Các biện pháp thực hiện 11Biện pháp 1: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội về tầm quan trọng của việc chỉ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 4
- -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO DỤC Ý THỨC TỰ
HỌC GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP,
PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CHO
HỌC SINH TẠI TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 4
Lĩnh vực: Quản lý Tác giả: Nguyễn Bá Hùng Năm học: 2021-2022
Số điện thoại: 0946406777
Năm 2022
Trang 25.2 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Những lý luận làm cơ sở khoa học cho việc áp dụng đề tài 4
3 Các biện pháp chỉ đạo ý thức tự học nhằm nâng cao hiệu quả học tập,
phát triển phẩm chất, năng lực tự học cho học sinh THPT 10
Trang 33.2 Các biện pháp thực hiện 11
Biện pháp 1: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng
cao nhận thức cho giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội về tầm
quan trọng của việc chỉ đạo ý thức tự học
11
Biện pháp 2: Chỉ đạo đổi mới sinh hoạt lớp theo chủ đề trong đó có chủ
đề giáo dục ý thức tự học 12Biện pháp 3: Đổi mới công tác quản lý về hoạt động tự học của học
Biện pháp 4: Tập huấn cho giáo viên công tác hướng dẫn học sinh kỹ
năng, phương pháp tự học 14Biện pháp 5: Tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy học trên
lớp của giáo viên và phương pháp học tập của học sinh 15Biện pháp 6: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
Biện pháp 7: Động viên, khuyến khích, kích thích các hoạt động tự học
của HS, thực hiện các HĐ NGLL hướng vào các điều kiện hỗ trợ hoạt
động tự học
17
Biện pháp 8: Xây dựng thư viện, phát triển văn hóa đọc cho học sinh 18
Biện pháp 9: Tăng cường và đổi mới tổ chức hoạt động trải nghiệm
sáng tạo, qua đó giúp học sinh phát triển các phẩm chất, kỹ năng 18Biện pháp 10: Quản lý tự học trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi và
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN
Trang 5PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Văn bản số 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03/10/2017 của Bộ GDĐT về việchướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướngphát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017-2018 về phương pháp,
hình thức dạy học đã chỉ rõ: “Chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự
học, tự nghiên cứu sách giáo khoa để tiếp nhận và vận dụng kiến thức mới thông
qua giải quyết nhiệm vụ học tập đặt ra trong bài học”
Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ GDĐT Ban hànhChương trình GDPT (có hiệu lực từ 15/02/2019) nêu rõ: “Những năng lực chung
được hình thành, phát triển thông qua các môn học và hoạt động giáo dục: năng
lực tự chủ và tự học…”.
Đặc biệt năm học 2019-2020; 2020-2021, đại dịch Covid-19 xuất hiện làmảnh hưởng đến mọi hoạt động của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động dạy học.Học sinh trên cả nước đã phải nghỉ học một thời gian dài chống dịch Để đáp ứngchủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo là “Ngừng đến trường nhưng không ngừnghọc” thì việc rèn luyện cho học sinh khả năng tự học là rất quan trọng và để việc tựhọc của học sinh có hiệu quả cao giáo viên cần có hướng dẫn, định hướng
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong cách học phải lấy tự họclàm cốt” Tự học chính là thực chất của sự học, tự mình chủ động đến với tri thức
và nâng cao tri thức ngoài phạm vi sách vở do nhà trường dạy cho Việc nâng cao
ý thức tự học giúp cho người học hiểu sâu, mở rộng, củng cố và ghi nhớ bài họcmột cách vững chắc nhờ vào khả năng tự phân tích, tổng hợp tài liệu, từ đó có khảnăng vận dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết những nhiệm vụ học tập mới.Đồng thời tự học giúp người học hình thành được tính tích cực, độc lập tự giáctrong học tập cũng như nề nếp làm việc khoa học Từ đó quyết định sự phát triểncác phẩm chất nhân cách và quyết định chất lượng học tập của học sinh Như vậy
tự học là con đường gần nhất mở ra thế giới kỳ diệu cho sự nhận thức, khám phá
và hành động Thế nhưng trên thực tế hiện nay không ít học sinh không tự học màdựa vào thầy cô ở các lớp học thêm, một số chưa biết cách tự học, một số chưa có
ý chí nghị lực trong vấn đề tự học Trước thực trạng đó, là một cán bộ quản lýchuyên môn của nhà trường, tôi thực hiện chỉ đạo một số biện pháp nâng cao ýthức tự học cho học sinh vừa trực tiếp vừa gián tiếp qua giáo viên hướng dẫn cáchthức hoạt động để nâng cao hiệu quả học tập và hình thành cho các em phẩm chất,năng lực tự học hiệu quả
Xuất phát từ vai trò, vị trí của bản thân và nhu cầu hoạt động tự học hiện nay
của học sinh THPT Đô Lương 4 Tôi thực hiện sáng kiến với đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục ý thức tự học góp phần nâng cao hiệu quả học tập, phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh tại trường THPT Đô Lương 4”.
