Đóng góp của sáng kiến - Về mặt lý luận: góp phần làm rõ một cách có hệ thống các vấn đề: dạy học theo định hướng phát triển năng lực, dạy học theo đặc trưng thể loại, đặc điểm của văn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 2
===== =====
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ CHO HS THPT
THÔNG QUA CÁC CHI TIẾT NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC
TỪ TRUYỆN NGẮN HAI ĐỨA TRẺ (THẠCH LAM)
LĨNH VỰC: NGỮ VĂN
Tên tác giả : Thái Văn Phú
Tổ chuyên môn : Văn - Ngoại ngữ Năm học : 2021- 2022
Số điện thoại : 0963730739
Tháng 4/2022
Trang 2PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Đóng góp của sáng kiến 2
6 Cấu trúc của sáng kiến 3
PHẦN II: NỘI DUNG 4
I- CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI 4
1 Cơ sở lí luận 4
1.1 Về định hướng dạy học phát triển năng lực cho học sinh 4
1.2 Các năng lực cần hình thành cho học sinh 4
1.3 Một số khái niệm được đề cập đến trong đề tài 5
1.3.1 Năng lực đọc hiểu văn bản 5
1.3.2 Văn bản tự sự 5
1.3.3 Chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự 6
2 Cơ sở thực tiễn 7
2.1 Văn bản tự sự hiện đại trong chương trình và SGK Ngữ văn 11 hiện hành 7
2.2 Thực trạng phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự hiện đại cho HS THPT 7
2.3 Thực trạng của việc dạy học văn bản Hai đứa trẻ tại các trường phổ thông 9
II- HỆ THỐNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ CHO HS THPT QUA CÁC CHI TIẾT NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC TỪ TRUYỆN NGẮN HAI ĐỨA TRẺ (THẠCH LAM) 12
1 Sử dụng biện pháp hội thảo văn học 12
1.1 Những yêu cầu khi dạy học Ngữ văn bằng biện pháp hội thảo văn học 12
1.2 Cách thức tiến hành dạy học bằng biện pháp hội thảo văn học đối với văn bản Hai đứa trẻ (Thạch Lam) từ các chi tiết nghệ thuật có giá trị đặc sắc 13
2 Sử dụng biện pháp tranh biện 14
2.1 Dùng kĩ thuật so sánh 14
2.2 Sử dụng sơ đồ 16
3 Sử dụng mô hình Trường teen trên VTV7 18
4 Sử dụng phương pháp trực quan 20
4.1 Sử dụng sơ đồ tư duy 20
Trang 34 Sử dụng phương pháp trò chơi 25
4.1 Trò chơi giải ô chữ 26
5 Sử dụng phương pháp kiểm tra năng lực bằng rubric 28
5.1 Những yêu cầu khi sử dụng phương pháp kiểm tra năng lực bằng rubric trong giảng dạy môn Ngữ văn 28
5.2 Cách thức tiến hành phương pháp kiểm tra năng lực bằng rubric trong dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ từ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc 29
III- GIÁO ÁN MINH HỌA 32
PHẦN III: KẾT LUẬN 48
1 Đóng góp của đề tài 48
2 Ý nghĩa của đề tài 48
3 Phạm vi áp dụng 48
4 Kiến nghị 49
4.1 Với các cấp quản lí giáo dục 49
4.2 Với giáo viên 49
4.3 Với học sinh 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC
Trang 4TT Từ viết tắt Từ đầy đủ
Trang 5PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong chương trình đổi mới giáo dục phổ thông 2018, việc phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức được đặc biệt coi trọng, nhấn mạnh và đề cao Ở bộ môn Ngữ văn, một bộ môn có những đặc trưng đặc thù bởi có sự kết hợp giữa tri thức khoa học và tư duy hình tượng cùng ngôn ngữ nghệ thuật, việc hình thành cho các em năng lực đọc hiểu văn bản là vô cùng quan trọng, tạo tiền đề cho hành trình tự học, tự trang bị tri thức nhằm hoàn thiện nhân cách bản thân Từ năng lực đọc hiểu văn bản sẽ giúp các em hình thành những nhóm năng lực liên quan: năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực tự học… để qua đó bồi đắp đời sống tâm hồn cho các em HS, một nhiệm vụ cốt lõi mà môn Ngữ văn trong nhà trường THPT hướng tới
1.2 Trong chương trình Ngữ văn ở trường THPT, văn bản tự sự hiện đại chiếm một số lượng hết sức quan trọng, đặc biệt là ở chương trình Ngữ văn lớp 11
và 12 Ở những khối lớp này, số lượng các văn bản tự sự chiếm khoảng ½ số lượng tác phẩm có trong SGK và số tiết phân phối chương trình cho văn bản tự sự cũng chiếm khoảng một nửa thời lượng tiết dạy trong một năm học Như vậy, hình thành
thể chiếm lĩnh các bài học một cách chủ động, tích cực, tạo tiền đề cho các em mở rộng tri thức về văn bản tự sự trên cơ sở những hiểu biết về tri thức thể loại đã được cung cấp và lĩnh hội từ trong nhà trường THPT
1.3 Hai đứa trẻ là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Thạch Lam, ghi dấu
ấn không thể thay thế trên văn đàn Việt Nam hiện đại Dẫu chương trình SGK Ngữ
văn ở trường THPT đã có nhiều sự thay đổi, song Hai đứa trẻ vẫn giữ vững được
vị thế của nó và vẫn là tác phẩm được các tác giả SGK ưu tiên lựa chọn để đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 11, tập 1 Điều đó chứng tỏ đây là văn bản tự sự xuất sắc, ấn tượng Đặc biệt, nó ghi dấu ấn trong tâm hồn người đọc nhiều thế hệ bằng những chi tiết nghệ thuật đầy tính biểu tượng, những ẩn ngữ vẫy gọi và hấp dẫn con người Bởi thế, tự thân văn bản mang rất nhiều những đặc trưng của loại hình văn bản tự sự, mà từ chỗ tiếp cận nó, có thể giúp chúng ta soi chiếu
rõ hơn phương pháp tiếp cận các văn bản cùng loại hình và phương thức biểu đạt
Bởi tất cả những lí do như trên đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài: Các
biện pháp phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự cho HS THPT thông qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc từ truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự cho học sinh THPT thông qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc từ truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
Trang 62.2 Phạm vi nghiên cứu
Truyện ngắn Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam (SGK lớp 11, tập 1), tham
khảo thêm các văn bản khác của cùng tác giả
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Sáng kiến nhằm chứng minh sự cần thiết, khả năng và hiệu quả của việc phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự cho học sinh THPT qua các chi tiết nghệ
thuật đặc sắc từ truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của đề tài, trong đó tập trung làm rõ năng lực đọc hiểu văn bản tự sự trong hoạt động dạy - học; khả năng vận dụng năng lực đọc
hiểu văn bản trong dạy học văn bản tự sự nói chung và truyện ngắn Hai đứa trẻ
(Thạch Lam) nói riêng
- Xây dựng hệ thống phương pháp, biện pháp phát triển năng lực đọc hiểu văn
bản tự sự qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc từ truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
- Tiến hành thực nghiệm để khẳng định tính khả thi và hiệu quả của hệ thống phương pháp, biện pháp phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự qua các chi tiết
nghệ thuật đặc sắc từ truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã phối hợp 2 nhóm phương
pháp nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn
4.1 Phân tích và tổng hợp; phân loại và hệ thống hóa nhằm thẩm định và
đánh giá những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu
4.2 Quan sát và điều tra nhằm nắm bắt những dữ liệu cần thiết về hoạt
động dạy - học phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự qua các chi tiết nghệ
thuật đặc sắc qua truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
4.3 Phương pháp thực nghiệm nhằm thẩm định, đánh giá tính khoa học,
tính khả thi của hệ thống phương pháp, biện pháp phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự cho học sinh THPT qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc từ truyện ngắn
Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
5 Đóng góp của sáng kiến
- Về mặt lý luận: góp phần làm rõ một cách có hệ thống các vấn đề: dạy học theo định hướng phát triển năng lực, dạy học theo đặc trưng thể loại, đặc điểm của văn bản tự sự cũng như các yêu cầu về phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự cho học sinh THPT qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc
Trang 7- Về mặt thực tiễn:
+ Đề xuất những giải pháp, biện pháp có tính khả thi nhằm hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự ở trường THPT qua các chi tiết nghệ
thuật đặc sắc từ truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
+ Cung cấp cho giáo viên một hướng tổ chức hoạt động học tập chú trọng phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh Trong đó trọng tâm là năng lực đọc hiểu văn bản tự sự từ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc
+ Góp phần đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
6 Cấu trúc của sáng kiến
