1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2

73 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tư Vấn Cho Học Sinh Của I Giáo Viên Tại Trường THPT Quỳnh Lưu 2
Tác giả Văn Thị Hà
Trường học Trường THPT Quỳnh Lưu 2
Chuyên ngành Ngữ văn - Ngoại ngữ
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2021 - 2022
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 4,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với HS THPT, bên cạnh những khó khăn, thách thức kể trên, các em còn gặp phải những khó khăn do sự thay đổi tâm - sinh lí của lứa tuổi mang lại, nên việc gặp những khó khăn trong cuộ

Trang 1

SỞ GD VÀ ĐT NGHỆ AN TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 2 -   -

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Tên đề tài:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TƯ VẤN

CHO HỌC SINH CỦA I GIÁO VIÊN TẠI TRƯỜNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẨU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Đóng góp của sáng kiến kinh nghiệm 3

6 Cấu trúc sáng kiến kinh nghiệm 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Những nghiên cứu về tư vấn học đường 4

1.1.2 Nghiên cứu về năng lực tư vấn của giáo viên 5

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài 5

1.2.1 Tư vấn và vai trò của việc phát triển năng lực tư vấn cho giáo viên 5

1.2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.2.1.2 Vai trò của việc phát triển năng lực tư vấn cho giáo viên 6

1.2.2 Đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi THPT viên 7

1.2.3 Cấu trúc năng lực tư vấn của người giáo viên 8

1.2.3.1 Kiến thức 9

1.2.3.2 Kĩ năng 9

1.2.3.3 Thái độ 10

Tiểu kết chương 1 10

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHƯ CẦU TƯ VẤN CỦA HỌC SINH VÀ NĂNG LỰC TƯ VẤN CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN THPT 11

2.1 Thực trạng về nhu cầu tư vấn của học sinh 14

2.1.1 Nhu cầu được tư vấn 14

2.1.2 Cách thức giải quyết khi có nhu cầu tư vấn 15

2.1.3 Kì vọng về sự tư vấn của giáo viên 17

2.2 Thực trạng năng lực tư vấn của giáo viên 17

Trang 4

2.2.1 Thực trạng nhận thức về năng lực tư vấn của giáo viên 17

2.2.2 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tư vấn của giáo viên 18

2.2.2.1 Nguyên nhân khách quan 18

2.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan 19

Tiểu kết chương 2 19

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TƯ VẤN CHO HỌC SINH CỦA GIÁO VIÊN TẠI TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 2 20

3.1 Nâng cao hiểu biết của bản thân về công tác tư vấn 20

3.1.1 Nắm được khung năng lực tư vấn cho giáo viên .20

3.1.2 Thường xuyên bồi dưỡng, học hỏi kinh nghiệm 24

3.2 Thu thập thông tin, tìm hiểu về các đối tượng tư vấn 26

3.3 Phối kết hợp giữa giáo vien và phụ huynh học sinh, giữa giáo viên và các ban ngành, đoàn thể 30

3.3.1 Phối kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh học sinh 30

3.3.2 Phối kết hợp giữa giáo viên và các ban ngành, đoàn thể 33

3.4 Xây dựng, lựa chọn và thực hiện chuyên đề tư vấn cho học sinh thông qua các hoạt động giáo dục trải nghiệm 34

3.4.1 Căn cứ xây dựng chuyên đề tư vấn cho học sinh 34

3.4.2 Căn cứ lựa chọn và thực hiện chuyên đề tư vấn cho học sinh THPT 35

3.4.3 Quy trình xây dựng, lựa chọn và thực hiện các chuyên đề tư vấn cho học sinh THPT 35

3.5 Lồng ghép hoạt động tư vấn đa dạng trong các tiết học 39

Tiểu kết chương 3 39

CHƯƠNG 4 HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN 40

4.1 Kết quả các mặt 40

4.2 Nhận thức và thái độ của học sin 41

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

1 Kết luận 44

1.1 Ý nghĩa của sáng kiến 44

1.2 Tính mới mẻ của đề tài 44

Trang 5

1.3 Tính khoa học của sáng kiến 44

2 Bài học kinh nghiệm 45

3 Phạm vi ứng dụng 45

4 Nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu 45

5 Kiến nghị, đề xuất 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong tiến trình phát triển, đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới và hội nhập

ngày càng sâu rộng con người phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức Chính vì vậy, nhu cầu được trợ giúp để giải quyết khó khăn ngày càng trở nên rõ rệt hơn Đối với HS THPT, bên cạnh những khó khăn, thách thức kể trên, các em còn gặp phải những khó khăn do sự thay đổi tâm - sinh lí của lứa tuổi mang lại, nên việc gặp những khó khăn trong cuộc sống và trong quá trình học tập là điều không thể tránh khỏi Xã hội càng phát triển thì những khó khăn, thách thức đó càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn Chính vì vậy, ngày càng có nhiều HS gặp phải những khó khăn trong cuộc sống và trong quá trình học tập của mình Những vấn đề các em gặp phải là rất rộng, bao gồm các vấn đề về: tâm lí, sinh lí; học tập; định hướng nghề nghiệp; giải quyết các mối quan hệ xã hội, bạn bè, thầy cô, gia đình; định hướng giá trị sống và kỹ năng sống; pháp luật Tất cả những vấn đề này HS vẫn thường xuyên gặp phải và chúng có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học tập của các em

1.2 Vai trò của GV không chỉ dừng lại ở việc dạy học kiến thức mà còn có

trách nhiệm hỗ trợ HS giải quyết những vấn đề khó khăn để các em phát triển toàn diện, góp phần hoàn thành tốt vai trò GD của người GV Thực vậy, GV chính là những người có điều kiện gần gũi, hiểu biết HS về mọi mặt, nhất là những vấn đề các em gặp phải trong quá trình học tập ở trường Không những thế, GV còn là người có điều kiện tiếp cận thông tin chính thống và có chức năng GD, hỗ trợ HS trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mình Chính vì thế, vai trò TV của

người GV đã được khẳng định tại nhiều văn bản Luật giáo dục (ban hành năm 2019), tại điều 69 đã khẳng định: Nhiệm vụ của nhà giáo “tôn trọng, đối xử công bằng với người học; bảo vệ quyền lợi, lợi ích chính đáng của người học.” Chỉ thị

số 1537/CT-BGDĐT, ban hành 05/05/2014,về “Tăng cường và nâng cao hiệu quả

một số hoạt động GD cho HS-SV trong các cơ sở giáo dục, đào tạo” đã nêu cụ thể

là: “ Các cơ sở giáo dục, đào tạo cần tăng cường vai trò GV chủ nhiệm, GV tổng phụ trách đội, cố vấn học tập và các tổ chức đoàn thể trong công tác GD đạo đức, lối sống, TV tâm lí, hướng nghiệp cho HS ” Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cũng đã quy định một số nội dung chuẩn liên quan đến NLTV của GV trường trung học (Cụ thể: Điều 5 - tiêu chuẩn 2 NL tìm hiểu đối tượng và môi trường GD; Điều 7 - tiêu chuẩn 4 NL GD) Thông tư 31/2017/TT-BGDĐT về “Hướng dẫn thực hiện công tác TV tâm lí cho HS trong nhà trường phổ thông” đã quy định rất cụ thể

về mục đích, nguyên tắc, nội dung, hình thức, điều kiện đảm bảo và tổ chức thực hiện công tác TV tâm lí cho HS trong trường phổ thông Trong thực tế, các thầy -

cô giáo đã chủ động TV, hỗ trợ cho các em khi có các “vấn đề” nảy sinh hoặc các

em đã chủ động đề đạt nhu cầu với họ Tuy nhiên, hầu hết các GV mới chỉ cùng

HS giải quyết các vấn đề dựa trên kinh nghiệm cá nhân là chủ yếu, còn những kiến thức và KN cơ bản về vấn đề TV cho HS thì còn hạn chế do ít được trang bị vì thế hiệu quả TV nhiều lúc chưa cao, chưa đạt được sự kì vọng của HS

Trang 7

1.3 Địa bàn của trường THPT Quỳnh Lưu 2 là khu vực thuần nông, cha mẹ

thường ít dành thời gian để quan tâm tới việc học hành, sự thay đổi tâm sinh lí cũng như định hướng nghề nghiệp cho con Vì vậy vai trò TV của người GV lại càng cần thiết Là một GV từng làm công tác chủ nhiệm, công tác TV và hoạt động đoàn nhiều năm, tiếp xúc với nhiều tình huống, nhiều cảnh ngộ của HS bản thân tôi nhận thấy việc nâng cao hiệu quả của công tác TV cho người GV THPT là vô cùng quan trọng

Từ những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu và thực hiện đề tài “Một số

biện pháp nâng cao hiệu quả tư vấn cho học sinh của giáo viên tại trường THPT Quỳnh Lưu 2” với mong muốn đưa ra một số giải pháp thiết thực, phù hợp

nhằm phát huy hiệu quả TV của người GV, trên cơ sở đó hỗ trợ, giúp đỡ HS khi gặp khó khăn đồng thời định hướng những giá trị sống đích thực cho HS

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả TV cho HS của GV tại trường THPT Quỳnh Lưu 2

- Phạm vi nghiên cứu: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả TV cho HS của

GV tại trường THPT Quỳnh Lưu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp của GV góp phần nâng cao hiệu quả TV cho HS góp phần giáo dục toàn diện

HS đồng thời nâng cao năng lực GD của GV, đáp ứng xu thế đổi mới GD

- Nhiệm vụ:

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về NLTV của người GV THPT

+ Đánh giá thực trạng nhu cầu TV của HS và thực trạng năng lực TV của người GV tại trường THPT Quỳnh Lưu 2

+ Đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả TV cho HS của người

GV THPT

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa lí thuyết

- Phương pháp điều tra, khảo sát

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp

- Phương pháp thực nghiệm

5 Đóng góp của SKKN

Sáng kiến đề xuất một số biện pháp của GV nhằm phát huy hiệu quả TV cho

HS ở trường THPT Quỳnh Lưu 2 theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc thù nghề

Trang 8

nghiệp của người GV THPT và khai thác được tối đa tri thức và vốn kinh nghiệm thực tiễn, phát huy tính tích cực, chủ động của người GV

6 Cấu trúc SKKN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung sáng kiến được chia thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng năng lực tư vấn của người giáo viên THPT

Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả tư vấn cho học sinh của giáo viên tại trường THPT Quỳnh Lưu 2

Chương 4: Hiệu quả của sáng kiến

Trang 9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu về tư vấn học đường

TVHĐ là vấn đề được xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, được xã hội quan

tâm và được các nhà GD của nhiều quốc gia nghiên cứu Ở Việt Nam, khoảng hơn

10 năm trở lại đây, hàng loạt những vấn đề liên quan đến đạo đức, kỷ luật học đường, bạo lực học đường, áp lực thi cử, quan hệ thầy trò xảy ra trong các trường học ở Việt Nam đã gióng lên những hồi chuông báo động, khiến những nhà khoa học và các cơ quan phải để ý và nghĩ đến việc phải có hoạt động TV trong trường học Một trong những người có công đầu trong việc hình thành và phát triển nghề TV (lĩnh vực tâm lý trẻ em và gia đình) là cố bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện khi ông sáng lập ra Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em và xuất bản tờ

"Thông tin khoa học tâm lý" vào năm 1984 Sau đó, trên cơ sở sơ đồ hình thành phát triển nhân cách của ông, tác giả Đặng Quốc Bảo trong Quan niệm của nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện về con đường hình thành phát triển nhân cách và đề xuất một số vận dụng vào công tác tư vấn học đường, Kỷ yếu hội thảo khoa học

