Với một GVNgữ văn, điều này gây không ít băn khoăn.Xuất phát từ những câu hỏi khoa học nêu trên đồng thời đáp ứng yêu cầu của dạy học hiện đại và góp một chút nhỏ tăng thêm tình yêu đối
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục nước ta hiện nay đã và đang không ngừng đổi mới về chươngtrình, phương pháp, về tư duy trong dạy và học để thích nghi với thế giới đang rấtnhiều biến động Dạy và học môn Ngữ văn cũng nằm trong xu thế đổi mới ấy Cácnhà nghiên cứu, các nhà giáo dục, những người yêu văn chương luôn đặt ra câu hỏiphải làm thế nào để đưa môn Ngữ văn trở về với vị trí xứng đáng của nó?
Giáo sư Phan Trọng Luận luôn trăn trở: "Vấn đề thứ nhất là chương trìnhmột môn học thay đổi như thế nào chứ không phải là có nên thay đổi hay không?".Như mọi người đều biết, chương trình dạy học văn đã thay đổi từ ba phân mônđược xây dựng tách rời, độc lập đến chương trình Ngữ văn mới được xây dựngtheo nguyên tắc tích hợp Tích hợp ở đây được hiểu là sự gắn kết, phối hợp cáclĩnh vực tri thức gần nhau của các phân môn Đọc-văn, Tiếng Việt, Làm văn nhằmhình thành và rèn luyện tốt các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe cho học sinh.Chương trình giáo dục phổ thông 2018 thực hiện ở cả 3 cấp học được xây dựngtheo hình thức cuốn chiếu và năm học tới 2022-2023 sẽ thực hiện cho học sinh lớp
10 THPT
Theo tinh thần của chương trình GDPT 2018 được xây dựng theo trục Viết- Nói và Nghe nhằm hình thành cho các em năng lực ngôn ngữ ở tất cả cáchình thức: đọc, viết, nói và nghe, trong đó bao gồm cả năng lực tìm kiếm và xử líthông tin từ nhiều nguồn khác nhau để viết và nói; giúp HS sử dụng tiếng Việtchính xác, mạch lạc, có hiệu quả và sáng tạo với những mục đích khác nhau trongnhiều ngữ cảnh đa dạng
Đọc-Số tiết dạy đọc hiểu văn bản ở cả chương trình hiện hành và chương trìnhGDPT 2018 thực hiện ở năm học tới chiếm tỉ lệ lớn vì thế khi dạy đọc- hiểu vănbản cho học sinh ở trường THPT giáo viên phải vận dụng một cách tổng hợp cáctri thức và kĩ năng không chỉ của Ngữ Văn mà còn huy động các kiến thức và kĩ
năng của các môn học khác nhằm đáp ứng yêu cầu về sự tăng lên của khối lượng
tri thức ngày càng cao của cuộc sống hiện đại
Trọng tâm vẫn là thông qua những văn bản văn học đặc sắc, giúp HS pháttriển năng lực thẩm mỹ, nhạy cảm và tinh tế với các sắc thái của tiếng Việt, giúp
HS biết đọc và có hứng thú đọc các tác phẩm văn học, biết viết, thảo luận và cóhứng thú viết, thảo luận về các văn bản cùng thể loại nhờ đó các em có cơ hộikhám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có cá tính và đờisống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn
Giúp HS phát triển năng lực tư duy, đặc biệt là tư duy suy luận, phản biện,biết đánh giá tính hợp lí và ý nghĩa của những thông tin và ý tưởng được tiếp nhận;giúp HS phát triển năng lực tưởng tượng và sáng tạo, sự tự tin, năng lực tự lập,năng lực hợp tác và tinh thần cộng đồng
Trang 2Giúp HS hình thành và phát triển phương pháp học tập, nhất là phương pháp
tự học để có thể tự học suốt đời và biết ứng dụng những kiến thức và kĩ năng họcđược vào cuộc sống Nhờ được trang bị kiến thức, kĩ năng và có kinh nghiệm đọcnhiều kiểu văn bản (VB) khác nhau trong nhà trường, khi trưởng thành, HS có thể
tự đọc sách để không ngừng nâng cao vốn tri thức và văn hóa cần thiết cho cuộcsống và công việc
Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản và hiện đại về tiếng Việt
và văn học, góp phần phát triển vốn tri thức căn bản của một người có văn hóa.Giúp HS có được hiểu biết về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn học với đời sống
xã hội
Bồi dưỡng cho HS có thái độ tích cực và tình yêu đối với tiếng Việt và vănhọc, qua đó biết trân trọng, giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam, cóthói quen và niềm vui đọc sách, có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhânloại, có khả năng hội nhập quốc tế, trở thành những công dân toàn cầu, nhưng luôn
có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc Việt Nam
Ngoài ra chương trình Ngữ văn ở bậc trung học phổ thông, môn Ngữ văn còn cóthêm mục tiêu trang bị kiến thức và kĩ năng theo định hướng nghề nghiệp của HS.Chẳng hạn, những HS có xu hướng học đại học những ngành nghề có liên quantrực tiếp đến Ngữ văn thì được học sâu hơn dưới hình thức các chuyên đề tự chọn
Chương trình Ngữ văn 2018 được xây dựng theo trục Đọc Viết-nói Và Nghenhưng Đọc hiểu văn bản là nội dung dạy học then chốt của môn Ngữ văn
Thứ nhất, giáo viên cần xác định rõ vị trí của dạy học đọc hiểu văn bản nhìn
từ cấu trúc chương trình:
- Đọc hiểu văn bản là nội dung dạy học quan trọng bậc nhất, khi chương trình
đã xác định rõ hai trục chính của dạy học Ngữ văn là đọc văn và làm văn.
- Thời gian dành cho dạy học đọc hiểu văn bản chiếm phần lớn thời gian dạyhọc toàn môn học
- Phần cung cấp dữ liệu phục vụ trực tiếp cho dạy học đọc hiểu văn bảnchiếm phần lớn số trang của sách giáo khoa Ngữ văn cả trong chương trình hiệnhành và SGK chương trình giáo dục phổ thông 2018
Thứ hai, giáo viên dạy Ngữ văn cũng cần xác định thêm vị trí của dạy học đọc hiểu văn bản nhìn từ mục tiêu của môn Ngữ văn Dạy học đọc hiểu văn bản đảm
bảo phần lớn mục tiêu bồi dưỡng “tri thức ngữ văn” cho học sinh (tri thức ngữ văn
là một thuật ngữ mang tính quy ước, dùng để chỉ các loại tri thức mà môn Ngữ văn
có nhiệm vụ đưa đến/bồi dưỡng/ củng cố cho học sinh hoặc giúp học sinh tự kiếntạo cho mình trong quá trình học)
Thứ ba, vị trí của dạy học đọc hiểu văn bản nhìn từ hoạt động kiểm tra, đánh giá
Trang 3- Nội dung kiến thức của dạy học đọc hiểu cũng là nội dung chính của kiểmtra, đánh giá (không chỉ đối với học sinh mà còn đối với cả giáo viên).
- Phương pháp dạy học đọc hiểu là thước đo chính để đánh giá việc thựchiện đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên Ngữ văn
- Năng lực dạy học đọc hiểu là tham số quan trọng nhất để đánh giá năng lựcdạy học của giáo viên Ngữ văn (trong những kỳ thi giáo viên giỏi, giáo viên gầnnhư bắt buộc phải dạy một “bài” đọc hiểu văn bản, ngoài những “bài” khác, hoặclàm văn, hoặc tiếng Việt)
Trong chương trình SGK Ngữ văn 2018 đã rất chú ý vấn đề dạy đọc Đọc làmột trong bốn kĩ năng chính cần xác lập cho người học trong chương trình giáo dục phổ thông mới
Như vậy mục tiêu cốt lõi của hoạt động đọc là giúp học sinh nắm được cáchđọc, rèn được cách đọc, từ đó có năng lực đọc, chiếm lĩnh cách đọc, có đượcnhững tri thức cần thiết về cách đọc để khi học sinh tiếp nhận với bất kì văn bảnnào cùng loại thì vẫn đọc hiểu được Nhằm giúp học sinh ở cấp THPT được trang
bị thật kĩ lưỡng những kĩ năng quan trọng, cần thiết, các em cần được giáo dục đểtrở thành những thanh niên mạnh dạn, tự tin, chủ động và sáng tạo trong giao tiếp
và công việc, có khả năng giải quyết vấn đề một cách độc lập trong nhiều tìnhhuống Chúng ta còn nhớ cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng phát biểu quan điểmchỉ đạo việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường phổ thông: "Ngày nay, sự hiểubiết của con người luôn luôn đổi mới Cho nên dù học được trong nhà trường baonhiêu chăng nữa cũng chỉ là rất hạn chế Thế thì cái gì là quan trọng? Cái quantrọng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập,phải tìm tòi phương pháp vận dụng kiến thức, phải vận dụng tốt nhất bộ óc củamình " Như vậy dạy học văn là một quá trình rèn luyện toàn diện cho nên giáoviên phải không ngừng trăn trở đổi mới về phương pháp dạy học bộ môn nóichung, phương pháp dạy đọc hiểu văn bản nói riêng Việc hình thành và củng cốkiến thức thể loại vào dạy học đọc hiểu văn bản cũng đồng thời đáp ứng được yêucầu trên Theo định hướng của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn
2018, việc hình thành kiến thức ngôn ngữ và văn học cho học sinh (HS) phải đượctích hợp với các hoạt động đọc, viết, nói và nghe Từ định hướng đó, sách giáokhoa (SGK) Ngữ văn sẽ được thiết kế theo mô hình tổ chức hoạt động thay cho môhình cung cấp kiến thức Làm thế nào để qua các hoạt động, HS có thể có đượcmột nền tảng kiến thức vững vàng, đó là một vấn đề hiện nay cần được đặc biệtchú ý nghiên cứu
Muốn thực hành đọc tốt văn bản (VB), người đọc phải có được những kiếnthức cơ bản về loại, thể loại Nhưng hiện nay, trong khi Chương trình và SGKkhông bố trí những tiết học riêng (mang tính lí thuyết) về loại, thể loại VB, giáoviên (GV) cần phải làm gì để cuộc tiếp xúc của HS với VB được diễn ra thuận lợi?
Rõ ràng đây là một câu hỏi khó cần được tìm hiểu, giải đáp
Trang 4Kiến thức về thể loại VB vốn rất phong phú, nhưng trong nhà trường phổthông, phạm vi kiến thức đó cần được xác định theo nguyên tắc nào và và việc xâydựng quy trình tiếp nhận kiến thức đó phải đảm bảo điều kiện gì? Với một GVNgữ văn, điều này gây không ít băn khoăn.
Xuất phát từ những câu hỏi khoa học nêu trên đồng thời đáp ứng yêu cầu của dạy học hiện đại và góp một chút nhỏ tăng thêm tình yêu đối với môn Ngữ văn là động lực giúp tôi lựa chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Hình thành và củng cố
tri thức thể loại trong dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ văn 10 Trung học phổ thông theo chương trình 2018” Trong khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm
này, tôi xin định hướng một số biện pháp hình thành, củng cố kiến thức về thể loại vào dạy học đọc- hiểu Văn bản Ngữ văn 10 THPT theo định hướng chương trình
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định rõ, đối tượng nghiên cứu của sáng kiến kinh
nghiệm là vấn đề hình thành và củng cố kiến thức về thể loại cho HS lớp 10 qua hoạt động đọc VB theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018
3 Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Hiện nay, SGK theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018đang được biên soạn theo hình thức cuốn chiếu Trong năm học tới 2021-2022,
SGK Ngữ văn 10 sẽ chính thức được dạy học trong nhà trường trung học phổ
thông (THPT) Chúng tôi may mắn có được điều kiện thuận lợi là nghiên cứu trướcchương trình SGK Ngữ Văn 10 trên bản mềm theo chương trình giáo dục phổthông 2018 Để tạo thuận lợi cho việc khai thác tài liệu và triển khai hoạt động dạyhọc trong năm học tới 2022-2023, sáng kiến kinh nghiệm của chúng tôi chỉ tậptrung bàn về vấn đề hình thành và củng cố kiến thức về thể loại cho HS lớp 10
- Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chung
- Nghiên cứu dựa trên thực tiễn giảng dạy và quá trình giảng dạy tại trườngTHPT Yên Thành 3 và các trường THPT trên địa bàn huyện Yên Thành
- Phạm vi nghiên cứu và triển khai thực hiện: Để thực hiện được đề tài này, tôidựa vào SGK Ngữ văn lớp 10 (Ban cơ bản) chương trình hiện hành và SGK Ngữ
văn 10 chương trình GDPT mới 2018
Trang 5- Đối tượng nghiên cứu: Là học sinh lớp lớp 10 trường THPT Yên Thành 3 và
HS lớp 10 các trường THPT trên địa bàn huyện Yên Thành
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
– Khái quát tình hình nghiên cứu vấn đề hình thành và củng cố kiến thức vềthể loại cho HS qua hoạt hoạt động đọc VB
– Thuyết minh về các khái niệm cơ sở của đề tài
– Xây dựng hệ thống nguyên tắc và biện pháp hình thành, củng cố kiến thứcthể loại cho HS lớp 10 qua hoạt động đọc VB
– Tiến hành thực nghiệm để xác nhận tính hiệu quả của những biện pháp dạyhọc đã đề xuất
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, chúng tôi phối hợp sử dụngnhiều phương pháp thuộc hai nhóm: nghiên cứu lý thuyết (tài liệu) và nghiên cứuthực tiễn Cụ thể, các phương pháp chính được sử dụng là:
- Phân tích và tổng hợp lý thuyết (tài liệu);
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương phápThực nghiệm
5 Đóng góp của đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Sáng kiến kinh nghiệm đã nêu được một hệ thống biện pháp mang tính khả thinhằm xác lập cho HS một nền tảng kiến thức cơ bản về thể loại, giúp cho việc tổchức hoạt động đọc văn bản đạt được kết quả tích cực, đảm bảo định hướng pháttriển năng lực và phẩm chất của người học
6 Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm
Phần I Đặt vấn đề
1 Lý do chọn đề tài
2 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
3 Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm
Phần II Nội dung nghiên cứu
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
1.1.Cơ sở lý luận của đề tài1.2.Cơ sở thực tiễn của đề tài
Trang 6Chương 2 Một số nguyên tắc và biện pháp hình thành, củng cố kiến thức về thể loại cho học sinh lớp 10 qua hoạt động đọc văn bản.