Ngoài phần Đặt vấn đề; Kết luận, phần Nội dung của sáng kiến này sẽ được
triển khai qua 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2: Hệ thống biện pháp phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự cho
học sinh THPT qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc từ truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch
Lam)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 8PHẦN II NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Về định hướng dạy học phát triển năng lực cho học sinh
Nếu chương trình giáo dục trước đây chú trọng định hướng nội dung, đề cao vai trò độc tôn của người thầy thì chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực hiện nay chú trọng đến khai thác khả năng sáng tạo, chủ động, tích cực của người học, hướng đến khuyến khích người học bộc lộ sự trải nghiệm, tư duy phản biện và quan điểm cá nhân Xem HS là trung tâm của hoạt động dạy học, chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực còn làm thay đổi mối quan hệ GV -
HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa để phát triển năng lực xã hội, góp phần tạo dựng môi trường nhận thức, sáng tạo cho người học, từ đó rèn luyện được những năng lực, phẩm chất cụ thể cho HS
Mục tiêu cuối cùng của dạy học phát triển năng lực là trang bị cho HS năng lực xử lý, thực hành các vấn đề của cuộc sống và công việc Điều này cũng đồng nghĩa với việc người dạy cần phải có sự đầu tư công phu hơn trong lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học, tránh tình trạng vận dụng một cách thiên lệch dẫn đến những lỗ hổng tri thức cơ bản, thiếu tính hệ thống trong cung cấp tri thức
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng
lực được hiểu là “khả năng làm chủ và vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” (Theo Quebec - Ministere de I Education, 2004)
Chương trình giáo dục tổng thể năm 2018 và chương trình giáo dục phổ thông mới của môn Ngữ văn (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày
26 tháng 11 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) đều hướng đến phát triển năng lực chung và năng lực đặc thù cho HS Chương trình giáo dục mới đã đưa ra những yêu cầu chung, khái quát về đổi mới phương pháp dạy học: Phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học, năng lực phản biện (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin, bộc lộ ý kiến
cá nhân, tranh luận các vấn đề học tập), trên cơ sở đó, trau dồi các phẩm chất như linh hoạt, độc lập, sáng tạo trong quá trình tư duy; tự chủ, tự học, tự nghiên cứu…
1.1.2 Các năng lực cần hình thành cho học sinh
Nghị quyết số 88 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới Chương trình,
sách giáo khoa giáo dục phổ thông có quy định: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực, phát hiện và
Trang 9bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh” Thông tư số
32/2018/TT-BGDDT ngày 26/11/2018 ban hành về chương trình giáo dục tổng thể
đã trình bày đầy đủ những yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh
Nhóm thứ nhất là các năng lực chung mà môn học và hoạt động giáo dục nào cũng cần và có thể hình thành, phát triển cho học sinh, bao gồm: năng lực tự chủ và tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Nhóm thứ hai là những năng lực đặc thù, bao gồm: năng lực sử dụng ngôn ngữ (gắn với các môn Ngữ văn, Ngoại ngữ), năng lực thẩm mỹ (gắn với các môn Nghệ thuật), năng lực tính toán (gắn với Toán và các môn khoa học tự nhiên), năng lực Tin học, năng lực Thể chất, năng lực Khoa học và năng lực công nghệ
Như vậy, các nhóm năng lực chung và đặc thù mà giáo dục hướng đến đều tập trung vào mục đích phát triển cho người học những năng lực và phẩm chất quan trọng nhằm tạo sự chủ động, thích ứng với môi trường và hoàn cảnh phức tạp Do đó, năng lực đọc hiểu là một trong những năng lực vô cùng quan trọng, có vai trò làm nền tảng và định hướng trong quá trình hình thành, phát triển đầy đủ các năng lực cơ bản và đặc thù cho HS trong bối cảnh mới Trong đó, môn học có thế mạnh và đòi hỏi phát triển cao và đầy đủ năng lực đọc hiểu phải kể đến môn Ngữ văn, một môn học công cụ, vừa là môn học nghệ thuật, vừa là môn học gần gũi với cuộc sống
1.1.3 Một số khái niệm được đề cập đến trong đề tài
1.1.3.1 Năng lực đọc hiểu văn bản
Tài liệu Tập huấn “Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh” của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014) đã xác
định rõ: “Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản Cách dạy đọc - hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho học sinh những cảm nhận của GV về văn bản được học, mà hướng đến việc cung cấp cho HS cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho HS năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân …
1.1.3.2 Văn bản tự sự
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu đã được thừa nhận: Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), NXB Giáo dục, 1992), Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê (chủ biên), NXB Đà Nẵng, 1998), 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân (biên soạn), NXB Văn học, 2016), các tác giả
đều cơ bản thống nhất các tiêu chí xác định văn bản tự sự như sau:
+ Tái hiện đời sống trong tính khách quan của nó
+ Có cốt truyện, gắn liền với cốt truyện là một hệ thống các nhân vật được
Trang 10khắc họa đầy đủ, nhiều mặt
+ Có thể được viết bằng văn xuôi (chủ yếu) hoặc văn vần
1.1.3.3 Chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), NXB Giáo dục, 1992), chi tiết nghệ thuật là: “Các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng” Cũng theo nhóm tác giả này thì: “Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể, chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội
tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm Chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới con người, với truyền thống văn hoá nghệ thuật nhất định.”
Như vậy, chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự gắn với quan niệm nghệ thuật và quan niệm nhân sinh của nhà văn Đối với người đọc khi nhận biết được các chi tiết nghệ thuật đắt giá trong tác phẩm, chúng ta có thể làm sáng tỏ được ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật, tư tưởng chủ đề của tác phẩm và hiểu rõ ý đồ sáng tạo của nhà văn
Trong tác phẩm tự sự, nhân vật là yếu tố quan trọng hàng đầu, là phương
tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực và “gửi gắm tư tưởng, tình cảm, quan niệm của mình về cuộc đời” Hình tượng nhân vật trở nên sinh động, gợi cảm là nhờ các chi tiết nghệ thuật, như các tác giả trong SGK Ngữ văn 11 nâng cao, tập 1, Nxb Giáo dục, 2007 đã nhận định “Chi tiết (…) cho thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của chúng ( ) Do đó chi tiết rất quan trọng đối với nhân vật, vừa tạo ra sức hấp dẫn, thú vị, vừa bộc lộ ý nghĩa của chúng” Mỗi nhân vật là
một sinh thể toàn vẹn được tạo nên bởi các chi tiết có quan hệ máu thịt với nhau:
các chi tiết về ngoại hình (Chí Phèo: khuôn mặt, đầu, răng, mắt, quần áo, …); các chi tiết về hành động (Chí Phèo với những hành động: chửi, say, ăn vạ, đến với thị
Nở, đòi lương thiện, giết Bá Kiến, tự sát.); các chi tiết về nội tâm (tâm trạng của Chí Phèo từ khi gặp thị Nở, …); các chi tiết về ngôn ngữ (Chí Phèo: tiếng chửi, những lời nói tỏ tình với Thị Nở, tiếng nói đòi lương thiện,…); các chi tiết về mối quan hệ giữa các nhân vật và giữa nhân vật với hoàn cảnh xung quanh, các mối
quan hệ này bộc lộ địa vị, tính cách, và số phận của nhân vật (Chí Phèo: quan hệ với Bá Kiến, thị Nở, với hoàn cảnh xã hội của làng Vũ Đại, …)
Nhìn trên bình diện tổng thể, có thể nói rằng, chi tiết nghệ thuật có một vai trò đặc biệt quan trọng trong văn bản tự sự nói chung, thể loại truyện ngắn nói
riêng Đó chính là những hạt bụi vàng tạo nên cái lấp lánh và sức hấp dẫn cho văn bản; là vị mặn mòi của muối bể để làm nên hương vị của cả một đại dương; là những đường vân của thớ gỗ mà nhìn vào đó, độc giả sẽ cảm nhận được cả chiều
sâu của một đời thảo mộc… Sẽ không quá khi nói rằng, thành công của một văn bản tự sự hiện đại không ở cái gì khác ngoài việc tạo dựng được những chi tiết nghệ thuật đặc sắc Và như vậy, chúng ta càng trân trọng hơn lời nhận định của văn
Trang 11hào người Nga thế kỉ XX, Mắc xim Gorki: Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn!