TV tâm lý học đường trong các trường phổ thông thành phố Hải Phòng đã đề xuất

một số vận dụng vào công tác TV trong nhà trường Ông cho rằng khi chú ý đến

HS, cần chú ý ở cả hai phương diện: năng lực trí tuệ và thái độ học tập, và ông chia đối tượng HS thành 4 nhóm, và tùy theo mỗi nhóm ông lại đề xuất những phương

án dạy học thích hợp và đóng đúng vai trò cần thiết của người thầy

Sau đó, vấn đề TV trong nhà trường đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu, nhiều công trình được công bố, nhiều hội thảo khoa học được tổ chức Một số bài báo được đăng trên các tạp chí Khoa học giáo dục, Tâm lí học Ví dụ:

Đặng Danh Ánh với bài viết Tư vấn chọn nghề cho học sinh phổ thông, Tạp chí Giáo dục, số 121; Vũ Thị Khánh Linh với bài viết Những khó khăn tâm lí và nhu cầu tham vấn của học sinh THPT, Tạp chí Tâm lí học, số 2; Nguyễn Bá Đạt với bài viết Về tư vấn tâm lý - hướng nghiệp ở trường Trung học phổ thông, Tạp chí Tâm lý học, số 63 Lê Thị Quỳnh Nga với bài viết Những yêu cầu về năng lực tư vấn của người giáo viên phổ thông, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 141, tháng 06 Tuy nhiên, do mới được quan tâm gần đây, nên các nghiên cứu về lĩnh vực này chủ

yếu mới chỉ tập trung vào việc làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản nhất của TV trong

nhà trường, tìm hiểu nhu cầu TV và thực trạng TV

Những nghiên cứu phần lớn đều khẳng định nhu cầu được TV của HS là một nhu cầu có thực và rất cấp bách nhưng thực trạng và hiệu quả TV cho các em thì chưa đạt được hiệu quả như mong đợi

Trang 10

1.1.2 Nghiên cứu về năng lực tư vấn của giáo viên

Phải thừa nhận rằng ở nhiều trường THPT hiện nay đã có đội ngũ cán bộ TVHĐ nhưng hoạt động TV của người GV vẫn là nhu cầu không thể phủ nhận Và

để thực hiện được hoạt động TV, người GV cần phải có những NL nhất định

Tác giả Đinh Thị Kim Thoa trong bài viết Thiết kế chương trình đào tạo về tâm lý học học đường theo cách tiếp cận năng lực đã chỉ ra rằng: NL của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: NL dạy học, NLGD, NL chẩn đoán và TV, NL phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học Trong bài Phát triển nghiệp vụ cho GV Việt Nam dựa trên nhu cầu và chuẩn năng lực - Vai trò của Bộ Giáo dục và Đào tạo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bích có gợi ý 7 chuẩn cơ bản về NL nghề nghiệp GV

cần có và phát triển qua các giai đoạn Theo 7 tiêu chuẩn đó, NL của GV không chỉ tập trung ở kiến thức chuyên môn mà còn hướng đến các KN khác nhằm dạy học hiệu quả theo định hướng người học là trung tâm, trong đó việc hiểu cuộc sống và phong cách học tập của người học, có KN giao tiếp hiệu quả với người học nhằm

góp phần nâng cao chất lượng dạy và học là những vấn đề nổi bật Trong tài liệu

Mô hình, nội dung, phương pháp đào tạo GV tác giả Nguyễn Văn Cường cho rằng

người GV cần phải có các NL cốt lõi sau: NL dạy học; NL GD; NL chẩn đoán; NL

đánh giá; NL tiếp tục phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học và NLTV

Như vậy, có thể thấy, các nghiên cứu đều khẳng định NLTV của người GV là một trong những NL cốt lõi mà mỗi người GV cần phải có để có thể trở thành một

GV hiệu quả, tuy nhiên nội hàm của NLTV lại chưa thật sự đầy đủ Vì thực tế cho thấy HS có nhu cầu TV ở rất nhiều nội dung, chứ không chỉ ở mong muốn được giúp đỡ về mặt học tập Vậy làm thế nào để nâng cao hiệu quả công tác TV của người GV trong từng môi trường học tập khác nhau của HS là một vấn đề thiết thực đối với các trường THPT

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài

1.2.1 Tư vấn và vai trò của việc phát triển năng lực tư vấn cho giáo viên 1.2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

a) Tư vấn

Bàn về TV, theo Từ điển Tiếng Việt thì “Tư vấn là phát biểu ý kiến về những vấn đề được hỏi đến nhưng không có quyền quyết định”

Tác giả Lê Quang Huy trong cuốn Điều cần biết khi sử dụng tư vấn, NXB

Xây dựng, Hà Nội, 1998 với quan điểm coi TV là một dịch vụ (hay một nghề) thì

cho rằng “Tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động “chất xám” cung ứng cho những người cần tư vấn những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, biện pháp, hành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó” Tác giả Trần Tuấn Lộ trong bài viết Tư vấn tâm lý và những khái niệm liên quan, Kỷ yếu hội thảo “Tư vấn tâm lý - giáo dục, lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển”, Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam thì lại xem TV như “sự

Trang 11

tham khảo và cung cấp ý kiến giữa một bên A - có thể là một cá nhân, một tổ chức cần tìm câu trả lời cho một thắc mắc hoặc tìm giải pháp với bên B - một cá nhân, một tổ chức khác có chuyên môn, kinh nghiệm và giúp họ giải đáp những thắc mắc, những vấn đề của họ”

Nói tóm lại, có thể nói TV là hoạt động của người có kiến thức và kinh nghiệm về vấn đề đối tượng đang gặp phải để giúp đối tượng giải quyết được khó khăn của mình

b) Năng lực tư vấn của giáo viên

Hoàng Hòa Bình trong bài viết “Năng lực và ứng dụng kết quả nghiên cứu năng lực vào xây dựng chương trình môn học, đổi mới mô hình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh”, Tạp chí Khoa học giáo dục số 131 (tháng 8/ 2016) đã cho rằng “NL là thuộc tính cá nhân

được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.”

Vì vậy, có thể hiểu NLTV của người GV là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép người

GV thực hiện thành công các yêu cầu của hoạt động TV cho HS, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể nhằm trợ giúp HS giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề gặp phải trong quá trình học tập ở nhà trường

1.2.1.2 Vai trò của việc phát triển năng lực tư vấn cho giáo viên

Đối với HS: Việc được TV đúng đắn sẽ giúp HS tháo gỡ được những vướng mắc, khó khăn trong học tập và cuộc sống HS sẽ không cảm thấy quá căng thẳng, nặng nề, áp lực, mệt mỏi từ đó giúp việc học tập dễ dàng hơn, cuộc sống vui vẻ hơn HS sẽ có thái độ sống chan hòa với mọi người xung quanh, có định hướng sống tích cực, biết phấn đấu vì tương lai phía trước

Đối với GV: Việc thực hiện TV sẽ giúp GV có thể gần gũi với HS hơn, dễ dàng giao tiếp và hiểu HS của mình Từ đó, sẽ có những biện pháp can thiệp kịp thời trước sự thay đổi cả về tâm lí và tính cách của HS, định hướng cho HS những

xu thế nghề nghiệp phù hợp Đặc biệt, việc TV hiệu quả còn mang lại niềm vui, sự yêu nghề cho bản thân mỗi GV

Đối với phụ huynh HS: Việc phát huy hiệu quả NLTV của GV sẽ khiến cầu nối giữa nhà trường và phụ huynh trở nên hiệu quả Phụ huynh có điều kiện phát hiện những dấu hiệu khác biệt của con như sa sút trong học tập, thường xuyên trong trại thái lo âu, sa đà vào những thói hư tật xấu của xã hội để cùng với GV tìm ra căn nguyên và tìm cách giải quyết

Đối với nhà trường: Việc phát triển NLTV cho GV sẽ giúp nâng cao chất lượng GD toàn diện cho nhà trường

Trang 12

1.2.2 Đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi THPT

Lứa tuổi HS THPT được xác định là những em có độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi, đang theo học từ lớp 10 đến lớp 12 ở trường THPT

Lứa tuổi này ở vào giai đoạn sau của tuổi vị thành niên, khi thể chất đã phát triển tương đối ổn định, nhưng sự phát triển tâm lí lại không tỉ lệ thuận với thể chất Điều này gây cho các em nhiều mâu thuẫn, bức xúc cần được người lớn TV

để giải quyết

- Đặc điểm sinh lí: Lứa tuổi HS THPT là giai đoạn mà thể chất tuy chưa hoàn

thiện như người trưởng thành nhưng đã phát triển tương đối hoàn chỉnh Nhịp độ tăng trưởng cơ thể ở lứa tuổi này đã chậm lại, hình thành cơ thể cân đối, khỏe mạnh, tố chất thể lực phát triển mạnh mẽ Bên cạnh đặc điểm phát triển về thể chất, đặc điểm trưởng thành về giới tính cũng là một nét đặc trưng của lứa tuổi này Đa số các em ở lứa tuổi này đã vượt qua thời kì phát dục Điều này giúp các

em cân bằng hơn, ổn định hơn, chấm dứt những khủng hoảng của tuổi dậy thì, ít gặp những hưng phấn hay ức chế của hệ thần kinh Nhìn chung ở tuổi này các em đạt được sự ổn định về thể chất, giới tính cao hơn lứa tuổi thiếu niên Tuy nhiên, sự phát triển tương đối ổn định về mặt sinh lí lại không tỉ lệ thuận với sự phát triển tâm lí nên dẫn đến nhiều mâu thuẫn cần được hỗ trợ giải quyết

- Đặc điểm tâm lí

+ Đặc điểm giao tiếp:

Giao tiếp với người lớn: HS THPT có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn

và mong muốn được đối xử như người lớn, được tôn trọng, được tin tưởng và được mở rộng tính độc lập của mình Vì nhu cầu này nên các em thường có những hình thức kháng cự, không phục tùng nhằm khẳng định cái tôi của mình Việc người lớn không thừa nhận sự trưởng thành của các em sẽ làm nảy sinh xung đột được biểu hiện bằng những hành vi tương ứng: né tránh, không tin tưởng vào người lớn, khó chịu với những lời nói, việc làm của người lớn Nếu mối quan hệ này không thay đổi sẽ dẫn tới sự giảm sút hiệu quả tác động GD của người lớn đối với các em

Giao tiếp với bạn bè: Mối quan hệ của HS THPT với bạn bè cùng lứa tuổi đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với giai đoạn trước và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các em Mối quan hệ bạn bè ở lứa tuổi này không chỉ dừng lại ở phạm vi học tập, phạm vi nhà trường, mà còn mở rộng ra bên ngoài phạm vi đó, cùng những hứng thú mới, những mối quan hệ mới,… Đặc điểm giao tiếp với bạn bè của HS THPT chính là khao khát được giao tiếp và hoạt động với bạn bè cùng lứa tuổi một cách thân thiết, tin cậy Mặt khác các em cũng mong muốn được bạn bè thừa nhận và tôn trọng mình Những tình bạn chân chính rất có giá trị trong việc nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển nhân cách của các em, thông qua những nỗ lực chung, bạn bè bắt đầu giúp nhau trong việc nắm tri thức, KN và cùng phát triển những phẩm chất tốt đẹp khác Ngược lại, có những kiểu tình bạn mang tính bề ngoài, hình thức, kéo bè