Trang 62 Mục đích nghiên cứu:
- Nâng cao hiệu quả dạy học, giáo dục học sinh tạo sự hứng thú và phát huyđược năng lực tự học sáng tạo cho học sinh
- Chia sẻ đồng nghiệp về kinh nghiệm dạy học có hiệu quả
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Đánh giá thực trạng về công tác dạy học, công tác quản lý dạy học tạitrường THPT Đô Lương 4
- Đề xuất cách thực hiện các biện pháp
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xem xét khả năng ứng dụng của đề tài
4 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tìm hiểu, đề xuất cách thiết kế các phương
pháp, cách thức thực hiện tại các trường THPT trên địa bàn huyện tôi công tác
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp trong thực hiện dạy học và giáo dục trường THPT Đô Lương 4
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Quan sát, phỏng vấn, nghiên cứu sản phẩm, so sánh giữa các số liệu thuđược và nghiên cứu các tài liệu, thu thập thông tin liên quan
6.2 Phương pháp khảo sát: tiến hành khảo sát năng lực học và tự học họcsinh, khảo sát các phương pháp, cách thức tiến hành, khảo sát kết quả đã đạtđược
6.3 Phương pháp thống kê số liệu trong quá trình khảo sát
6.4 Phương pháp phân tích, phân loại: phân tích những nguyên nhân vànhững kết quả đạt được trong hoạt động dạy học
6.5 Phương pháp so sánh trong thực trạng vấn đề và so sánh kết quả thu đượcsau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
6.6 Ngoài ra còn có các phương pháp như: thuyết trình, thực nghiệm
Trang 7Bản chất của việc học là quá trình nghiên cứu chuyên sâu, mở rộng các vấn
đề, lĩnh vực mà mình muốn biết giúp chúng ta trau dồi kiến thức, tăng sự sáng tạo,trí tuệ và vận dụng điều đó vào cuộc sống xã hội
1.3 Tự học quan trọng như thế nào?
Từ xưa đến nay các bậc anh tài đã cho thấy việc tự học có ý nghĩa hết sứcquan trọng đối với tri thức của con người
Tự học giúp con người có thể hiểu biết, lĩnh hội tri thức một cách chủ động,toàn diện, hứng thú với các vấn đề trong sách vở, trong cuộc sống Con người được
tự làm chủ, quyết định vấn đề mà bản thân thích và nghiên cứu chúng
Tự học giúp con người ghi nhớ một cách lâu hơn do có sự chuẩn bị tìm tòi cáckiến thức ấy Tự học còn giúp việc vận dụng những kiến thức đã học một cách hữuích hơn vào cuộc sống để làm những việc có ích và thiết thực
Không những thế tự học còn giúp con người trở nên năng động, sáng tạo,không ỷ lại, không phụ thuộc vào người khác Từ đó biết tự bổ sung những khiếmkhuyết của mình để tự hoàn thiện bản thân
Không chỉ vậy tự học là con đường ngắn nhất và duy nhất để hoàn thiện bảnthân và biến ước mơ thành hiện thực Người có tinh thần tự học luôn chủ động, tựtin trong cuộc sống
Hiện nay thì hình thức tự học rất được đề cao, tự học được xem là hình thức
Trang 8phụ thuộc vào thầy cô Nói như vậy không có nghĩa việc tự học thay thế cách họctruyền thống mà con người cần tự học có hướng dẫn; bổ sung kết hợp để đạt đượckết quả tuyệt vời Đặc biệt trong thời đại 4.0 ngày nay càng chứng minh là hiệuquả, tiện lợi và nhanh chóng, nhờ vào sự phát triển của internet.
