BnV8B6JCWwXFlfTrt12EQ1zRvCZ-ABbPBjnEypIEaf5M

https://quizizz.com/join/quiz/623bd9988d1e60001d580b09/start?studentShare=true&fbclid=IwAR2nf3JD-09nsuWzhf-

1FLznsoZ6cfQAlhJz_e_nswt4WVsHapdXs4HG_Rc

Một số hệ thống câu hỏi được soạn trên phần mềm quizizz

Tuy nhiên, phương pháp này cũng có sự hạn chế Thứ nhất là khó kiểm soát thời gian, dẫn đến không kịp học những phần sau Thứ hai, GV cũng có thể gặp khó khăn trong việc quản lí hết tất cả HS đảm bảo rằng 100% HS nghiêm túc hợp tác với các bạn khi hoạt động nhóm GV có thể giảm thiểu tối đa những hạn chế này bằng cách quy định rõ ràng thời gian thực hiện, thời gian trình bày, thời gian nhận xét và giới hạn số lượng HS phát biểu ý kiến (trường hợp bắt buộc) Đối với việc quản lí mức độ tham gia, GV có thể chọn nhóm trưởng để thay mình quản lí

Phương pháp thứ ba có thể áp dụng đó là Nêu và giải quyết vấn đề Đối với phương pháp này, GV có thể xây dựng một tình huống hoặc chuẩn bị một đoạn văn có vấn đề - đó có thể là vấn đề đặt ra từ văn bản (trích dẫn) hoặc một tình huống thực tiễn có liên quan đến văn bản Ngữ liệu đưa ra cần sự dễ hiểu,

Trang 24

21

ngắn gọn để HS nhận thức nhanh đảm bảo thời lượng học có hạn trên lớp Từ đó

sẽ đặt ra những câu hỏi vấn đề (bao gồm cả HS đặt và GV cho sau đó)

Theo em, sự lựa chọn của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong văn bản Nhàn có được coi là một phản ứng tiêu cực trong hoàn cảnh đất nước, nhân dân đang lầm than không?

HS THPT, nhất là HS ban KHTN đã có sự phát triển khá toàn diện về trí tuệ Các em có cách nhìn nhận vấn đề khá mới mẻ, những phát hiện độc đáo nhưng rất thú vị Điều đó cho thấy rằng các em luôn có khả năng xem xét vấn đề

từ nhiều góc độ khác nhau, luôn muốn đặt ra những câu hỏi và tìm câu trả lời cho mình Điều GV cần làm là động viên, khích lệ các em Nếu các em đang có cách nhìn nhận, cách giải quyết vấn đề lệch lạc, GV cần định hướng tư duy và khơi gợi cho các em cách làm đúng, đảm bảo giáo dục đạo đức, nhân cách, phẩm chất cho HS

Việc thực hiện nêu và giải quyết vấn đề trong hoạt động dạy học cần đảm bảo các yêu cầu về ngữ liệu: độ hợp lí, độ ngắn gọn dễ hiểu, tính hệ thống với nội dung văn bản, tính liên kết với thực tiễn,… các câu hỏi cần có sự phát triển dần độ mở rộng từ trong văn bản ra ngoài văn bản, phù hợp với trình độ HS Phương pháp này sẽ đảm bảo được sự phản ứng của HS trước bài học, kích thích

tư duy – một khả năng của HS ban KHTN Bên cạnh đó, nó giúp phát triển NL sáng tạo, liên hệ mở rộng, lập luận để bảo vệ quan điểm và phản biện với ý kiến trái chiều Nếu vấn đề GV đưa ra được đảm bảo, phương pháp này sẽ có hiệu lực tối đa sự vận động tự đi tìm kiến thức của HS Ngoài ra, khi đưa vấn đề văn học ra ngoài xã hội, HS sẽ cảm nhận được giá trị bài học để thấu hiểu và có khao khát được tìm tòi, giải đáp

Phương pháp này sẽ gặp hạn chế khi câu hỏi GV đưa ra quá khó hoặc vấn

đề đặt ra không thực sự mang tính thực tiễn, dễ khiến HS thấy nhàm chán và không suy nghĩ Để thực hiện tốt phương pháp này, GV cần gọi tên chính xác giá trị của văn bản văn học và đặt hệ thống câu hỏi sao cho HS có thể từ việc giải quyết câu hỏi đến tự tìm ra thông điệp

Phương pháp đàm thoại-vấn đáp là phương pháp không thể thiếu trong quá trình dạy ĐHVB ở các lớp ban KHTN Trong đó, GV đặt ra câu hỏi để HS trả lời, hoặc HS có thể tranh luận với nhau và với cả GV; qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học, đồng thời hình thành những năng lực, phẩm chất của bản thân qua mỗi giờ đọc Văn Trong giờ ĐHVB cho HS ban KHTN, chúng tôi thường vận dụng một số hình thức đàm thoại vấn đáp như vấn đáp tái hiện Trong đó, GV đặt câu hỏi với mục đích yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Kiểu vấn đáp giải thích – minh hoạ