Trang 13

kéo cánh nhằm bắt chước người lớn trong việc tiêu khiển thời gian, chơi bời, giải trí…như: hút thuốc, uống rượu bia, cờ bạc, thì phải được định hướng lại

dễ thay đổi

- Đặc điểm nhận thức

Do sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trung ương và các giác quan, do sự tích lũy phong phú kinh nghiệm sống và tri thức, do yêu cầu ngày càng cao của hoạt động học tập, lao động xã hội, nên nhận thức của HS THPT có những thay đổi về chất Ở tuổi này các em đã đạt được các thao tác trí tuệ bậc cao như người lớn, nổi bật là tính có ý thức, có mục đích, có hệ thống biểu hiện rõ rệt trong quá trình học tập cũng như trong mọi hoạt động khác Trí nhớ có chủ định,

có ý nghĩa chiếm ưu thế, các em biết tìm ý chính của bài học, biết lập dàn ý làm điểm tựa cho trí nhớ Nếu được hướng dẫn, nhiều em đã biết tìm các phương pháp,

kĩ thuật để ghi nhớ nội dung bài học Cùng với óc quan sát, trí nhớ chỉ định, NL chú ý chủ định cũng phát triển, các em đã biết phân phối chú ý NL này càng lên lớp trên càng phát triển, các em có thể vừa nghe giảng, vừa ghi chép, vừa theo dõi câu trả lời của bạn, vừa có thể phân tích, nhận xét,

Tóm lại, sự phát triển trí tuệ của HS THPT đã đạt ở mức cao và đang được hoàn thiện dần trong quá trình học tập, càng lên các lớp cuối cấp, NL trí tuệ càng phát triển Điều này tạo cơ hội cho khả năng tư duy độc lập, tư duy khái quát hóa,

tư duy sáng tạo, chuẩn bị cho việc học lên cao, học nghề và vào đời của các em

1.2.3 Cấu trúc năng lực tư vấn của người giáo viên

Căn cứ vào đặc điểm yêu cầu của nghề dạy học, các phẩm chất và NL của của cán bộ TVHĐ, có thể xác định cấu trúc NLTV của người GV THPT với các nội dung cụ thể, các biểu hiện cụ thể nhằm phát triển NLTV như sau:

1.2.3.1 Kiến thức

Khoa học đã khẳng định kiến thức là điều kiện để hình thành và phát triển

NL Cụ thể đó là những kiến thức về:

+ Kiến thức lí thuyết cơ bản về TV: Để TV được cho HS, người GV trước hết

cần có kiến thức về TV, các hình thức TV, các KNTV cơ bản trong hoạt động GD

và trong đời sống xã hội; kiến thức về Tâm lí học, GD học, Xã hội học

Trang 14

+ Kiến thức về đối tượng TV: Bên cạnh những kiến thức về TV nói chung,

người GV cần có những hiểu biết đúng đắn về những đặc trưng về lứa tuổi, tâm lí

HS, thông tin cơ bản của HS, để từ đó có thể có những quyết định đúng và hiệu quả trong việc lựa chọn hình thức TV và ứng xử phù hợp

+ Kiến thức về nội dung, môi trường và điều kiện TV: Ngoài ra, người GV cũng

cần phải có những tri thức chuyên sâu về nội dung TV phù hợp; về không gian TV; về những nguyên tắc đạo đức khi TV cho HS (giữ bí mật, tôn trọng HS, chấp nhận HS, ) để có thể tiến hành TV thành công và là cơ sở để người GV quản lí hoạt động TV của mình phù hợp với HS, cũng như với các yếu tố bên ngoài

1.2.3.2 Kĩ năng

Thành tố cốt lõi của NLTV là hệ thống KNTV và KNTV cũng được xem là

nội dung cốt lõi trong việc phát triển NLTV của người GV Một hệ thống KNTV

cơ bản giúp người GV TV cho HS hiệu quả:

+ KN lắng nghe: Khi HS có vấn đề và tìm đến sự TV của GV, điều đầu tiên

các em mong muốn là GV lắng nghe để hiểu được vấn đề các em gặp phải, để từ đó

có những TV phù hợp Khi được lắng nghe, HS sẽ cảm thấy được quan tâm, được động viên để tiếp tục chia sẻ Do đó, các em sẽ nói nhiều hơn, chia sẻ cảm xúc nhiều hơn, qua đó người GV sẽ TV hiệu quả hơn Vì thế, lắng nghe được xem là KN quan trọng nhất, quyết định sự thành công đối với hoạt động TV của người GV

+ KN đặt câu hỏi: Đối với người GV khi làm công tác TV, câu hỏi là công cụ

giúp GV khai thác, tập hợp thông tin về vấn đề của HS nhằm thấu hiểu vấn đề của

HS và có phương án hỗ trợ tốt nhất Thông thường, khi HS gặp vấn đề cần trợ giúp, khi tìm đến GV, các em sẽ rất khó mở đầu câu chuyện Việc lựa chọn những câu hỏi phù hợp của GV sẽ giúp các em bắt đầu câu chuyện dễ dàng hơn, thoải mái hơn và từ đó sẽ chia sẻ nhiều hơn Hơn nữa, câu hỏi còn giúp duy trì buổi TV, giúp người GV thu được thông tin một cách rõ ràng, mạch lạc, giúp HS giải quyết được vấn đề

+ KN thấu cảm: Thấu cảm là khả năng hiểu được HS đang nghĩ gì, cảm nhận

được điều mà HS đang cảm nhận bằng cách đặt mình vào vị trí và hoàn cảnh của

HS Khi được thấu cảm, HS sẽ tự tin hơn vì biết rằng GV hiểu mình, chia sẻ với mình và cùng mình tìm cách giải quyết vấn đề, vì thế các em sẽ mạnh dạn chia sẻ vấn đề hơn Nhờ thế, GV sẽ hiểu HS và vấn đề của HS hơn để tìm ra cách giúp đỡ các em một cách phù hợp nhất

+ KN phản hồi: Phản hồi là cách người GV diễn đạt lại bằng từ ngữ của mình

những gì mình đã nghe, những gì mình đã cảm nhận một cách ngắn gọn để HS có thể biết được những gì mình đã chia sẻ là đúng hay chưa, có cần đính chính hay bổ sung thêm gì không Thông thường, khi gặp vấn đề, HS thường hay bối rối nên việc chia sẻ với GV có thể không rõ ràng, mạch lạc Vì thế người GV nên sử dụng phản hồi để sắp xếp và tóm lược nội dung của vấn đề được đề cập Không những thế, phản hồi còn là cách phát tín hiệu chứng tỏ người GV thật sự quan tâm đến vấn đề

Trang 15

mà HS chia sẻ, giúp cho HS thật sự cảm thấy được quan tâm và mạnh dạn bộc lộ vấn đề của mình, giúp GV hiểu được vấn đề của HS và TV cho HS một cách hiệu quả nhất Có 2 loại phản hồi: Phản hồi thông tin và phản hồi tâm trạng - cảm xúc

+ KN cung cấp thông tin: Khi HS tìm đến sự TV của GV, bên cạnh mong

muốn được lắng nghe, được thấu hiểu, các em còn mong muốn nhận được những thông tin giúp đỡ của GV Những thông tin này có thể là những thông tin “khách quan” có giá trị mà các em chưa biết đến, hoặc là những gợi ý để giải quyết vấn đề

mà các em đang gặp phải Việc cung cấp thông tin này đòi hỏi người GV phải thật

sự hiểu vấn đề của HS, thật sự khách quan và tôn trọng ý kiến của HS, đặc biệt là khi có bất đồng quan điểm

Nói tóm lại, có nhiều KNTV khác nhau tuy nhiên, đó không tách rời nhau mà

có sự đan xen, tương hỗ nhau, trong quá trình TV, người GV phải sử dụng linh hoạt nhiều KN, để mục đích TV đạt hiệu quả cao nhất

1.2.3.3 Thái độ

+ Tình cảm TV: gồm các biểu hiện sau: Nhiệt tình trong TV: Sẵn sàng, tự

nguyện giúp đỡ HS mọi lúc, mọi nơi; Nhanh chóng tìm hiểu vấn đề và giúp HS giải quyết vấn đề; Tự tin trong TV: Làm chủ được tiến trình TV; Luôn tin rằng TV

có thể hỗ trợ, giúp HS giải quyết vấn đề

+ Động cơ TV: Mục tiêu TV rõ ràng, tích cực: TV cho HS để giúp các em

vượt qua được khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ học tập của các em, cũng chính là giúp GV hoàn thành nhiệm vụ GD của mình, góp phần khẳng định giá trị bản thân; Chủ động TV: Nhận ra được các biểu hiện bất thường của HS, chủ động tìm kiếm thông tin, cách thức để TV cho HS, thậm chí chủ động tìm đến người thứ 3 có kinh

nghiệm hơn để tham khảo ý kiến

+ Ý chí TV: Khắc phục khó khăn trong TV: Sẵn sàng TV cho HS mọi lúc, mọi

nơi: trong giờ lên lớp cũng như ngoài giờ lên lớp, trong nhà trường cũng như ngoài nhà trường, sẵn sàng TV cho HS nhiều lần cho đến khi vấn đề được giải quyết thỏa

đáng; Tự học, tự rèn luyện trong TV: Luôn có ý thức và hành động trong việc tự

học, tự rèn luyện nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động TV

Tiểu kết chương 1

Có thể nói trong bất kì giai đoạn giáo dục nào vai trò của người GV cũng được khẳng định Đặc biệt, khi chương trình 2018 sắp đi vào thực hiện ở cấp THPT, cùng với những biến động mạnh mẽ của xã hội, việc nâng cao NLTV cho người GV từ đó phát huy hiệu quả TV càng trở thành một yêu cầu thiết yếu đối với mọi cơ sở GD Nó không chỉ giúp HS nâng cao thành tích học tập mà còn định hướng kĩ năng sống cho HS, góp phần xây dựng những con người phát triển cả

năng lực và phẩm chất đáp ứng yêu cầu của thời đại mới

Trang 16

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHU CẦU TƯ VẤN CỦA HỌC SINH VÀ

NĂNG LỰC TƯ VẤN CỦA GIÁO VIÊN THPT

Ở chương 2 này chúng tôi sẽ đi tìm hiểu thực trạng về nhu cầu TV của HS

và NLTV của giáo viên tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 để trên cơ sở đó có những giải pháp phù hợp giúp nâng cao hiệu quả TV cho học sinh của người GV

Với mong muốn có một cái nhìn thấu đáo về vấn đề nghiên cứu, chúng tôi

đã tiến hành trao đổi, trò chuyện với nhiều GV và HS trong nhiều năm học liên tiếp khi lên kế hoạch thực hiện đề tài Đặc biệt, để có một con số mang tính định lượng, chúng tôi đã tiến hành làm phiếu khảo sát với 30 giáo viên và 244 học sinh ở 6 lớp của cả 3 khối tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 đầu năm học 2020 - 2021 Gồm có các lớp: 12A1, 12D1, 11A7, 11D3, 10A3, 10D1

* Mục đích khảo sát

- Tìm hiểu nhận thức, hiểu biết của GV và HS về sự cần thiết của hoạt động

TV tại trường THPT Quỳnh Lưu 2

- Xác định rõ những nhu cầu cần TV của HS, những kì vọng của HS đối với

GV, những khó khăn khi TV cũng như những nguyên nhân dẫn đến khó khăn đó của GV Từ đó, đề xuất những biện pháp nhằm phát huy hiệu quả TV cho HS của

GV ở trường THPT Quỳnh Lưu 2

* Phương pháp khảo sát

Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành: Dùng phiếu khảo sát, trao đổi trực tiếp với GV và HS (Mẫu phiếu khảo sát ở phần Phụ lục)

* Kết quả khảo sát

Sau khi xử lí phiếu khảo sát, chúng tôi có kết quả cụ thể như sau:

Bảng tỉ lệ GV/ HS hiểu về sự cần thiết của việc TV và tổ chức TV trong trường THPT