2.1 Nguyên tắc hình thành, củng cố kiến thức về thể loại cho học sinh lớp
10 qua hoạt động đọc văn bản
2.2 Các biện pháp hình thành, củng cố kiến thức về thể loại cho học sinh
lớp 10 qua hoạt động đọc văn bản
Chương 3 Thiết kế giáo án thực nghiệm
Phần III Kết luận và kiến nghị
Trang 7Phần II NỘI DUNG
1 CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận:
1.1.1.Thế nào là dạy học Đọc - hiểu văn bản?
Thuật ngữ đọc hiểu văn bản được dùng phổ biến từ khi bộ sách giáo khoa
Ngữ văn tích hợp ra đời (cuốn đầu tiên là Ngữ văn 6, xuất bản năm 2002 và Ngữ
văn 10, xuất bản năm 2006) Ở phạm vi hẹp hơn, thuật ngữ này đã được dùngchính thức trong chương trình Ngữ văn tổng thể, biên soạn năm 2000 Thuật ngữđọc hiểu được dùng song song với thuật ngữ đọc văn, tuy nhiên vẫn có sự phânbiệt Để gọi tên một loại giờ mà đối tượng khám phá - chiếm lĩnh của thầy và trò làvăn bản văn học, người ta có thể dùng thay thế lẫn nhau hai thuật ngữ đọc hiểu văn
bản và đọc văn Nhưng thuật ngữ đọc văn khá quen dùng chưa cho thấy rõ tính hướng đích của giờ học (hay hoạt động) khám phá văn bản văn học Đọc ở đây
không bó hẹp trong đọc diễn cảm mà phải gắn liền với sự hiểu - hiểu theo nghĩatoàn diện Rõ ràng, trong hệ thống thuật ngữ của môn Ngữ văn, đọc hiểu khôngđơn giản chỉ là nắm bắt một cách đại cương về văn bản
Với tên gọi đọc hiểu, giờ giảng văn hay phân tích tác phẩm văn học hay dạyhọc tác phẩm văn chương trước đây đã mang một tính chất khác Thuật ngữ mớitrong trường hợp này cần được nhìn nhận ở chiều sâu quan niệm, gắn với nỗ lựcđổi mới một loại hình hoạt động có lịch sử lâu đời nhưng cách tổ chức, vận hành
nó đã tỏ ra lỗi thời khi mục tiêu dạy học văn nói riêng, dạy học nói chung đã đổi
khác Trong Chương trình Ngữ văn THPT do GS Trần Đình Sử làm trưởng tiểu
ban biên soạn, 2002, khái niệm – thuật ngữ đọc hiểu được thuyết minh như sau:
“Đó là một quá trình bao gồm việc tiếp xúc với văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen,nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hình thức,biện pháp nghệthuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của ngườiviết và cả các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Đọc - hiểu là hoạt động
duy nhất để học sinh tiếp xúc trực tiếp với các giá trị văn học Đọc hiểu bắt đầu từ
đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm, hiểu nghĩa của hình thứccâu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính, cũng như chủ đề của tác phẩm
Lý giải những đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa xã hội nhân văn của tác phẩm trongngữ cảnh của nó Trong quá trình học đọc, HS sẽ biết cách đọc để tích lũy kiếnthức, đọc để lý giải, đọc để đánh giá và đọc sáng tạo, phát hiện HS sẽ học cáchtrích câu hay, trích chi tiết, trích ý, học cách thuyết minh, thuật lại nội dung vănbản đã học”
Khi mới xuất hiện, trong thuật ngữ đọc hiểu có dấu nối giữa đọc và hiểu(đọc - hiểu) Dấu nối đó có thể được xem như một tín hiệu gây chú ý, buộc ngườitiếp nhận/sử dụng phải có tư duy mới về thuật ngữ Nhưng giờ đây khi thuật ngữ
đã được dùng phổ biến và đã được hiểu một cách toàn diện, việc đặt dấu nối nàykhông còn cần thiết nữa
Trang 81.1.2 “Đọc” trong dạy học đọc - hiểu
Đọc là một năng lực thiết yếu của người học sinh, là một kỹ năng sống cần
được rèn luyện không ngừng Theo Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA (The Programme for International Student Assessment) của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới OECD (Organization for Economic Cooperation and
Development), trình độ đọc hiểu là một trong ba lĩnh vực chủ yếu để xác định nănglực học sinh ở giai đoạn cuối của giáo dục bắt buộc (hai lĩnh vực khác là toán học
và khoa học) Đọc hiểu chứa đựng những đòi hỏi nhiều mặt OECD đưa ra định
nghĩa như sau về trình độ đọc hiểu (reading literacy): “Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử
dụng và phản hồi lại trước một văn bản viết, nhằm đạt được mục đích, phát triển trithức và tiềm năng cũng như việc tham gia hoạt động của một ai đó trong xã hội1”
Trong định nghĩa này, biết đọc bao hàm sự biết giải mã (decoding) và sự thấu hiểu (comprehension) tư liệu, mà sự thấu hiểu thì gồm có hiểu (understanding), sử dụng (using) và phản hồi (reflecting) về những thông tin với nhiều mục.
Theo quan niệm của GS Đỗ Ngọc Thống, “Đọc - hiểu không chỉ là một yêucầu của suốt thời kỳ học tập trong nhà trường phổ thông, mà nó còn trở thành mộtnhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức, kỹ năng, chiếnlược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các hoạt động ởnhững tình huống khác nhau, trong mối quan hệ với người xung quanh, cũng như
trong cả cộng đồng rộng lớn” (Theo Đỗ Ngọc Thống, Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, tr 357)
1.1.3 “Hiểu” trong dạy học đọc hiểu văn bản
* “Hiểu” trong quan niệm thông thường:
Hiểu là sự nhận biết một tri thức Hiểu nghĩa là nắm được các tri thức vềđối tượng và biết cách vận dụng chúng để chiếm lĩnh đối tượng, chiếm lĩnhthực tại khách quan
Hiểu văn bản có nhiều mức: hiểu nghĩa đen của từ, câu, sự kiện được kể;hiểu nghĩa hàm ẩn của các yếu tố cấu thành văn bản; nắm bắt được chủ đề, thôngđiệp của tác phẩm; có xúc cảm và hành động tương ứng với những gì được gợi lên
từ văn bản
* Quan niệm về “hiểu” trong dạy học đọc hiểu văn bản hiện nay
Hiểu không đối lập với cảm mà ngược lại, trong hiểu có cảm – một thứ cảm
có chiều sâu, có căn cứ nhưng không hề loại bỏ trực giác Nói cách khác, nhấnmạnh vấn đề hiểu cũng chính là một hình thức thể hiện sự đòi hỏi rất cao đối vớicảm, cụ thể ở đây là cảm thụ nghệ thuật Về điều này, các nhà nghiên cứu từ lâu đã
nói tới Trong Giảng văn Chinh phụ ngâm, Đặng Thai Mai có viết: “ cảm tình
nếu được cả một lực lượng của sự hiểu, của ngộ tính (entendment) làm hậu thuẫn,bao giờ cũng sẽ khỏe khoắn hơn, dồi dào hơn ( ) Cảm thấy hay, chưa đủ Có hiểu
Trang 9là hay, sự thưởng thức mới có nghĩa lý, tác dụng” ( Theo Đặng Thai Mai tác phẩm,tập 1, nhà xuất bản văn học, 1978, tr 363-364).
Như vậy “Hiểu” không đơn giản là sự nắm bắt (tiếp thu, ghi nhớ) một nguồntri thức nào đó mang hình thức cố định, xác định được đưa đến từ bên ngoài Từquan niệm này, cần thấy được:
- Giữa sự hiểu của thầy và sự hiểu của trò không có sự đồng nhất
- Học sinh là người chủ động tìm biết và kiến tạo tri thức dưới sự gợi ý, chỉ
dẫn của thầy (thầy không thể làm cho hiểu nếu trò không có được sự tích cực trong
hoạt động học tập, nhận thức, không tự khơi dậy nhu cầu hiểu của mình)
- Hiểu là một quá trình, gắn liền với việc tái cấu trúc toàn bộ năng lực củangười học Một giờ học thành công là giờ học đưa đến được sự kích thích cho hoạtđộng hiểu của học sinh Quá trình đó có thể diễn ra trong suốt cuộc đời, không hềngừng lại khi giờ học kết thúc
- Để đánh giá sự hiểu của học sinh, không thể vội vàng, cũng không thể chỉdựa vào điểm số của các thi bài hay kiểm tra, dù chúng có ý nghĩa quan trọng Biểuhiện của hiểu có thiên hình vạn trạng, không thể lấy một hình thức duy nhất làmthước đo
Ở Việt Nam, trong khoảng 20 năm trở lại đây, đọc hiểu đã trở thành mộtkhái niệm xuất hiện khá phổ biến trong sách giáo khoa Ngữ văn và các công trìnhnghiên cứu về phương pháp dạy học văn Giờ giảng văn trong nhà trường giờ đãthay thế bằng giờ đọc hiểu văn bản Điều đáng nói ở đây là không chỉ thay đổi vềcách gọi tên mà còn cả bản chất của vấn đề
1.2 Dạy học bám sát kiến thức thể loại
Bộ môn Ngữ văn là một môn học công cụ mang tính nhân văn sâu sắc MônNgữ Văn ở trường THPT nhằm phát triển phẩm chất, năng lực HS: như năng lực tưduy sáng tạo, năng lực hợp tác giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề Năng lực đặcthù là năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực văn chương ( cảm thụ thẩm mĩ).Thông qua những văn bản văn học đặc sắc, qua các hình tượng nghệ thuật, quangôn ngữ nghệ thuật, cảm xúc, tư tưởng, quan điểm của nhà văn,… giúp HS pháttriển năng lực thẩm mĩ, cảm nhận được cái hay cái đẹp từ trong mỗi tác phẩm nghệthuật được nhà văn sáng tạo Từ đó HS sẽ có hứng thú học tập, thảo luận trong hoạtđộng học tập và có cơ hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu vềđời sống tâm hồn phong phú của người dân Việt Nam, có thái độ sống tích cực với
xã hội, với cộng đồng, có quan niệm sống và ứng dụng vào thực tiễn một cáchnhân văn Môn Ngữ văn giúp HS hình thành tình cảm và nhân cách biết hướng tớiChân- Thiện- Mỹ
Để phát triển phẩm chất, năng lực cho HS qua dạy học đọc hiểu văn bảnmôn Ngữ văn phải bám sát đặc trưng thể loại không biến Ngữ Văn thành một giờdạy học Giáo dục công dân, giáo dục đạo đức đơn thuần Vì vậy, dạy học đọc hiểu
Trang 10văn bản trong chương trình Ngữ Văn 10 theo hướng phát triển phẩm chất, nănglực HS cần phải bám sát đặc trưng thể loại của từng văn bản Qua hình ảnh, ngônngữ hình tượng, cảm xúc, cấu tứ… để liên hệ, đối chiếu giáo dục phát triển phẩmchất, năng lực HS Không biến dạy học trong môn Ngữ Văn thành một hoạt độngmang tính xã hội, cổ động, tuyên truyền một cách cứng nhắc, thô thiển Phải quanhững tri thức về ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc, cấu tứ,…của tác phẩm để lồngghép, tích hợp, thực hiện mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực HS Không thể
gò ép, chính trị hóa, đạo đức hóa các hình ảnh, cấu tứ, nghệ thuật, ngôn ngữ,không những bóp chết tác phẩm mà còn không đạt được chất lượng, hiệu quả trongviệc phát triển phẩm chất, năng lực HS
1.3 Dạy học đọc hiểu văn bản để hình thành và củng cố kiến thức về thể loại
Như đã nói, có rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, người viếtđặc biệt quan tâm đến nghiên cứu của một số tác giả sau: Tác giả Nguyễn ThanhHùng với bài viết: “Đọc hiểu văn chương” (tạp chí Giáo dục số 29, 7/2004) và bài:
“Những khái niệm then chốt của vấn đề đọc hiểu văn chương” (Tạp chí Giáo dục
số 100, 11/2004) đã chỉ rõ: “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ caonhất của hoạt động đọc, đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn học của ngườiđọc” đồng thời ông cũng đã nêu ra một số nội dung cần hiểu sau khi đọc văn bản.Tác giả Trần Đình Sử qua bài viết: “Đọc hiểu văn bản – một khâu đột phá trongnội dung và phương pháp dạy văn hiện nay” đã nhấn mạnh: “Đề xuất vấn đề đọchiểu văn bản như một khâu đổi mới trong dạy học Ngữ văn … Là một yêu cầu bứcthiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến
và góp phần khắc phục lối học cũ: thầy trò đọc chép rồi thi theo trí nhớ của họcsinh về các bài đã học thuộc góp phần khắc phục tệ nạn sao chép trong các kì thi”.Nguyễn Trọng Hoàn đã đề cập trong bài “Dạy đọc hiểu văn bản ngôn ngữ ở trunghọc cơ sở”: “Đọc hiểu văn bản không chỉ nhằm để tiếp nhận giá trị của riêng mộtbài văn cụ thể mà còn tạo ra được nền tảng kiến thức để học sinh có thể vận dụng
và phát triển chúng trong phân môn tiếng Việt và Tập làm văn… Đọc hiểu văn bản
là hoạt động có tính chất đầu mối của một quy trình dạy học tích hợp Ngữ vănhướng tới sự phát triển đồng bộ”
Từ việc đọc và nghiên cứu các bài viết, giáo viên Ngữ văn có thể vận dụngvào dạy học đọc hiểu văn bản ở trường phổ thông Ví dụ khi dạy đọc hiểu truyệnthường được các nhà nghiên cứu quan tâm dựa trên đặc trưng về thể loại, điển hình
là tác giả Nguyễn Thanh Bình trong tài liệu Dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại trong nhà trường THPT đã nhấn mạnh: “Đọc hiểu
là một nội dung khoa học mới, có ý nghĩa và giá trị phương pháp được chính thứcđưa vào chương trình sách giáo khoa Ngữ văn cấp trung học cơ sở và trung họcphổ thông, giáo viên và các quản lí giáo dục cần nắm vững.” Trong công trìnhnghiên cứu này, tác giả đã đề xuất việc dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương theođặc trưng thể loại để phát huy năng lực cho học sinh và theo từng thể loại học sinh
sẽ nắm rõ được các đặc trưng của từng thể loại tác phẩm văn học đó
Trang 112 Cơ sở thực tiễn:
Để phục vụ cho sáng kiến kinh nghiệm này được tốt hơn, tôi đã tiến hànhkhảo sát cụ thể về chương trình học theo sách giáo khoa: Thời lượng chương trìnhdành cho bài học, câu hỏi hướng dẫn chuẩn bị bài trong sách giáo khoa ngữ văn 10chương trình hiện hành(2006) và Sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương trình GDPT
