1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN vận DỤNG CHIẾN lược đọc SIÊU sáu để dạy học văn bản vợ CHỒNG a PHỦ và vợ NHẶT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn 12 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH

80 79 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Chiến Lược Đọc Siêu Sáu Để Dạy Học Văn Bản Vợ Chồng A Phủ Và Vợ Nhặt Trong Chương Trình Ngữ Văn 12 Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Trường học Trường THPT Quỳnh Lưu 2
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 3,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài này, chúng tôi đề xuất một số cách thức tiếp cận hai văn bản Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt bằng việc vận dụng chiến lược đọc Siêu sáu và các các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI VẬN DỤNG CHIẾN LƯỢC ĐỌC SIÊU SÁU ĐỂ DẠY HỌC

VĂN BẢN VỢ CHỒNG A PHỦ VÀ VỢ NHẶT TRONG CHƯƠNG

TRÌNH NGỮ VĂN 12 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

LĨNH VỰC: NGỮ VĂN

Tác giả: Nguyễn Thị Hương

Tổ chuyên môn: Văn - Anh Điện thoại: 0987.589.557

Nghệ An, 4/2022

Trang 2

MỤC LỤC Nội dung Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lí do chọn đề tài 1 2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tài liệu khảo sát 4 4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5 6 Đóng góp của sáng kiến kinh nghiệm 5 7 Cấu trúc sáng kiến kinh nghiệm 5 NỘI DUNG 6 Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Một số vấn đề về năng lực và phát triển năng lực 6

1.1.2 Dạy học theo đặc trưng thể loại 8

1.1.3 Sử dụng các chiến lược trong đọc hiểu văn bản 10

1.1.4 Chiến lược đọc Siêu sáu 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Nội dung khảo sát 15

1.2.2 Phương pháp khảo sát 16

1.2.3 Kết quả khảo sát 16

Chương 2: Vận dụng chiến lược đọc Siêu sáu để dạy học văn bản Vợ chồng 20

A Phủ và Vợ nhặt theo định hướng phát triển năng lực học sinh 2.1 Tạo sự kết nối 20

2.2 Dự đoán 27

2.3 Đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi 30

2.4 Giám sát 36

2.5 Hình dung 38

Trang 3

2.6 Tóm tắt 40

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 47

3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm 47

3.2 Nội dung thực nghiệm 29

3.3 Tiến trình thực nghiệm 30

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Ý nghĩa của đề tài 73

3 Phạm vi áp dụng 73

4 Kiến nghị 74

Tài liệu tham khảo 74

Phụ lục 75

Trang 4

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 5

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Những thay đổi của kinh tế - xã hội đang đặt ra cho ngành giáo dục những nhiệm

vụ hết sức nặng nề, nhất là đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước Để đáp ứng mục tiêu đó, ngành giáo dục cần có những thay đổi về chất Vì thế Nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đặt ra yêu cầu là phải thay đổi căn bản, toàn diện về giáo dục từ cơ chế, mục tiêu, chương trình cho đến sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy Sự thay đổi này đang đặt việc dạy, học của GV và HS trước những thách thức mới Một trong những thách thức đó là làm thế nào để phát huy được phẩm chất

và năng lực của học sinh

1.2 Có rất nhiều năng lực và phẩm chất cần được hình thành cho học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường Và mỗi một môn học sẽ đóng một vai trò khác nhau Ngữ văn đã trở thành một bộ môn quan trọng, nó vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật Môn Ngữ văn không chỉ cung cấp kiến thức mà còn góp phần không nhỏ vào việc phát triển ngôn ngữ, hình thành kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sống, giáo dục nhân cách, hướng học sinh tiếp nhận các giá trị chân thiện mĩ trong cuộc sống Vì vậy, việc tổ chức dạy học với việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực là yêu cầu thực sự cần thiết đối với một giáo viên Ngữ văn nói riêng và giáo viên nói chung 1.3 Trong những năm trở lại đây, việc dạy Ngữ văn trong nhà trường phổ thông đã

có nhiều đổi mới, chú trọng hoạt động đọc – hiểu văn bản văn chương của học sinh, trả lại cho bộ môn đúng vai trò của mình Với học sinh THPT, việc đọc hiểu văn bản văn học không thể chỉ dừng lại ở phạm vi các tác phẩm trong chương trình sách giáo khoa mà cần phải có sự mở rộng về phạm vi đọc Từ đó học sinh mới có thể có được kiến văn sâu sắc, suy tư đa chiều, nghị luận sắc bén, vốn sống phong phú, có nhiều cảm nhận mới mẻ… Hoạt động này chỉ có thể thực hiện tốt khi học sinh có sự đam

mê, tìm tòi và quan trọng hơn là cần có sự định hướng, hỗ trợ của giáo viên Khi hướng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản, giá viên cần phải sử dụng nhiều chiến lược đọc hiểu để giúp tiệm cận văn bản một cách tốt nhất Một trong số đó là chiến lược đọc “Siêu sáu”