1.4 Những lý luận làm cơ sở khoa học cho việc áp dụng đề tài
Nói đến học tập là nói đến hình thức dạy - học và tự học Việc học phải đi đôivới việc dạy và việc dạy phải hướng đến người học, đó là quá trình tương tác giữagiáo viên và học sinh Xét cho cùng trong quá trình dạy học là giúp học sinh tự học
để hoàn thiện và phát triển nhân cách của cá nhân nhằm đáp ứng với các chuẩnmực và nhu cầu trong sự phát triển chung của thời đại Tự học gắn với cuộc đờicủa mỗi con người Một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục đã đề cập đếnvấn đề tự học dưới nhiều hình thức khác nhau
1.4.1 Trên thế giới
- Ngay từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479 trước Công nguyên), Aistot là cácnhà sư phạm kiệt xuất đã cho rằng: Dạy và học là phải trên cơ sở phát huy tính tíchcực nhận thức của học sinh và đòi hỏi học sinh phải biết kết hợp với suy nghĩ, biếtnăng động trong học tập Cần cố gắng gợi mở để học sinh tự học trong hoạt độnghọc tập của mình
- Đến thời cận đại, nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc J.A.Komenxky(1592-1670) đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thànhtài năng”, năm 1657 ông đã hoàn thành tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” trong đónêu rõ: “Việc học hành muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần
mà phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ”
- Trong giai đoạn hiện đại, các nhà giáo dục học đi sâu nghiên cứu khoa họcgiáo dục và đã khẳng định vai trò to lớn của tự học J.J.Rousseau (1712-1778) khixây dựng quan điểm dạy học cũng cho rằng: “cần hướng cho học sinh tự nắm lấykiến thức bằng cách tự tìm hiểu, tự khám phá, tự tìm tòi và sáng tạo…”
- Như vậy, tự học như là một phương thức để con người lĩnh hội tri thức củanhân loại Từ những thập niên 30 - 40 của thế kỷ XX trong cuốn “Giáo dục vì cuộcsống sáng tạo” nhà sư phạm nổi tiếng Makiguchi cho rằng: “Giáo dục xét như mộtquá trình hướng dẫn tự học, động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giátrị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng”
1.4.2 Ở Việt Nam
- Truyền thống hiếu học và tự học đã được khẳng định qua các vị khoa bảngnhư Nguyễn Du, Chu Văn An, Lê Quý Đôn…Các thế hệ cha ông chúng ta đã vươnlên chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức bằng nỗ lực học tập và tự học
- Chủ tịch Hồ Chí Minh - Vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam là mộttấm gương sáng về tinh thần tự học và tự rèn luyện Trong tác phẩm “sửa đổi lối
Trang 9làm việc” (1947), khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Bác Hồ đã căn dặn: “Vềcách học phải lấy tự học làm cốt Do thảo luận và chỉ đạo thêm vào” Tư tưởng củaNgười về giáo dục đã được vận dụng quán triệt trong các Nghị quyết của Đảng.Nghị quyết Hội nghị lần thứ II - Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đãkhẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học…nâng cao khả năng tự học, tự nghiêncứu người học” “Phát triển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên, rộng khắptrong toàn dân, nhất là thanh niên”.
- Khi phát biểu chỉ đạo đối với ngành giáo dục, nguyên Tổng Bí thư Trungương Đảng Đỗ Mười đã nhấn mạnh: Tự học - tự đào tạo là con đường phát triểnsuốt đời của mỗi người trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay và cả maisau, đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam Chất lượng và hiệu quảcủa giáo dục được nâng cao khi tạo ra năng lực tự học, sáng tạo của người học, khibiến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục
Như vậy, từ lâu tự học đã được bàn luận và quan tâm của rất nhiều nhà khoahọc, quản lý giáo dục
1.5 Nội dung của phương pháp chỉ đạo ý thức tự học
Mục đích của phương pháp này là chỉ đạo một số nội dung chuyên môn đếngiáo viên và yêu cầu thực hiện Đồng thời tạo điều kiện cho HS có phương pháp tựhọc được dễ dàng và tận dụng điều kiện có một số thời gian làm việc với GV đểtranh thủ sự hướng dẫn của GV mà rèn luyện phương pháp, kĩ năng tự học, việcnắm vững kiến thức, rèn luyện năng lực Như vậy nội dung của phương pháp sẽbao gồm hoạt động của ban chuyên môn chỉ đạo GV và GV hướng dẫn, tổ chứccho học sinh thực hiện
2 Cơ sở thực tiễn: Thực trạng về khả năng tự học của học sinh nhà trường
và việc hướng dẫn chỉ đạo GV định hướng cách thức tự học cho học sinh
2.1 Vài nét cơ bản về mái trường THPT Đô Lương 4
Trường THPT Đô Lương 4 được thành lập theo Quyết định UBND.VX ngày 07/8/2006 của UBND tỉnh Nghệ An Trường nằm ở vùng hạhuyện kinh tế có nhiều khó khăn của huyện Đô Lương, trải qua quá trình hìnhthành và phát triển hiện nhà trường có 21 lớp với gần 900 học sinh
2836/QĐ-Đội ngũ đa phần trẻ, nhiệt huyết, học sinh đa số chăm ngoan, hiếu học, tuynhiên nhiều giáo viên còn thiếu kinh nghiệm, học sinh trường tuyển thuộc vùngnông thôn, ít khát vọng, mục tiêu học không xác định rõ ràng, nhiều học sinh thiếu
Trang 10- Thói quen thu động trong quá trình học tập; quen nghe, ghi chép, nhớ và táihiện lại những gì giáo viên nói.