Trang 17

Ít mong muốn Phân vân

Mong muốn

Rất mong muốn

Thường xuyên Luôn luôn

Bảng nhu cầu TV của HS

Nhu cầu TV của

HS/tỉ lệ

Không cần thiết

Ít cần thiết

Bình thường Cần thiết

Rất cần thiết

Học tập 16/6,6% 27/11,1% 30/12,3% 94/38,5% 77/31,5% Quan hệ giao tiếp,

xã hội

28/11,5% 42/17,2% 64/26,2% 57/23,4% 53/21,7%

Trang 18

Bảng cách giải quyết khi gặp khó khăn cần TV

Cách giải quyết/Tỉ

lệ

Không bao giờ Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

vọng

Ít kì vọng

Bình thường Kì vọng

Rất kì vọng

Được lắng nghe, chia

Cho lời khuyên/ hướng

giải quyết kịp thời với

vấn đề gặp phải

8/3,3% 20/8,2% 31/12,7% 102/41,8% 83/34%

Trang 19

Thường xuyên Luôn luôn

Từ những bảng số liệu trên, cùng với việc điều tra, phỏng vấn có thể rút ra một số nhận xét như sau:

2.1 Thực trạng về nhu cầu tư vấn của học sinh

2.1.1 Nhu cầu được tư vấn

Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn GV và HS được hỏi cho biết cần thiết và rất cần thiết tổ chức TV cho HS ở trường THPT (chiếm 71,1%); HS và GV cũng đánh giá nhu cầu được TV của HS rất cao (cần và rất cần TV chiếm 63,5%) và mong muốn được GV TV và hỗ trợ khi gặp khó khăn trong quá trình học tập và sinh hoạt là 60,3%

Trang 20

Về nhu cầu TV, trong các nhóm học tập, tâm sinh lí, hướng nghiệp, tham gia các hoạt động xã hội kết quả khảo sát cho thấy học sinh có nhu cầu TV về học tập cao nhất Gần 70% (69,6%) HS thấy cần thiết và rất cần thiết được TV về mặt học tập Việc HS chuyển từ THCS sang THPT cũng là một khó khăn lớn đối với các

em Khối lượng kiến thức của các môn học đều tăng và yêu cầu của mỗi môn học ở THPT cũng cao hơn so với THCS Ngoài ra, các em cũng phải chuẩn bị kiến thức cho việc thi đại học là một mốc rất quan trọng trong cuộc đời các em Để học tập hiệu quả, các em cần được định hướng, xây dựng động cơ học tập và thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập khoa học, phù hợp Việc làm sao để chọn được môn học, khối học yêu thích phù hợp với năng lực của mình, phù hợp với yêu cầu kiến thức định hướng nghề nghiệp đa dạng trong xã hội luôn thay đổi, các em rất cần được GV TV, hỗ trợ Đặc biệt là trong hai năm học 2020 - 2021 và 2021 -

2022 khi đại dịch Covid 19 ảnh hưởng rất lớn tới việc học tập, HS phải học trực tiếp xen lẫn trực tuyến nên nhu cầu được TV về mặt học tập lại càng tăng Qua phỏng vấn, tôi nhận thấy HS có nhu cầu TV về việc xác định động cơ học tập, cách lập kế hoạch học tập, phương pháp học tập, tìm kiếm tài liệu học tập và đặc biệt là

GV làm công tác hướng nghiệp thì phần lớn GV ở trong trường chưa được đào tạo, bồi dưỡng nhiều về hướng nghiệp và thiếu các KNTV cần thiết để giúp HS lựa chọn đúng ngành nghề phù hợp với sở thích và năng lực của bản thân

Ngoài ra, theo kết quả khảo sát và phỏng vấn trực tiếp, những vấn đề về chăm sóc các bệnh liên quan đến giới tính, quan hệ giới tính cũng là vấn đề được

HS quan tâm và mong muốn TV Các nội dung về quan hệ ứng xử hay tham gia

các hoạt động xã hội được phần lớn HS đánh giá ở mức bình thường HS có nhu

cầu được TV thấp nhất với nhóm quan hệ ứng xử với gia đình, thầy cô và bạn bè

2.1.2 Cách thức giải quyết khi có nhu cầu tư vấn

Mặc dù có nhu cầu TV cao như vậy, nhưng rất ít HS rất thường xuyên (5,7%) và thường xuyên (8,2%) tìm đến GV để nhờ TV, giúp đỡ cách giải quyết các khó khăn gặp phải Hơn một nửa số HS được khảo sát cho biết không bao giờ (26,2%) hoặc hiếm khi (36,5%) đến gặp GV để tìm sự giúp đỡ

Kết quả cho thấy khi đối diện với những khó khăn, HS có xu hướng tự mình tìm cách giải quyết (51,3%) hoặc tìm thông tin trên mạng Internet (58,6%) hoặc tâm sự, hỏi ý kiến bạn bè thân thiết (77,1%) Hỏi ý kiến cha mẹ và người thân trong gia đình hay nhờ GV TV không phải biện pháp mà HS nghĩ đến trước tiên

Trang 21

Việc tìm đến sự giúp đỡ của chuyên gia TV ở các trung tâm TV lại càng ít (thường xuyên và rất thường xuyên chỉ chiếm 0,4%) khi các em nghĩ đến Điều này cho thấy các kênh trợ giúp hiệu quả (chuyên gia TV, GV, cha mẹ) lại không được các

em lựa chọn nhiều Vì vậy, việc làm cho các kênh trợ giúp này trở nên thân thiện hơn với các em là một yêu cầu thực tiễn

Về giới tính và quan hệ với bạn khác giới, qua phỏng vấn mức độ HS gặp phải những khó khăn trong cách chăm sóc các bệnh thông thường, chăm sóc da mặt trứng cá, vệ sinh thân thể và bộ phận sinh dục, phân biệt giữa tình bạn và tình yêu; cách giữ gìn trong quan hệ giới tính và kiềm chế/từ chối những đòi hỏi giới

tính được đánh giá ở mức bình thường Trong khi đó, nhìn chung HS cho biết ít khi

gặp khó khăn về những thay đổi trong cơ thể và sự kích thích tò mò giới tính Tuy nhiên, khi được phỏng vấn sâu thêm, em NTH (Lớp 11D1) cho biết em không có

nhu cầu TV về các nội dung liên quan đến giới tính và sức khỏe sinh sản “không phải vì em không gặp những khó khăn liên quan đến vấn đề đó, mà vì em tự tìm hiểu trên mạng internet là đủ rồi” Nhưng khi được đề nghị chỉ ra một số trang mà

em cho là đảm bảo độ tin cậy thì em đã không chỉ ra được Đúng là internet là kho tàng kiến thức của nhân loại, nhưng khi các em chưa đủ nhận thức, kinh nghiệm để tìm kiếm những thông tin chính thống, đảm bảo độ tin cậy trên mạng internet thì nguy cơ đọc phải các nguồn thông tin không được kiểm soát và thường chứa nhiều điểm đen, lệch lạc là điều tất yếu Điều này đã gây ra nhiều hậu quả đáng buồn như quan hệ tình dục quá sớm, có thai khi còn ngồi trên ghế nhà trường, phá thai, bỏ học, Nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí cũng như tương lai của các em

Về việc tham gia các hoạt động xã hội, mức độ thường xuyên HS gặp phải những khó khăn liên quan đến tham gia các tổ chức đoàn thể, câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao; tham gia lao động vệ sinh môi trường tham gia các hoạt

động tình nguyện, nhân đạo được đánh giá ở mức bình thường Tuy nhiên, khi trao đổi với GV, cô giáo NTT cho rằng “Đúng là do HS THPT có nhiều mối quan tâm hơn là việc tham gia các hoạt động xã hội Tuy nhiên việc TV, định hướng cho các

em tham gia các hoạt động xã hội là hết sức cần thiết, giúp hình thành ở các em những giá trị tốt đẹp, góp phần giúp các em tránh phải nhiều khó khăn khác trong học tập và cuộc sống” Cô giáo HTLH cũng đồng quan điểm khi chia sẻ “Với hơn

20 năm kinh nghiệm giảng dạy cho HS THPT, tôi nhận thấy các em cải thiện mối quan hệ với những người khác tốt hơn và có nhiều năng lượng tích cực hơn, học tập hào hứng và hiệu quả hơn khi tham gia các hoạt động xã hội”

Khía cạnh mà HS ít khi gặp khó khăn nhất liên quan đến quan hệ giao tiếp,

ứng xử với gia đình, thầy cô và bạn bè Trong nhóm khó khăn này, khi phỏng vấn nhìn chung HS gặp khó khăn với việc bố mẹ/thầy cô có những đánh giá, nhận xét,

định kiến với HS và bạn bè thiếu sự đồng cảm, chân thành, bình đẳng HS ít khi

gặp những khó khăn liên quan tới việc bị người lớn không tôn trọng, đối xử không công bằng hay can thiệp sâu vào đời sống riêng; hay ít khi gặp những vấn đề liên quan bắt nạt và gây hấn, ghen ghét, đố kị, tụ tập làm điều không tốt Tuy nhiên,

Trang 22

trong quá trình trao đổi, em NTHY (lớp 11D1) cho biết “Vấn đề quan hệ giao tiếp, ứng xử với thầy cô, cha mẹ, bạn bè là vấn đề em và các bạn của em vẫn gặp thường xuyên Dù không bị ảnh hưởng nhiều đến tâm lí, làm em chán nản, nhưng do em nghĩ đó là chuyện nhỏ và đương nhiên nên em không cho rằng đó là khó khăn cần được TV Và mỗi khi gặp các vấn đề như thế, em thường tâm sự với bạn thân”

2.1.3 Kì vọng về sự tư vấn của giáo viên

Khi được hỏi về những kì vọng của mình khi tìm đến sự TV của GV, HS thể hiện mức độ kì vọng theo thứ tự: Cho lời khuyên/hướng giải quyết hợp lý với vấn

đề gặp phải (75,8%); Đảm bảo tính bảo mật của thông tin (69,3%); Không bị định kiến, kì thị (61,1%); Được lắng nghe và chia sẻ vấn đề gặp phải (60,6%) HS thể hiện mức độ kì vọng thấp hơn đối với việc có thể hỏi mọi lúc, mọi nơi và bằng nhiều hình thức (42,6%) Tuy nhiên, với một số HS đã từng gặp GV xin TV và thấy hài lòng vì đã được thầy/cô của mình TV lại cho biết, các em thấy việc được

GV TV mọi lúc mọi nơi và bằng nhiều hình thức là điều khiến các em dễ dàng bày

tỏ vấn đề của mình nhất, dễ hơn nhiều so với việc bước chân vào phòng TV của nhà trường (Em HTN - Lớp 12D1; Em HTT - Lớp 12A1, Em HTDH - lớp 11A7) Điều này cho thấy rằng, khi đến gặp GV để xin TV về các khó khăn gặp phải, HS mong muốn được cho lời khuyên hợp lý, được bảo mật thông tin, không bị định kiến và kì thị và có thể hỏi mọi lúc mọi nơi cũng như bằng nhiều hình thức Trong trường hợp HS còn đắn đo và không tìm đến sự TV của GV, mặc dù thừa nhận rằng có nhu cầu được TV từ GV, có thể xuất phát từ nguyên nhân HS sợ rằng những kì vọng của mình không được thỏa mãn Nói cách khác, để có thể triển khai hiệu quả hoạt động TV cho HS tại trường THPT, GV cần được bồi dưỡng, trang bị kiến thức và kĩ năng TV phù hợp để có thể đưa ra được lời khuyên hợp lí và tuân thủ các nguyên tắc để đảm bảo hiệu quả TV

Như vậy, có thể thấy, dù mức độ khác nhau nhưng hầu hết HS có nhu cầu

TV về tất cả các nhóm: Học tập, hướng nghiệp; Tâm - sinh lí; Mối quan hệ - giao tiếp; Tham gia các hoạt động xã hội Tuy nhiên tỉ lệ HS tìm đến GV để TV lại ít