Trang 25

22

cũng nhằm mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, GV có thể vừa nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để HS dễ hiểu, dễ nhớ Một phương án khác là vấn đáp tìm tòi Ở đó, GV dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, kích thích sự ham muốn hiểu biết GV là người tổ chức sự HS trả lời, còn HS giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại,

HS có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ

tư duy

Một phương pháp dạy- học hiệu quả trong dạy ĐHVB cho HS ban KHTN là dạy học theo góc Đây là phương pháp học tập theo đó người học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học PPDH theo góc

có thể giúp HS “tự do” hơn trong việc lựa chọn nội dung mình cần bổ cứu Trogn giờ ĐHVB, GV cần khéo léo dẫn dắt, tổ chức để HS có cơ hội đọc hiểu theo các nhiệm vụ khác nhau dưới sự hướng dẫn của người dạy Dạy học theo góc có những điểm tương đồng với dạy học theo nhóm, theo cặp và một số phương pháp, kỹ thuật, thủ thuật dạy học khác Ưu điểm của học theo góc trong dạy học là người dạy có thể giao nhiều nhiệm vụ với các mức độ và NL khác nhau theo từng nội dung học tập, mỗi cá nhân tự hoàn thành nhiệm vụ với hỗ trợ của GV và thành viên trong nhóm Mỗi góc phải chuẩn bị đầy đủ các phương tiện đáp ứng nội dung học tập và nhiệm vụ các góc cùng hướng tới mục tiêu bài học

Trong quá trình vận hành các PPDH trên, chúng tôi cũng chú ý đến việc

sử dụng thành thạo và phù hợp một số kĩ thuật dạy học tích cực giúp giờ học của

HS luôn sôi động, tích cực, đạt hiệu quả cao

Các kĩ thuật mà chúng tôi thường sử dụng trong dạy học là: Kĩ thuật chia nhóm; Kĩ thuật giao nhiệm vụ; Kĩ thuật đặt câu hỏi; Kĩ thuật khăn trải bàn; Kĩ thuật các mảnh ghép; Kĩ thuật “Lược đồ Tư duy”; Kĩ thuật xem, phân tích Video…

2.2 Giải pháp tăng cường NL học của HS ban KHTN trong phần Đọc hiểu hiểu văn bản theo định hướng phát triển NL

Trên tinh thần nghiên cứu thực tiễn về cách tiếp cận môn học của HS, cách ghi chép của HS trong giờ học, nội dung dạy học mà HS tiếp nhận, thời lượng thực hiện các bước của HS trong giờ học, sự ghi nhớ nội dung bài học

cũ, tính tích cực học tập của HS ban KHTN tại trường THPT Hoàng Mai, chúng tôiđã thấy rõ các vấn đề còn hạn chế của HS và cũng dự đoán đó là hạn chế đối với HS không chỉ ở trường chúng tôi mà còn rất nhiều trường Vì thế chúng tôi đề xuất đưa ra một số giải pháp như sau để nhằm tăng cường tính tích cực học tập cho HS tại trường THPT như sau:

2.2.1 Cách thức học kiến thức

Trước hết, để HS ban KHTN có thể lĩnh hội được kiến thức văn bản đọc hiểu, GV cần định hướng, nghiên cứu, chọn lọc các kiến thức, phản ứng đảm bảo các yếu tố sau trong bài giảng của mình:

+ Cần chọn lọc các kiến thức trọng tâm nhất, càng ít càng tốt, không cần quá đi vào chiều sâu kiến thức

Trang 26

số cách học phân môn ĐHVB vừa nhanh, vừa tiết kiệm thời gian, vừa đảm bảo lượng kiến thức cần có trong mỗi bài

Thông thường, không chỉ ở nhà, mà ngay cả trên lớp, GV cũng có thể tổ chức cho HS học theo nhóm, cặp Theo đó, các HS nữ, hoặc HS khá hơn sẽ được phân công kèm cặp cho 1-2 bạn HS nam, hoặc HS yếu môn Ngữ văn hơn Cách làm này rất có hiệu quả cho các lớp có số lượng nam nữ khá đồng đều hoặc số lượng HS học tốt môn Văn chiếm một số lượng tương đối trong lớp đó