- Do chưa hình thành kỹ năng, phương pháp tự học, nên kiến thức của hầu hếthọc sinh tỏ ra hẫng hụt ngay từ đầu năm học, không nắm được các kiến thức đãhọc một cách hệ thống, khoa học và hầu như không vận dụng được kiến thức
- Giai đoạn chuẩn bị hoạt động tự học (lập kế hoạch, xác định mục đíchnhiệm vụ tự học, tiến trình và thời gian cho hoạt động tự học) đa số học sinh khôngthực hiện được
- Sự quan tâm đến giáo dục toàn diện cho học sinh thông qua hình thức tự họcchưa đúng mức
2.3 Thực trạng của giai đoạn chuẩn bị hoạt động tự học (lập kế hoạch, xácđịnh mục đích nhiệm vụ tự học, tiến trình và thời gian cho hoạt động tự học)
Hoạt động tự học chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi học sinh biết cách quản
lý hoạt động tự học thông qua việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học, cónghĩa là phải lượng hóa cho được thời gian tự học tương ứng với từng nhiệm vụhọc tập của bản thân “Thành công phụ thuộc 4% kiến thức, 26% kỹ năng và 70%thái độ” Thái độ chiếm tỷ lệ phần trăm thành công là rất cao, vậy muốn có thái độnghiêm túc thực hiện mục tiêu cần phải lập ra kế hoạch cụ thể, khoa học phù hợp
để thực hành hiệu quả
- Thực trạng việc lập kế hoạch tự học của học sinh: Muốn mang lại hiệu quảcao trong hoc tập điều quan trọng nhất là phải chọn đúng trọng tâm công việc, phảilập kế hoạch học tập hợp lý của từng học sinh Nội dung cần học thì nhiều mà sứclực con người và thời gian thì có hạn Do đó, học tập không theo kế hoạch sẽkhông có hiệu quả Mỗi học sinh phải tự xác định cho mình học cái gì là chính, làquan trọng nhất và có tác động đến mục đích Khi xác định được trọng tâm, cầnphải sắp xếp việc học cho hợp lý về nội dung và thời gian học là rất quan trọng.Nhưng trong thực tế hầu như học sinh ở trường THPT Đô Lương 4 ít chú ý nên cóảnh hưởng rất lớn đến kết quả tự học nói riêng và kết quả học tập nói chung Hầunhư các em nhận thức được tầm quan trọng của việc lập kế hoạch tự học, nhưngcác em chưa có kỹ năng lập kế hoạch tự học Do đó, hướng dẫn và rèn luyện kỹnăng lập kế hoạch tự học cho học sinh là một vấn đề mà giáo viên bộ môn, giáoviên chủ nhiệm cần quan tâm
- Thực trạng về hình thức tự học ngoài giờ lên lớp
Qua điều tra có 74% HS tự học một mình Trong đó có một số tự học theongẫu hứng, một số có vạch kế hoạch học môn gì và nội dung tự học do chính bảnthân tự xác định Tự học theo hình thức này có rất nhiều em gặp nhiều câu hỏikhông trả lời được và mất nhiều thời gian để tìm câu trả lời, có lúc bế tắc, giánđoạn việc tự học và không hứng thú
Trang 11Có 53% HS học theo nhóm bạn, thảo luận những vấn đề về môn học mà cánhân không tự giải quyết được Hình thức này đã mang lại hiệu quả và phát huycao tính tổ chức, kỹ luật Kết quả mang lại là các bạn trong nhóm hiểu sâu hơn,nhớ lâu hơn các vấn đề cần giải quyết của bài học cũng như rèn luyện được tínhđộc lập, tự chủ và hợp tác nhóm
Thực tế cho thấy HS có thói quen ngày mai học môn gì thì hôm nay học môn
đó, chứ chưa xếp lịch tự học hợp lí, không có mục đích đặt ra từ trước, không có ýchí tự mình phải khép vào khuôn khổ thực hiện việc học tập, thích thì học vàkhông thích thì thôi Điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng tự học của HS
- Thực trạng về tiến trình thực hiện hoạt động tự học và thời gian tự học
Bảng 2.3.1 Đánh giá thực trạng tiến trình tự học