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Văn bản tự sự hiện đại trong chương trình và SGK Ngữ văn 11 hiện hành
Trong chương trình và sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 11 THPT hiện hành có nhiều loại văn bản xét về phong cách ngôn ngữ chức năng Trong đó, văn bản tự sự chiếm một số lượng lớn Trong giới hạn nghiên cứu này, chúng tôi chỉ xem xét ở đối tượng cụ thể là văn bản tự sự hiện đại trongchương trình Ngữ văn 11 nói chung, văn
bản Hai đứa trẻ (Thạch Lam) nói riêng
Hiện nay SGK Ngữ văn 11 hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Nxb Giáo dục Việt Nam) có số lượng văn bản văn xuôi hiện đại (khảo sát văn bản đọc hiểu chính, văn bản đọc thêm, không khảo sát văn bản văn học nước ngoài) gồm 7 văn bản, tập trung ở chương trình Ngữ văn học kì 1:
Trong đó:
Có 4 văn bản đọc hiểu chính (Hai đứa trẻ Thạch Lam; Chữ người tử tù Nguyễn Tuân; Hạnh phúc của một tang gia - Trích Số đỏ - Vũ Trọng Phụng; Chí Phèo - Nam Cao)
Có 3 văn bản đọc thêm (Cha con nghĩa nặng trích, Hồ Biểu Chánh, Vi hành - Nguyễn Ái Quốc, Tinh thần thể dục - Nguyễn Công Hoan)
Như vậy, có thể thấy rằng chương trình, SGK Ngữ văn 11 THPT có khối lượng văn bản tự sự hiện đại lớn, lại được sắp xếp tập trung ở SGK tập 1 phù hợp
để chúng ta lựa chọn làm cơ sở rèn luyện năng lực đọc hiểu cho HS qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật đặc sắc
1.2.2 Thực trạng phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự hiện đại cho
HS THPT
Để nắm vững thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của việc rèn luyện năng lực đọc hiểu cho HS THPT, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế việc dạy
và học môn Ngữ văn tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 trên 12 GV và 120 HS (Nội
dung khảo sát được trình bày ở phần Phụ lục [1, tr.51; 2, tr.52]
*Nội dung khảo sát
-Tìm hiểu thực trạng dạy học theo định hướng năng lực của GV dạy bộ môn Ngữ văn, nhất là phát triển năng lực đọc hiểu trong dạy học văn bản tự sự hiện đại
ở chương trình Ngữ văn 11
- Tìm hiểu việc xây dựng giáo án bài giảng của GV để nắm cách tổ chức dạy học; tình hình xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp, thiết thực và cụ thể để phát triển năng lực đọc hiểu cho HS trong dạy văn bản tự sự hiện đại
- Tìm hiểu hứng thú và thái độ của HS trước chương trình Ngữ văn nói chung và
Trang 12phần văn bản văn xuôi hiện đại trong chương trình Ngữ văn 11 nói riêng
- Từ nội dung khảo sát, xác định những khó khăn của GV và HS gặp phải để bước đầu đề xuất những biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực đọc hiểu trong dạy học Văn nói chung và phần văn bản tự sự hiện đại chương trình Ngữ văn 11 nói riêng
* Phương pháp khảo sát: Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành:
- Dùng phiếu khảo sát, nghiên cứu giáo án, bài giảng
- Dự giờ dạy một số giáo viên
- Trao đổi trực tiếp với GV, HS
Quan trọng/thỉnh thoảng
Không thật quan trọng/ít khi
Không quan trọng/không
Quan trọng/thỉnh thoảng
Không thật quan trọng/ít khi
Không quan trọng/không
có
Thông qua kết quả thu được từ quá trình điều tra có thể kết luận:
Về tình hình dạy của giáo viên:
- Phần lớn GV cho rằng việc hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu cho HS trong dạy học Ngữ văn là rất quan trọng và cần thiết Nhiều GV đã xây dựng được hệ thống câu hỏi nhằm hướng HS đến khả năng chủ động, sáng tạo, khả năng suy luận, tranh biện trong học tập
- Phương pháp dạy học đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn mang tính truyền thụ
là chủ yếu, đặt nặng nội dung trong quá trình dạy học
- Các hình thức dạy học tích cực: tổ chức hoạt động nhóm, dạy học theo tình huống có vấn đề, sử dụng sơ đồ, tranh ảnh… chủ yếu chỉ được thực hiện khi có hoạt
Trang 13động thao giảng, dự giờ, thi GV giỏi …
- Hệ thống câu hỏi, bài tập vận dụng dành cho học HS chưa được đầu tư đúng mức
- Khi GV tổ chức hoạt động nhóm, một số HS làm việc, một số HS lại ỷ lại hoặc không trình bày được ý kiến cá nhân của mình với nhóm
1.2.3 Thực trạng của việc dạy học văn bản Hai đứa trẻ tại các trường phổ thông
Để nắm vững thực trạng dạy và học văn bản Hai đứa trẻ cho HS THPT
thông qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật đặc sắc, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế việc dạy và học văn bản này tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 trên 12 GV và
120 HS (Nội dung khảo sát được trình bày ở phần Phụ lục [3, tr.54; 4, tr.55; 56]
* Nội dung khảo sát
- Tìm hiểu thực trạng dạy học văn bản Hai đứa trẻ thông qua hệ thống các
chi tiết nghệ thuật đặc sắc
- Tìm hiểu việc xây dựng giáo án bài giảng của GV để nắm cách tổ chức dạy
học, tình hình xây dựng hệ thống câu hỏi và phương án dạy học văn bản Hai đứa trẻ thông qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật đặc sắc
- Tìm hiểu hứng thú và thái độ của HS khi tiếp cận văn bản Hai đứa trẻ thông
qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật đặc sắc
Từ nội dung khảo sát, xác định những khó khăn của GV và HS gặp phải để
bước đầu đề xuất những biện pháp dạy học cụ thể, thích hợp với văn bản Hai đứa trẻ theo hướng tiếp cận hệ thống các chi tiết nghệ thuật đặc sắc
* Phương pháp khảo sát: Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành:
- Dùng phiếu khảo sát, nghiên cứu giáo án, bài giảng
- Dự giờ dạy một số giáo viên
- Trao đổi trực tiếp với GV, HS
* Kết quả khảo sát:
Trang 14- Bảng tổng hợp thông số từ quá trình khảo sát GV
Tiêu chí
Số lượng, tỉ lệ
Áp dụng thường xuyên
Thỉnh thoảng tham gia
Ít khi tham gia
Không tham gia
Thông qua kết quả thu được từ quá trình điều tra có thể kết luận:
*Về tình hình dạy của giáo viên:
- Phần lớn GV đã xác định được tầm quan trọng của việc dạy học văn bản tự sự
hiện đại nói chung, truyện ngắn Hai đứa trẻ nói riêng từ hệ thống các chi tiết nghệ thuật
đặc sắc Một số GV đã áp dụng thường xuyên phương pháp này vào trong quá trình dạy học của bản thân và mang lại hiệu quả tích cực
- Một số GV vẫn tiếp cận văn bản tự sự hiện đại nói chung, truyện ngắn Hai đứa trẻ nói riêng theo kiểu truyền thống: cốt truyện, nhân vật, sự kiện, tình huống