Ví dụ: Năm học 2021-2022, chúng tôi giảng dạy lớp 12A2, sỹ số: 42 Trong đó có 22 nữ sinh và 20 nam sinh Chúng tôi đã phân công ngồi theo cặp suốt 2 năm học vừa qua Hiệu quả thu về rất đáng khích lệ Dưới sự hướng dẫn, đồng hành học tập của các bạn nữ, các bạn nam đã nắm được về cơ bản kiến thức của tất cả các bài ĐHVB Các em cũng trau dồi thêm được NL giao tiếp,

NL tư duy, năng lực hợp tác…Đồng thời, chúng tôi cũng đưa ra tiêu chí đánh giá kết quả học tập theo từng cặp, từng “nhóm bạn cùng tiến” Các em cũng dần nâng cao hình thành phẩm chất trách nhiệm và tự chịu trách nhiệm về việc học tập của bản thân để không ảnh hưởng đến bạn cùng học

Một cách học cũng đáp ứng được nhu cầu mong muốn của HS ban KHTN khi học phân môn ĐHVB: học nhanh nhớ lâu Đó là học qua sơ đồ tư duy Sơ đồ

tư duy được tạo lập bằng giấy, vở ghi hoặc bằng phần mềm Mind map Qua kiểm tra cách thức học tập của HS, nhận thấy, đây là cách làm phổ biến mà các

em thường thực hiện để học kiến thức sơ đồ tư duy được cac em sáng tạo vẽ theo nhiều cách, dựa trên mục đích, cách thức ghi nhớ của các em Bằng cách này, HS không những không mất nhiều thời gian mà còn có hứng thú với việc học ĐHVB Nhất là với HS khối lớp 12, đây là cách học có nhiều ưu điểm Phương pháp học tập này cũng rất phù hợp với yêu cầu ôn thi TN THPT Quốc gia, bởi nó có khả năng tổng hợp kiến thức tổng quát Khi cần, HS có thể tìm lại

để sử dụng bất cứ lúc nào, khá nhanh và tiện lợi

Qua tìm hiểu cách thức học của HS ban KHTN, chúng tôi cũng nhận thấy

HS rất thích học ĐHVB qua các video âm nhạc, các đoạn phim ngắn được đóng bởi một số các nhóm ticktoker, các youtober Đây là một cách học rất phù hợp với tâm thế đón nhận rất mới của các em trong thời đại công nghệ 4.0

Ví dụ: dạy bài Vợ chồng A Phủ, có thể HS chưa đọc tác phẩm, nhưng chỉ cần nhắc đến nhóm 1977 vlog với rất nhiều video đóng phim về Mị và A Phủ, đạt triệu view trên mạng xã hôi facebook, gần như không có em nào không biết cũng dạy bài này, GV bắt đầu thấy HS nhắc đến bài hát “Để Mị nói cho mà

Trang 27

24

nghe” của ca sỹ Hoàng Thùy Linh Vậy rõ ràng, HS tiếp cận TPVH bằng nhiều cách, kênh không thể thiếu qua smartphone

Khi dạy bài Vợ nhặt, HS cũng có thể tìm thấy một số phần tóm tắt bằng thơ tác phẩm này trên kênh youtobe Cách tóm tắt mới mẻ này rõ ràng thu hút được rất nhiều HS đón xem, thuộc lòng, từ đó ghi nhớ một cách rất tự nhiên… Link tóm tắt Vợ nhặt bằng thơ:

https://www.youtube.com/watch?v=E-fNwtdQ_Qk

Ngoài ra, trên các nền tàng CNTT hiện nay, đặc biệt là facebook, youtobe,

HS có thể tìm được rất nhiều các video, tài liệu học tập miễn phí giúp ích không nhỏ cho các em trong quá trình học tập

Năm học 2019-2020, trước diễn biến phức tạp của đại dịch Covid 19 bùng phát mạnh mẽ, Sở GD&ĐT Nghệ An đã triển khai hình thức dạy-học trực tuyến, tôi đã tham gia dạy học trực tuyến phát trên kênh Youtube THPT Hoàng Mai online để đưa bài giảng kịp thời tới HS với phương châm “nghỉ học không nghỉ dạy” Cách làm này được Sở GD&ĐT đánh giá cao

Năm học 2021-2022, nhằm góp phần Xây dựng kho học liệu số ngành Giáo dục có chất lượng phục vụ đổi mới nội dung, phương pháp dạy - học, kiểm tra, đánh giá góp phần nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng môi trường học

cuộc thi Thiết kế bài giảng điện tử năm 2021 với tác phẩm Vợ nhặt (Kim Lân)

Trang 28

25

https://tf9bzciaegbprh8shygacq.on.drv.tw/E-Learng%20d%E1%BB%B1%20thi/B%C3%A0i%20n%E1%BA%A1p%20Th/VO%20NHAT%20Tran%20Thuong%20THPT%20Hoang%20Mai%20Nghe%20An/

(Link bài giảng E-Learning tác phẩm Vợ nhặt; Người thực hiện: Trần Thị

Thương)