TT Tự học của HS được tiến hành
Mức độ Thường
xuyên
Không thường xuyên
Không bao giờ
4 Học khi chuẩn bị kiểm tra và thi 764 86 115 13 09 1
5 Ngày sau có giờ, cò bài liên quan 586 66 240 27 62 7 Qua bảng khảo sát 2.3.1, chúng ta thấy rằng có đến 86% HS sử dụng thời gian
tự học khi chuẩn bị cho kiểm tra, thi cử; có đến 76% tự học khi rãnh rỗi và 66% tựhọc khi ngày sau có giờ, bài liên quan là thường xuyên Bên cạnh đó, có đến 10%
là không bao giờ học lúc rãnh rỗi và 1% không bao giờ học khi chuẩn bị thi vàkiểm tra Điều này cho thấy một số em hầu như không có ý thức tự học ngoài giờlên lớp và không có sự quan tâm nhắc nhỡ của mọi người trong gia đình Qua traođổi với một số giáo viên, đa số cho rằng việc sử dụng quỹ thời gian cho hoạt động
tự học hiện nay là chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra trong qua trình đổi mới phươngpháp dạy học Việc dạy thêm, học thêm của một số bộ môn do nhiều nguyên nhânkhác nhau đã lấy đi nhiều thời gian của các em, nên quỹ thời gian còn lại là rất ítchỉ đủ để xem lại lý thuyết bài cũ, bên cạnh đó thì một số em chỉ biết giải trí chơiđùa qua phim ảnh, internet và có chăng tự học chỉ đủ để nhằm đối phó với kiểmtra và thi cử
+ Những HS khá, giỏi thì việc tự học ở nhà cũng như trên lớp hay học thêmđều đạt mức độ khá tốt Khả năng vận dụng tư duy chỉ tập trung ở các em có học
Trang 12lực giỏi Tính tự lập trong học tập của các em là rất cao, biết cách tự học trong mọihoàn cảnh, chịu khó suy nghĩ và tích cực học tập.
+ Đa phần HS còn thụ động, không chịu khó suy nghĩ, thời gian dành cho họcthêm quá nhiều mà lại không tích cực trong học tập Nhiều HS chạy theo phongtrào học thêm với bạn bè nhưng không có mục đích, không tự mình vận dụng trítuệ, tri thức để giải quyết các bài tập cũng như không có thời gian để hấp thu bàigiảng trên lớp Sự ỷ lại trong học tập nhờ vào học thêm ở các thầy cô, mong muốntrúng tủ khi kiểm tra đạt điểm cao mà không quan tâm đến hạt động tự học của bảnthân Điều này, làm cho các em không nắm chắc kiến thức, sự hổng kiến thức càngngày càng tăng lên
- Khảo sát thực trạng về hoạt động tự học của học sinh
Sử dụng phiếu hỏi 888 HS và trao đổi trực tiếp với một số HS:
Bảng 2.3.2 M c ức độ sử dụng phương pháp tự học của học sinh độ sử dụng phương pháp tự học của học sinh ử dụng phương pháp tự học của học sinh ụng phương pháp tự học của học sinh s d ng phương pháp tự học của học sinhng pháp t h c c a h c sinhự học của học sinh ọc của học sinh ủa học sinh ọc của học sinh
TT Mức độ sử dụng phương pháp
Mức độ Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
1 Đọc tài liệu tham khảo và SGK 759 85,5 129 14,5 0 0
3 Vận dụng kiến thức để giải bài tập 286 32,2 448 50,4 154 17,4
4 Hệ thống hóa và khái quát hóa kiến
5 Làm đề cương và học theo đề cương 148 16,7 607 68.3 133 15
6 Tự kiểm tra quá trình đánh giá tự học 140 15,8 448 50,4 300 33,8Qua bảng điều tra 2.3.2 cho thấy rằng, hầu hết HS đều biết sử dụng phươngpháp tự học theo nhiều cách khác nhau Trong đó, các phương pháp được sử dụngthường xuyên nhiều nhất là học thuộc lòng bài giảng trước khi lên lớp chiếm đến86,4% và tất cả các môn HS đều học thuộc lòng mà không vận dụng tư duy trong
tự học Phương pháp đọc tài liệu tham khảo và sách giáo khoa thường xuyên chiếm