dẫn tới bài giảng nặng về kiến thức; ít chú trọng phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho HS nên bài giảng nặng nề, dễ gây tâm lí mệt mỏi cho các em
- Các hình thức dạy học tích cực: tổ chức hoạt động nhóm, dạy học theo tình huống có vấn đề, sử dụng sơ đồ, tranh ảnh… chủ yếu chỉ được thực hiện khi có hoạt động thao giảng, dự giờ, thi GV giỏi …
- Hệ thống câu hỏi, bài tập vận dụng dành cho HS đã có đầu tư nghiên cứu nhưng chưa có nhiều bài tập thực sự chất lượng
Tình hình học tập của HS:
- Hầu hết HS đều hứng thú với cách tiếp cận văn bản tự sự hiện đại nói
chung, truyện ngắn Hai đứa trẻ nói riêng từ hệ thống các chi tiết nghệ thuật đặc
sắc Một số HS có ý thức và kĩ năng học tập tốt, có khả năng suy luận, tranh biện, đặt vấn đề, phản biện trong học Văn
Trang 15- Nhiều HS hứng thú nhưng còn tỏ ra khó khăn khi tiếp cận văn bản tự
sự hiện đại từ hệ thống các chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì thói quen phụ thuộc vào bài giảng của thầy cô như lâu nay vẫn làm, dẫn tới làm hạn chế năng lực tự học, tự nghiên cứu …
- Khi GV tổ chức hoạt động nhóm, một số HS làm việc, một số HS vẫn còn có thái độ ỷ lại hoặc không trình bày được ý kiến cá nhân của mình với nhóm …
Từ tất cả những kết quả khảo sát như trên, chúng tôi nhận thấy, việc tiếp
cận văn bản tự sự hiện đại nói chung, truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam) nói
riêng qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc là hết sức cần thiết, có ý nghĩa, phù hợp với xu thế dạy học phát triển năng lực cho HS Không những vậy, hướng tiếp cận này sẽ giúp các em phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu; khả năng giao tiếp và hợp tác; năng lực tranh biện… những năng lực cần thiết, đáp ứng phẩm chất cần có của một công dân trong thời đại mới
Trang 16CHƯƠNG 2
HỆ THỐNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ CHO HS THPT QUA CÁC CHI TIẾT NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC TỪ TRUYỆN NGẮN HAI ĐỨA TRẺ (THẠCH LAM)
Như chúng tôi đã đề cập đến trong phần cơ sở khoa học của đề tài, việc phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự hiện đại cho HS THPT từ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc là một ưu thế đã được khẳng định qua hoạt động dạy học trong thực tiễn Không quá khi chúng ta nói rằng, thành công của một tác phẩm tự sự hiện đại trước hết là ở việc tạo dựng, in đậm dấu ấn vào tâm hồn người đọc bởi những chi tiết nghệ thuật đặc sắc Bởi thế, hướng dẫn HS tiếp cận theo hướng ấy không chỉ giúp các em đọc hiểu có hiệu quả các văn bản tự sự có trong SGK THPT mà còn tạo điều kiện để các em có thể tự học, học suốt đời qua những kĩ năng đã được hướng dẫn Hệ thống các biện pháp chúng tôi đề xuất dưới đây có thể áp dụng rộng rãi vào quá trình dạy học các văn bản tự sự hiện đại có trong SGK Ngữ văn THPT Tuy nhiên, do giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đề xuất các biện pháp và ứng dụng
nó vào quá trình dạy học văn bản Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam (SGK Ngữ
văn 11, tập 1)
2.1 Sử dụng biện pháp hội thảo văn học
2.1.1 Biện pháp hội thảo văn học trong dạy học môn Ngữ văn
Về mặt bản chất, biện pháp hội thảo văn học trong dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT thực chất là mô hình thu nhỏ của những hội thảo về đa dạng ngành nghề trong đời sống xã hội Mục đích cốt lõi của biện pháp này là tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các em HS có dịp được bày tỏ quan điểm, chính kiến; được trao đổi về những kết quả nghiên cứu (dù là nhỏ) trong quá trình tự học của các em Đồng thời, đây là dịp rất tốt cho HS rèn luyện năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực phản biện; năng lực tư duy và giải quyết vấn đề … là dịp phát huy tinh thần dân chủ trong quá trình dạy học và chiếm lĩnh tri thức trên cơ sở sự hướng dẫn của GV Những mục đích cốt lõi của biện pháp hội thảo văn học cũng chính là mục tiêu mà chương trình đổi mới giảng dạy môn Ngữ văn 2018 hướng tới
2.1.2 Những yêu cầu khi dạy học Ngữ văn bằng biện pháp hội thảo văn học
- Tính vừa sức: Đề tài được đưa ra ở hội thảo phải nằm trong vùng hiểu biết của HS và khả năng giải quyết của các em; tránh xu hướng đưa ra các đề tài có tính chất hàn lâm dễ khiến các em mệt mỏi, mất hứng thú
- Tính khơi gợi cảm hứng: Đề tài đưa ra trong hội thảo phải kích thích được hứng thú tìm tòi, nghiên cứu, bàn luận, tranh biện trong tập thể các em HS Muốn làm được điều đó, đề tài có thể cho các em được tự do lựa chọn, đề xuất; GV chỉ
Trang 17khơi gợi, hướng dẫn về phương pháp tiếp cận đề tài cho các em
- Tính đảm bảo những mục tiêu cốt lõi: Luôn luôn phải xác định rằng, tiến hành phương pháp hội thảo văn học trong dạy học Ngữ văn ở nhà trường THPT không phải hướng tới mục tiêu cốt lõi là giúp HS trở thành những nhà nghiên cứu văn học chuyên nghiệp Bởi thế, mục tiêu cốt lõi đặt ra trong khi tiến hành hội thảo là tạo cơ hội cho các em rèn luyện kĩ năng là chủ yếu Trong đó, đặc biệt giúp các em phát triển kĩ năng tự học; kĩ năng giao tiếp và hợp tác; kĩ năng phản biện… Vì vậy, trong hội thảo văn học về các tác phẩm tự sự hiện đại trong
chương trình Ngữ văn lớp 11 nói chung, truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
nói riêng thì hướng tiếp cận đề tài từ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc là hoàn toàn phù hợp với những yêu cầu đặt ra Qua đó không chỉ rèn luyện kĩ năng mà còn góp phần phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự cho chính các em, bồi đắp thêm cho HS niềm hứng thú, say mê và xúc cảm trong những giờ học Ngữ văn tiếp theo
2.1.3 Cách thức tiến hành dạy học bằng biện pháp hội thảo văn học đối với văn bản Hai đứa trẻ (Thạch Lam) từ các chi tiết nghệ thuật có giá trị đặc sắc
- Bước 1: Giao đề tài
Ở bước này, sau khi GV và HS đã cùng nhau trao đổi và tìm được những kiến thức cốt lõi trong mục Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm; cùng Đọc hiểu khái quát về văn bản tự sự thông qua quá trình xâm nhập trực quan vào văn bản, có thể là đọc phân vai, sân khấu hóa, đọc diễn cảm, đọc lựa chọn …, sơ đồ hóa những