2018 và hai đối tượng trung tâm của quá trình dạy học là giáo viên và học sinh
2.1 Chương trình học theo sách giáo khoa.
2.1.1 Chương trình hiện hành 2006
Chương trình môn Ngữ văn THPT, đã được xây dựng theo quan điểm tíchhợp dựa trên trục đồng tâm do Bộ GD&ĐT chỉ đạo: “Lấy quan điểm tích hợp làmnguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọncác phương pháp giảng dạy.” “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn
bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu củaquá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trongchương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của GV vàtích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, thamkhảo.”
Thực tế cho thấy chương trình Ngữ văn có sự tích hợp khá linh hoạt giữa baphân môn Đọc văn-Tiếng Việt- Làm văn mà chúng ta vẫn quen gọi là tích hợp dọchay tích hợp nội môn Hơn nữa chương trình được xây dựng theo trục lịch sử vàthể loại, mỗi thể loại có 2-3 văn bản được đưa vào SGK Trong SGK hiện hành, trithức thể loại được học tách riêng, trong quá trình đọc hiểu văn bản Gv có hướngdẫn đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại không còn tùy thuộc vào mức độchuẩn bị bài của người dạy, thường kiến thức về thể loại Gv rút ra ở cuối mỗi bàihọc với những câu lệnh quen thuộc: Qua đọc hiểu văn bản ở trên, em hãy rút racách đọc hiểu một văn bản truyện/ thơ/ kí/ kịch
Mục tiêu chương trình hiện hành 2006 coi trọng kiến thức cần cung cấp chohọc sinh, vì vậy, chương trình hiện hành xem văn bản là “đối tượng” để khai thác,chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên là người truyền thụ-học sinh là người tiếp thu thụđộng những tri thức về ngôn ngữ và văn học đóng khung trong một văn bản cụ thể
2.1.2 Chương trình giáo dục phổ thông 2018
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 xác định mục tiêu dạy học là hìnhthành và phát triển cho học sinh phẩm chất và năng lực, vì thế chương trình SGKNgữ văn 2018 xem văn bản là “công cụ” để hình thành và phát triển năng lực chohọc sinh
Để hình thành và củng cố kiến thức về thể loại cho HS qua các tiết dạy đọchiểu văn bản, GV trước tiên phải nắm vững, bám sát mục tiêu và yêu cầu cần đạttrong dạy học bộ môn Điều này có vai trò quan trọng trong dạy học nói chung vàdạy học văn bản nói riêng Mục tiêu là thành tố đầu tiên trong kế hoạch dạy học, có
Trang 12vai trò định hướng việc hình thành phẩm chất, năng lực người học từ đó chọn nộidung, phương pháp, hình thức dạy học cũng như phương pháp kiểm tra, đánh giáphù hợp Khi xác định được mục tiêu và yêu cầu cần đạt, người giáo viên sẽ nghiêncứu, lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học cũng như tìm phương pháp hiệu quảnhất, tối ưu nhất để đạt được mục tiêu đó Đồng thời, cũng căn cứ vào mụctiêu và yêu cầu cần đạt đặt ra, người giáo viên sẽ đánh giá chính xác sự tiến bộ củangười học qua sự đối chiếu với mục tiêu Vai trò của mục tiêu và yêu cầu cần đạtcòn đặc biệt quan trọng đối với người học Học sinh cần và phải nắm rõ mục tiêu
để từ đó tự tổ chức quá trình học tập của bản thân theo một định hướng rõ ràng,biết lựa chọn cách học, cách đọc văn bản sao cho phù hợp, hiệu quả, biết tự đánhgiá mức độ tiến bộ của bản thân, có thể vận dụng vào quá trình tự học, tự đánh giákhi đọc hiểu một văn bản cùng thể loại ngoài chương trình SGK
Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập nhằm khơi dậykhả năng tìm kiếm, giải quyết vấn đề của người học, giúp người học không chỉchiếm lĩnh tri thức văn bản được học mà còn có năng lực vận dụng những kiếnthức ấy để giải quyết các tình huống thực tiễn Do đó, việc thay đổi mục tiêu dạyhọc văn bản (từ mục tiêu dạy học tiếp cận nội dung sang mục tiêu tiếp cận nănglực) sẽ dẫn đến việc thay đổi các thành tố khác của kế hoạch dạy học như: nộidung, phương pháp, kiểm tra đánh giá… Cụ thể: về nội dung, với mục tiêu hìnhthành và phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh,văn bản sẽ được khai thác theotrục đọc-viết-nói-nghe; về phương pháp, để đảm bảo mục tiêu phát triển năng lực,phương pháp dạy học sẽ phải phù hợp với từng kĩ năng (đọc - viết - nói - nghe)cũng như từng kiểu văn bản cụ thể Dù là sử dụng phương pháp truyền thống hayhiện đại, các phương pháp đều nhằm một mục tiêu duy nhất: dạy cho học sinh cáchđọc-viết-nói-nghe về văn bản.Về kiểm tra đánh giá, kiểm tra đánh giá sẽ được tiếnhành trong quá trình học, với nhiều hình thức, tập trung vào bốn kĩ năng đọc - viết
- nói - nghe của học sinh
2.2.Ma trận thể loại của văn bản đọc trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018.
* Đặc điểm chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn là một bộ phận của chươngtrình tổng thể, tuân thủ các quy định của chương trình đồng thời có những đặcđiểm riêng, mang tính đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở kế thừa và pháthuy những ưu điểm của các chương trình Ngữ văn đã có, đặc biệt là chương trìnhhiện hành Về quan điểm dạy học, chương trình dạy học tiếp cận nội dung cho rằnghọc là quá trình tiếp thu và lĩnh hội tri thức qua đó hình thành kĩ năng thì chươngtrình dạy học theo định hướng phát triển năng lực xác định: học là quá trình kiếntạo, học sinh tự tìm tòi, khám phá, phát hiện, tự hình thành hiểu biết Về mục tiêumôn học, chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 xác định mục tiêu làphát triển năng lực giao tiếp với 04 kĩ năng đọc - viết - nói - nghe Thông qua việchình thành và phát triển năng lực giao tiếp mà giáo dục tâm hồn, nhân cách và kĩ
Trang 13năng sáng tạo văn học của học sinh, đồng thời góp phần phát triển các năng lựckhác như năng lực thẩm mĩ, năng lực tự chủ, năng lực giải quyết vấn đề và sángtạo mà chương trình tổng thể đã đề ra Trong đó năng lực giao tiếp ngôn ngữ là trụctích hợp để xây dựng xuyên suốt cả ba cấp học Về nội dung dạy học, căn cứ vàonhững phẩm chất, năng lực học sinh cần đạt, cũng như mức độ năng lực ở mỗi lớp,mỗi cấp mà xác định nội dung cần 10 dạy Do đó, chương trình chỉ lựa chọn nhữngkiến thức giúp cho việc phát triển năng lực hiệu quả để đưa vào giảng dạy theo một
hệ thống từ lớp 1 đến lớp 12
Nếu như nội dung chương trình hiện hành được tổ chức theo trục lịch sử vănhọc hay kiểu văn bản nhằm tạo thuận lợi cho học sinh lĩnh hội kiến thức thì nộidung chương trình ngữ văn 2018 sẽ được tích hợp thông qua các kĩ năng đọc - viết
- nói - nghe đồng thời phục vụ cho các kĩ năng này Chính vì chú trọng năng lựcứng dụng vào thực tiễn nên chương trình không đóng khung trong nội dung bắtbuộc của sách giáo khoa mà được xây dựng theo hướng mở, nghĩa là chỉ quy địnhmột số nội dung cốt lõi và một số tác phẩm bắt buộc (06 tác phẩm), còn lại đưa ramột danh sách gợi ý để các tác giả sách giáo khoa và giáo viên tự chọn sao cho phùhợp với điều kiện và đối tượng người học, phát huy được sự sáng tạo Về phươngpháp dạy học, môn Ngữ văn sẽ chuyển từ việc giáo viên là người truyền thụ trithức, là trung tâm của quá trình dạy học, học sinh tiếp thu thụ động những tri thứcđược quy định sang việc giáo viên trở thành người tổ chức, hướng dẫn học sinhđọc tác phẩm để học sinh biết cách đọc và có thể tự đọc
Hiệu quả của giờ dạy không chỉ ở những kiến thức cụ thể về văn bản họcsinh lĩnh hội được mà quan trọng hơn là sau khi học xong, học sinh nắm đượcphương pháp tiếp cận tác phẩm để có thể tự đọc các tác phẩm tương tự
Về hình thức dạy học, chương trình mới khuyến khích tổ chức hình thức họctập đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo; đẩymạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học Về phươngpháp kiểm tra đánh giá, thay vì đánh giá mức độ học sinh ghi nhớ và tái hiện đượcnhững nội dung đã học (càng nhiều càng tốt) thì chương trình Ngữ văn mới sẽđánh giá mức độ năng lực Ngữ văn của học sinh (năng lực ngôn ngữ và năng lựcvăn học)
* Đặc điểm phần văn bản trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018.
Như trên đã nói, mặc dù chương trình được xây dựng theo hướng mở, giaoquyền lựa chọn văn bản cho các tác giả sách giáo khoa và giáo viên, tuy nhiên cácvăn bản được lựa chọn phải tuân thủ một số quy định nhất định: Thứ nhất, các vănbản phải đạt các yêu cầu sau:
- Phục vụ trực tiếp cho việc phát triển các phẩm chất và năng lực, trước hết
là năng lực giao tiếp (đọc - viết - nói - nghe) cho học sinh
- Phù hợp với học sinh ở từng cấp học, lớp học
Trang 14- Có giá trị tiêu biểu về phương diện nội dung, nghệ thuật
- Phản ánh được thành tựu về tư tưởng, văn học, văn hóa dân tộc và nhânloại
- Tăng dần về mức độ khó của văn bản qua các cấp học Thứ hai, các loạihình văn bản bao gồm: Văn bản văn học; văn bản nghị luận; văn bản thông tin.Mỗi loại hình văn bản lại định hướng những thể loại cụ thể, có thể thấy rõ điều đóqua bảng thống kê sau:
Thống kê các thể loại văn bản trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông Lớp 10 Lớp 11 Lớp 12.
* Thể loại văn bản văn học :
-Tiểu thuyết hiện đại
- Thơ, truyện thơ Nôm
- Bi kịch
- Truyện truyền kì, truyện ngắn và tiểu thuyết hiện đại
- Thơ trữ tình hiện đại
- Kịch bản chèo hoặc tuồng
- Truyện kí, tuỳ bút hoặc tản văn
- Hài kịch
* Thể loại văn bản nghị luận ở cả 3 khối 10,11,12;
- Nghị luận văn học
- Nghị luận xã hội
* Thể loại văn bản thông tin
- Báo cáo nghiên cứu; văn bản thuyết minh có sử dụng các yếu tố như biểucảm, nghị luận, miêu tả, tự sự
- Nội quy, văn bản hướng dẫn
- Thuyết minh có sử dụng các yếu tố như biểu cảm, nghị luận, miêu tả, tựsự
- Báo cáo nghiên cứu
Trang 15- Thuyết minh có sử dụng các yếu tố như biểu cảm, nghị luận, miêu tả, tự sự.