1.4 Chiến lược đọc Siêu sáu là một chiến lược bao gồm sáu phần nhỏ có quan hệ chặt chẽ và thường được sử dụng chung nhằm phát triển năng lực đọc độc lập cho học sinh Chiến lược này được sử dụng khá rộng rãi trong dạy đọc Đây không chỉ là chiến lược đọc mà giáo viên sử dụng để tổ chức hoạt động đọc trên lớp mà còn là một chiến lược mà học sinh có thể sử dụng để tự đọc bất cứ một văn bản bất kì mà các em được tiếp cận Đây là một chiến lược giúp học sinh trở thành nhưng người biết “đọc”

và “đọc hiệu quả” Điều này rất quan trọng, giúp cho học sinh có thêm kĩ năng khi

Trang 6

rời khỏi trường học Đây cũng là điều mà Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đang hướng đến – hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản theo thể loại

1.5 Tô Hoài và Kim Lân là những nhà văn tiêu biểu, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng nền móng cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Nhà văn Kim Lân để lại cho văn đàn nhiều tác phẩm sâu sắc về cuộc sống và con người thôn quê,

có sức sống lâu dài, làm giàu thêm văn chương Việt, tâm hồn Việt Ông được tặng Giải thưởng nhà nước về văn học, nghệ thuật

Với 94 năm tuổi đời và hơn 70 năm tuổi nghề, Tô Hoài có được một số lượng tác phẩm đồ sộ, gần 200 đầu sách trải rộng trên nhiều mảng đề tài Có thể nói, Tô Hoài

là nhà văn của nhiều thời, nhiều tầng lớp, nhiều độ tuổi khác nhau, một tác giả có tầm ảnh hưởng lớn đến đời sống văn học Với nhưng đóng góp của mình, Tô Hoài đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

1.6 Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt là hai trong số những tác phẩm xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Điểm gặp gỡ của hai tác phẩm chính là cùng xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến, cùng nói về số phận con người trong những thời điểm biến động của lịch sử, đặc biệt là hành trình tìm đến với hạnh phúc, tương lai Không những thế, với hai tác phẩm này, nhiều thông điệp cuốc sống đã được đề cập đến như tình yêu thương, khát vọng sống, sự lựa chọn, tinh thần lạc quan Những thông điệp

đó rất cần học sinh thấu cảm Và chiến lược đọc Siêu sáu là một trong những phương pháp dạy học văn bản phù hơp, là hướng đi đúng đắn để học sinh kết nối văn học và cuộc sống một cách hiệu quả nhất

Xuất phát từ những thực tế đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Vận dụng chiến lược đọc Siêu sáu để dạy học văn bản Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt trong chương trình Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển năng lực học sinh” Với đề tài này, chúng tôi đề xuất một số cách thức tiếp cận hai văn bản Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt bằng việc vận dụng chiến lược đọc Siêu sáu và các các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để tạo được động lực, hứng thú cho học sinh đồng thời hình thành kĩ năng đọc hiểu văn bản và phát huy tối đa năng lực của học sinh Quan trọng hơn là học sinh sẽ

có được kĩ năng đọc hiểu bất cứ văn bản nào ngoài chương trình SGK

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Đọc hiểu là một kĩ năng quan trọng trong số các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của nhân loại, bởi vậy đọc hiểu văn bản cũng là một nội dung thu hút nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học giáo dục và các nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng như ở nước ta, đặc biệt là trong khoảng mấy chục năm trở lại đây.Trên thế giới, lĩnh vực đọc – hiểu đã có một lịch sử nghiên cứu bề thế và đạt được nhiều thành tựu lớn Không ít những công trình bề thế đã chứng tỏ sức hấp dẫn, đa diện của vấn đề này đối với các nhà nghiên cứu

Trang 7

Ở nước ta, thuật ngữ đọc – hiểu xuất hiện trong chương trình SGK phổ thông từ năm

2000, 2002, thể hiện sự đổi mới tư tưởng dạy học văn Các nghiên cứu về đọc – hiểu vì thế có tâm điểm từ nội dung dạy học văn trong nhà trường Còn không ít những băn khoăn, thậm chí không đồng tình với khái niệm này khi nó được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “giảng văn” đã xuất hiện và tồn tại từ rất lâu