sự kiện chính của tác phẩm và cùng trao đổi, thống nhất cách tiếp cận văn bản, HS
có thể tự lựa chọn đề tài theo sự phát hiện của bản thân Trong trường hợp các em còn lúng túng, GV sẽ tiến hành gợi ý đề tài cho học sinh (có thể giao đề tài theo đơn vị tổ hoặc theo bàn học) Việc giao đề tài sẽ được tiến hành trước khoảng 1 tuần trước khi tiến hành hội thảo tùy theo độ phức tạp của đề tài được giao
- Bước 2: Tiến hành hội thảo
Các tổ sẽ cử thành viên trình bày trước lớp về các đề tài đã chuẩn bị, có thể trình bày trên máy chiếu, bằng sơ đồ tư duy hoặc bảng phụ Mỗi đề tài được trình bày trong khoảng 10 phút Hội thảo sẽ được tiến hành trong 1 hoặc nhiều tiết học theo sự sắp xếp của giáo viên dựa trên thời lượng chương trình dành cho văn bản được lựa chọn diễn ra hội thảo
- Bước 3: Trao đổi, tranh biện
Sau khi các đề tài đã được trao đổi, trên cơ sở lắng nghe, ghi chép và từ các dụng cụ trực quan, HS tiến hành trao đổi, tranh luận để đi đến thống nhất về những tri thức tìm được về chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong văn bản tự sự được đề cập trong hội thảo
- Bước 4: Kết luận
Trang 18Trên cơ sở những thống nhất của HS, GV sẽ chốt lại những kiến thức các em
đã tìm được; sắp xếp lại nhằm làm cho bài học có tính hệ thống, lôgic, dễ tiếp nhận Trường hợp có những phát hiện độc đáo, mới mẻ, xuất sắc, có thể biên tập lại và làm thành một dạng kỉ yếu hội thảo thu nhỏ của tập thể lớp (có thể gửi đăng báo, tạp chí chuyên ngành hoặc đăng trên nhóm youtube, facebook lớp, facebook
cá nhân …)
Với truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam), GV có thể gợi ý cho các em một
số đề tài về các chi tiết nghệ thuật đặc sắc để tham gia hội thảo văn học như sau:
Đề tài 1: Bóng tối dày đặc; ánh sáng bền bỉ trong Hai đứa trẻ (Chi tiết ánh sáng và bóng tối)
Đề tài 2: Ngọn đèn sáng mãi với thời gian trong Hai đứa trẻ (Chi tiết ngọn đèn con của chị Tí)
Đề tài 3: Ánh mắt soi chiếu một tâm hồn trong Hai đứa trẻ (Chi tiết ánh mắt của Liên)
Đề tài 4: Đoàn tàu - vệt sao băng trong đêm đen phố huyện (Chi tiết đoàn tàu)
Đề tài 5: Những thân phận người - sống hay tồn tại ? (Chi tiết miêu tả những thân phận người (cả người lớn lẫn trẻ con)
Sản phẩm hoạt động hội thảo văn học của HS được chúng tôi nêu ở phần phụ lục [5, tr.56]
Như vậy, biện pháp hội thảo văn học trong dạy học tác phẩm tự sự hiện đại
nói chung, truyện ngắn Hai đứa trẻ nói riêng là một trong những biện pháp cần
thiết để hình thành năng lực đọc hiểu văn bản cho các em; góp phần đổi mới phương pháp tiếp cận văn bản theo hướng phát triển năng lực của người học; trong
đó chú trọng hình thành và phát triển các nhóm năng lực quan trọng cho HS: năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực tự chủ và tự học; năng lực ngôn ngữ; năng lực tư duy và phản biện; năng lực thẩm mỹ …
2.2 Sử dụng biện pháp tranh biện
2.2.1 Biện pháp dạy - học Ngữ văn bằng tranh biện
Tranh biện là một trong những biện pháp dạy học hữu ích giúp HS giải
quyết những vấn đề mà bản thân còn đang cảm thấy mâu thuẫn, xung đột …, từ đó giúp các em nâng cao và mở rộng kiến thức, tôn trọng khách quan, đồng thời phát triển nhiều năng lực quan trọng, trong đó bặc biệt có năng lực phản biện Như vậy, biện pháp tranh biện là cách thức sử dụng ngôn ngữ và các yếu tố biểu đạt phi ngôn ngữ (bảng biểu, sơ đồ, mô hình ) bổ trợ để thể hiện quan điểm, chứng minh
ý kiến của mình là đúng, bác bỏ quan điểm phiến diện bằng hệ thống các lập luận khoa học Đó là cách giải quyết những xung đột, mâu thuẫn giữa các quan điểm khác nhau nhằm thuyết phục chính bản thân mình hoặc người khác đồng tình với
Trang 19những luận điểm mình đưa ra, qua đó chọn ra được phương án tối ưu cho các chủ thể được tranh biện
2.2.2 Dùng kĩ thuật so sánh
Đánh giá một văn bản nghệ thuật còn phải xem xét văn bản trong những tương quan so sánh đa chiều Tương quan so sánh đa chiều ở đây được hiểu là: so sánh hình tượng nghệ thuật này với hình tượng nghệ thuật khác; so sánh tác phẩm trong sự phát triển chung của giai đoạn; so sánh tác phẩm trong bối cảnh văn hóa
và thời đại; so sánh tác phẩm này với tác phẩm khác của cùng một tác giả, so sánh các chi tiết trong cùng một tác phẩm
Như vậy, khi dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam) từ hệ thống các
chi tiết nghệ thuật đặc sắc, có thể hướng học sinh so sánh để tranh biện trên các bình diện sau đây:
So sánh chi tiết nghệ
thuật giữa hai tác
phẩm của hai tác giả
cùng một trào lưu
Chi tiết miêu tả ánh sáng và
bóng tối trong Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù
Dạy học đọc hiểu văn
bản Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù
So sánh chi tiết nghệ
thuật giữa hai tác
phẩm của hai tác giả
khác trào lưu
Chi tiết ngọn đèn con của chị
Tí trong Hai đứa trẻ và chi tiết
bát cháo hành của thị Nở trong
Chí Phèo
Dạy học đọc hiểu văn
bản Hai đứa trẻ, Chí Phèo
So sánh chi tiết nghệ
thuật trong cùng một
tác phẩm
Chi tiết miêu tả ánh mắt của
Liên trong Hai đứa trẻ khi
chiều tàn, chợ tan, đêm tối, chờ tàu
Dạy học đọc hiểu văn
bản Hai đứa trẻ
Từ những phương diện so sánh như vậy, qua quá trình thảo luận, tranh biện,
sẽ giúp HS nhận ra, nhà văn Thạch Lam là nhà văn thuộc khuynh hướng văn học lãng mạn nhưng tác phẩm của Thạch Lam vẫn chan chứa giá trị hiện thực Văn Thạch Lam là sự kết hợp nhuần nhuyễn chất lãng mạn và hiện thực Tuy nhiên,
hiện thực trong Hai đứa trẻ nói riêng, các truyện ngắn của Thạch Lam nói chung,
phần lớn đào sâu vào tâm hồn con người; không phô diễn hiện thực đau đớn của cái đói khổ mà chủ yếu là cái tù tùng, ngột ngạt trong tâm hồn nhân vật - những con người bé nhỏ, đáng thương, tội nghiệp Con người trong văn Thạch Lam
dường như không nỡ nặng lời và độc ác với ai Những con người trong Hai đứa trẻ
sống bên rìa cuộc đời nhưng vẫn mơ hồ niềm tin và hi vọng…
Trang 202.2.3 Sử dụng sơ đồ
Trong quá trình dạy - học văn bản Hai đứa trẻ (Thạch Lam) từ hệ thống các