- Báo cáo nghiên cứu, thư trao đổi công việc
Các mạch kiến thức văn học, Lí luận văn học: một số vấn đề về lí luận vănhọc thiết thực, có liên quan nhiều đến đọc hiểu văn bản văn học và thể loại vănhọc: bao gồm thơ, truyện, kí, kịch…
Các yếu tố của văn bản văn học: câu chuyện, cốt truyện, nhân vật, khônggian, thời gian, người kể chuyện, điểm nhìn, vần, nhịp
Ở cấp trung học phổ thông, mạch kiến thức văn học là: những hiểu biết về
một số thể loại, tiểu loại ít thông dụng, đòi hỏi kĩ năng đọc cao hơn (thần thoại, sửthi, chèo hoặc tuồng, truyện và thơ hiện đại; tiểu thuyết hiện đại, hậu hiện đại); một
số kiến thức lịch sử văn học, lí luận văn học có tác dụng thiết thực đối với việc đọc
và viết văn bản văn học (câu chuyện, người kể chuyện toàn tri, người kể chuyệnhạn tri, người kể chuyện và sự dịch chuyển, phối hợp điểm nhìn, cách kể, tứ thơ,đặc trưng của hình tượng văn học
Về ngữ liệu văn bản, căn cứ vào tiêu chí lựa chọn văn bản và yêu cầu lựachọn văn bản, chương trình xây dựng danh mục văn bản gợi ý lựa chọn ở các lớpmục
Về năng lực, các văn bản sẽ được khai thác thông qua tổ chức 4 hoạt độngđọc - viết - nói - nghe nhằm hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ và nănglực văn học cho học sinh, ở mỗi kĩ năng, chương trình đưa ra những yêu cầu cụthể:
Về đọc hiểu: các văn bản sẽ được đọc hiểu ở 04 phương diện:
+ Đọc hiểu nội dung văn bản thể hiện qua chi tiết, đề tài, chủ đề, tư tưởng,thông điệp
+ Đọc hiểu hình thức thể hiện qua đặc điểm các kiểu văn bản và thể loại, cácthành tố của mỗi kiểu văn bản và thể loại (câu chuyện, cốt truyện, truyện kể, nhânvật, không gian, thời gian, người kể chuyện, điểm nhìn, vần thơ, nhịp thơ, lí lẽ,bằng chứng ), ngôn ngữ biểu đạt…
+ Liên hệ, so sánh giữa các văn bản, kết nối văn bản với bối cảnh lịch sử,văn hoá, xã hội, kết nối văn bản với trải nghiệm cá nhân người đọc; đọc hiểu vănbản đa phương thức…
+ Đọc mở rộng, học thuộc lòng một số đoạn, văn bản văn học chọn lọc Về
kĩ năng viết: trên cơ sở đọc hiểu văn bản, học sinh sẽ được học về quy trình tạo lậpvăn bản và yêu cầu thực hành viết theo đặc điểm của kiểu văn bản vừa học Về kĩnăng nói - nghe: học sinh sẽ chuyển thể văn bản viết thành văn bản nói, từ đó thựchành nói; nghe và nói - nghe tương tác
Trong dạy học định hướng phát triển năng lực, mục tiêu không chỉ là kết quả
mà giáo viên mong muốn người học đạt được sau bài giảng mà đó còn là cái đích
Trang 16người học phải đạt được; hơn thế, mục tiêu bài giảng còn là tuyên bố về những gì
mà người học phải hiểu rõ, phải nắm vững và phải làm được sau bài dạy của ngườithầy; mục tiêu bài giảng còn nói về việc người học sẽ học như thế nào hoặc có khảnăng làm được gì sau khi kết thúc một bài học
Về nhân tố con người Dạy học theo định hướng phát triển năng lực khôngchỉ là một xu hướng giáo dục quốc tế mà đã triển khai ở giáo dục nước ta (chươngtrình 2018) Tuy nhiên, để chương trình triển khai một cách rộng rãi, để các nhàquản lí, giáo viên, học sinh nắm vững chương trình cần phải có một quá trình tậphuấn kĩ lưỡng Đến thời điểm này, việc tập huấn vẫn đang được tiến hành nhưngtiến độ chậm Nhiều giáo viên vẫn nhận thức cảm tính, mơ hồ về dạy học theo địnhhướng phát triển năng lực, cộng với thói quen, lối tư duy dạy- học tiếp cận nộidung ở cả giáo viên và học sinh khiến cho việc thực nghiệm đề tài gặp không ítkhó khăn Chúng tôi xác định những khó khăn này là không thể tránh khỏi khichương trình mới đưa vào thực tiễn “vạn sự khởi đầu nan” Nhưng điều đó khôngphủ nhận những tín hiệu vui mà chúng tôi thu nhận được trong và sau những giờhọc thể nghiệm Đa số học sinh đã biết cách “đọc” một văn bản nghị luận theotừng cấp độ: từ đọc kĩ thuật đến đọc hiểu; từ đọc hiểu nội dung, đọc hiểu hình thức,đọc liên hệ, so sánh, đối chiếu để từ đó có thể tự mình “đọc” những tác phẩmtương tự (đọc mở rộng) Học sinh biết cách “viết” một đoạn văn, bài văn nghị luận(nghị luận xã hội hoặc nghị luận văn học) đúng quy trình, thể hiện rõ quan điểmcủa bản thân, biết dùng luận điểm, luận cứ, lập luận chặt chẽ, thuyết phục Khi tiếnhành hoạt động nói- nghe, nhiều em khá tự tin thể hiện bản thân khi thuyết trình,biết sử dụng phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ như ánh mắt, cử chỉ,điệu bộ… để làm cho bài thuyết trình của mình thêm thuyết phục Đồng thời, biếtlắng nghe, nắm bắt nội dung, quan điểm của người khác cũng như biết tương tácvới bạn bè, giáo viên về một vấn đề còn chưa thống nhất Giờ học cũng vì thế màsôi nổi, hấp dẫn, hứng thú hơn, không nặng về đọc- chép, mức độ năng lực đượcphát triển toàn diện trên cả bốn kĩ năng đọc - viết - nói - nghe Việc kiểm tra đánhgiá được đo bằng các rubric sau mỗi hoạt động cũng làm cho học sinh hào hứnghơn, các em “thấy” được năng lực bản thân một cách cụ thể trong cả tiến trình học,
từ đó biết điều chỉnh cũng như cố gắng để phát triển năng lực bản thân
2.3 Khảo sát hệ thống câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu văn bản và luyện tập của Sách giáo khoa.
* Câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu văn bản và luyện tập của Sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương trình hiện hành 2006.
- Sách giáo khoa Ngữ Văn cơ bản theo thống kê của chúng tôi phần lớn là
đưa ra câu hỏi mang định hướng tích hợp kiến thức vào bài học Có thể thấy, cả ởsách giáo khoa cơ bản và nâng cao đã định hướng tới việc vận dụng kiến thứctrong quá trình tiếp cận tác phẩm và thực sự trở thành một vấn đề được ý thức làcốt yếu khi đọc hiểu văn bản Thế nhưng trong thực tế dạy học giáo viên vẫn chưachú trọng một cách thỏa đáng
Trang 17* Câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu văn bản và luyện tập của Sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương trình GDPT 2018.
Cả 3 bộ sách SGK Ngữ văn 10 mới đều ó các câu hỏi xây dụng theo địnhhướng phát triển phẩm hất, năng lực HS, chú trọng vào đặc trưng thể laoij của vănbản
2.4 Kết quả khảo sát và những tồn tại trong dạy và học:
*Về phía giáo viên- Thực trạng nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của vấn đề hình thành, củng cố kiến thức thể loại cho HS qua hoạt động đọc.
1 Lâu nay, việc dạy học đọc hiểu các văn bản trong chương trình Ngữ văn
10 thì hầu như chưa được toàn thể giáo viên chú trọng, thiếu sự chuẩn bị chu đáo.
Việc dạy đọc hiểu văn bản ở trường phổ thông hiện nay mới chỉ dừng lại ở việcchuyển giao những hiểu biết của GV cho HS về một văn bản nào đó Với vai tròchuyển giao này, GV là người chủ yếu có nhiệm vụ cung cấp, truyền thụ kiến thức
cho HS Trong quan niệm dạy học chuyển giao, truyền thụ kiến thức, việc dạy học
đọc hiểu văn bản ở trường phổ thông hiện nay vẫn đang sử dụng phương pháptruyền thụ một chiều, “Độc tôn vị trí của người thầy” Phương pháp dạy học này đềcao vai trò của người thầy và chưa chú trọng đến đối tượng chính của hoạt độngdạy học là học sinh Điều này sẽ khiến HS mất dần dần đi sự chủ động trong việctiếp thu, lĩnh hội kiến thức Chương trình giáo dục hiện hành (chương trình 2006)được xây dựng theo trục lịch sử và thể loại đã bộc lộ nhiều hạn chế, không còn phùhợp vì thế nhất thiết phải thay đổi đặc biệt là trong bối cảnh GD mới hiện nay Đặcbiệt chương trình Ngữ văn 10 hiện hành chủ yếu là các văn bản thuộc giai đoạnvăn học Trung đại Thậm chí có giáo viên khi đến lớp còn dạy sơ sài, dạy cho xongbài học, đặc biệt là việc dạy học một số văn bản mà văn bản đó là đại diện duynhất/ tiêu biểu cho thể loại văn học Trung đại được đưa vào chương trình sách giáokhoa như thể loại Hịch, Cáo, Chiếu, Phú Giáo viên thường xem nhẹ nên học sinhkhông thấy được sức nặng của bài học
2 Ở nhiều giáo viên từ khâu soạn bài đến việc vận dụng phương pháp dạyhọc, đặc biệt là những văn bản "khó" chưa được đầu tư nhiều vì giáo án phần lớn
đã copy sẵn trên mạng mà những kiến thức về bài học lại cần phải suy nghĩ kết hợpvới việc tìm tòi phương pháp truyền tải cho học sinh dễ hiểu Một thực tế là ngoàitrường chuyên, lớp chọn luôn được đầu tư học kĩ phần văn học Trung đại nhằmphục vụ cho các kì thi học sinh giỏi tỉnh, thi học sinh giỏi quốc gia thì ở các trườngTHPT và các lớp thường thì công việc dạy văn học Trung đại chưa được giáo viên
ý thức sâu sắc về ý nghĩa, chưa nhận thức được tầm quan trọng, vị trí của nó trongchương trình Đa phần giáo viên chỉ đầu tư thiết kế phần đọc – hiểu văn bản thơ
mà sơ sài trong chuẩn bị cho các tiết dạy thể loại ít văn bản trong chương trình.Điều này khiến nhiều tiết học ở một số thể loại ít văn bản như Phú, Chiếu, Biểu, trở nên khô khan, nặng nề, không có hiệu quả dẫn đến học sinh học xong thườngkhông hứng thú, không ấn tượng nên nhanh chóng quên kiến thức đã học
Trang 183.Về phương pháp dạy học văn bản Bạch Đằng giang phú, người dạy chủyếu vận dụng phương pháp diễn giảng là chính để diễn giảng nhằm giúp học sinhhiểu rõ ý nghĩa của những từ ngữ khó, những điển tích, điển cố, bố cục thểloại Thực tế đó dẫn đến học sinh khó lĩnh hội kiến thức bài học hoặc học sinhngồi đón nhận nhưng không có sự quan tâm, yêu thích, thiếu hứng thú nên kết quảhọc tập không cao Qua dự giờ- thăm lớp một số đồng nghiệp cùng bộ môn tôinhận thấy một số giáo viên đã có sự đổi mới về phương pháp dạy học như bám vào
đặc trưng thể loại Phú, cho học sinh thảo luận nhóm, nhưng vẫn còn nặng về
cung cấp kiến thức mà ít chú ý đến bồi dưỡng năng lực cho học sinh và không chútrọng đến việc ứng dụng những kiến thức liên môn vừa vận dụng phương pháp mớivào dạy học vừa kích thích được sự tìm tòi, hào hứng cho việc chuẩn bị cũng nhưtiếp nhận văn bản trong giờ học được tốt hơn
4 Thực tế cho thấy, đa phần giáo viên còn coi nặng việc truyền thụ kiếnthức được hướng dẫn tìm hiểu trong sách giáo khoa Ít vận dụng kiến thức liênmôn, chủ đề tích hợp giáo dục trong quá trình dạy học bởi phải trang bị thêm nhiềumặt về kiến thức liên quan đến môn học mà mình đang dạy Mặt khác còn phảichuẩn bị về phương pháp, phương tiện, đồ dùng dạy học phù hợp với chủ đề tíchhợp nên nhiều khi vấn đề tích hợp kiến thức chỉ là hình thức không thực sự tâmhuyết Chính điều đó dẫn đến tiết dạy kém hấp dẫn, không phát huy được năng lựccủa học sinh Quá trình dạy học dễ sa vào lối dạy đọc chép, truyền thụ kiến thứcmột chiều
*Về phía học sinh- Thực trạng đọc văn bản của Hs liên quan đến vấn đề tích lũy kiến thức về thể loại văn bản
1 Khi tiếp cận các văn bản văn học ở sách Ngữ văn 10 trong chương trìnhhiện hành, chủ yếu là văn học dân gian và văn học Trung đại Đặc biệt là các vănbản văn học Trung đại với những thể loại cổ xưa vốn khô khan, khó hiểu nên nhiềukhi quá trình tiếp nhận văn bản của HS còn mơ hồ Một trong những khó khăn lớnnhất đó là do thời đại khác nhau nên việc nắm bắt và hiểu được tư tưởng, tình cảmcủa tác giả thời Trung đại so với học sinh hiện nay là không dễ
2 Đứng trước yêu cầu của thực tế dạy học hiện đại lấy học sinh làm trungtâm, học sinh được tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động học tập thì phẩmchất và năng lực cá nhân mới được hình thành và phát triển toàn diện Tính năngđộng, sáng tạo là những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống hiện đại cần phảiđược hình thành ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường Thế nhưng trên thực tế quátrình tiếp nhận, tích lũy kiến thức về thể loại của học sinh đối với những văn bảntrong chương trình Ngữ văn 10 chưa đáp ứng yêu cầu của thời đại
3 Tiếp nhận, hình thành và củng cố kiến thức về thể loại là cả một quá trình
ở các cấp học nhưng với học sinh THPT hiện nay đang quen với lối mòn cũ, họcnhững kiến thức mà thầy cô truyền thụ sẵn, ít tích cực tích lũy đề hình thành kiếnthức nền về thể loại để có thể chủ động, tích cực đọc hiểu những văn bản cùng thểloại ngoài chương trình Việc vận dụng kiến thức thể loại vào quá trình học tập,
Trang 19kiểm tra, đánh giá, thi cử đã được triển khai trong những năm học vừa qua nhưngđối với học sinh vẫn còn nhiều hạn chế Một số giáo viên vận dụng chưa linh hoạtnên học sinh còn ghi nhớ kiến thức thể loại một cách máy móc, việc nắm được đặctrưng, mối quan hệ, giao thoa giữa các thể loại văn bản chưa thực sự thấu đáo
Để quá trình dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ văn 10 theo trong chương trình GDPT 2018 được hiệu quả hơn, trong phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm này, tôi
đã kết hợp hình thành và củng cố kiến thức thể loại cho học sinh qua các giờ đọchiểu văn bản Với mong muốn góp một phần nhỏ vào dạy học bộ môn Ngữ văn
nhằm xóa bớt đi sự nhàm chán, khơi dậy tình yêu văn học của học sinh hiện nay.