Những bài giảng này góp phần giúp HS có thêm tư liệu học tập, tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu và hứng thú hơn với các văn bản ĐHVB

Một cách học Ngữ văn nhanh và hiệu quả khác dành cho HS ban KHTN

đó là gắn việc học với các mục đích cụ thể Ở đây chúng tôi đang muốn nhắc đến việc vận dụng kiến thức vào đời sống và việc thi cử của các em

HS ban KHTN vì ít thấy được vai trò của môn học với các hoạt động thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày, chính vì vậy cảm thấy, học Văn không có giá trị ứng dụng Để khắc phục cách hiểu sai lệch này, chúng tôithường xuyên cố gắng lồng ghép vào trong mỗi bài giảng những vấn đề thực tế, gần gũi với tâm sinh lí,

tư duy nhận thức của các em Các em sẽ có cơ hội thể hiện trách nhiệm của mình trước những vấn đề đặt ra trong cuộc sống

Ví dụ: Khi dạy các bài học như Từ ấy của Tố Hữu, Tây Tiến của Quang Dũng, đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm…GV cần tập trung làm sáng tỏ vẻ đẹp lí tưởng cao cả của những người cách mạng, người lính thời kì đất nước có chiến tranh Từ đó, đặt ra những câu hỏi trăn trở về vai trò của thanh niên, là chính các em trong thời kì mới- thời kì cách mạng công nghiệp 4.0 lên ngôi

Dạy Sóng của Xuân Quỳnh, các thầy cô thường chú ý làm sáng tỏ vẻ đẹp của bông hoa hái dọc chiến hào chống Mĩ, nhưng cũng cần đặt ra cách định hướng, nhận thức đúng đắn của các em về tình yêu trong thời hiện đại- thế nào

là một tình yêu đẹp Con người trong tình yêu cần có những lựa chọn, ứng xử như thế nào để tình yêu trở nên đúng nghĩa chân chính

Từ cách suy nghĩ, lí giải những vấn đề gắn tác phẩm với đời sống, HS sẽ

có thêm cơ hội mài sắc NL tư duy, rèn khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề Đó

là những NL rất quan trọng mà GV cần hình thành cho HS Gần như tất cả các tác phẩm trong chương trình đều có ít nhiều gắn bó với đời sống thực tiễn Điều quan trọng là GV có hướng khai thác văn bản văn học rất mở, định hướng cách học sáng tạo cho HS

Một trong những cách giúp HS ban KHTN có nhu cầu học Ngữ văn đó là gắn kiến thức với NL giải quyết các câu hỏi của đề thi Hiện nay, thi TN THPT

QG, các em sẽ không sử dụng đến kết quả thi môn Ngữ văn để xét tuyển sinh ĐH- CĐ Tuy nhiên, hiện tại có rất nhiều trường sử dụng cách thi mới: thi đánh giá NL Hình thức thi này đã được nhiều trường đại học lớn như ĐHQG Hà Nội,

ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐHQG TP Hồ Chí Minh thực hiện Số lượng HS THPT đăng kí thi tuyển theo hình thức này ngày càng đông đảo Trong bài thi ĐGNL,

có các nội dung câu hỏi có liên quan đến kiến thức tiếng Việt và văn học rất bao quát ở nhiều khối lớp

Trang 29

26

Từ cách thi cử theo hướng mới, chúng tôi đã hướng dẫn HS cách học, gắn kiến thức với mục đích thi cử lâu dài Đồng thời thực hành biên soạn một số đề kiểm tra đánh giá NL theo hướng này để giúp HS dần làm quen với cách học mới Từ đó nâng cao nhận thức của các em về tầm quan trọng của môn Văn

Một số đề thi ĐGNL tự biên soạn (Xem phụ lục 3)

2.2.2 Cách thức tạo vở ghi chép, tích lũy kiến thức

Từ thực tiễn dạy học, ta thấy được các HS ban KHTN thường chủ yếu là ghi chép bài giảng của GV theo những nội dung GV ghi trên bảng Từ khi sử dụng công nghệ số trong dạy học, HS càng ít có khả năng tự ghi chép bởi tất cả nội dung đều được trình chiếu trên các giáo án điện tử, thiết bị công nghệ Đây cũng là một điều dễ hiểu Đồng thời, vì ghi chép theo GV một cách rất thụ động, nhìn từng chữ một để ghi, vì thế thời gian dành cho việc ghi chép của HS tương đối lớn Với phân môn ĐHVB, kiến thức mỗi đơn vị bài học tương đối nhiều, dài, đặc biệt là các VBVH trong chương trình Ngữ văn 12 Vì vậy, nhiều HS khi ghi chép xong bài thường than thở “ghi thôi cũng đã thấy mệt huống chi là học”, các em thường rơi vào tâm lí chán nản, không muốn học Thêm vào đó, chữ nghĩa của các HS ban KHTN đa phần chưa đẹp, rất khó đọc và trình bày luộm thuộm, điều này càng gây mất sự hứng thú trong việc học tập của HS