Vì vậy cần phải có những giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả TV, tạo niềm tin và mong muốn tìm đến GV để chia sẻ của HS, tránh những hậu quả nghiêm trọng, những sai lệch không mong muốn

2.2 Thực trạng năng lực tư vấn của giáo viên

2.2.1 Thực trạng nhận thức về năng lực tư vấn của giáo viên

Khi đánh giá mức độ nhận thức của GV về vai trò của TV, phần lớn GV

đánh giá ở mức khá (46,7%) và trung bình (33,3%), số lượng GV có nhận thức tốt

về vai trò của TV thấp (chỉ 16,7%), tỉ lệ GV đánh giá ở mức yếu hầu như không đáng kể (3,3%)

Khi tự đánh giá về NLTV của GV, phần lớn GV cũng cho rằng khả năng TV

của GV nói chung ở mức độ khá (46,7%), sau đó là trung bình (36,6%), số lượng

GV cho rằng NLTV của GV ở mức tốt chỉ chiếm 16,7%, không có GV cho rằng NLTV của GV ở mức Yếu và Kém Điều này cũng dễ hiểu vì tất cả GV đều đã được cung cấp kiến thức, kĩ năng về TV từ trên giảng đường đại học, hàng năm lại

có các đợt tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên của sở, của trường

Trang 23

Tuy nhiên, khi được hỏi về NLTV của GV mà HS đã từng xin TV, phần lớn HS

lại đánh giá NL của GV ở mức trung bình (52,5%), không nhiều HS đánh giá ở mức khá và tốt (29,5%) và vẫn còn ít HS cho rằng NLTV của GV là yếu kém (4,9%)

Để kiểm chứng lại thông tin, chúng tôi tiếp tục hỏi ý kiến của HS về ý định tiếp tục tìm đến GV để xin TV sau khi đã được TV một lần rồi Kết quả cho thấy, phần lớn HS sẽ hiếm khi (57%) hoặc không bao giờ (22,9%), một số HS thỉnh thoảng (16%) và rất ít học sinh thường xuyên (2,9%) và luôn luôn (1,2%) tìm đến

GV lần nữa để chia sẻ và xin TV mỗi khi gặp phải những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và trong học tập Hầu hết HS trả lời đồng ý một phần hoặc bình thường

khi được hỏi Em có nghĩ rằng giáo viên có thể tư vấn giúp học sinh giải quyết các khó khăn gặp phải không? Thậm chí có HS còn trả lời là không đồng ý Số lượng

học sinh trả lời đồng ý chiếm số lượng thấp

Khi được hỏi, nhiều HS trả lời rằng, sự TV của GV không đáp ứng được kì vọng của HS, nhiều GV không hiểu được mong muốn TV của HS, một số GV nhìn nhận vấn đề theo quan niệm, chuẩn mực của mình khiến HS cảm thấy không muốn chia sẻ tiếp nữa

2.2.2 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tư vấn của giáo viên

Từ kết quả phiếu khảo sát và việc phỏng vấn GV, cho thấy có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả TV của GV Trong đó bao gồm:

2.2.2.1 Nguyên nhân khách quan

Theo đánh giá của GV, 5 nguyên nhân khách quan mà tác giả sáng kiến đưa

ra đều có ảnh hưởng đến hiệu quả TV nhưng mức độ ảnh hưởng là khác nhau Trong số 5 yếu tố được liệt kê, hai yếu tố được GV đánh giá là có ảnh hưởng lớn

nhất đến sự hiệu quả TV của GV là Sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường và Hoạt động bồi dưỡng thường xuyên về NLTV của GV Theo ý kiến của GV, hầu hết

những kiến thức nền tảng về TV họ đã được cung cấp ở giảng đường đại học nhưng nếu không gắn với thực tiễn ở các trường phổ thông và không được thường xuyên áp dụng vào thực tiễn thì GV sẽ không có cơ hội được rèn luyện và tất yếu

là NLTV của họ sẽ không được phát triển

Điều đặc biệt là GV đánh giá các phương tiện đại chúng cũng đang là yếu tố gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả TV của GV Mặc dù đây không phải yếu tố cơ bản, nhưng nó cũng có ảnh hưởng gián tiếp tới hiệu quả TV của GV, nhất là trong bối cảnh phát triển công nghệ thông tin như hiện nay Với sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và các trang thông tin điện tử, các phản ánh tiêu cực về thầy cô giáo đã phần nào ảnh hưởng đến niềm tin của HS dành cho GV Thứ 2, nhiều trang mạng internet không chính thống, cung cấp cho HS những thông tin sai lệch, gây ảnh hưởng không nhỏ tới nhận thức, tình cảm cũng như cách giải quyết vấn đề của HS

Ngoài ra, không gian và điều kiện TV cũng có ảnh hưởng tới hiệu quả TV

HS của GV Trường THPT Quỳnh Lưu 2 có phòng riêng dành cho hoạt động TV, tuy nhiên phòng riêng đó HS ít vào Lí do là bởi phòng TV sát cạnh phòng học, vì vậy khiến HS không được thoải mái, tự nhiên Hơn nữa nhiều bạn bè nhìn thấy và

dị nghị cũng ảnh hưởng đến tâm trạng của HS Ngoài phòng TV còn có văn phòng

Trang 24

đoàn, hoặc GV có thể chọn TV qua điện thoại, các phương tiện liên lạc khác nhưng

nó đều có những hạn chế nhất định

Một nguyên nhân khách quan nữa cũng ảnh hưởng tới hiệu quả TV là hoàn cảnh gia đình, công việc, thời gian, kinh tế Nhiều GV kinh tế còn khó khăn, nhà xa

ít có thời gian tìm hiểu cặn kẽ để thấu hiểu những mong muốn cần TV của HS

2.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan

Theo ý kiến của GV, Động cơ, lí tưởng và hứng thú nghề nghiệp là nguyên

nhân chủ quan có ảnh hưởng nhất tới hiệu quả TV của họ Thật vậy, việc xác định được động cơ nghề nghiệp sẽ có vai trò quyết định tới sự phát triển NLTV của GV Nếu GV không có động cơ, hứng thú với hoạt động TV thì việc họ bồi đắp tri thức, kiến thức, rèn luyện KN cũng chỉ do áp lực và yêu cầu từ bên ngoài Lúc đó, có thể

ví việc phát triển NLTV của GV giống như việc xây dựng một tòa nhà, nếu tòa nhà không có móng sẽ không thể trụ vững và kiên cố được Động cơ và lý tưởng chính

là nền móng của việc phát triển NLTV của GV Nếu có được cơ sở vững chắc thì chắc chắn GV sẽ có kiến thức và KN và gặt hái được thành công trong nghề nghiệp

và trong hoạt động TVHĐ

Việc GV có ý thức về giá trị của nghề dạy học, về vai trò của người GV cũng đóng vai trò quan trọng đến hiệu quả TV Nhiều GV đến trường chỉ chú tâm vào việc dạy học, phát triển chuyên môn mà ít quan tâm tới những nhiệm vụ khác vì vậy ít có khả năng nhận ra sự thay đổi từ HS, từ đó khó đưa ra những lời khuyên thích hợp Nhiều GV luôn duy trì mối quan hệ GV - HS trong một khoảng cách nhất định, thiếu sự gần gũi, lắng nghe, thấu hiểu, đặc biệt sự cách biệt quá lớn về lứa tuổi dẫn tới sự cách biệt trong suy nghĩ, đánh giá nếu GV không đặt mình vào hoàn cảnh của HS

Yếu tố chủ quan thứ ba tác động đến sự phát triển NLTV của GV chính là

Hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV Việc bồi dưỡng này là từ thực tiễn dạy

học, học tập từ bạn bè, đồng nghiệp Khi chúng ta chăm chỉ tự học, tự bồi dưỡng,

tự thực hành TV thì kĩ năng, kĩ xảo trong TV cũng sẽ nâng lên

Các yếu tố về thể chất như ngoại hình, giọng nói ít ảnh hưởng hơn tới hiệu quả TV của GV

Tiểu kết chương 2

Từ kết quả khảo sát thực trạng NLTV của người GV THPT, ta thấy: Ngày nay, HS lứa tuổi THPT thường xuyên phải đối diện với nhiều khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống Các em có nhu cầu được TV để giải quyết những khó khăn đó để hoàn thành nhiệm vụ học tập và phát triển hài hòa bản thân Chính

vì thế các em đã tìm đến nhiều kênh khác nhau để được TV GV là một trong những kênh HS nên tìm đến vì GV chính là những người có điều kiện gần gũi, hiểu biết HS về mọi mặt, nhất là những vấn đề các em gặp phải trong quá trình học tập

ở trường Tuy nhiên, NLTV của GV còn nhiều hạn chế do những nguyên nhân chủ quan và khách quan nên chưa đáp ứng được kì vọng của HS về việc TV cũng như hiệu quả TV chưa cao

Trang 25

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TƯ VẤN CHO HỌC SINH

CỦA GIÁO VIÊN TẠI TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 2

Ở chương 3 này chúng tôi sẽ đề xuất một số biện pháp để phát huy hiệu quả

TV của GV ở trường THPT Quỳnh Lưu 2 Các biện pháp này chúng tôi đã triển khai trong nhiều năm học liên tiếp Khi sử dụng chúng tôi tuân thủ các nguyên tắc

cơ bản như: đảm bảo mục tiêu giáo dục, xuất phát từ quy luật phát triển tâm lý và nhận thức của học sinh, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, kinh nghiệm

của GV

3.1 Nâng cao hiểu biết của bản thân về công tác tư vấn

Ở trường THPT ít có hoặc không có cán bộ chuyên trách làm công tác TV

mà chủ yếu là GV làm công tác kiêm nhiệm TVHĐ Mặc dù đây đều là những GV

có năng lực, kinh nghiệm nhưng số lượng quá ít so với số lượng HS Vì vậy, đối tượng chủ yếu tham gia hoạt động TVHĐ là các GVCN, các GV trực tiếp dạy học

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả TV, đầu tiên mỗi GV cần cao hiểu biết của bản thân

về công tác TV

3.1.1 Nắm được khung năng lực tư vấn cho giáo viên

Để nâng cao hiệu quả TV, đầu tiên người GV cần nắm được khung NLTV tức là hệ thống kiến thức và KNTV cơ bản Việc nắm được khung NLTV, người

GV sẽ tự đánh giá được NLTV của mình để tự điều chỉnh và không ngừng rèn luyện để phát triển nghề nghiệp của mình

Cấu trúc NLTV của người GV bao gồm:

- Kiến thức: Kiến thức TV bao gồm:

+ Kiến thức lí thuyết cơ bản về TV: Để TV được cho HS, người GV trước hết

cần có kiến thức nền tảng về TV như: Khái niệm TV, Vị trí, vai trò của người GV trong TV; Các hình thức TV; Quy trình TV

+ Kiến thức về đối tượng TV: Bên cạnh những kiến thức về TV nói chung,

người GV cần có những hiểu biết đúng đắn về những đặc trưng về lứa tuổi, tâm lí

HS nói chung (đặc điểm tâm sinh lí và nhu cầu TV của HS THPT) cũng như những hiểu biết về từng HS nói riêng (thông tin cơ bản của HS liên quan đến đặc điểm riêng, sở thích riêng, NL riêng, hoàn cảnh gia đình .) để từ đó có thể có những quyết định đúng và hiệu quả trong việc lựa chọn hình thức TV và ứng xử phù hợp