Qua tìm hiểu thực tế đọc- hiểu văn bản Ngữ văn 10 từ góc độ hình thành và củng
cố kiến thức thể loại, tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu về phía học sinh Cụ thể,tôi đã phát câu hỏi cho 39 học sinh ở lớp 10A1 trường THPT Yên Thành 3 Từ việc
xử lý phiếu điều tra, chúng tôi có kết quả như sau:
Nội dung câu hỏi là:
Câu 1.Theo em việc cung cấp kiến thức về thể loại trước khi đọc hiểu văn bản ở bộmôn Ngữ văn 10 có cần thiết hay không?
+ 35/39 học sinh (chiếm ) trả lời: Có
+ 4/39 học sinh (chiếm %) trả lời: Không
Câu 2.Theo em, việc tìm hiểu đặc điểm thể loại/ hình thành kiến thức thể loại/trong quá trình đọc hiểu văn bản ở bộ môn Ngữ văn 10 có cần thiết hay không?
+ 20/39 học sinh (chiếm 51,2%) trả lời: Có
+ 19/39 học sinh (chiếm 48,8%) trả lời: Không
Câu 3 Em có thích được giáo viên củng cố tri thức về phương pháp đọc hiểu vănbản ở cuối mỗi bài đọc hiểu văn bản không?
+ 33/39 học sinh (chiếm 84,6%) trả lời: Có
+ 6/39 học sinh (chiếm 15,4%) trả lời: Không
Câu 4 Theo em, sau khi đọc văn bản có cần thiết vận dụng kiến thức thể loại đãhọc để vận dụng đọc hiểu văn bản cùng thể loại khác ở trong cũng như ngoài SGKkhông?
+ 34/39 học sinh (chiếm 87,1%) trả lời: Có
+ 5/39 học sinh (chiếm 12,9 %) trả lời: Không
Như vậy, đa số học sinh hiểu sự cần thiết của việc cung cấp, hình thành, tích
lũy và củng cố kiến thức thể loại khi đọc hiểu văn bản trong các tiết đọc hiểu văn bản trong SGK Ngữ văn 10 Tuy nhiên, do dung lượng tiết học hạn chế nên các em
chưa được cung cấp kiến thức và kĩ năng cần thiết để chủ động tìm hiểu vấn đề.Giáo viên phải dặn dò để học sinh tìm hiểu trước kiến thức về thể loại trược khivào bài học
Trang 20* Về kiểm tra, đánh giá
Việc dạy học và kiểm tra đánh giá là hai quá trình có quan hệ mật thiết vớinhau, thế nhưng hầu hết là ở các bài viết (kiểm tra) trong chương trình Ngữ văn 10hiện hành và các đề thi học kì ít khi kiểm tra, đánh giá về kiến thức thể loại, đặctrưng của thể loại Những câu hỏi ở phần Đọc hiểu trong các đề thi trước đâythường chỉ hỏi đơn giản về Thể Thơ, hỏi về hình ảnh, từ ngữ đặc sắc trong vănbản/đoạn trích Trong những năm gần đây Bộ đã yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giátheo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực HS nên ở các bài kiểm tra, các
đề thi đã có những chuyển mình ít văn bản như đã nói ở trên mà thường tập trungvào các văn bản thơ và truyện Trung đại vốn nhiều văn bản hơn và được xem là
"dễ học" hơn Thi tốt nghiệp, đại học từ trước tới nay chú chú trọng phần văn họcViệt Nam hiện đại vì thế nên kiến thức về văn học Trung đại ở học sinh THPT cuốicấp gần như đã lãng quên Chỉ ở những kỳ thi học sinh giỏi cấp Tỉnh và học sinhgiỏi quốc gia thì văn học Trung đại mới được đề cập đến và những văn bản "khó"mới được nâng lên thành những chuyên đề có đầu tư về chiều sâu, nhưng cũng chỉ
là ở những lớp chọn hay một số học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi mà thôi.Vậy nên, các văn bản ít kiểm tra, đánh giá thì ít chú trọng, không thi thì không học
kỹ Phần lớn học sinh mang tư tưởng thực dụng, chưa hiểu được tầm quan trọngcủa những văn bản văn học đó mang lại
I.2.4 Nguyên nhân của vấn đề:
- Từ thực trạng trên, cộng với kinh nghiệm giảng dạy cá nhân, tôi nhận thấy
trong dạy và học hạn chế sau:
- Một số giáo viên hiểu chưa thật rõ kiến thức về thể loại và vận dụng vàobài học, chưa giúp học sinh hiểu rõ vị trí địa lý và ý nghĩa của thể loại trong dòngchảy của lịch sử dân tộc và lịch sử văn học, vận dụng những kiến thức thể loại đóvào việc tìm hiểu văn bản cùng thể loại trong SGK hay ngoài chương trình cũngnhư định hướng phát triển năng lực cho học sinh
- Một số giáo viên có vận dụng kiến thức thể loại vào dạy học đọc hiểu vănbản nhưng việc vận dụng còn dừng lại ở mức độ sơ lược, đơn giản hóa các đơn vịkiến thức Giáo viên chỉ dành cho việc hình thành và củng cố tri thức thể loại chủyếu ở một vài hoạt động trong bài học như phần dầu bài học khi tìm hiểu Tiểu dẫn,định hướng tiếp cận văn bản, tìm hiểu tình huống truyện, …còn mục đích của việchình thành và củng cố tri thức thể loại nhằm bồi dưỡng và phát huy năng lực củahọc sinh chưa được coi trọng
- Do chương trình hiện hành (2006) biên soạn sách giáo khoa còn nặng vềcung cấp kiến thức
- Do phương pháp dạy học chưa phù hợp nên giáo viên chưa tạo được sựhấp dẫn đối với học sinh trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản
Thực tế trên khiến giờ dạy học đọc hiểu văn bản đạt kết quả chưa cao, học
Trang 21nhiều học sinh vẫn cảm thấy văn bản này khó tiếp cận, khó hiểu vì thế việc ápdụng cho đọc hiểu văn bản khác cùng thể loại gặp khó khăn/ hạn chế.
Chương 2 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH, CỦNG
CỐ KIẾN THỨC VỀ THỂ LOẠI CHO HỌC SINH LỚP 10 QUA HOẠT
ĐỘNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
1 Nguyên tắc hình thành, củng cố kiến thức về thể loại cho HS lớp 10 qua hoạt động đọc văn bản
1.2 Hoạt động đọc văn bản phải bám sát yêu cầu cần đạt của bài học
Mục tiêu là điều mà người giáo viên phải xác định đầu tiên khi xây dựng kếhoạch dạy học Một mục tiêu đúng đắn, khoa học, phù hợp sẽ là kim chỉ nam dẫnlối cho các hoạt động tiếp theo của kế hoạch dạy học được đúng hướng Vấn đề là
ở chỗ, căn cứ vào đâu để xác định mục tiêu bài học cho phù hợp và khoa học?Không có căn cứ, mục tiêu sẽ cảm tính, chủ quan, duy ý chí
Chương trình Ngữ văn hiện hành (Chương trình 2006) xác định mục tiêu dạyhọc là “cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính
hệ thống về ngôn ngữ (trọng tâm là tiếng Việt) và văn học (trọng tâm là văn họcViệt Nam), phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồnnhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” chính vì vậy đểđảm bảo sự nhất quán, khoa học khi xác định mục tiêu dạy học, chương trình đãđưa ra “Chuẩn kiến thức - kĩ năng” dạy học Chuẩn kiến thức - kĩ năng là yêu cầu
cơ bản, tối thiểu về kiến thức - kĩ năng của môn học, cấp học, bài học mà học sinhcần phải và có thể đạt được sau khi học Chuẩn kiến thức - kĩ năng là căn cứ để xácđịnh mục tiêu của mỗi giờ học, mục tiêu của quá trình dạy học đảm bảo chất lượnggiáo dục Chuẩn kiến thức - kĩ năng được cụ thể hóa, tường minh ở các mức độtrên hai phương diện: kiến thức và kĩ năng
*Yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu của học sinh
Phẩm
chất Cấp tiểu học Cấp trung học cơ sở
Cấp trung học phổ
thông Yêu nước
- Yêu thiên nhiên và
- Có ý thức tìm hiểu truyền thống của gia đình, dòng họ, quê
- Tích cực, chủ động vận động người khác tham giacác hoạt động bảo vệ thiên nhiên
- Tự giác thực hiện và vậnđộng người khác thực
Trang 22các biểu trưng của đất
nước
- Kính trọng, biết ơn
người lao động, người
có công với quê
hương, đất nước;
tham gia các hoạt
động đền ơn, đáp
nghĩa đối với những
người có công với quê
hương, đất nước
hương; tích cực học tập, rèn luyện để phát huy truyền thống của gia đình, dòng họ, quê hương
- Có ý thức bảo vệ các disản văn hoá, tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị của di sản văn hoá
hiện các quy định của pháp luật, góp phần bảo
vệ và xây dựng Nhà nước
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Chủ động, tích cực thamgia và vận động người khác tham gia các hoạt động bảo vệ, phát huy giátrị các di sản văn hoá
- Đấu tranh với các âm mưu, hành động xâm phạm lãnh thổ, biên giới quốc gia, các vùng biển thuộc chủ quyền và quyềnchủ quyền của quốc gia bằng thái độ và việc làm phù hợp với lứa tuổi, với quy định của pháp luật
- Sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc
Nhân ái
Yêu quý
mọi
người
- Yêu thương, quan
tâm, chăm sóc người
thân trong gia đình
tuổi; giúp đỡ người
già, người ốm yếu,
tư của người khác
- Không đồng tình với cái ác, cái xấu; không cổ xuý, không tham gia các hành vi bạo lực; sẵn sàngbênh vực người yếu thế, thiệt thòi,
- Tích cực, chủ động tham gia các hoạt động
từ thiện và hoạt động phục vụ cộng đồng
- Quan tâm đến mối quan
hệ hài hoà với những người khác
- Tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; đấu tranh với những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp phápcủa tổ chức, cá nhân
- Chủ động, tích cực vận động người khác tham giacác hoạt động từ thiện và hoạt động phục vụ cộng đồng
Trang 23- Tôn trọng sự đa dạng
về văn hoá của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và các dân tộc khác
- Cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ mọi người
- Tôn trọng sự khác biệt
về lựa chọn nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, sự đa dạng văn hoá cá nhân
- Có ý thức học hỏi các nền văn hoá trên thế giới
- Cảm thông, độ lượng với những hành vi, thái
độ có lỗi của người khác
- Thích đọc sách, báo, tìm tư liệu trên mạng Internet để mở rộng hiểu biết
- Có ý thức vận dụng kiến thức, kĩ năng học được ở nhà trường, trongsách báo và từ các nguồntin cậy khác vào học tập
và đời sống hằng ngày
- Có ý thức đánh giá điểmmạnh, điểm yếu của bản thân, thuận lợi, khó khăn trong học tập để xây dựng
kế hoạch học tập
- Tích cực tìm tòi và sáng tạo trong học tập; có ý chívượt qua khó khăn để đạt kết quả tốt trong học tập
Chăm
làm
- Thường xuyên tham
gia các công việc của
gia đình vừa sức với
bản thân
- Thường xuyên tham
- Tham gia công việc laođộng, sản xuất trong gia đình theo yêu cầu thực
tế, phù hợp với khả năng
và điều kiện của bản
- Tích cực tham gia và vận động mọi người thamgia các công việc phục vụcộng đồng
- Có ý chí vượt qua khó
Trang 24gia các công việc của
trường lớp, cộng đồng
vừa sức với bản thân
thân
- Luôn cố gắng đạt kết quả tốt trong lao động ở trường lớp, cộng đồng
- Có ý thức học tốt các môn học, các nội dung hướng nghiệp; có hiểu biết về một nghề phổ thông
khăn để đạt kết quả tốt trong lao động
- Tích cực học tập, rèn luyện để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai
- Nghiêm túc nhìn nhận những khuyết điểm của bản thân và chịu trách nhiệm về mọi lời nói, hành vi của bản thân
- Tôn trọng lẽ phải; bảo
vệ điều hay, lẽ phải trướcmọi người; khách quan, công bằng trong nhận thức, ứng xử
- Không xâm phạm của công
- Đấu tranh với các hành
vi thiếu trung thực trong học tập và trong cuộc sống
- Nhận thức và hành độngtheo lẽ phải
- Sẵn sàng đấu tranh bảo
vệ lẽ phải, bảo vệ người tốt, điều tốt
-Tự giác tham gia và vận động người khác tham giaphát hiện, đấu tranh với các hành vi thiếu trung thực trong học tập và trong cuộc sống, các hành
vi vi phạm chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật
- Có ý thức bảo quản và
- Tích cực, tự giác và nghiêm túc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của bản thân
Trang 25- Có ý thức sinh hoạt
nền nếp
sử dụng hợp lí đồ dùng của bản thân
- Có ý thức tiết kiệm thờigian; sử dụng thời gian hợp lí; xây dựng và thực hiện chế độ học tập, sinhhoạt hợp lí
- Không đổ lỗi cho ngườikhác; có ý thức và tìm cách khắc phục hậu quả
do mình gây ra
- Có ý thức sử dụng tiền hợp lí khi ăn uống, mua sắm đồ dùng học tập, sinhhoạt
- Sẵn sàng chịu trách nhiệm về những lời nói
và hành động của bản thân
thức tiết kiệm tiền
bạc, điện nước trong
gia đình
- Quan tâm đến các côngviệc của gia đình
- Có ý thức tiết kiệm trong chi tiêu của cá nhân và gia đình
- Có ý thức làm tròn bổn phận với người thân và gia đình
- Quan tâm bàn bạc với người thân, xây dựng và thực hiện kế hoạch chi tiêu hợp lí trong gia đình
công việc được giao ở
- Quan tâm đến các côngviệc của cộng đồng; tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng
- Tôn trọng và thực hiện nội quy nơi công cộng;
chấp hành tốt pháp luật
về giao thông; có ý thức khi tham gia các sinh hoạt cộng đồng, lễ hội tạiđịa phương
- Không đồng tình với những hành vi không phù hợp với nếp sống văn hoá và quy định ở nơi công cộng
- Tham gia, kết nối
- Tích cực tham gia và vận động người khác tham gia các hoạt động công ích
- Tích cực tham gia và vận động người khác tham gia các hoạt động tuyên truyền pháp luật
- Đánh giá được hành vi chấp hành kỉ luật, pháp luật của bản thân và người khác; đấu tranh phêbình các hành vi vô kỉ luật, vi phạm pháp luật
Trang 26cá nhân hoặc ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá, trật tự an toàn xã hội.