Để khắc phục tình trạng này, tiết kiệm thời gian cho việc ghi chép của HS

và cũng để HS không ghi sai, lại có được những kiến thức trọng tâm nhất, chúng tôi đã áp dụng thực hiện thêm một giải pháp nữa Đó là hướng dẫn HS tạo vở ghi bài giảng của chính mình để tích lũy kiến thức phần ĐHVB hiệu quả, khoa học Qua thời gian hướng dẫn thực hiện, dưới sự tư duy và sáng tạo của HS ban KHTN, đã có rất nhiều cách ghi chép được tạo ra Chủ yếu có thể kể đến

Ghi chép theo từ khóa: Trong bất kì một tác phẩm văn học nào, điều các

em bắt buộc phải nhớ là: Tên tác giả, tác phẩm, thời gian sáng tác, nội dung chính của tác phẩm, các dụng ý nghệ thuật…

Ngoài ra HS cần học thuộc cả những câu thơ, câu văn để sử dụng trong bài viết của mình Vậy nên, khi bắt tay vào học một tác phẩm văn học nào đó, các em cần đọc lượt từ trên xuống dưới Việc đọc lướt qua sẽ giúp các em hình dung được nội dung mà tác giả muốn gửi gắm Sau đó gạch chân những từ, những ý văn quan trọng Bước này sẽ hỗ trợ việc tóm tắt tác phẩm nhanh chóng hơn Đây là cách học thuộc lòng nhanh có thể áp dụng cho nhiều môn học

Ghi chép qua sơ đồ tư duy: Thực tế cho thấy, HS ban KHTN khi học phân môn ĐHVB chưa bao giờ ưu tiên cách học thuộc lòng, học vẹt, học một cách máy móc Các em chỉ muốn nắm được kiến thức trọng tâm, sự kiện nổi bật nhất

Do vậy sơ đồ tư duy là một phương pháp ghi chép được HS lựa chọn nhiều nhất Bởi, nó cực kì hiệu quả trong việc tổng hợp, hệ thống hóa các kiến thức

Muốn HS ghi chép bằng sơ đồ tư duy, GV đưa ra một ý tưởng trung tâm hay còn gọi là từ khóa, HS dùng màu sắc, đường nét kết hợp với hình ảnh để phát triển thành những bản đồ tư duy khác nhau để thể hiện và đào sâu ý tưởng,

tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt động tích cực của bản thân Các em sẽ không ngừng tư duy, không ngừng hoạt động để biến những yếu tố vô hình trong tác phẩm thành những hình ảnh sinh động để có thể tri giác được Khi tự mình thiết kế được sơ đồ tư duy với các hình ảnh và chi tiết có liên quan tới từ

Trang 30

Ví dụ: Sau đây là một số link giới thiệu các sản phẩm học tập của HS khối

Không như cách ghi nhớ, học tập truyền thống với những quyển vở chi chít câu chữ và những gạch đầu dòng, Sketchnote chủ yếu sử dụng các hình ảnh

để lưu giữ nội dung bài học Qua việc thiết kế của HS, chúng tôi nhận thấy rằng, các em thường tập trung “đầu tư” cho các hình vẽ, tranh ảnh, thiết kế bố cục,…một cách gọn gàng, logic và dễ nhớ nhất

Tất nhiên cách làm này không thể thành công trong ngày một ngày hai,

GV cần phải hướng dẫn HS hình thành thói quen ghi chép sáng tạo dần dần qua quá trình học tập theo thời gian Bản thân GV cũng phải là người thay đổi cách ghi chép trên bảng của mình Thay vì viết kín một bảng nhiều chữ, hãy dạy bằng

sơ đồ tư duy, bằng những bảng biểu tổng hợp kiến thức GV thay đổi kích thích

Trang 31

Thật bất ngờ vì qua một thời gian thực hiện, khi kiểm tra những phần ghi chép của HS, nhất là tài liệu của nhiều nữ sinh ban KHTN, chúng tôiđã được chứng kiến nhiều sản phẩm ghi chép độc đáo, sáng tạo và trang trí rất đẹp Thể hiện rõ khả năng tư duy, nghệ thuật, sáng tạo của các em

Ví dụ:

https://www.youtube.com/watch?v=06qAfoGr848

Link hướng dẫn sử dụng phần mềm vẽ sketchnote trên ipad và máy tính và một

ví dụ của sketchnote do HS trường THPT Hoàng Mai thực hiện

2.2.3 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động Đọc- hiểu văn bản