+ Kiến thức về nội dung, môi trường và điều kiện TV: Ngoài ra, người GV

cũng cần phải có những kiến thức chuyên sâu về nội dung TV cụ thể (học tập, hướng nghiệp, tâm - sinh lí, KN sống, KN giao tiếp, tham gia các hoạt động xã hội); về không gian TV; về những nguyên tắc đạo đức khi TV cho HS (giữ bí mật, tôn trọng HS, chấp nhận HS, ) để có thể tiến hành TV thành công và là cơ sở để người GV quản lí hoạt động TV của mình phù hợp với HS, cũng như với các yếu

tố bên ngoài

Trang 26

- Kĩ năng: Là thành tố cốt lõi của NLTV và cũng được xem là nội dung cốt

lõi trong việc phát triển NLTV của người GV Một số KNTV cơ bản giúp người

GV TV cho HS hiệu quả là:

+ KN lắng nghe: được xem là KN quan trọng nhất, quyết định sự thành công đối với hoạt động TV của người GV KN này thể hiện ở chỗ người GV biết: Hòa nhập với ngôn ngữ, cơ thể của HS (là việc người GV tự động có những hành vi phi

ngôn ngữ phù hợp với những điều HS đang chia sẻ thể hiện sự lắng nghe tích cực của người GV) Sự hoà nhập thể hiện ở việc người GV có hành vi, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói, tốc độ lời nói, thái độ, biểu cảm nét mặt, ánh mắt… phù hợp với biểu

cảm và thông tin HS chia sẻ; Đáp ứng tối thiểu (việc đá ứng tối thiểu là biểu hiện

của việc GV chú ý lắng nghe nhiều hơn nói Đáp ứng tối thiểu của người GV trong lúc đang lắng nghe có thể là: gật đầu, “ừ”, “à”, “a ha”, hoặc dài hơn “thầy/ cô

hiểu”, “em nói tiếp đi”, ); Phản hồi ngắn (GV nhắc lại thông tin vừa nghe bằng

cách nhấn mạnh vào cảm xúc hay làm rõ một thông tin mà HS chia sẻ: “Vậy là em

đã làm như thế”, “Em thấy thất vọng vì điều đó”, ) Điều này vừa khích lệ HS

tiếp tục chia sẻ, vừa không làm ngắt mạch tư duy, cảm xúc của HS; Tóm lược vấn

đề (Khi lắng nghe tích cực, người GV phải tóm lược được một số ý chính trong nội

dung câu chuyện của HS để làm sáng tỏ vấn đề cũng như kiểm lại những cảm xúc

mà HS mô tả GV có thể tóm lược lại một số ý chính của HS bằng các câu để chuyển ý: “Vậy là ”, “Em cho rằng ”, “Em đã nói về ”)

+ KN đặt câu hỏi: Là KN giúp GV khai thác, tập hợp thông tin về vấn đề của

HS nhằm thấu hiểu vấn đề của HS và có phương án hỗ trợ tốt nhất Hơn nữa, câu hỏi còn giúp duy trì buổi TV, giúp người GV thu được thông tin một cách rõ ràng, mạch lạc, giúp HS giải quyết được vấn đề Những biểu hiện của KN này là người

GV biết: Lựa chọn thời điểm đặt câu hỏi phù hợp (tức là GV không nên lạm dụng

câu hỏi, mà chỉ hỏi khi thật sự cần thiết) Trước khi đặt một câu hỏi nào đó, người

GV phải tự hỏi: “Nếu tôi không biết thông tin này thì có ảnh hưởng đến quá trình

giúp HS không?” Nếu câu trả lời là “Không” thì GV không nên hỏi); Xác định nội dung cần hỏi: Nội dung câu hỏi cần tập trung vào vấn đề của HS, chứ không phải tập trung vào nhu cầu thông tin chủ quan của GV và việc chất vấn HS; Nắm được

kĩ thuật đặt câu hỏi: GV phải nhận biết được các dạng câu hỏi khác nhau, cũng

như ưu nhược điểm của từng loại câu hỏi, đề từ đó lựa chọn được những câu hỏi

phù hợp; Biểu hiện thái độ khi hỏi: Người GV thể hiện được thái độ nghiêm túc, tôn trọng HS, khích lệ HS

+ KN thấu cảm: Thấu cảm là khả năng hiểu được HS đang nghĩ gì, cảm nhận

được điều mà HS đang cảm nhận bằng cách đặt mình vào vị trí và hoàn cảnh của

HS KN này giúp GV hiểu HS và vấn đề của HS hơn để tìm ra cách giúp đỡ các em

một cách phù hợp nhất KN này được biểu hiện ở các khả năng sau: Đạt được đến cảm xúc của HS: Người GV có khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của HS và đánh giá đúng vấn đề của HS, chứ không phải chỉ thông qua những gì HS kể; Hiểu và thể hiện được sự hiểu biết của GV về cảm xúc, tâm trạng của HS đối với vấn đề

Trang 27

các em gặp phải: Người GV hiểu được HS đang đang nghĩ gì, đang có cảm xúc gì, đang muốn nói gì và thể hiện được hiểu biết của mình thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt, thái độ, ; Chuyển cảm xúc của HS thành ngôn từ: Người GV mô phỏng

được những cảm xúc, những suy nghĩ của HS thông qua những gì người GV nghe thấy, quan sát được, cảm nhận được và diễn đạt lại thành các câu nói

+ KN phản hồi: KN phản hồi giúp người GV sắp xếp và tóm lược nội dung

của vấn đề được đề cập, đồng thời chứng tỏ được người GV thật sự quan tâm đến vấn đề mà HS chia sẻ để HS mạnh dạn bộc lộ vấn đề của mình, giúp GV hiểu được vấn đề của HS và TV cho HS một cách hiệu quả nhất Có 2 loại phản hồi: Phản hồi

thông tin và phản hồi tâm trạng - cảm xúc Người GV có KN này là người biết: Ở

vị trí trung lập: không chê bai, xét đoán; Lựa chọn thông tin phản hồi: Thông tin

phản hổi phải cụ thể, ngắn gọn, rõ ràng, không để HS thêm rối vì những câu phản hồi dài dòng, tối nghĩa Thông tin phản hồi là những thông tin có kiểm soát và có

thay đổi, chứ không phải chỉ nói về thất bại; Lựa chọn thời điểm phản hồi hợp lí:

không vội vàng nhưng cũng không để quá lâu Đồng thời cũng không nên lạm

dụng phản hồi, tránh tạo áp lực cho HS; Sử dụng các cụm từ giả định “dường

như”, “có phải là”, thay vì những câu phản hồi mang tính khẳng định và chủ quan

+ KN cung cấp thông tin: KN cung cấp thông tin đòi hỏi người GV phải thật sự

hiểu vấn đề của HS, thật sự khách quan và tôn trọng ý kiến của HS, đặc biệt là khi

có bất đồng quan điểm Người GV có KN cung cấp thông tin là người biết: Phân biệt những thông tin khách quan (thông tin thực tế, sự kiện: “Thực tế cho thấy”, “Cô

nhận thấy”; ) và những thông tin mang tính nhận thức, phỏng đoán chủ quan của người GV (thông tin suy luận, giả định: “Cô nghĩ là”; “Cô cho rằng”; ) Điều này giúp HS có niềm tin vào GV và giúp HS có được những cơ sở để đưa ra quyết định

phù hợp, chính xác; Không áp đặt thông tin đối với HS: GV phải tôn trọng quyết

định cuối cùng của HS, đặc biệt là khi có ý kiến bất đồng quan điểm Người GV có

KN cung cấp thông tin phải biết làm cho HS thấy rằng các em có quyền làm theo hay không làm theo chỉ dẫn mà người GV đã đưa ra: “Quyền lựa chọn là ở em Cô

chỉ đưa ra một số thông tin để em cân nhắc trước khi quyết định thôi”; .; Không lạm dụng việc đưa ra lời khuyên: Khi HS tìm đến sự giúp đỡ của GV là các em

muốn được nhận từ thầy cô của mình những lời khuyên bổ ích Và bằng những kiến thức và kinh nghiệm của mình, người GV hoàn toàn có thể đưa ra cho HS những lời khuyên để HS cân nhắc Tuy nhiên, khi đưa ra lời khuyên, người GV cần phải nhận thức được rằng: Mình có thể có những trải nghiệm trong cuộc sống và thu được nhiều thành công khi ứng dụng chúng vào các hoàn cảnh khác nhau của đời sống cá nhân mình, nhưng không phải lúc nào cũng đúng với người khác

+ KN phát hiện sớm: Để có thể chủ động TV kịp thời cho HS, người GV cần

phải được trang bị KN phát hiện sớm HS gặp khó khăn KN này phù hợp với tiêu chí “chủ động” trong nội dung “thái độ TV”, là một trong những KN cần thiết giúp người GV thực hiện tốt được vai trò TV của mình KN này cho phép người GV

Trang 28

phát hiện, nhận diện sớm những biểu hiện bất thường của HS để có thể chủ động

hỗ trợ các em giải quyết sớm vấn đề của mình, giảm thiểu nguy cơ xấu có thể xảy

ra Người GV có KN phát hiện sớm HS gặp khó khăn là người GV biết: Phát hiện sớm dấu hiệu cho thấy HS có vấn đề về hành vi, cảm xúc cần được trợ giúp hoặc

những vấn đề nổi cộm của học sinh toàn trường cần được can thiệp kịp thời bằng cách vận dụng kiến thức, kinh nghiệm cá nhân Ví dụ:

• Nhận thức: tư duy, trí nhớ,

• Cảm xúc: lo lắng, buồn rầu, căng thẳng,

• Hành vi: gây gổ, chống đối, hung hăng,

• Sinh lý: giấc ngủ, ăn uống, hô hấp, nội tiết,

Sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu (quan sát, nghiên cứu hồ sơ cá

nhân, đàm thoại, trắc nghiệm) qua các nguồn thông tin khác nhau (nguồn thông tin qua quan sát; nguồn thông tin từ hồ sơ, tiểu sử của HS; nguồn thông tin tự khai báo của bản thân HS, của những người xung quanh như GV, bạn bè, người thân trong gia đình, …) để có được những thông tin khách quan, cần thiết, đầy đủ, kịp thời;

Đánh giá dữ liệu thu được dựa trên việc kết hợp các nguồn thông tin khác nhau để

đi đến những nhận định về các đặc tính hành vi, xã hội, cảm xúc của cá nhân để

ban đầu nhận diện được vấn đề khó khăn HS đang gặp phải; Lên kế hoạch sử dụng

dữ liệu đã sàng lọc để có phương án hỗ trợ kịp thời

- Thái độ: yếu tố thứ 3 cấu thành nên NLTV là thái độ TV, và bao gồm 3 yếu

tố cơ bản: tình cảm, động cơ và ý chí

Tình cảm TV bao gồm nhiệt tình trong TV (tức là sẵn sàng, tự nguyện giúp

đỡ HS mọi lúc, mọi nơi, nhanh chóng tìm hiểu vấn đề và giúp HS giải quyết vấn đề) và tự tin trong TV (tức là làm chủ được tiến trình TV; Luôn tin rằng TV có thể

hỗ trợ, giúp HS giải quyết vấn đề)

Động cơ TV bao gồm mục tiêu TV rõ ràng, tích cực (tức là TV cho HS để

giúp các em vượt qua được khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ học tập của các em, cũng chính là giúp người GV hoàn thành nhiệm vụ GD của mình, góp phần khẳng định giá trị bản thân) và chủ động TV (tức là nhận ra được các biểu hiện bất thường của HS; Chủ động tìm kiếm thông tin, cách thức để TV cho HS, thậm chí chủ động tìm đến người thứ 3 có kinh nghiệm hơn để tham khảo ý kiến)