sinh môi trường,
không xả rác bừa bãi
- Không đồng tình với
những hành vi xâm
hại thiên nhiên
- Sống hoà hợp, thân thiện với thiên nhiên
- Có ý thức tìm hiểu và sẵn sàng tham gia các hoạt động tuyên truyền, chăm sóc, bảo vệ thiên nhiên; phản đối những hành vi xâm hại thiên nhiên
- Có ý thức tìm hiểu và sẵn sàng tham gia các hoạt động tuyên truyền
về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu
- Hiểu rõ ý nghĩa của tiết kiệm đối với sự phát triểnbền vững; có ý thức tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; đấu tranh ngăn chặn các hành vi sử dụng bừa bãi, lãng phí vật dụng, tài nguyên
- Chủ động, tích cực thamgia và vận động người khác tham gia các hoạt động tuyên truyền, chăm sóc, bảo vệ thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững
3 Yêu cầu cần đạt về năng lực chung của học sinh
Năng lực Cấp tiểu học Cấp trung học cơ sở Cấp trung học phổ
thông Năng lực tự chủ và tự học
Tự lực
Tự làm được những việc của mình ở nhà và ở trường theo sự phân công, hướng dẫn
Biết chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân trong học tập và trong cuộc sống; không đồng tình với những hành vi sống dựa dẫm, ỷ lại
Luôn chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân trong học tập và trong cuộc sống; biết giúp đỡ người sống ỷ lại vươn lên để có lối sống tự lực
Trang 27và thực hiện một
số quyền lợi và nhu cầu chính đáng
Hiểu biết về quyền, nhu cầu cá nhân; biết phân biệt quyền, nhu cầu chínhđáng và không chính đáng
Biết khẳng định và bảo vệquyền, nhu cầu cá nhân phù hợp với đạo đức và pháp luật
- Hoà nhã với mọi người; không nói hoặc làm những điều xúc phạm người khác
- Thực hiện đúng
kế hoạch học tập, lao động; không mải chơi, làm ảnh hưởng đến việc học và các việc khác
- Nhận biết tình cảm, cảmxúc của bản thân và hiểu được ảnh hưởng của tình cảm, cảm xúc đến hành vi
- Biết làm chủ tình cảm, cảm xúc để có hành vi phù hợp trong học tập và đời sống; không đua đòi
ăn diện lãng phí, nghịch ngợm, càn quấy; không
cổ vũ hoặc làm những việc xấu
- Biết thực hiện kiên trì
kế hoạch học tập, lao động
- Đánh giá được những
ưu điểm và hạn chế về tình cảm, cảm xúc của bản thân; tự tin, lạc quan
- Biết tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của bản thân; luôn bình tĩnh
và có cách cư xử đúng
- Sẵn sàng đón nhận và quyết tâm vượt qua thử thách trong học tập và đờisống
- Biết tránh các tệ nạn xã hội
Thích ứng
với cuộc
sống
- Tìm được những cách giải quyết khác nhau cho cùng một vấn đề
- Thực hiện được các nhiệm vụ khácnhau với những yêu cầu khác nhau
- Vận dụng được một cách linh hoạt những kiếnthức, kĩ năng đã học hoặckinh nghiệm đã có để giảiquyết vấn đề trong nhữngtình huống mới
- Bình tĩnh trước những thay đổi bất ngờ của hoàncảnh; kiên trì vượt qua khó khăn để hoàn thành
- Điều chỉnh được hiểu biết, kĩ năng, kinh nghiệmcủa cá nhân cần cho hoạt động mới, môi trường sống mới
- Thay đổi được cách tư duy, cách biểu hiện thái
độ, cảm xúc của bản thân
để đáp ứng với yêu cầu mới, hoàn cảnh mới
Trang 28công việc cần thiết đã định.
Định
hướng nghề
nghiệp
- Bộc lộ được sở thích, khả năng của bản thân
- Biết tên, hoạt động chính và vai trò của một số nghề nghiệp; liên
hệ được những hiểu biết đó với nghề nghiệp của người thân trong gia đình
- Nhận thức được sở thích, khả năng của bản thân
- Hiểu được vai trò của các hoạt động kinh tế trong đời sống xã hội
- Nắm được một số thôngtin chính về các ngành nghề ở địa phương, ngànhnghề thuộc các lĩnh vực sản xuất chủ yếu; lựa chọn được hướng phát triển phù hợp sau trung học cơ sở
- Nhận thức được cá tính
và giá trị sống của bản thân
- Nắm được những thông tin chính về thị trường laođộng, về yêu cầu và triển vọng của các ngành nghề
- Xác định được hướng phát triển phù hợp sau trung học phổ thông; lập được kế hoạch, lựa chọn học các môn học phù hợpvới định hướng nghề nghiệp của bản thân
Tự học, tự
hoàn thiện
- Có ý thức tổng kết và trình bày được những điều
đã học
- Nhận ra và sửa chữa sai sót trong bài kiểm tra qua lời nhận xét của thầy cô
- Có ý thức học hỏi thầy cô, bạn bè
và người khác để củng cố và mở rộng hiểu biết
- Có ý thức học tập và làm theo những gương người tốt
- Tự đặt được mục tiêu học tập để nỗ lực phấn đấu thực hiện
- Biết lập và thực hiện kế hoạch học tập; lựa chọn được các nguồn tài liệu học tập phù hợp; lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khoá; ghi chú bài giảng của giáo viên theo các ý chính
- Nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân khi đượcgiáo viên, bạn bè góp ý;
chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập
- Xác định được nhiệm vụhọc tập dựa trên kết quả
đã đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạnchế
- Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêngcủa bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm
vụ học tập khác nhau; ghichép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết
- Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót,hạn chế của bản thân
Trang 29- Biết rèn luyện, khắc phục những
hạn chế của bản thân hướng tới các giá trị xã hội
trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để
có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học
- Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấnđấu cá nhân và các giá trị công dân
Năng lực giao tiếp và hợp tác
- Tiếp nhận được những văn bản về đời sống, tự nhiên
và xã hội có sử dụng ngôn ngữ kếthợp với hình ảnh như truyện tranh, bài viết đơn giản
- Bước đầu biết sử dụng ngôn ngữ kếthợp với hình ảnh,
cử chỉ để trình bàythông tin và ý tưởng
- Tập trung chú ý khi giao tiếp; nhận
ra được thái độ của đối tượng giaotiếp
- Biết đặt ra mục đích giao tiếp và hiểu được vaitrò quan trọng của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp
- Hiểu được nội dung và phương thức giao tiếp cầnphù hợp với mục đích giao tiếp và biết vận dụng
để giao tiếp hiệu quả
- Tiếp nhận được các văn bản về những vấn đề đơn giản của đời sống, khoa học, nghệ thuật, có sử dụng ngôn ngữ kết hợp với biểu đồ, số liệu, công thức, kí hiệu, hình ảnh
- Biết sử dụng ngôn ngữ kết hợp với biểu đồ, số liệu, công thức, kí hiệu, hình ảnh để trình bày thông tin, ý tưởng và thảoluận những vấn đề đơn giản về đời sống, khoa học, nghệ thuật
- Biết lắng nghe và có
- Xác định được mục đíchgiao tiếp phù hợp với đối tượng và ngữ cảnh giao tiếp; dự kiến được thuận lợi, khó khăn để đạt được mục đích trong giao tiếp
- Biết lựa chọn nội dung, kiểu loại văn bản, ngôn ngữ và các phương tiện giao tiếp khác phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp
- Tiếp nhận được các văn bản về những vấn đề khoahọc, nghệ thuật phù hợp với khả năng và định hướng nghề nghiệp của bản thân, có sử dụng ngôn ngữ kết hợp với các loại phương tiện phi ngônngữ đa dạng
- Biết sử dụng ngôn ngữ kết hợp với các loại phương tiện phi ngôn ngữ
đa dạng để trình bày thông tin, ý tưởng và để thảo luận, lập luận, đánh
Trang 30phản hồi tích cực trong giao tiếp; nhận biết được ngữ cảnh giao tiếp và đặc điểm, thái độ của đối tượng giao tiếp.
giá về các vấn đề trong khoa học, nghệ thuật phù hợp với khả năng và định hướng nghề nghiệp
- Biết chủ động trong giao tiếp; tự tin và biết kiểm soát cảm xúc, thái
độ khi nói trước nhiều người
- Nhận ra được những bất đồng, xích mích giữa bản thân với bạn hoặc giữa các bạn với nhau; biết nhường bạn hoặc thuyết phục bạn
- Biết cách thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ với các thành viên của cộng đồng (họ hàng, bạn bè, hàng xóm, )
- Nhận biết được mâu thuẫn giữa bản thân với người khác hoặc giữa những người khác với nhau; có thiện chí dàn xếp và biết cách dàn xếp mâu thuẫn
- Nhận biết và thấu cảm được suy nghĩ, tình cảm, thái độ của người khác
- Xác định đúng nguyên nhân mâu thuẫn giữa bản thân với người khác hoặc giữa những người khác với nhau và biết cách hoá giải mâu thuẫn
Biết chủ động đề xuất mục đích hợp tác khi được giao nhiệm vụ; biết xác định được những công việc có thể hoàn thành tốt nhất bằng hợp tác theo nhóm
Biết chủ động đề xuất mục đích hợp tác để giải quyết một vấn đề do bản thân và những người khác
đề xuất; biết lựa chọn hình thức làm việc nhóm với quy mô phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ
Hiểu rõ nhiệm vụ của nhóm; đánh giá được khả năng của mình và tự nhậncông việc phù hợp với bản thân
Phân tích được các công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ của nhóm; sẵn sàng nhận công việc khó khăn của nhóm
Trang 31Đánh giá được nguyện vọng, khả năng của từng thành viên trong nhóm để
đề xuất phương án tổ chức hoạt động hợp tác
Qua theo dõi, đánh giá được khả năng hoàn thành công việc của từng thành viên trong nhóm để
đề xuất điều chỉnh phương án phân công công việc và tổ chức hoạt động hợp tác
Tổ chức và
thuyết phục
người khác
Biết cố gắng hoàn thành phần việc mình được phân công và chia sẻ giúp đỡ thành viênkhác cùng hoàn thành việc được phân công
Biết chủ động và gương mẫu hoàn thành phần việcđược giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung; khiêm tốn học hỏi các thành viên trong nhóm
Biết theo dõi tiến độ hoànthành công việc của từng thành viên và cả nhóm để điều hoà hoạt động phối hợp; biết khiêm tốn tiếp thu sự góp ý và nhiệt tình chia sẻ, hỗ trợ các thành viên trong nhóm
Nhận xét được ưu điểm, thiếu sót của bản thân, của từng thành viên trongnhóm và của cả nhóm trong công việc
Căn cứ vào mục đích hoạtđộng của các nhóm, đánh giá được mức độ đạt mục đích của cá nhân, của nhóm và nhóm khác; rút kinh nghiệm cho bản thân
và góp ý được cho từng người trong nhóm
Hội nhập
quốc tế
- Có hiểu biết ban đầu về một số nước trong khu vực và trên thế giới
- Biết tham gia một số hoạt động hội nhập quốc tế theo hướng dẫn của nhà trường
- Có hiểu biết cơ bản về quan hệ giữa Việt Nam với một số nước trên thế giới và về một số tổ chức quốc tế có quan hệ
thường xuyên với Việt Nam
- Biết tích cực tham gia một số hoạt động hội nhập quốc tế phù hợp với bản thân và đặc điểm của nhà trường, địa phương
- Có hiểu biết cơ bản về hội nhập quốc tế
- Biết chủ động, tự tin trong giao tiếp với bạn bèquốc tế; biết chủ động, tích cực tham gia một số hoạt động hội nhập quốc
tế phù hợp với bản thân
và đặc điểm của nhà trường, địa phương
- Biết tìm đọc tài liệu nước ngoài phục vụ công việc học tập và định
Trang 32hướng nghề nghiệp của mình và bạn bè.
Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Nhận ra ý
tưởng mới
Biết xác định và làm rõ thông tin, ýtưởng mới đối với bản thân từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn
Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới;
biết phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan
từ nhiều nguồn khác nhau
Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ các nguồn thông tin khác nhau; biết phân tích các nguồn thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng và
độ tin cậy của ý tưởng mới
Phát hiện
và làm rõ
vấn đề
Biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra những vấn đề đơn giản và đặt được câu hỏi
Phân tích được tình huống trong học tập; pháthiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập
Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập, trong cuộc sống
và dự đoán được kết quả khi thực hiện
Phát hiện yếu tố mới, tíchcực trong những ý kiến của người khác; hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho; đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp;
so sánh và bình luận được
về các giải pháp đề xuất
Nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộcsống; suy nghĩ không theo lối mòn; tạo ra yếu
tố mới dựa trên những ý tưởng khác nhau; hình thành và kết nối các ý tưởng; nghiên cứu để thayđổi giải pháp trước sự thay đổi của bối cảnh; đánh giá rủi ro và có dự phòng
Đề xuất,
lựa chọn
giải pháp
Nêu được cách thức giải quyết vấn đề đơn giản theo hướng dẫn
Xác định được và biết tìmhiểu các thông tin liên quan đến vấn đề; đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề
Biết thu thập và làm rõ các thông tin có liên quanđến vấn đề; biết đề xuất
và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn được giải
Trang 33- Nhận xét được ý nghĩa của các hoạtđộng.
- Lập được kế hoạch hoạt động với mục tiêu, nội dung, hình thức hoạt động phù hợp
- Biết phân công nhiệm
vụ phù hợp cho các thànhviên tham gia hoạt động
- Đánh giá được sự phù hợp hay không phù hợp của kế hoạch, giải pháp
và việc thực hiện kế hoạch, giải pháp
- Lập được kế hoạch hoạt động có mục tiêu, nội dung, hình thức, phương tiện hoạt động phù hợp;
- Tập hợp và điều phối được nguồn lực (nhân lực, vật lực) cần thiết cho hoạt động
- Biết điều chỉnh kế hoạch và việc thực hiện
kế hoạch, cách thức và tiến trình giải quyết vấn
đề cho phù hợp với hoàn cảnh để đạt hiệu quả cao
- Đánh giá được hiệu quả của giải pháp và hoạt động
Tư duy độc
lập
Nêu được thắc mắc về sự vật, hiện tượng xung quanh; không e ngại nêu ý kiến cá nhân trước các thông tin khác nhau về sự vật, hiện tượng; sẵn sàng thay đổi khi nhận ra sai sót
Biết đặt các câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện tượng, vấn đề; biết chú ý lắng nghe và tiếp nhận thông tin, ý tưởng với sự cân nhắc, chọn lọc; biết quan tâm tới các chứng
cứ khi nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng;
biết đánh giá vấn đề, tình huống dưới những góc nhìn khác nhau
Biết đặt nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp nhận thông tin một chiều; không thành kiến khi xem xét, đánh giá vấnđề; biết quan tâm tới các lập luận và minh chứng thuyết phục; sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn đề
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 xác định mục tiêu là coitrọng phát triển năng lực giao tiếp với 04 kĩ năng đọc - viết - nói - nghe Thông quaviệc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp mà giáo dục tâm hồn, nhân cách và
kĩ năng sáng tạo văn học của học sinh, đồng thời góp phần phát triển các năng lựckhác như năng lực thẩm mĩ, năng lực tự chủ, năng lực giải quyết vấn đề và sángtạo Chính vì thế, để đảm bảo sự khoa học, nhất quán khi xây dựng mục tiêu dạyhọc, chương trình đã đưa ra những yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu, năng lựcchung và năng lực đặc thù theo từng cấp học, lớp học, từng loại hình văn bản Theo
Trang 34đó, phẩm chất chủ yếu bao gồm: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, tráchnhiệm Năng lực chung bao gồm: năng lực tự chủ và tự học; năng lực giao tiếp vàhợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Năng lực đặc thù bao gồm: nănglực ngôn ngữ và năng lực văn học
Mức độ năng lực được tăng dần từ lớp 1 đến lớp 12 theo các loại hình văn bảndựa trên 4 kĩ năng đọc - viết - nói - nghe Chẳng hạn, với văn bản nghị luận ở lớp
10, chương trình đưa ra những yêu cầu cần đạt cụ thể như sau: Yêu cầu cần đạt vănbản nghị luận lớp 10
Đọc
* Đọc hiểu nội dung - Nhận biết và phân tích được nộidung của luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêubiểu trong 32 Năng lực Yêu cầu cần đạt văn bản - Xácđịnh được ý nghĩa của văn bản Phân tích được mốiquan hệ giữa các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng; vaitrò của các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong việcthể hiện nội dung chính của văn bản - Dựa vào cácluận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản để nhậnbiết được mục đích, quan điểm của người viết * Đọchiểu hình thức - Nhận biết và phân tích được cách sắpxếp, trình bày luận điểm, lí lẽ và bằng chứng của tácgiả - Nhận biết và phân tích được vai trò của các yếu
tố biểu cảm trong văn bản nghị luận * Liên hệ, sosánh, kết nối Nhận biết và phân tích được bối cảnh lịch
sử hoặc bối cảnh văn hoá, xã hội - Nêu được ý nghĩahay tác động của văn bản đối với quan niệm sống củabản thân * Đọc mở rộng Trong 1 năm học, đọc tốithiểu 9 văn bản nghị luận (bao gồm cả văn bản đượchướng dẫn đọc trên mạng Internet) có độ dài tươngđương với các văn bản đã học
Viết
- Viết được văn bản đúng quy trình, bảo đảm các bước
đã được hình thành và rèn luyện ở các lớptrước; cóhiểu biết về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ và tránh đạovăn - Viết được một văn bản nghị luận về một vấn đề
xã hội; trình bày rõ quan điểm và hệ thống các luậnđiểm; có cấu trúc chặt chẽ; sử dụng các bằng chứngthuyết phục: chính xác, tin cậy, thích hợp, đầy đủ -Viết được một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá
Trang 35một tác phẩm văn học: chủ đề, những nét đặc sắc vềhình thức nghệ thuật và tác dụng của chúng - Viếtđược một bài luận thuyết phục người khác từ bỏ mộtthói quen hay một quan niệm - Viết được một bài luận
về bản thân
Nói và Nghe - Biết thuyết trình về một vấn đề xã hội có sử dụng kết
hợp phương tiện ngôn ngữ với các phương tiện giaotiếp phi ngôn ngữ - Nghe và nắm bắt được nội dungthuyết trình, quan điểm của người nói Biết nhận xét vềnội dung và hình thức thuyết trình - Biết thảo luận vềmột vấn đề có những ý kiến khác nhau; đưa ra đượcnhững căn cứ thuyết phục để bảo vệ hay bác bỏ một ýkiến nào đó; tôn trọng người đối thoại
2.1.3 Hình thành, củng cố kiến thức về thể loại trong hoạt động đọc văn bản
SGK Ngữ văn 10 chương trình mới 2018 có 9 bài học, mỗi bài đều được tổ
chức xoay quanh trục đọc – viết – nói và nghe, với những yêu cầu cụ thể, phù hợp,vừa lặp lại, vừa biến đổi, mở rộng theo hướng nâng cao dần Việc sắp xếp các phần
ở từng bài về cơ bản tuân thủ cấu trúc chung của bài học
Ví dụ: Trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 thuộc bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, nhằm bảo đảm tính nhất quán và triết lí riêng của bộ sách, nhan đề các bài
học trong Ngữ văn 10 không đặt theo tên từng loại, thể loại văn bản hay theo nộidung, chủ đề của các cụm văn bản được chọn, mà theo một số vấn đề hay yếu tốnổi bật của loại, thể loại đòi hỏi chúng ta phải nắm vững khi thực hành đọc, viết,nói và nghe Trọng tâm của mỗi bài học là các văn bản thuộc cùng một loại, thểloại đã được gợi mở từ nhan đề bài học Các văn bản này có mối liên hệ nhất địnhvới nhau về nội dung và không nhất thiết phải cùng ra đời trong một thời kì haycùng thuộc về một nền văn học GV nắm được cách tổ chức hệ thống văn bản nhưvậy sẽ giúp HS ý thức được phần nào sự phát triển của mỗi thể loại qua các vănbản đọc hiểu
Tôi may mắn ở trong nhóm Góp ý bản mẫu SGK Ngữ văn 10 của Sở GD&
ĐT Nghệ An nên được tiếp cận sớm với cả 3 bộ Sách Kết nối tri thức với cuộcsống, Bộ Cánh Diều, Bộ Chân trời sáng tạo Bản thân tôi đã Đọc, nghiên cứu vànhận thấy điểm nổi bật của 3 bộ SGK Ngữ văn 10 đặc biệt quan tâm tuyển chọnnhững văn bản có thể phục vụ tốt nhất cho việc rèn luyện, phát triển đồng bộ các kĩnăng đọc, viết, nói và nghe của người học, theo đúng yêu cầu của Chương trìnhgiáo dục phổ thông môn Ngữ văn ban hành năm 2018 GV và HS sẽ gặp ở đâynhững văn bản mang hơi thở của cuộc sống hiện đại đầy hấp dẫn, lần đầu tiên đượcđưa vào sách Ngữ văn cấp Trung học phổ thông Bên cạnh đó là không ít văn bảntừng quen thuộc với nhiều thế hệ học sinh nhưng có diện mạo mới do cách giới
Trang 36thiệu, cung cấp thông tin, hướng dẫn tìm hiểu, có tính chất mở, chú trọng mụctiêu phát triển năng lực và bám sát Yêu cầu cần đạt của mỗi bài học
Thông qua thực hành đọc hiểu các văn bản văn học có giá trị của văn học ViệtNam và một số nền văn học trên thế giới, HS vừa tích luỹ được cho mình nhiều trithức văn hoá, văn học và đời sống bổ ích, mà quan trọng hơn, còn nắm vững cáchđọc các loại, thể loại văn bản khác nhau Việc làm chủ cách đọc có liên quan mậtthiết với việc tự xây dựng cho mình thói quen đọc, niềm đam mê đọc suốt cuộcđời, vốn là đòi hỏi thiết yếu đối với con người sống trong thế giới của những kếtnối đa chiều
Ví dụ về bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, SGK Ngữ văn 10 gồm 2 tập.