Trong môn Ngữ văn, việc HS tăng cường ứng dụng CNTT vào phục vụ hoạt động ĐHVB là một trong những biểu hiện rất cụ thể, thiết thực của NL số của HS Hiểu một cách tổng quát nhất, chuyển đổi số trong giáo dục là quá trình chuyển đổi hoạt động giáo dục từ không gian truyền thống sang không gian số thông qua công nghệ mới, thay đổi phương thức dạy học, kiểm tra đánh giá và quản lí quá trình dạy học của GV và quá trình học tập của HS nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục

Trang 32

29

Những thiết bị phổ dụng nhất phục vụ cho sự phát triển NL số của HS trong quá trình học tập là máy tính, laptop, ipad, điện thoại thông minh (smartphone) Đồng nghĩa với việc sử dụng các phương tiện hiện đại này, HS trước hết sẽ thấy ngoài việc chơi game, lướt mạng, kết nối facebook, lướt ticktok… chúng còn có giá trị rất lớn nếu biết khai thác nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu Thêm vào đó, dần dần hình thành ở các em niềm say mê với việc tìm hiểu, cập nhật các ứng dụng công nghệ, theo kịp xu thế thời đại Đồng thời, khi tìm hiểu được cách thức sử dụng ứng dụng công nghệ trên các thiết bị công nghệ hỗ trợ, HS sẽ cảm thấy rất thú vị trong việc áp dụng vào tìm hiểu thêm về tài liệu học tập môn Ngữ văn, tháo gỡ dần những khó khăn của các em trong việc tiếp cận VBĐH Qua việc hỗ trợ, hướng dẫn HS sử dụng ứng dụng này, các

em cũng có thể phát huy được tinh thần tự học thông qua việc tự mình xây dựng hình ảnh, quay video liên quan, tổ chức học nhóm để cùng nghiên cứu các văn bản đọc hiểu trong và ngoài chương trình

So với việc sử dụng CNTT trước đây, chủ yếu là qua các bài giảng powerpoint, đó chỉ là bài dạy độc quyền của GV mà HS không thể tự mình tìm hiểu thêm, nghiên cứu tiếp về bài học Do áp lực về thời gian, sau mỗi giờ học, mỗi khi gập máy tính lại, tắt màn hình máy chiếu đi, nhiều HS vẫn than vãn cô trình chiếu quá nhanh, cô cho xem ít quá hoặc bản thân chưa xem video, hình ảnh minh họa cho bài dạy được một cách cụ thể…

Từ khi hướng dẫn các em sử dụng phần mềm, chứng kiến sự thay đổi trong không khí của các giờ học, nhất là giờ xemina Ngữ văn và kể cả các giờ ra chơi, chúng tôi mới cảm nhận hết được không khí học tập môn Ngữ văn vẫn tiếp tục rất sôi nổi bởi các em có thể cùng nhau tiếp tục theo dõi các video, hình ảnh minh họa cho bài học do chính các em chuẩn bị sẵn phục vụ cho việc học tập mà không bị phụ thuộc vào bài giảng duy nhất của cô Đồng thời, các em cũng không còn dùng điện thoại của mình vào việc chơi game hoặc trò chuyện mà đã biết cách sử dụng nó hợp lí hơn

Tất cả những gì người GV cần làm để chuẩn bị cho cả thầy và trò sử dụng được ứng dụng này là cần có điện thoại, máy tính bảng, laptop có kết nối Internet

Ngoài ra, với thời đại công nghệ 4.0 và chuyển đổi số trong giáo dục, chúng tôi đã tận dụng tối đa các nền tảng công nghệ thông tin: Mail; facebook, zalo để hướng dẫn HS thực hành luyện tập kĩ năng làm bài thi THPT Quốc gia Sử dụng các phần mềm này, chúng tôi thường lập các nhóm học tập ôn luyện đề thi theo từng mức độ các nhóm HS: TB, khá, giỏi để trao đổi giữa HS với HS, giữa GV và HS GV có thể thông qua đó để chuyển đề, chia sẻ các trang web học tập, các video hay, bổ ích phục vụ cho việc ôn thi HS thông qua các nền tảng này để nạp bài làm, trao đổi các vướng mắc Đặc biệt trong thời điểm đại dịch Covid 19 đang diễn ra khá phức tạp, thì các phương tiện này càng tỏ ra

có hiệu quả khi GV cần giảng dạy một bài học nào đó Cách làm này càng tỏ ra thiết thực và khả thi hơn trong thời đại gần như HS nào cũng có điện thoại thông minh, máy tính, máy tính bảng có kết nối Internet

Đây là một trong những điểm mới trong dạy học hiện nay trên tinh thần học mọi lúc, học mọi nơi, học không cần phải đến trường