Ý chí TV bao gồm khắc phục khó khăn trong TV (tức là sẵn sàng TV cho HS mọi lúc, mọi nơi: trong giờ lên lớp cũng như ngoài giờ lên lớp, trong nhà trường cũng như ngoài nhà trường, sẵn sàng TV cho HS nhiều lần cho đến khi vấn đề được giải quyết thỏa đáng) và tự học, tự rèn luyện trong TV (tức là luôn có ý thức

và hành động trong việc tự học, tự rèn luyện nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của

hoạt động TV)

Trang 29

Có thể tổng kết cấu trúc khung NLTV của GV THPT bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ: Cấu trúc khung năng lực TV của người giáo viên THPT

3.1.2 Thường xuyên bồi dưỡng, học hỏi kinh nghiệm

Ở trường THPT Quỳnh Lưu 2, trong những năm gần đây GV đã nhận được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường về hoạt động TV vì vậy GV thường được tham gia vào các hoạt động TV trong nhà trường cũng như thông qua các hoạt động bồi dưỡng thường xuyên nhằm giúp người GV bổ sung, cập nhật những kiến thức, KN mới phù hợp với đối tượng HS cũng như bối cảnh GD thường xuyên thay đổi Việc bồi dưỡng thường xuyên bắt đầu từ việc tự tìm kiếm tài liệu liên quan đến hoạt động TV để đọc gồm sách, tạp chí, các trang mạng internet Ví dụ về một số tài liệu liên quan đến hoạt động TV rất có ích cho HS:

1 Nguyễn Thị Nhân Ái (2011), Các lí thuyết phát triển trong tham vấn hướng

nghiệp, Tạp chí Giáo dục, số 2;

2 Nguyễn Hữu Châu, Lê Thị Quỳnh Nga (2015), Tư vấn hay tham vấn – Vai

trò nào cho người giáo viên THPT?, Tạp chí Tâm lí học, số 12 (201), tháng

12/2015

3 Trần Thị Minh Đức (2016), Giáo trình tham vấn tâm lý, NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội

4 Nguyễn Kế Hào (CB), Nguyễn Quang Uẩn(2004), Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXBĐHSP

5 Lê Thị Quỳnh Nga (2017), Những yêu cầu về năng lực tư vấn của người giáo viên THPT, Tạp chí Khoa học giáo dục - Số 141, tháng 06/2017

6 Nguyễn Hồng Thuận (CB), Lê Thị Quỳnh Nga (2017), Mô hình tư vấn học đường trong nhà trường phổ thông; NXB Đại học quốc gia Hà Nội

KN Đặt câu hỏi

KN thấu cảm

KN phản hồi

KN cung cấp thông tin

KN phát hiện sớm

Tình cảm

Trang 30

Thứ hai, tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về TV do nhà trường tổ chức Thông qua những buổi tập huấn này, dưới sự hướng dẫn của cán bộ phụ trách công tác TV, các GV được cùng nhau trình bày, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm về hoạt động TV, từ đó giúp bản thân nâng cao nhận thức, thái độ về TV, giúp khơi sâu,

mở rộng vốn tri thức TV, kĩ năng TV, thái độ TV và các cách thức để vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn

Một số hình ảnh của buổi tập huấn về công tác TV

Thứ 3, học hỏi những kinh nghiệm của đồng nghiệp từ những chia sẻ ở các hội nghị, đại hội, các tiết sinh hoạt GVCN, đến trao đổi trực tiếp với nhau

Trong hội nghị công chức, viên chức năm học 2021 - 2022, các giáo viên đã được lắng nghe tham luận của cô Nguyễn Thị Thu về “Các giải pháp của GVCN

để nâng cao hiệu quả TV cho học sinh” Tham luận đã đưa ra những nhu cầu TV của HS và đề ra một số giải pháp cụ thể mà GVCN có thể thực hiện để nâng cao hiệu quả của công tác TV như: thu thập thông tin đầy đủ của HS, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh HS, các GV bộ môn Đây là những giải pháp thiết thực đối với những người làm công tác chủ nhiệm, vì hơn ai hết GV chủ nhiệm là những người rất gần gũi với học sinh, vì thế mà dễ dàng chia

sẻ, thấu hiểu để từ đó có những định hướng TV phù hợp cho từng đối tượng

Tại đại hội chi đoàn GV - Cán bộ năm học 2020 - 2021, cô Hồ Thị Hoa đã gửi đến đại hội tham luận “TV và định hướng nghề nghiệp cho học sinh lớp chủ nhiệm trong thời đại công nghệ 4.0” Đây là một tham luận có ý nghĩa, đặc biệt với những giáo viên chủ nhiệm lớp 12 Bởi đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, nhiều học sinh rất hoang mang không biết mình thích gì, phù hợp với trường nào? Trường nào có

cơ hội xin việc nhiều hơn khi ra trường? Những ngành nghề nào sẽ là xu hướng trong những năm sắp tới? Với những hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn hẹp, HS chắc chắn sẽ cần nhờ tới sự trợ giúp của GV Tham luận của cô Vũ Thị Phương

Trang 31

gửi tới đại hội đã giúp GV mở mang hiểu biết, từ đó biết cách hướng dẫn học sinh

sử dụng công nghệ để tìm kiếm ngành nghề phù hợp với bản thân mình Thời đại của chúng ta là thời đại công nghệ số 4.0, vì thế nếu GV không có những hiểu biết nhất định, chắc chắn sẽ khó khăn trong việc giúp đỡ, TV cho học sinh

Rồi giải pháp của cô Nguyễn Thị Hà “Cảm hóa học sinh cá biệt bằng tình yêu thương, thấu hiểu”, cô Vũ Thị Tuyết “Xây dựng văn hóa học đường qua các tiết sinh hoạt chủ nhiệm”, cô Vũ Thị Tình “Giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm môn Lịch sử” Những giải pháp này đã phần nào

đề cao vai trò TV của người GV trong việc định hướng, cảm hóa, giáo dục học sinh Thông qua những giải pháp này, GV có thêm hiểu biết về việc lồng ghép hoạt động TV trong nhiều hoạt động từ giảng dạy trực tiếp đến thời gian sinh hoạt ngoại khóa , từ đó giúp HS rút ra được những bài học, những lời chỉ dẫn, những lời TV đáng quý để hoàn thiện bản thân mình, để lấp đi những chỗ còn thiếu vắng mà không cần trực tiếp nhờ giáo viên TV

Trong các cuộc họp, GV còn thường xuyên được trao đổi, được lắng nghe, chia sẻ kinh nghiệm từ những GV khác về các tình huống thực tế đang gặp phải trong quá trình giảng dạy và chủ nhiệm Đây là những kinh nghiệm quý báu mà không có một tài liệu nào cung cấp

Sau những cuộc họp, kì đại hội như thế, bản thân thấy, GV không chỉ được nâng cao hiểu biết về công tác TV, về vai trò và trách nhiệm của người GV mà còn thấy yêu và gắn bó với nghề của mình hơn vì ở đó có những GV thật tâm huyết, hết lòng vì HS, vì ở đó bản thân được học hỏi và trưởng thành lên nhiều từ những người đồng nghiệp và hơn hết ở đó có rất nhiều học sinh đang cần sự TV từ những người GV

Tham luận của cô Hồ Thị Hoa tại Đại hội chi đoàn GV-CB

3.2 Thu thập thông tin, tìm hiểu về các đối tượng HS

Để TV hiệu quả cho HS, đầu tiên GV cần hiểu được đối tượng TV Việc thu thập thông tin để hiểu đối tượng GV có thể tìm hiểu khi HS gặp vấn đề, chủ động

Trang 32

xin TV nhưng để dễ dàng quan sát sự thay đổi của HS hay tạo niềm tin cho HS,

GV nên tìm hiểu đối tượng HS của mình Đối với GV bộ môn, việc thu thập những thông tin này có thể tiến hành trong giờ học, ngoài giờ học, từ nhiều nguồn khác nhau Ví dụ, năm học 2021 - 202, bản thân được gia đình giao nhiệm vụ TV, hỗ trợ, giúp đỡ một HS chậm tiến là bạn NBH, học sinh lớp 12D3 Đây là lớp tôi dạy

bộ môn nên những biểu hiện lệch lạc tôi cũng đã phần nào nắm được: lười học, không tìm được động cơ học, hay vi phạm nội quy nhà trường: bỏ học, không mặc đồng phục, đi học muộn Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn tôi vẫn hỏi GVCN, lớp trưởng và một vài người bạn thân của H Từ đó, tôi có được thông tin: nhà H ở xã Quỳnh Thanh (một xã theo đạo công giáo) nhưng bản thân lại rất ít đi lễ giống như các bạn khác, bố đi làm xa chỉ có mẹ ở nhà, vi phạm nhiều lần nên các bạn trong lớp mất niềm tin ở H Sau đó, tôi nói chuyện với H nhiều hơn Tôi không gọi em xuống văn phòng đoàn hay phòng TV vì sợ em mất tự nhiên, lo lắng mà chọn cách nhắn tin qua zalo và mesenger Kết quả tôi thu được những thông tin tiếp theo: Bố

đi xa, gia đình có nhiều anh chị em nên mẹ cũng không quan tâm nhiều tới từng người con Thứ hai, em không muốn học vì hầu hết các môn em đã mất gốc nên giờ học không vào mà bản thân em cũng chỉ đặt ra mục tiêu học hết lớp 12 chứ không thi đại học Thứ ba, đằng nào trong mắt mọi người em cũng xấu rồi nên em cũng không muốn cố gắng Từ những thông tin như vậy, bản thân sẽ có cách thức

TV hiệu quả để giúp đỡ em thay đổi

Đặc biệt là GVCN Hơn ai hết, đối với học sinh, GVCN là những người gần gũi nhất với HS GVCN giống như một người chị, người mẹ - là người thân nhất của HS khi ở trường, vì vậy khi gặp vấn đề cần TV, người HS tìm đến đầu tiên để tìm sự giúp đỡ sẽ là GVCN GVCN có rất nhiều cách để quan sát, theo dõi và nhận

ra những biến chuyển khác lạ ở HS của mình Để làm được điều đó GVVN cần gần gũi với HS, tạo sự tin tưởng ở HS GV cần tạo cho HS có cảm giác an toàn trong lớp học bằng cách xây dựng bầu không khí “gia đình” để các em thật sự cảm thấy trường, lớp chính là nhà, bạn bè thầy cô chính là những người thân yêu, khi vui có thể cùng nhau cười, khi buồn có thể cùng nhau khóc Cần tìm hiểu những thông tin

về gia đình, hoàn cảnh, năng lực, sở trường của HS Việc này sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc kích thích lòng tự tin, giúp các em đưa ra những quyết định đúng đắn GVCN

có thể thực hiện việc tìm hiểu này qua nhiều cách:

Đầu tiên là phiếu khảo sát được thực hiện vào đầu năm học:

Trang 33

SƠ YẾU LÍ LỊCH HỌC SINH

1 Họ và tên học sinh:……….……… Giới tính:

2 Ngày … tháng… năm sinh…… Dân tộc:… … Tôn giáo:……

3 - Địa chỉ thường trú:

4 - Họ, tên cha: ……… Nghề nghiệp:…… Số điện thoại:…… …

- Họ, tên mẹ: ……….Nghề nghiệp:…… ….Số điện thoại:……

5 Số anh, chị, em trong gia đinh: Anh: , Chị: ,Em:

6 Điều kiện kinh tế gia đình:………

7 - Xếp loại của năm học 2020 - 2021

9 Chỉ tiêu phấn đấu của em trong năm học này:

10 Em có ý kiến, đề nghị gì với GVCN và nhà trường:

Đối với những GVCN một lớp 3 năm học, khi HS đã có sự gần gũi, GV có thể áp dụng phương pháp viết thư Bản thân tôi đã cho HS viết những điều muốn nói về gia đình, muốn nói với thầy cô qua hình thức viết thư Và tôi nhận thấy, mặc

dù bây giờ đã là thời đại 4.0 nhưng sử dụng phương pháp viết thư lại là lúc GV được đọc những tâm trạng chân thật nhất của học trò Khi đọc những dòng tâm sự

về hoàn cảnh gia đình của HS, bản thân đã từng khóc, những điều đó bản sơ yếu lí lịch đầu năm không thể thể hiện được