Tập một có 5 bài học: Sức hấp dẫn của truyện kể, Vẻ đẹp của thơ ca, Nghệ thuậtthuyết phục trong văn nghị luận, Sức sống của sử thi, Tích trò sân khấu dân gian.Những bài học này sẽ giúp các em củng cố và bổ sung kiến thức về đặc điểm củamột số loại, thể loại văn bản quen thuộc như: truyện (gồm thần thoại, sử thi, truyệnngắn); thơ trữ tình; kịch bản văn học chèo, tuồng; văn bản nghị luận; đồng thờibiết cách thực hành đọc, viết, nói và nghe một cách chủ động về những vấn đề liênquan Tập hai có 4 bài học, thể hiện những đòi hỏi mới của việc tiếp nhận và vậndụng kiến thức về loại, thể loại văn bản, nhất là văn bản thông tin: Nguyễn Trãi –
“Dành còn để trợ dân này”, Quyền năng của người kể chuyện, Thế giới đa dạngcủa thông tin, Hành trang cuộc sống Trong số đó, bài đầu tiên của tập hai là bài vềtác gia văn học – một kiểu bài sẽ hiện diện trong sách giáo khoa Ngữ văn cả ba lớpthuộc cấp Trung học phổ thông, có cấu trúc tương đối đặc thù, giúp HS có thể vậndụng hiểu biết về các tác gia đã làm rạng danh nền văn hoá, văn học dân tộc ViệtNam để đọc hiểu những tác phẩm do họ sáng tác Bài cuối cùng thể hiện rõ địnhhướng Kết nối tri thức với cuộc sống ngay từ nhan đề, đòi hỏi bạn thực hiện cáchoạt động xoay quanh vấn đề “chuẩn bị hành trang” cho cuộc hành trình vào tươnglai của chính mình Cuối mỗi tập đều có bài ôn tập, vừa giúp các bạn nhớ lại nhữngđiều đã học, đã thực hành, vừa yêu cầu và hỗ trợ các bạn vận dụng kiến thức, kĩnăng đã có vào việc giải quyết một bài tập mang tính tổng hợp
Biện pháp hình thành, củng cố kiến thức về thể loại cho HS lớp 10 qua hoạt
Trang 37thân cũng như các đồng nghiệp trên địa bàn, tôi nhận thấy rằng sự sáng tạo trongviệc đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động tiếp cận vàphát triển các năng lực của học sinh còn nhiều chuyện tiếp tục phải suy nghĩ, trăntrở…Vì thế để có giờ dạy Ngữ văn tốt theo tinh thần đổi mới phương pháp dạyhọc, người GV phải vất vả hơn nhiều trong việc thiết kế và tổ chức giờ dạy Mỗi
GV chúng ta không ai muốn mình chỉ có một giờ dạy tốt, mà ai cũng muốn rằng tất
cả các giờ lên lớp của mình đều thành công và đó là một sự cố gắng rất lớn Chính
GV phải thực sự chủ động, sáng tạo thì mới có thể khơi dậy được sự hoạt động tíchcực, sáng tạo của mọi HS trong lớp Bởi vì mỗi bài học được lựa chọn đưa vàochương trình học đều thể hiện mục tiêu chung của bộ môn, thể hiện được ý đồngười biên soạn Mỗi cá nhân HS lại là một chủ thể tiếp nhận cá biệt, nên sự áp đặtcách hiểu, cách cảm nhận của GV với HS là chưa đúng với bản chất dạy và họctheo tinh thần phát triển năng lực và phẩm chất người học mà phải hướng đến sựphát triển toàn diện của HS
Hoạt động dạy-học Ngữ văn không chỉ là hoạt động lĩnh hội kiến thức màcòn rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế sinh động; phát triển 3 nănglực chung và 2 năng lực đặc thù của bộ môn Những năng lực này được hình thành
và phát triển không chỉ thông qua nội dung dạy học mà còn thông qua phươngpháp và hình thức tổ chức dạy học mới theo 5 bước: Khởi động, Hình thành kiếnthức, Luyện tập, Vận dụng, Tìm tòi mở rộng Trong đó hoạt động khởi động đóngvai trò quan trọng trong giờ học Nó là hoạt động khởi đầu nên có tác động đếncảm xúc, trí tuệ của người học trong toàn tiết học Nếu tổ chức tốt hoạt động này sẽtạo ra một tâm lý hưng phấn, tự nhiên để lôi kéo học sinh vào giờ học Hơn nữa,nếu càng đa dạng thì sẽ luôn tạo nên những bất ngờ thú vị cho học sinh Vì thếngười học sẽ không còn cảm giác mệt mỏi, nhàm chán, nặng nề, lo lắng như khigiáo viên kiểm tra bài cũ Các em sẽ được thoải mái tham gia vào hoạt động họctập mà không hề hay biết Nó như phần nhạc dạo của một ca khúc góp phần địnhhướng thái độ hát như: nhiệt tình sôi nổi hay sâu lắng thiết tha vì thế giờ học cũngbớt sự căng thẳng khô khan …Nhưng thực tế dạy học lại cho thấy rất nhiều giáoviên khó kiếm tìm được một cách khởi động để cho tiết học sinh động, hấp dẫnhoặc có tổ chức nhưng hiệu quả không cao do hình thức tổ chức nhàm chán, rờirạc, năng về kiến thức Bởi thế tôi đã rất trăn trở để tìm ra những hình thức tổchức hoạt động này có hiệu quả nhất, thiết thực, gần gũi nhất với nội dung bài học
và mạnh dạn nêu lên: “Một số hình thức tổ chức hoạt động khởi động cho giờ dạymôn Ngữ văn
Hoạt động Khởi động trong giờ dạy có một vai trò đặc biệt quan trọng trongviệc tổ chức các hoạt động trên lớp giúp HS định hướng nội dung bài học, bướcđầu giải quyết vấn đề đặt ra trong bài học nhưng nếu dạy theo phương pháp truyềnthống thì HS sẽ tiếp cận kiến thức một cách máy móc, khô khan, thụ động Vì thếnếu tổ chức tốt hoạt động Khởi động một cách đa dạng, linh hoạt thì sẽ tạo hứngthú học tập, giúp các em chủ động khám phá cái đẹp của ngôn từ, cảm xúc và giá
Trang 38trị tư tưởng của mỗi bài học, phát triển tốt các năng lực chung và năng lực đặc thùcủa bộ môn Ngữ văn.
Khởi động là hoạt động đầu tiên, hoạt động này nhằm giúp học sinh huyđộng những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề có nộidung liên quan đến bài học mới Hoạt động khởi động sẽ kích thích tính tò mò, sựhứng thú, tâm thế của học sinh ngay từ đầu tiết học Hoạt động khởi động thườngđược tổ chức thông qua hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm sẽ kích thích sựsáng tạo, giúp học sinh hình thành năng lực hợp tác, tinh thần học hỏi, giúp đỡnhau khi thưc hiện nhiệm vụ Chuẩn bị phần khởi động như thế nào cho hiệu quảphải dựa vào nội dung bài, đối tượng học sinh và cả điều kiện của giáo viên
Từ nhiều năm nay, phương pháp dạy học văn đã rất chú ý đến khâu tạo tâmthế học văn cho học sinh Một trong những mục đích của giờ văn là làm sao gâyđược rung động thẩm mỹ, giáo dục nhân cách cho học sinh Nhưng việc tiếp thukiến thức, đặc biệt là kiến thức văn chương, lại không thể mang tính ép buộc Nóchỉ thực sự hiệu quả khi bắt nguồn từ sự tự nguyện hay có cảm giác thích thú.Thiết nghĩ, trong cuộc sống hay trong dạy – học, bước khởi đầu luôn là bước tạonền tảng, tâm thế Nền tảng vững, tâm thế tốt thì các hoạt động phía sau mới hiệuquả Và ngược lại, nếu khởi đầu không tốt thì các hoạt động khác cũng vô cùngkhó khăn
Hoạt động khởi động dù chỉ là một khâu nhỏ, không nằm trong trọng tâmkiến thức cần đạt nhưng nó có tác dụng tạo tâm thế thoải mái, nhẹ nhàng, hưngphấn cho học sinh vào đầu giờ học Điều đó có nghĩa là nó sẽ ảnh hưởng lớn đếntoàn bộ bài dạy Vậy nên nếu vì nó chỉ là khâu nhỏ mà bỏ qua thì là một sai lầmlớn Hơn nữa xét từ góc độ tâm lý lứa tuổi và khả năng tiếp thu kiến thức của họcsinh ở giai đoạn lứa tuổi này có thể thấy rằng nhu cầu tìm hiểu, phát triển tư duykiến thức, kỹ năng, cảm xúc thẩm mỹ là rất lớn Nhưng các em có tư tưởng muốn
tự khám phá, thích độc lập trong suy nghĩ, có chủ kiến của riêng chứ không thích
bị áp đặt Các em không thích một giờ học gò bó, căng thẳng Cho nên cách tổchức hoạt động theo phương châm: học mà chơi, chơi và học là một cách hay đểlôi kéo, tạo tâm thế thoải mái cho học sinh
Trong một lớp học khả năng tiếp thu của mỗi em học sinh là khác nhau chonên hứng thú của mỗi em trong mỗi giờ học cũng sẽ khác Có học sinh hào hứngđón nhận giờ Ngữ văn Các em tìm thấy ở đây những cảm xúc thẩm mỹ, những bàihọc cuộc sống giúp các em trưởng thành, hoặc các em cảm thấy nhẹ nhõm, thoảimái hơn so với những tiết học tự nhiên khác Bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều họcsinh có thói quen thụ động trong học tập Các em không thích học, không đọc tácphẩm, không quan tâm nhiều đến hành trình tự khám phá mà cơ bản là ghi chép vàdựa vào các tài liệu có sẵn để làm bài kiểm tra Nhiều học sinh còn có biểu hiện uểoải, mệt mỏi trong giờ học Thói quen lười vận động, lười tư duy, học tập hời hợt,không hứng thú đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập
Trang 39Nguyên nhân của vấn đề này không chỉ bởi chủ quan các em mà phần lớn do
GV chưa chú tâm trong việc tổ chức hoạt động khởi động tạo tâm thế, đặt ra nhữngtình huống có vấn đề để đưa HS vào thế chủ động tiếp nhận bài học, hứng thú thamgia các hoạt động, có ý thức tìm tòi giải quyết các vấn đề đặt ra trong giờ học
Một số hình thức tổ chức hoạt động Khởi động cụ thể:
Hoạt động Khởi động để tạo tâm thế cho HS trước mỗi giờ học
Trong tiến trình lên lớp của phương pháp dạy học truyền thống: trước khibắt đầu một bài giảng, GV sẽ làm một việc quen thuộc là hỏi bài cũ để từ đó xâunối kiến thức bài trước với bài sau hoặc để tạo không khí thân thiện, cởi mở Làmthế sẽ giảm phần nào những áp lực học tập, kéo HS tập trung vào bài học một cáchlinh hoạt
Khởi động bằng tổ chức trò chơi:
Tổ chức hoạt động Khởi động bằng trò chơi có những thuận lợi: Phát huytính sáng tạo, hấp dẫn, gây hứng thú cho HS, giúp HS dễ tiếp thu kiến thức mới,giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau Trò chơi còn là hoạtđộng được các học sinh thích thú tham gia Vì vậy nó có khả năng lôi kéo sự chú ý
và khơi dậy được hứng thú học tập Rất nhiều trò chơi ngoài mục đích đó còn cóthể ôn tập kiến thức cũ hoặc dẫn dắt các em vào hoạt động tìm kiếm tri thức mớimột cách tự nhiên, nhẹ nhàng Hoặc có những trò chơi giúp các em vận động taychân khiến cho cơ thể tỉnh táo, giảm bớt những áp lực tâm lý do tiết học trước gây
ra Theo Tiến sĩ Ngô Thị Thu Dung-Giám đốc điều hành Trung tâm nghiên cứuphát triển giáo dục cộng đồng (Trường ĐH GD-ĐHQG Hà Nội): "Trò chơi là mộthình thức giao tiếp bạn bè, phát triển tốt các năng lực giao tiếp, trò chơi đồng thời
là một phương tiện mà thông qua đó HS có thể giao tiếp với nhau một cách tựnhiên và dễ dàng hơn"”
Mục đích của việc tổ chức trò chơi là nhằm lôi cuốn HS tham gia vào cáchoạt động giáo dục một cách tự nhiên và tăng cường tính trách nhiệm; hình thànhcho HS tác phong nhanh nhẹn, phát huy tính snags tạo cũng như tăng cường sựthân thiện, hòa đồng giữa các HS, tạo hứng thú xua tan căng thẳng mệt mỏi trongquá trình học tập và giúp cho việc học tập trở nên nhẹ nhàng, sinh động, không khôkhan, hàn lâm, nhàm chán…
Một số trò chơi quen thuộc có thể sử dụng trong hoạt động Khởi động
*Trò chơi “Đuổi hình bắt tác phẩm”
Đây là trò chơi mang tính chất nhận diện Nó phù hợp cho những tiết dạyhọc ôn tập hoặc những tiết dạy chủ đề Trò chơi này có những ưu thế nhất địnhnhư: Có khả năng lôi kéo số đông học sinh tham gia Phát huy trí tưởng tượng củahọc sinh Rèn luyện khả năng phản ứng nhanh Trong thời gian ngắn có thể giúphọc sinh nhớ lại những tác phẩm đã học
Cách tổ chức:
Trang 40Giáo viên chuẩn bị những bức hình khác nhau treo lên bảng Mỗi hình cónhững điểm gợi ý Học sinh nhìn vào hình để đoán tên tác phẩm Ai đoán nhanh vàđoán đúng sẽ có điểm.
Ví dụ: Để chuẩn bị cho chủ đề: "Truyện ngụ ngôn và những bài học" GV cung cấpnhững hình ảnh sau (lần lượt trình chiếu từng hình ảnh) và nêu câu hỏi: Đây lànhững hình ảnh thể hiện các văn bản nào? Các văn bản đó có ý nghĩa gì?
HS tham gia trả lời về thể loại Truyện ngụ ngôn, ý nghĩa truyện ngụ ngôn
* Khởi động bằng hình thức thư giãn, giải trí:
Đây là hình thức khởi động nhẹ nhàng so với học sinh Nó phù hợp chonhững giờ dạy văn bản Việc cung cấp cho học sinh những hình ảnh tiêu biểu trongvăn bản hay để các em chìm lắng vào trong những giai điệu âm nhạc thiết tha, trữtình sẽ là một cách thú vị để các em thăng bằng cảm xúc, tạo những rung độngthẩm mỹ thu hút các em vào nội dung bài học
Khi dạy văn bản Sông nước Cà Mau, sách Ngữ văn 6, tập 2 Gv trình chiếucho HS xem một số hình ảnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đặc điểm giaothông, kênh rạch…để HS dễ theo dõi
* Khởi động bằng tạo tình huống học tập
Tạo tình huống nghĩa là giúp các em tưởng tượng ra một tình huống cụ thểnào đó gần với nội dung bài học để các em trải nghiệm, tưởng tượng
Học tập là một quá trình khám phá Quá trình ấy bắt đầu bằng sự tò mò, nhucầu cần được hiểu biết và giải quyết mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều muốnbiết Một khởi động bài học thành công cần khơi gợi trong học trò mong muốnđược tìm hiểu, khám phá bằng những hoạt động tiếp theo trong giờ học, thậm chí
là sau giờ học Muốn như vậy, hoạt động khởi động cần tạo ra mâu thuẫn trongnhận thức cho học trò Đây là tiền đề để thực hiện một loạt các hoạt động tìm tòi,giải quyết vấn đề Muốn như vậy, giáo viên phải là người có ý tưởng, biết gieo vấn
đề để kích thích trí tò mò của người học
Lưu ý: (của học sinh, khởi động cần tổ chức thành hoạt động để học sinh trực
tiếp tham gia nên sẽ cần lượng thời gian nhiều hơn Vì vậy khi xây dựng kịch bảncho hoạt động khởi động, giáo viên cần lưu ý không lấy những nội dung khôngthiết thực với bài học, tránh lấy những nội dung mang tính chất minh họa mà cần
cụ thể: sử dụng nội dung bài học để khởi động, sao cho trong khởi động sẽ baoquát được nội dung bài học, qua đó giúp GV biết được học sinh đã có kiến thức gìtrong bài mới và chưa biết gì để khai thác sâu vào những nội dung học sinh chưabiết (điều này có thể sẽ khác nhau ở từng lớp nên giáo viên cần có sự điều chỉnhkịp thời để phù hợp với đối tượng học sinh ở các lớp)
2 Biện pháp hình thành, củng cố kiến thức về thể loại qua việc xác định chiến lược đọc đối với văn bản.