chi tiết nghệ thuật đặc sắc, chúng tôi đã sử dụng sơ đồ viền nhằm hướng dẫn HS có được những phát hiện mới mẻ độc đáo về điểm tương đồng và khác biệt giữa các chi tiết có liên quan
Qua hướng dẫn đối sánh, bằng tư duy phản biện, HS tìm ra điểm tương đồng
và khác biệt giữa các chi tiết Từ đó, HS có thể thấy rõ hơn, nhận thức sâu sắc hơn giá trị riêng của hệ thống chi tiết nghệ thuật trong từng văn bản hoặc giữa các văn bản với nhau
Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ có thể yêu cầu HS xác lập mối quan hệ giữa
chi tiết ánh mắt của Liên trong những không gian, thời gian khác nhau
Ánh mắt của Liên trong cảnh
Khác nhau
Giống nhau
Trang 21quê hương, xứ sở; mang nặng nỗi thương vay đối với những thân phận người Dẫu trong một miền đời đang dần bị lãng quên, nhưng cô bé ấy vẫn nhìn cuộc sống bằng ánh mắt của tình đời, tình người và niềm hi vọng vào ánh sáng nhỏ nhoi giữa một vũ trụ bao la làm mỏi trí nghĩ …
Dạy học văn bản Hai đứa trẻ, GV càng đặt ra những tình huống học tập có
vấn đề, có chủ đích thì càng hướng HS đến những tranh biện hiệu quả, nhằm đưa đến cho các em những hiểu biết sâu sắc về tác phẩm, hình thành thái độ sống tích cực, biện chứng, chan chứa tình yêu thương
Trong quá trình dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ từ hệ thống các chi tiết
nghệ thuật đặc sắc bằng biện pháp tranh biện, chúng tôi có thể sử dụng sơ đồ tư duy Lợi thế của hình thức dạy học bằng sơ đồ tư duy là đưa đến cho HS sự sáng tạo, chủ động; HS có thể bày tỏ quan điểm của bản thân bằng hệ thống lập ý khoa học, logic, thấu đáo và khi trình bày có thể lập luận một cách mạch lạc dựa trên nền tảng của sự lập ý sẵn có trên sơ đồ
Chúng tôi có thể đưa ra một gợi dẫn cụ thể khi dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ có sử dụng sơ đồ tư duy bằng biện pháp tranh biện như sau:
Về những chi tiết miêu tả ánh sáng và bóng tối trong Hai đứa trẻ, có những
quan điểm như sau:
1 Không gian trong Hai đứa trẻ là không gian của bóng tối ngự trị
2 Không gian trong Hai đứa trẻ là sự tương tranh mãnh liệt giữa bóng tối dày đặc và ánh sáng bền bỉ
Quan điểm của anh/ chị ?
GV hướng dẫn HS suy nghĩ tìm kiếm câu trả lời, trình bày kết quả tìm hiểu của cá nhân hoặc nhóm bằng sơ đồ tư duy
Sản phẩm sơ đồ tư duy của HS được chúng tôi nêu ở phần phụ lục [6, tr.57]
Ánh sáng và bóng
tối
Tối trên đường ra sông
Tối trên đường ra chợ
Tối ở các ngõ vào làng
Vũ trụ thăm thẳm
Ngọn đèn con Ngàn sao lấp lánh
Đom đóm
Trang 22Đứng trước hai ý kiến khác nhau nêu trên, HS sẽ có sự lựa chọn và lí giải của riêng mình Bằng lập luận, HS chứng minh cho quan điểm đã lựa chọn Các
HS khác sẽ có quyền tranh biện nhằm tìm ra ý kiến đúng Qua đó không những giúp HS rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản tự sự từ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc mà mà còn giúp cho các em hình thành tư duy và kĩ năng phản biện
2.3 Sử dụng mô hình Trường teen trên VTV7
Trường teen là một chương trình tranh biện rất hấp dẫn dành cho HS THPT
trên toàn quốc Đây là một chương trình phát triển cho HS năng lực phản biện; năng lực giao tiếp và hợp tác Đặc biệt, nó giúp các em phát triển khả năng ứng biến linh hoạt, tư duy nhanh nhạy trong những thời gian ngắn; khả năng bao quát nhiều mặt về những vấn đề khác nhau trong đời sống xã hội Chúng tôi đã áp dụng
mô hình Trường teen vào việc giảng dạy truyện ngắn Hai đứa trẻ từ hệ thống các
chi tiết nghệ thuật đặc sắc và đã thu được những kết quả hết sức tích cực: HS hào hứng, tranh biện tích cực; không khí lớp học sôi nổi, dân chủ, nâng cao được năng lực đọc hiểu văn bản tự sự từ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc …
GV có thể gợi dẫn HS tham gia tranh biện theo mô hình Trường teen như sau:
- Bước 1: Hướng dẫn thể lệ, cách thức
Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, gợi ý các đề tài tranh biện Các tổ thảo luận, cử ra 3 bạn đại diện cho tổ tham gia tranh biện với các nhóm của tổ khác, mỗi lượt tranh biện diễn ra trong 3 phút BGK gồm giáo viên và 2 học sinh của 2 tổ không tham gia tranh biện, cho điểm theo thang điểm 10 trên các phương diện: Phong thái - Tính thuyết phục - Sức hấp dẫn - Sự mạch lạc trong triển khai luận điểm
- Bước 2: Giao đề tài
Đề tài tranh biện hướng tới mục đích tạo tình huống tranh luận, hình thành năng lực phản biện, rèn luyện kĩ năng trình bày, khả năng lập luận và tiếp cận văn bản tự sự từ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc, làm sâu sắc hơn cách hiểu về văn bản,
có thể không theo cấu trúc lô gic của kiểu bài học truyền thống
- Bước 3: Tiến hành tranh biện
Các nhóm tiến hành tranh biện theo các đề tài đã chuẩn bị Các nhóm sẽ tiến hành 3 cặp tranh biện theo đề tài được gợi ý và chuẩn bị
- Bước 4: Tổng kết
Giáo viên tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm chung Những màn tranh biện xuất sắc có thể đưa lên facebook, youtube cá nhân (lớp) …
*Ví dụ minh họa: Tranh biện về văn bản Hai đứa trẻ (Thạch Lam, SGK
Ngữ văn 11, tập 1), có thể gợi ý cho học sinh các đề tài:
Trang 23Hoạt động tranh biện về truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam) không những
tăng cường cho HS năng lực đọc hiểu văn bản tự sự từ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc, mà còn giúp các em rèn luyện, hình thành cho mình những năng lực hết sức cần thiết trong cuộc sống hiện đại: năng lực tự học và giải quyết vấn đề; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực tư duy; năng lực phản biện… Tất cả đều góp phần đáp ứng quá trình đổi mới theo Đề án đổi mới giáo dục năm 2018 trên cơ sở phát huy năng lực người học; chuyển từ giáo dục nội dung sang giáo dục kĩ năng, hình thành cho HS những phẩm chất của công dân trong thời đại mới
Trang 242.4 Sử dụng phương pháp trực quan
2.4.1 Phương pháp trực quan trong dạy học Ngữ văn
Trong dạy học, trực quan là nguyên tắc của lý luận dạy học Trực quan trong dạy học phải dựa trên những hình ảnh cụ thể được học sinh trực tiếp tri giác Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: trực quan nghĩa là dùng những vật cụ thể hay ngôn ngữ, cử chỉ làm cho HS có được hình ảnh cụ thể về những điều đã học Như vậy, trực quan là một khái niệm biểu thị tính chất của hoạt động nhận thức, trong đó, những thông tin nhận được về các sự vật và hiện tượng của thế giới bên ngoài được cảm nhận trực tiếp từ các cơ quan cảm giác của con người