Hình ảnh một số bức thư học trò đã viết

Trang 34

GV cũng có thể thết kế những tấm thiệp xinh xinh để HS viết ước mơ và cách thức thực hiện ước mơ của mình vào đó, cho HS viết về điều đã bỏ lỡ trong năm trước và sẽ cố gắng thực hiện trong năm nay

Hình ảnh những tâm sự của học trò

Và có rất nhiều hình thức khác nữa Thông qua những hình thức như thế, GV

sẽ hiểu thêm nhiều về HS của mình từ đó mà có phương pháp TV phù hợp có khi không cần HS phải tìm đến GV để nhờ TV Những hoạt động như thế này cũng tăng thêm sự gần gũi, tin tưởng của HS đối với GV để mỗi khi gặp khó khăn hoặc muốn chia sẻ HS sẽ tìm đến GV Bởi việc TV của GV có khi chỉ bắt đầu từ việc

“Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu”

Để tìm hiểu HS, GV còn có thể tổ chức các hoạt động tập thể lớp, tạo cơ hội cho HS tìm hiểu lẫn nhau Bản thân đã từng tổ chức cho HS bình chọn những học sinh với những nét đặc điểm nổi bật: thân thiện nhất, hay giúp đỡ bạn bè nhất, hát hay nhất, mái tóc đẹp nhất (Phần này mỗi lần có thể chọn 3-4 giải, và GV chủ nhiệm cố gắng thiết kế giải để ai cũng được nhận giải) Hay sử dụng phiếu A4 để cho học sinh viết những điều hài lòng và chưa hài lòng về bạn của mình Yêu cầu người sau không được viết giống người trước Đây là cách GV vừa giúp HS hiểu lẫn nhau, nhận ra những ưu nhược điểm của mình để tiếp tục phấn đấu cũng là cách để GV hiểu hơn cách đánh giá, nhìn nhận người khác của từng đối tượng HS, biết được hình ảnh của từng HS trong mắt bạn bè cùng lớp

Trang 35

Hình ảnh giấy chứng nhận và GVCN trao giấy chứng nhận cho HS

3.3 Phối kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh học sinh, giữa giáo viên và các ban ngành, đoàn thể

Ở trường THPT Quỳnh Lưu 2, không phải lúc nào HS cũng chủ động tìm đến

GV để tìm kiếm sự TV Đa số những ca TV là GV chủ động nhận thấy những biểu hiện khác lạ của HS để tìm cách TV Đối với những ca TV đơn giản, GV dựa vào

sự thấu hiểu HS, kinh nghiệm thực tế của mình có thể TV, hỗ trợ được HS, còn đối với những ca TV phức tạp, đặc biệt là những biểu hiện lệch lạc, những hành vi lặp lại nhiều lần như việc vi phạm nội quy nhà trường, bạo lực học đường, nghiện game để đạt được hiệu quả trong TV, cần có sự phối kết hợp giữa GV và phụ huynh, GV và các ban ngành, đoàn thể

3.3.1 Phối kết hợp giữa GV và phụ huynh HS

Việc phối hợp các lực lượng GD gồm gia đình, nhà trường, xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động GD và dạy học nói chung, hoạt TV, hỗ trợ HS nói riêng Mỗi lực lượng có cách thức và ưu thế riêng mang đến sự phát triển tâm lí, nhân cách cho HS nên cần phối hợp chặt chẽ cả ba lực lượng này Đặc biệt cần giữ mối liên hệ thường xuyên, liên tục, hiệu quả giữa GV và cha mẹ HS Sự phối hợp này càng chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả thì việc TV, hỗ trợ cho HS càng đạt kết quả cao Do đó, trong các văn bản quy phạm pháp luật, yêu cầu cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong GD và dạy học HS luôn được nhấn mạnh Cụ thể là:

Tại khoản 2, Điều 3 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm

2019 đã khẳng định: “Hoạt động giáo dục được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”

Tại Khoản 1, Điều 7 Thông tư số 31/2017/TT - BGDĐT ngày 18/12/2017 của

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hướng dẫn thực hiện công tác TV tâm lí cho HS trong

Trang 36

trường phổ thông đã chỉ ra, nhà trường cần “thường xuyên trao đổi thông tin về

học sinh; nâng cao nhận thức của cha mẹ học sinh về đặc điểm phát triển tâm sinh

lí lứa tuổi và tác động của những thay đổi đối với học sinh; thường xuyên quan tâm, phát hiện và có biện pháp hỗ trợ kịp thời, phù hợp đối với những biểu hiện bất thường của học sinh”

Trong thực tế, GV sẽ không thực hiện được mục đích dạy học, GD nếu không

có sự hỗ trợ của cha mẹ học sinh, vì gia đình là môi trường gắn bó các thành viên bằng mối quan hệ huyết thống và sự chia sẻ thân tình nên cha mẹ là người hiểu rất

rõ con mình, tạo lập từ sớm những nền tảng cơ bản cho sự phát triển nhân cách của con Ngược lại, cha mẹ cũng không thể giúp con họ trưởng thành nếu không có sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo Nói cách khác, mối quan hệ tích cực giữa GV và cha mẹ HS có thể thúc đẩy HS học tập tốt hơn, phát huy được tối

đa tiềm năng của mình

Tuy nhiên, vẫn còn những GV cho rằng công việc chính của họ là dạy học, họ không có trách nhiệm phải xây dựng mối quan hệ với cha mẹ HS vì điều đó làm mất nhiều thời gian và công sức Thậm chí, có GV còn đặt cha mẹ HS vào mối quan hệ căng thẳng, gay gắt khi hai bên không đồng thuận trong GD HS Ngược lại, một bộ phận cha mẹ HS cũng chưa nhận thức đầy đủ về sự phối hợp, ảnh hưởng lẫn nhau của GD nhà trường và GD gia đình nên hoặc đổ lỗi hoàn toàn cho

GV khi con phát triển không như mong đợi, hoặc tham gia các hoạt động của trường, lớp - nơi con mình học tập - một cách thụ động và hình thức Về phía HS, nếu các em nhận thấy giữa GV và cha mẹ mình có sự tôn trọng, thống nhất và phối hợp chặt chẽ với nhau thì bản thân các em cũng tin tưởng GV và nỗ lực nhiều hơn trong học tập, rèn luyện Nhưng nếu HS biết rằng GV và cha mẹ không thường xuyên trao đổi, thậm chí xung đột, bất hợp tác với nhau sẽ khiến nhiều HS có khuynh hướng chống lại GV hoặc có vấn đề về hành vi trong lớp học Điều đó có ảnh hưởng tiêu cực, làm giảm rõ rệt hiệu quả GD và dạy học và kết quả là chính

HS mới là người chịu thiệt thòi nhất

Như vậy, sự phối hợp với gia đình, mà trực tiếp và chủ yếu là cha mẹ HS có ý nghĩa quan trọng, vừa là một trách nhiệm của GV, đồng thời vừa là một trong những con đường, cách thức hiệu quả, bền vững để GD HS

Bản thân cũng nhận thức được điều đó nên đã cố gắng thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với hội cha mẹ HS của lớp theo 2 phương án:

Phương thức trực tiếp: là cách cung cấp, nắm bắt, phản hồi, trao đổi thông tin giữa GV với cha mẹ HS trên cơ sở gặp gỡ, tương tác mặt đối mặt, không qua một lực lượng trung gian khác Ví dụ: họp phụ huynh HS, mời phụ huynh HS tham dự sinh hoạt lớp, trao đổi, gặp mặt riêng phụ huynh Bản thân là GVCN, tôi thường xuyên mời ban đại diện cha mẹ HS của lớp dự sinh hoạt chủ nhiệm để phụ huynh nắm bắt tình hình học tập rèn luyện của HS trong lớp; những hoạt động do đoàn, trường tổ chức, những tâm tư, nguyện vọng của HS Nhiệm vụ của GV là phải tạo cho phụ huynh HS muốn đến những cuộc gặp trực tiếp như vậy Ví dụ, khi họp phụ huynh, tôi không in bảng điểm của HS cả lớp để phát cho tất cả phụ huynh mà viết kết quả và nhận xét riêng cho từng HS Đặc biệt, trong cuộc họp chỉ nêu

Ngày đăng: 03/07/2022, 07:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tỉ lệ GV/ HS hiểu về sự cần thiết của việc TV và tổ chức TV trong trường THPT - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
Bảng t ỉ lệ GV/ HS hiểu về sự cần thiết của việc TV và tổ chức TV trong trường THPT (Trang 16)
Bảng 2 Tổng số - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
Bảng 2 Tổng số (Trang 17)
Bảng cách giải quyết khi gặp khó khăn cần TV Cách giải quyết/Tỉ - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
Bảng c ách giải quyết khi gặp khó khăn cần TV Cách giải quyết/Tỉ (Trang 18)
Bảng thực trạng về NLTV của GV Bảng 1: - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
Bảng th ực trạng về NLTV của GV Bảng 1: (Trang 19)
6. Nguyễn Hồng Thuận (CB), Lê Thị Quỳnh Nga (2017), Mô hình tư vấn học đường trong nhà trường phổ thông; NXB Đại học quốc gia Hà Nội - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
6. Nguyễn Hồng Thuận (CB), Lê Thị Quỳnh Nga (2017), Mô hình tư vấn học đường trong nhà trường phổ thông; NXB Đại học quốc gia Hà Nội (Trang 29)
Một số hình ảnh của buổi tập huấn về công tác TV - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
t số hình ảnh của buổi tập huấn về công tác TV (Trang 30)
Hình ảnh một số bức thư học trò đã viết - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
nh ảnh một số bức thư học trò đã viết (Trang 33)
SƠ YẾU LÍ LỊCH HỌC SINH - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
SƠ YẾU LÍ LỊCH HỌC SINH (Trang 33)
Hình ảnh những tâm sự của học trò - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
nh ảnh những tâm sự của học trò (Trang 34)
Hình ảnh giấy chứng nhận và GVCN trao giấy chứng nhận cho HS - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
nh ảnh giấy chứng nhận và GVCN trao giấy chứng nhận cho HS (Trang 35)
Hình ảnh phiếu gửi phụ huynh HS của GVCN - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
nh ảnh phiếu gửi phụ huynh HS của GVCN (Trang 37)
Hình ảnh một số chuyên đề TV đã triển khai - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
nh ảnh một số chuyên đề TV đã triển khai (Trang 42)
Hình ảnh một số trải nghiệm của HS - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
nh ảnh một số trải nghiệm của HS (Trang 43)
Hình ảnh lồng ghép hoạt động TV trong tiết học - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
nh ảnh lồng ghép hoạt động TV trong tiết học (Trang 44)
Số liệu bảng 8 cho thấy: Về cơ bản, Sở GD-ĐT đã có những biện pháp khá thiết thực để bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho HT các trường MN và nắm  vững thực trạng của CBQL bậc học để xác định nội dung bồi dưỡng và có kế  hoạch bồi dưỡng cho họ - SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ tư vấn CHO học SINH của i GIÁO VIÊN tại TRƯỜNG THPT QUỲNH lưu 2
li ệu bảng 8 cho thấy: Về cơ bản, Sở GD-ĐT đã có những biện pháp khá thiết thực để bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho HT các trường MN và nắm vững thực trạng của CBQL bậc học để xác định nội dung bồi dưỡng và có kế hoạch bồi dưỡng cho họ (Trang 62)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w