Trang 33

30

Mục đích sử dụng các ứng dụng công nghệ thể hiện rõ qua các vấn đề như: Giao nhiệm vụ cho HS trước và sau mỗi bài học; Xem được các bài viết, các video, ; Giải đáp cho HS những khó khăn, vướng mắc mà các em gặp phải trong quá trình tự học, học nhóm môn Ngữ văn

Trong năm học 2020-2021 chúng tôi đã chủ động tương tác với HS qua kênh youtobe ….;Phần mềm Zoom, google meet; Sử dụng phần mềm "Azota"

để yêu cầu HS làm bài kiểm tra; Sử dụng phần mềm Zalo, mail; Mesenger của Facebook để tương tác trực tiếp với HS

Trang 34

31

2.2.4 Tăng cường khả năng tự học

Bên cạnh việc dạy trên lớp, học thêm, tự học sẽ giúp các em chủ động hơn nhiều trong việc tiếp cận kiến thức, các em sẽ có xu hướng tìm tòi những thứ mình cần và mình hiểu để bù đắp những lỗ hổng của mình Từ đó, giúp HS vững chắc, nhớ hơn và hiểu rõ vấn đề hơn Tự học là một phương pháp yêu cầu HS phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy

Để hướng dẫn HS ôn luyện thi theo hướng tự học, chúng tôi thường yêu cầu HS nạp lại kế hoạch ôn tập, luyện tập của mình theo kế hoạch ở nhà do mình chủ động lập ra Trong kế hoạch đó thể hiện được thời gian học môn Ngữ văn trong hệ thống kế hoạch học tập chung Kế hoạch đồng thời phải thể hiện được kết quả các em cam kết đạt được theo từng tuần Sau thời gian học tập ở lớp, chúng tôi cũng thường ra bài cho HS về nhà thực hành luyện tập và nạp lại sản phẩm cho GV qua từng tuần