Dạy học trực quan (hay còn gọi là trình bày trực quan) là PPDH sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới; khi ôn tập, khi củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS
Trong hệ thống môn học, Ngữ văn là một trong những môn học chủ yếu sử dụng ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng nghệ thuật, nên việc sử dụng phương tiện trực quan có phần gặp khó khăn so với các môn khoa học tự nhiên Vì vậy, giáo viên khi sử dụng phương tiện trực quan không nên quá lạm dụng mà phải phát huy trí tưởng tượng của người học Để việc sử dụng phương tiện trực quan có hiệu quả trong dạy học Văn, giáo viên có thể sử dụng dạng sơ đồ hóa, sơ đồ tư suy, tranh ảnh, video … nhằm kích thích ở học sinh sự quan sát, lắng nghe và ghi nhớ một cách lâu dài Ngoài ra, khi sử dụng những bảng biểu, sơ đồ điền khuyết sẽ tác động đến năng lực tư duy, sự nhanh nhẹn và tinh thần học tập ở các em, thực hiện
đúng nguyên lí của triết học Mác - Lênin: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng; từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó là quá trình của sự nhận thức chân lý khách quan ở mỗi con người trong hoạt động thực tiễn
2.4.2 Sử dụng sơ đồ tư duy
Tiếp cận truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam), có thể sử dụng một số sơ đồ
tư duy để xác lập về hệ thống các chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm: không gian, thời gian; con người; ánh mắt của nhân vật Liên; đoàn tàu; ngọn đèn con …
Ví dụ 1: HS tìm các chi tiết để xác lập sơ đồ tư suy về thế giới người lớn
và trẻ con trong Hai đứa trẻ Từ đó phát biểu những suy nghĩ cá nhân về hai thế
giới ấy
Thế giới người lớn
và trẻ em
Cụ Thi điên Đám trẻ con
nhà nghèo
Mẹ con chị Tí Chị em
Liên
Gia đình bác xẩm,
Trang 25Ví dụ 2: Tìm các chi tiết miêu tả về hình ảnh ngọn đèn con của chị Tí để
hoàn thiện sơ đồ tư duy sau Từ đó phát biểu về thông điệp mà nhà văn Thạch Lam muốn gửi gắm
Ví dụ 3: HS tìm các chi tiết miêu tả hình ảnh đoàn tàu đi qua đêm đen phố huyện
để xác lập sơ đồ tư duy Từ đó đánh giá ý nghĩa của hình ảnh
Sản phẩm sơ đồ tư duy của HS được chúng tôi nêu ở phần phụ lục [8, tr.58]
2.4.3 Sử dụng kĩ thuật KWL
Trên thực tế, kĩ thuật KWL cũng là một dạng sơ đồ hóa theo hình thức trực quan trên nền tảng của 3 yếu tố: Cái đã biết - Cái muốn biết - Cái học được Ưu thế của kĩ thuật này là HS dễ áp dụng và có thể vận dụng kĩ năng diễn đạt, trình bày để hình thành và phát triển cho bản thân các năng lực: giao tiếp và hợp tác; tư duy và ngôn ngữ
Đối với truyện ngắn Hai đứa trẻ, khi phát triển năng lực đọc hiểu cho HS
dựa trên hệ thống các chi tiết nghệ thuật đặc sắc, có thể áp dụng kĩ thuật KWL để giúp các em đánh giá được ý nghĩa của các chi tiết; thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm; bài học cho bản thân từ chi tiết
Ví dụ 1: Khi tiếp nhận chi tiết miêu tả ánh sáng trong Hai đứa trẻ, có thể
Trang 26xác lập bảng KWL như sau:
Các chi tiết miêu tả ánh
sáng
Ý nghĩa của chi tiết Thông điệp từ chi tiết
bền bỉ và không kém phần mãnh liệt; luôn cố gắng tương tranh với bóng tối bủa vây dày đặc trong đêm đen phố huyện
Sự sống của những con người vẫn tiếp diễn; niềm
hi vọng mong manh về tương lai vẫn không lụi tàn; vẫn thao thức đầy bận bịu trong lòng người đọc
Ví dụ 2: GV có thể yêu cầu HS tiếp nhận chi tiết ánh mắt của cô bé Liên
bằng cách hoàn thiện bảng KWL như sau:
Các chi tiết miêu tả ánh
mắt của cô bé Liên
Ý nghĩa của chi tiết Thông điệp từ chi tiết
huyện, với đất và người nơi đây bằng một tình yêu máu thịt; bằng tất cả những rung cảm vừa mơ mộng, vừa trĩu nặng yêu thương của một cô bé mới lớn
Trong cái buồn bã, lụi tàn của một ngày, con người
ta vẫn sống bằng những rung cảm của tình yêu; của sự gắn bó, của lòng yêu quê hương xứ sở Nó nhắc nhớ mỗi con người
về nguồn cội, về quê hương, về tình người, tình đời thiết tha, ấm áp
nhìn đồng ruộng
nhìn phiên chợ tàn
nhìn đám trẻ con
nhìn bầu trời đêm
nhìn người dân phố huyện
nhìn đoàn tàu
Ví dụ 3: Khi tìm hiểu về chi tiết ngọn đèn con của chị Tí, GV có thể yêu cầu
HS xác lập bảng KWL sau:
Các chi tiết miêu tả
ngọn đèn con của chị Tí
Ý nghĩa của chi tiết Thông điệp từ chi tiết
Trang 27ngọn đèn hoa kì Lay lắt, yếu ớt trong sự
mỏi mòn nhưng bền bỉ, sáng mãi từ lúc phố huyện vào đêm đến cuối thiên truyện Đó là sự tàn
tạ của cuộc sống và con người nhưng cũng là niềm tin, là hi vọng vào một cuộc sống khác tốt đẹp hơn dẫu còn mơ hồ ở tương lai …
Trong bất cứ hoàn cảnh nào thì cuộc sống vẫn không bao giờ chán nản Văn Thạch Lam, bởi vậy,
có nỗi buồn thương, bận bịu vô hạn nhưng không bao giờ mất niềm tin và lòng cảm thương chân thành từ những chân cảm của ông dành cho những kiếp người nhỏ bé trong
xã hội trước năm 1945 …
liệu cho quá trình học tập… Đối với quá trình dạy học văn bản Hai đứa trẻ, GV có
thể cho học sinh xem một số hình ảnh, một số video phóng sự về mảnh đất Cẩm Giàng, Hải Dương với phố huyện, với sân ga xép hằng ngày con tàu vẫn ngược xuôi qua lại, với những đứa trẻ mưu sinh trong buổi chiều hoàng hôn và cả với những buổi tối bình lặng nơi phố huyện nghèo tịch mịch và đầy bóng tối Tất cả sẽ
giúp cho các em hình dung rõ hơn bối cảnh thời Thạch Lam viết Hai đứa trẻ và
hiểu rõ hơn cảm hứng từ sự trải nghiệm của chính bản thân nhà văn khi đã có một thời gian dài của tuổi thơ, ông cùng người chị gái của mình đã gắn bó mật thiết với mảnh đất này Bằng sự trải nghiệm, bằng tấm lòng chân cảm dành cho đất và người, Thạch Lam đã viết nên những trang văn thấm đẫm chất thơ để đưa đến cho độc giả nỗi xót thương cho những thân phận người, thân phận của những đứa trẻ
đang sống không có tuổi thơ Hai đứa trẻ gieo vào lòng người đọc hôm nay những
khoảng lặng, những câu hỏi day dứt về biết bao thân phận trẻ thơ không chỉ của thời Thạch Lam sống mà còn trong những năm đầu của thế kỉ XXI này …!