tỷ lệ 85,5% và HS cho rằng tất cả các môn học đều chứa dung lượng kiến thứcnhiều trong lúc thời lượng của môn học trên lớp không tiếp thu đầy đủ được Bêncạnh đó, sự phân ban, phân hóa, môn học tự chọn và cách viết sách giáo khoa củacác ban rất khác nhau khó hiểu Đối với phương pháp vận dụng kiến thức để giảibài tập có 32,2% HS thường xuyên thực hiện, nhưng tìm hiểu một số HS thì chỉ tậptrung làm bài tập ở trong sách giáo khoa theo yêu cầu của GV mà chưa làm thêm
Trang 13các bài tập ở sách bài tập Kết quả điều tra cho thấy việc sử dụng các phương phápvận dụng kiến thức để giải bài tập, hệ thống hóa và khái quát hóa kiến thức, làm đềcương và học theo đề cương, tự kiểm tra và đánh giá kết quả tự học chỉ sử dụngthỉnh thoảng Những phương pháp này chỉ được sử dụng chủ yếu khi kiểm tra giữa
kỳ, thi học kỳ và một số em là chưa bao giờ sử dụng các phương pháp này chiếm15% Điều này cho thấy sự hứng thú trong học tập của một số đông HS chưa chútrọng, chưa chịu khó động não, tìm tòi trong quá trình tự học, không phát huy tínhtích cực và chủ động trong học tập Đặc biệt chưa biết phân tích, tổng hợp các vấn
đề của bài học để nắm lấy cốt lỏi, trọng tâm qua từng bài học
Qua trao đổi một số HS có học lực khá trở lên các em đưa ra một số nhậnđịnh:
- Đối với các môn tự nhiên thì GV giảng dạy yêu cầu tự học cao quá nên phải
đi học thêm và không còn thời gian để tự học
- Đối với các môn xã hội thì chỉ cần học thuộc bài trước khi đến lớp và soạnbài như sách giáo khoa là đủ và chỉ học đối phó khi chưa có điểm miệng mà thôi.Còn đối với những HS trung bình - yếu thì các em do hổng kiến thức, trong khi lênlớp thì GV chỉ tập trung hoàn thành tiết dạy mà chưa có sự động viên khuyếnkhích cũng như giúp đỡ Nên không có hứng thú trong từng môn học và khôngquan tâm đến kết quả học tập của mình Qua trao đổi với một số GV hầu hết chobiết HS có học bài ở nhà, làm bài theo yêu cầu của GV nhưng chỉ nhằm đối phókhi kiểm tra Phần lớn HS chỉ học thuộc những phần mà được ghi chép ở trong vởhay trong sách giáo khoa Những vấn đề yêu cầu cần mở rộng về phân tích, tổnghợp hay vận dụng kiến thức để chứng minh diễn giải một vấn đề thì HS lúng túng,chỉ có vài em có được khả năng này Tất cả các bộ môn học thì HS chỉ có thóiquen học thuộc lòng Phần lớn HS chưa gắn kết giữa lý thuyết và vận dụng lýthuyết vào thực hành bộ môn Các hoạt động tự nghiên cứu ít được HS sử dụng
Từ thực trạng này, giáo viên cần phải có những yêu cầu học sinh một số quyđịnh về học tập bộ môn nhằm từng bước xây dựng nề nếp và thói quen tự học.Những quy định về nề nếp tự học có khá nhiều Ở đây, chỉ đề cập những vấn đềchủ yếu, có tính nguyên tắc, được coi như tổ chức, phương pháp, biện pháp có ýnghĩa chiến lược lâu dài trong quá trình học tập của học sinh
2.4 Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học
Mục đích của việc hướng dẫn học sinh tự học là tạo điều kiện cho HS tự họcđược dễ dàng và tận dụng điều kiện có một số thời gian làm việc với GV để tranhthủ sự hướng dẫn của GV mà rèn luyện phương pháp, kĩ năng tự học, việc nắmvững kiến thức, rèn luyện năng lực
GV hướng dẫn HS cách sử dụng tài liệu HS theo hướng dẫn trong tài liệu mà
tự lực hình thành kiến thức, kĩ năng,
Trang 14GV sử dụng những giờ lên lớp để rèn luyện cho HS kĩ năng, kĩ xảo tự học,đánh giá kết quả, điều chỉnh kế hoạch Như vậy, trong cách dạy học này có haikiểu hướng dẫn được phối hợp với nhau.