Ngày đăng: 03/07/2022, 08:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2018
3. Đảng cộng sản Việt Nam(2013), Nghị quyết số 29- NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 29- NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2013
4. Nguyễn Viết Chữ (2007), “Về việc bồi dưỡng kĩ năng đọc – nghe –nói – viết cho HS trong dạy học Văn”, Tạp chí Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc bồi dưỡng kĩ năng đọc – nghe –nói – viết cho HS trong dạy học Văn
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Năm: 2007
5. Nguyễn Trọng Hoàn (2003),“Một số vấn đề về đọc hiểu văn bản Ngữ văn”, Tạp chí Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đọc hiểu văn bản Ngữ văn
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2003
6. Nguyễn Trọng Hoàn (2004), “Hình thành năng lực đọc cho học sinh trong dạy học Ngữ văn”, Tạp chí Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành năng lực đọc cho học sinh trong dạy học Ngữ văn
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Năm: 2004
7. Đỗ Ngọc Thống (tổng chủ biên), Bùi Minh Đức (chủ biên), Đỗ Thu Hà, Phạm Thị Thu Hiền, Lê Thị Minh Nguyệt (2018), Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn THPT, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn THPT
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống, Bùi Minh Đức, Đỗ Thu Hà, Phạm Thị Thu Hiền, Lê Thị Minh Nguyệt
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2018
8. Trần Đình Sử (2013) , “Từ giảng văn qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc hiểu văn bản văn học”, trandinhsu.wordpress.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ giảng văn qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Năm: 2013
9. Trần Đình Sử (2013), “Đọc hiểu văn bản – một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay”, trandinhsu.wordpress.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu văn bản – một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay
Tác giả: Trần Đình Sử
Năm: 2013
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể Khác
10. Các modun BDTX của Bộ GĐ&ĐT về phương pháp, kĩ thuật dạy học. 11. Một số trang Internet Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HTDH Hình thức dạyhọc - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
Hình th ức dạyhọc (Trang 2)
2.1. Lựa chọn, vận dụng các hình thức và phương pháp giảng dạy  môn  Ngữ  văn  (phần  Đọc-hiểu  văn  bản)  theo  định  hướng phát triển NL cho HS ban KHTN - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
2.1. Lựa chọn, vận dụng các hình thức và phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn (phần Đọc-hiểu văn bản) theo định hướng phát triển NL cho HS ban KHTN (Trang 3)
Nhìn chung, trong hình thức sân khấu, TPVH có thể được diễn lại một cách sống động từ văn bản nguyên tác, hoặc vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình  huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
h ìn chung, trong hình thức sân khấu, TPVH có thể được diễn lại một cách sống động từ văn bản nguyên tác, hoặc vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia (Trang 14)
Có nhiều hình thức sắm vai như: Cho HS sáng tạo lời nói, ý nghĩ nhân vật thay cho tác giả; Nhập vai người kể chuyện để bình luận, đánh giá về nhân  vật, sự kiện, tình huống theo quan điểm của mình; Ðóng vai nhân vật để phát  biểu suy nghĩ chủ quan về nhữn - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
nhi ều hình thức sắm vai như: Cho HS sáng tạo lời nói, ý nghĩ nhân vật thay cho tác giả; Nhập vai người kể chuyện để bình luận, đánh giá về nhân vật, sự kiện, tình huống theo quan điểm của mình; Ðóng vai nhân vật để phát biểu suy nghĩ chủ quan về nhữn (Trang 15)
Hình thức học tập sắm vai nhiều khi rất vui nhờ những chi tiết hài hước, ngộ nghĩnh do HS- “diễn viên bất đắc dĩ” tạo nên - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
Hình th ức học tập sắm vai nhiều khi rất vui nhờ những chi tiết hài hước, ngộ nghĩnh do HS- “diễn viên bất đắc dĩ” tạo nên (Trang 16)
lớp có câu hỏi hay và cho các bạn có câu trả lời hấp dẫn. GV phải hình thàn hở HS tinh thần phê và tự phê bằng cách yêu cầu cả lớp trước khi đặt câu hỏi cho  bạn  thuyết  trình,  đưa  ra  nhận  xét  về  những  mặt  tích  cực  và  hạn  chế  của  bài  thuyế - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
l ớp có câu hỏi hay và cho các bạn có câu trả lời hấp dẫn. GV phải hình thàn hở HS tinh thần phê và tự phê bằng cách yêu cầu cả lớp trước khi đặt câu hỏi cho bạn thuyết trình, đưa ra nhận xét về những mặt tích cực và hạn chế của bài thuyế (Trang 18)
Hình thức dạyhọc trải nghiệm cũng là một thế mạnh trong việc dạyhọc ĐHVB cho HS ban KHTN hiệu quả nhằm rèn luyện NL tư duy, ngôn ngữ, sáng  tạo, giao tiếp… - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
Hình th ức dạyhọc trải nghiệm cũng là một thế mạnh trong việc dạyhọc ĐHVB cho HS ban KHTN hiệu quả nhằm rèn luyện NL tư duy, ngôn ngữ, sáng tạo, giao tiếp… (Trang 19)
Hình thức trải nghiệm chủ yếu được chúng tôi sử dụng thường xuyên trong dạy ĐHVB ở các  lớp KHTN là “Một  ngày làm GV”:  Nếu như các hình  thức trên có thể áp dụng khi thực hiện từng hoạt động dạy học cho HS thì hình  thức này, GV có thể để HS là người tr - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
Hình th ức trải nghiệm chủ yếu được chúng tôi sử dụng thường xuyên trong dạy ĐHVB ở các lớp KHTN là “Một ngày làm GV”: Nếu như các hình thức trên có thể áp dụng khi thực hiện từng hoạt động dạy học cho HS thì hình thức này, GV có thể để HS là người tr (Trang 19)
- Phát triển NL số nhằm đa dạng hóa hình thức học tập, phát triển kĩ năng chuyển đổi nhằm nâng cao khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn  đề thực tiễn - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
h át triển NL số nhằm đa dạng hóa hình thức học tập, phát triển kĩ năng chuyển đổi nhằm nâng cao khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn (Trang 37)
- GV thiết kế google form câu hỏi hình thành kiến thức và chia sẻ vào nhóm Facebook học  tập - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
thi ết kế google form câu hỏi hình thành kiến thức và chia sẻ vào nhóm Facebook học tập (Trang 38)
2.2. HOẠT ĐỘNG 2: Hình thành kiến thức * Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu chung về truyện cổ tích   a - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
2.2. HOẠT ĐỘNG 2: Hình thành kiến thức * Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu chung về truyện cổ tích a (Trang 39)
1.Tìm hiểu hình tượng sông Đà - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
1. Tìm hiểu hình tượng sông Đà (Trang 47)
2. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
2. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC (Trang 47)
Nhóm 4: So sánh hình ảnh người  lái  đò  trước  và  sau  cuộc  chiến  đấu?  Nhận  xét  về ông lái đò  từ những dẫn  chứng đó - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
h óm 4: So sánh hình ảnh người lái đò trước và sau cuộc chiến đấu? Nhận xét về ông lái đò từ những dẫn chứng đó (Trang 48)
Kết quả được thống kê trong đợt kiểm tra lần 2 theo bảng thực nghiệm - SKKN một số GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG học tập môn NGỮ văn (PHẦN đọc  HIỂU văn bản) CHO học SINH BAN KHOA học tự NHIÊN ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
t quả được thống kê trong đợt kiểm tra lần 2 theo bảng thực nghiệm (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w