Có thể cho các em cùng lên Chuyến tàu văn chương của chương trình Dặm dài đất nước của VTV24 theo đường link: https://youtu.be/bS0aTNvbL9Y để cùng
sống lại những xúc cảm của Thạch Lam khi ông viết Hai đứa trẻ
Trang 282.4.5 Dạy học qua trải nghiệm
Ngoài ra, tiếp cận văn bản Hai đứa trẻ từ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc, GV
có thể cho các em hóa thân, nhập vai vào một số phân đoạn trong truyện ngắn để phát triển năng lực thẩm mỹ; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực ngôn ngữ cho các em Có thể cho các em hóa thân vào cảnh chờ tàu của chị em Liên và An (Kịch bản có thể do HS tự thiết kế hoặc GV hướng dẫn)
Gợi ý kịch bản: CẢNH CHỜ TÀU (Thời gian từ 10 - 15 phút)
Bối cảnh: Diễn trong lớp học
Cảnh 1
Không gian: ga xép (bục giảng lớp học)
Thời gian: đêm khuya (đèn tắt, buông rèm cửa)
Âm thanh: yên tĩnh
Đạo cụ: một chiếc chõng tre, một vài món hàng lặt vặt: kẹo, xà phòng… bày trên chõng
Diễn viên: An (nam, em); Liên (nữ, chị)
- An (ngáp ngủ): Khi nào tàu đến, chị nhớ gọi em dậy với nhé!
- Liên: Ừ, em cứ ngủ đi
(An ngả đầu vào đầu gối chị, chìm sâu vào giấc ngủ Liên vuốt tóc em; ánh mắt nhìn ra không gian tĩnh lặng xung quanh với tâm trạng thấp thỏm, chờ đợi)
Trang 29Cảnh 2:
Không gian: ga xép (bục giảng lớp học)
Thời gian: đêm khuya (đèn tắt, buông rèm cửa)
Âm thanh: náo động (phát âm thanh tiếng còi tàu đã chuẩn bị kết hợp bật đèn pin minh họa cho ánh sáng của đoàn tàu)
Đạo cụ: một chiếc chõng tre, một vài món hàng lặt vặt: kẹo, xà phòng… bày trên chõng
Diễn viên: An (nam, em); Liên (nữ, chị)
- Liên (lay vai em gấp gáp, giục giã): Dậy đi, An, tàu đến rồi!
- An bật tỉnh, ngồi lên chõng tre
- An nắm tay em, cả hai chị em đứng dậy để nhìn đoàn tàu
(Bật âm thanh tiếng còi tàu; bật đèn pin đã chuẩn bị; bật những đoạn giao tiếp đã được chuẩn bị sẵn (có thể lấy những đoạn đối thoại của những người đi chợ về trong Chí Phèo; lấy đoạn đối thoại giữa ông giáo và lão Hạc trong Lão Hạc …)
- An: Tàu hôm nay không đông chị nhỉ?
- Liên: Ừ, nhưng tàu từ Hà Nội về em ạ!
Cả hai yên lặng, nhìn ra xa, nghĩ về một Hà Nội trong tâm tưởng (phát đoạn lồng tiếng đã chuẩn bị: Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo Hà Nội nhiều đèn quá Ở đó có Bờ Hồ; có những cốc nước lạnh xanh đỏ với một vùng sáng rực và lấp lánh Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua Một thế giới khác hẳn với ngọn đèn chị Tí và ánh lửa của bác Siêu Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng)
- An: Thôi, đi ngủ đi chị!
(An dựa vào vai Liên thiêm thiếp ngủ Liên vuốt tóc em, ánh mắt vẫn nhìn ra ngoài như đang sống với thế giới của tâm tưởng, của Hà Nội tươi đẹp trong kí ức
…)
(Tắt âm thanh, tắt đèn) Kết thúc phân cảnh
Sản phẩm hoạt động trải nghiệm của HS được chúng tôi nêu ở phần phụ lục
[10, tr.59]
2.5 Sử dụng phương pháp trò chơi
2.5.1 Phương pháp trò chơi trong giảng dạy môn Ngữ văn
Phương pháp tổ chức chơi trò chơi hiện nay là một trong những phương pháp phổ biến trong dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ Văn nói riêng nhằm
Trang 30hướng tới mục tiêu vừa hình thành năng lực phẩm chất, vừa phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Người giáo viên khi áp dụng phương pháp này vào dạy học sẽ tạo
ra không khí lớp học sôi nổi, tạo môi trường, điều kiện cho nhiều HS được tham gia hoạt động học tập hơn (kể cả những học sinh trung bình, yếu, kém)
Phương pháp tổ chức chơi trò chơi trong dạy học sẽ phát huy tinh thần, định
hướng học tập trong giai đoạn mới hiện nay, đó là Chủ động, sáng tạo; học mà chơi, chơi mà học Qua quá trình học tập, hợp tác, nghiên cứu, tìm hiểu nội dung
bài học, HS sẽ nêu cao tinh thần đoàn kết, ý thức tự giác, chủ động tự học, tự sáng tạo, có kĩ năng tự xử lí tình huống, tiếp nhận thông tin, giải quyết các vấn đề thực tiễn phát sinh Như vậy quá trình học tập sẽ vừa sôi nổi, hào hứng vừa vui chơi, vừa học tập một cách có hiệu quả
2.5.2 Cách thức tiến hành phương pháp trò chơi trong dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ từ hệ thống các chi tiết nghệ thuật có giá trị đặc sắc
- Bước 1: Lựa chọn trò chơi
Các trò chơi lựa chọn trong tiết học, có thể là trò chơi dạng ô chữ, dạng đi tìm mật thư, ai là triệu phú, mảnh ghép bí mật, đuổi hình bắt chữ… nhưng luôn phải chú ý, các câu hỏi của trò chơi được đều phải liên quan mật thiết đến các chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong văn bản được lựa chọn
- Bước 2: Tiến hành trò chơi
Có thể chia lớp thành nhiều đội để thi với nhau trong các trò chơi được lựa chọn Các trò chơi có thể được trình chiếu trên màn hình ti vi, máy chiếu hoặc thông qua hệ thống phiếu học tập cá nhân …
Ví dụ:
Hãy tìm các chi tiết đặc sắc trong truyện ngắn Hai đứa trẻ được nhắc đến
trong ô chữ Tương ứng với mỗi chi tiết tìm được, hãy giải thích ngắn gọn ý nghĩa của chi tiết đó
Trang 31về ý nghĩa của từ khóa sẽ giành chiến thắng
Ví dụ:
Trang 32Mảnh ghép số 1: Thứ mùi vị khiên cho Liên cảm giác như đó là mùi riêng của đất, mùi của quê hương này
Mảnh ghép số 2: Một thế giới được Thạch Lam miêu tả hoàn toàn đối lập với thế giới bị lãng quên nơi phố huyện nghèo
Mảnh ghép số 3: Thứ đồ vật được nhà văn Thạch Lam miêu tả cũng tàn tạ như thế giới của con người nơi phố huyện
Mảnh ghép số 4: Hình ảnh gợi cảm giác ngậm ngùi, xót xa bởi ấn tượng về
sự đói nghèo khiến chị em Liên trông thấy cũng động lòng thương
Mảnh ghép số 5: Hình ảnh đánh thức ở độc giả hồn cốt của làng quê nước Việt Mảnh ghép số 6: Cái bao trùm lên toàn bộ cuộc sống và con người nơi phố huyện nghèo
Mảnh ghép số 7: Cái Liên hướng tới khi dõi ánh mắt lên bầu trời đêm thăm thẳm của phố huyện nghèo
Mảnh ghép số 8: Âm thanh báo hiệu cho một ngày tàn trong Hai đứa trẻ
Đáp án:
1 Mùi cát bụi 2 Đoàn tàu 3 Cái chõng tre
4 Đám trẻ con 5 Dãy tre làng 6 Bóng tối
7 Ngàn sao 8 Tiếng trống thu không
Hình ảnh của Mảnh ghép bí mật: Ngọn đèn con của chị Tí
2.6 Sử dụng phương pháp kiểm tra năng lực bằng rubric
2.6.1 Những yêu cầu khi sử dụng phương pháp kiểm tra năng lực bằng rubric trong giảng dạy môn Ngữ văn
Để xây dựng rubric đánh giá có hiệu quả, giáo viên cần thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: Xác định chuẩn kiến thức kĩ năng của kiến thức ở nội dung bài học