+ Hướng dẫn bằng lời viết ngay trong tài liệu, đó là những chỉ dẫn về kếhoạch, về phương pháp giải quyết vấn đề, thu thập, xử lí thông tin nhằm địnhhướng cho HS có thể tự lực thực hiện các hành động học một cách có ý thức, cóphương hướng rõ ràng
+ Hướng dẫn ngay tại lớp những loại hoạt động cụ thể để rèn luyện kĩ năng tựhọc GV theo dõi giúp đỡ, uốn nắn, điều chỉnh ngay tại lớp
3 Các biện pháp chỉ đạo ý thức tự học nhằm nâng cao hiệu quả học tập, phát triển phẩm chất, năng lực tự học cho học sinh THPT
Từ cơ sở lý luận và thực trạng đã nêu, trên cơ sở nguyên tắc lựa chọn các biệnpháp đề xuất, chúng tôi đề xuất các biện pháp quản lý ý thức tự học nhằm nâng caohiệu quả học tập, phát triển phẩm chất, năng lực tự học cho học sinh
Đây là các biện pháp tác động trực tiếp đến HS nhằm hình thành kỹ năng vàphương pháp tự học Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tựmình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức Bước đầu trong tự học thường lúngtúng, nhưng chính lúng túng lại là động lực thúc đẩy HS tư duy để thoát khỏi sựlúng túng và thành thạo lên Khi đã thành thạo thì thường phát hiện vấn đề cần phảigiải quyết để từ đó hình thành kỹ năng tự chiếm lĩnh tri thức Nhân tố quan trọng
để tự học đạt được kết quả tốt là hình thành và rèn luyện các kỹ năng, phương pháp
tự học
3.1 Mục tiêu các biện pháp
Đổi mới công tác quản lý về hoạt dộng tự học, phát huy vai trò của các tổchức, tổ chuyên môn, đội ngũ GV trong hoạt động dạy học, đổi mới phương phápđánh giá và thực hiện tốt phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinhtích cực”, các hoạt động hỗ trợ cho hoạt dộng tự học của HS như hoạt động ngoàigiờ lên lớp (HĐ NGLL), hướng nghiệp nhằm hình thành các kỹ năng và phươngpháp tự học
Để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình, mỗi HS cần tự rènluyện phương pháp tự học Đây vừa là phương pháp nâng cao hiệu quả học tập,vừa là là mục tiêu quan trọng trong học tập Phương pháp tự học sẽ trở thành cốtlõi của phương pháp học tập Đồng thời các em cũng rèn luyện các kỹ năng tự học
bộ môn mới đạt được hiệu quả cao Trang bị cho GV nắm vững được hệ thống các
kỹ năng, phương pháp tự học Trên cơ sở đó có thể vận dụng các kỹ năng trongcông tác tự học, tự nghiên cứu một cách khoa học Từ nắm vững các kỹ năng tựhọc, GV hướng dẫn cho HS hình thành và phát triển vững chắc các kỹ năng tự học
Từ đó HS có thể lựa chọn, phối hợp các phương pháp tự học khoa học để hoànthành các nhiệm vụ học tập ở mức độ cao nhất Đổi mới phương pháp dạy học là
Trang 15nhằm tích cực hoá hoạt dộng tự học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo vànăng lực của HS Rèn luyện cho HS có thói quen, phương pháp học, kỹ năng học,biết tự lực phát hiện vấn đề và giải quyết các vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi Nâng caotrách nhiệm của GV trong công tác nghiên cứu, đầu tư cho hoạt động dạy học.Hình thành cho HS động cơ thái độ học tập nghiêm túc, nâng cao trách nhiệmtrong học tập, có ý thức tự giác, nhu cầu và thói quen tự kiểm tra, đánh giá Giúpcho nhà trường tổ chức tốt việc tạo ra động lực, kích thích HS tự học, giảm sự quátải và căng thẳng về lao động trí óc trong học tập của HS Hình thành được mộtmôi trường học tập, thi đua sôi nổi và thúc đẩy nhau cùng tiến bộ
3.2 Các biện pháp thực hiện
Biện pháp 1:
Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức chogiáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội về tầm quan trọng của việc chỉ đạo ýthức tự học nhằm nâng cao hiệu quả học tập, phát triển phẩm chất, năng lực tự họccho học sinh
- Chi uỷ, Ban giám hiệu và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường quán triệt, phổbiến các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạođến đội ngũ giáo viên qua các hình thức: Trên Website của nhà trường; qua các buổisinh hoạt Chi bộ, họp Hội đồng giáo dục, trong các đợt học tập chính trị, học tập quántriệt nhiệm vụ năm học, sinh hoạt tổ chuyên môn, sinh hoạt đoàn thể
- Có biện pháp quản lý phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục mộtcách toàn diện, mở rộng mối quan hệ với các cơ quan, đoàn thể trong khu vực, cha mẹhọc sinh, tuyên truyền cho họ hiểu vai trò của giáo dục từ đó có quan tâm, chăm lo đếnhoạt động giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng
- Ban giám hiệu xây dựng kế hoạch tổ chức lao động khoa học trong công tácquản lý, trong hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên, trong các tổ chứcđoàn thể của nhà trường và tạo mối liên kết giữa các cá nhân, tổ chức, các bộ phậndựa trên nguyên tắc khoa học, dân chủ và đoàn kết
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV theo qui định, yêu cầucủa tình hình mới; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng vớicác cơ quan QLGD ở địa phương để làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng GV,CBQL, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ dạy học và giáo dục hiện nay
- Đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh” gắn với cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, phong trào "Đổi mới sáng tạo trong dạy và học”.
- Xây dựng các tiêu chí thi đua của các đoàn thể và gắn công việc hàng ngàyvới các phong trào thi đua, các hội thi, hội giảng, các đợt thanh kiểm tra…
Trang 16- Thường xuyên đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ trong nhà trường, tiếp nhậnthông tin phản hồi có điều chỉnh kịp thời nhằm tăng hiệu quả công việc, tạo sự đồngthuận, cộng đồng trách nhiệm của mọi cá nhân, tổ chức đối với việc thực hiện sứmệnh chính trị của nhà trường.
- Phối kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động chuyên môn với công đoàn, tổ chứccác hoạt động tập thể để gắn kết các thành viên Bồi dưỡng cho đoàn viên côngđoàn có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc; có chuyên môn nghiệp vụ vữngvàng; có đạo đức và lối sống lành mạnh; có tinh thần hợp tác
Biện pháp 2: Chỉ đạo đổi mới sinh hoạt lớp theo chủ đề trong đó có chủ đề
giáo dục ý thức tự học
“Lãnh đạo là người tạo ra người hùng chứ không phải là người hùng” Để làmđược điều này trong sự nghiệp giáo dục cần xác định vai trò quan trọng của độingũ giáo viên chủ nhiệm lớp đó là “người hùng” thực hiện chiến lược “tạo ra ngườihùng” Động lực là thứ giúp chúng ta bắt đầu, tập huấn tạo động lực, truyền cảmhứng cho cán bộ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm truyền cảm hứng chohọc sinh qua các hoạt động giáo dục, đặc biệt đổi mới tiết sinh hoạt lớp
- Học sinh tự nhận phiếu và liệt kê những gì trong tuần mình học được, mônhọc yêu thích, môn học kém…
- Học sinh chia sẻ quá trình tự học của bản thân
- Giáo viên nhận xét, đánh giá rút ra kết luận chung
- Vấn đề cần đặt ra: Với yêu cầu cấp thiết làm sao xây dựng học sinh tự họclinh hoạt, sáng tạo, giúp các em có cách tự học, tự nghiên cứu để đạt kết quả tốt
Do đó, với tư cách quản lý của nhà trường tôi chỉ tập trung và một số biện phápquản lý đối với các hoạt động hình thành phương pháp và kỹ năng tự học cho HStrường THPT Đô Lương 4 Trong từng tiết học, nhiệm vụ của học sinh là phải tậptrung học tập, phối hợp chặt chẽ với giáo viên xây dựng nề nếp tự học, ý thức họctập để cảm nhận một cách nhanh và tự tin trước lớp Mạnh dạn đóng góp ý kiến,suy nghĩ của mình và tiết học sinh động Để phát huy nề nếp tự học của học sinhtrong giờ học chính khóa, phụ đạo, mỗi giáo viên phải thiết kế điều hành giờ dạy
có khoa học logic theo hướng chủ động khám phá của HS, chính bản thân giáoviên phải chủ động và sáng tạo để khơi dậy sự hoạt động tích cực, sáng tạo của tất
cả học sinh “tự học” Nói chung người giáo viên tổ chức thao tác như thế nào đểhọc sinh thực hiện được và vận dụng, chứ không chỉ đạo chung chung Ngoài giờhọc chính khóa, cần phải có sự quan tâm động viên của nhà trường - gia đình - xãhội để các em có sự phân bố thời gian tự học, xây dựng kế hoạch và thực hiện kếhoạch tự học một cách có ý thức và thường xuyên
Biện pháp 3: Đổi mới công tác quản lý về hoạt động tự học của học sinh
-điều tra xem xét nguyện vọng của GV, HS, xem xét rõ -điều kiện kinh tế gia đìnhcủa HS, điều kiện tổ chức tự học cho HS tại trường và tại gia đinh