Vấn đề đọc hiểu nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Nhìn chung, lĩnh vực nghiên cứu đọc – hiểu trong nước vẫn cần thêm nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng hơn cả ở phương diện lí thuyết và thực tiễn Mặc dù vậy, phải khẳng định, trong vòng hơn một thập kỉ qua, tiếp thu các thành tựu nghiên cứu trên thế giới, các nhà nghiên cứu về đọc hiểu ở Việt Nam nhận thức, phân tích làm sáng tỏ bản chất phức tạp của hoạt động đọc hiểu ở nhiều bình diện như bình diện nhận thức, bình diện tâm lí, bình diện văn hóa, bình diện sư phạm Với sự đóng góp tích cực của những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, Nguyễn Thái Hòa, Nguyễn Thị Hạnh, Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Hồng Nam, Dương Thị Hồng Hiếu…cùng với một

số nhà nghiên cứu khác, “diện mạo” của đọc hiểu trong khoa học giáo dục đã được xác định rõ nét ở các quan niệm và đường hướng lí thuyết cơ bản

Ở đây, chúng ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu, một số bài viết cơ bản Trong bài viết “Đọc – hiểu văn bản- Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay” đăng tải trên Thông tin khoa học Sư phạm, số 1 năm 2003, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã chỉ ra những sự thay đổi trên thế giới, những vấn đề cốt lõi trong khái niệm đọc và hiểu để có thể đưa ra một đường hướng mới trong việc hướng dẫn đọc văn bản cho học sinh

Những vấn đề về đọc hiểu của tác giả Nguyễn Thanh Hùng đã được lựa chọn và tổng hợp trong công trình “Kĩ năng đọc Văn” do Nxb ĐHSP xuất bản năm 2011 Đây

là công trình có giá trị về mặt khoa học, trình bày tương đối đầy đủ các nội dung cơ bản

về vấn đề đọc hiểu văn bản Tác giả đã trình bày súc tích, rõ ràng các nội dung liên quan đến vấn đề đọc hiểu như lí luận về đọc hiểu, khái niệm đọc hiểu, các bình diện của đọc hiểu, nội dung và cách thức đọc hiểu, kĩ năng đọc hiểu Tác giả đã xác định bốn kĩ năng đọc hiểu cơ bản là: kĩ năng đọc chính xác, kĩ năng đọc phân tích, kĩ năng đọc sáng tạo và kĩ năng đọc tích luỹ Tuy nhiên, tác giả chưa đề xuất các hoạt động dạy học cụ và các chiến lược đọc hiểu cụ thể để thực hiện mục tiêu rèn luyện hệ thống kĩ năng đọc hiểu cơ bản này

Cũng nghiên cứu về đọc hiểu văn bản trong dạy học Ngữ văn, công trình “Đọc hiểu

và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông” của tác giả Phạm Thị Thu Hương (Nxb ĐHSP, 2012) là một công trình tham khảo có giá trị cho người nghiên cứu, cho GV và những người quan tâm đến vấn đề ĐHVB trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Tác giả đã trình bày các nội dung của vấn đề đọc hiểu từ quan niệm đến các chiến lược có thể sử dụng khi đọc hiểu văn bản

Cũng nghiên cứu về các phương pháp dạy đọc văn, cuốn sách “Giáo trình phương

Trang 8

Nam TS Dương Thị Hồng Hiếu trình bày một cách rõ ràng các khái niệm cơ bản liên quan đến văn bản, đọc hiểu văn bản và một số biện pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản Đây được coi là công cụ cần thiết đối với GV khi hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

Về việc áp dụng các phương pháo dạy học tích cực và dạy học phát triển năng lực cũng đã có một số cuốn sách thể hiện sự nghiên cứu chuyên sâu Trong cuốn Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản văn chương qua hệ thống phiếu học tập lớp 11(2018) của Phạm Thị Thu Hương chủ biên đã xây dựng hệ thống phiếu học tập để hỗ trợ cho giáo viên và học sinh trong quá trình đọc hiểu các văn bản Tuy nhiên, việc xây dựng phiếu học tập cũng chỉ là một trong những cách thức để dạy học văn bản theo định hướng phát triển năng lực

Trong cuốn Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ Văn trung học phổ thông (Nxb ĐHSP, 2018) do Đỗ Ngọc Thống và Bùi Minh Đức chủ biên đã cung cấp cho người dạy một số vấn đề cơ bản nhất về dạy học phát triển năng lực, các phương pháp dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn ở các thể loại khác nhau đồng thời đưa ra các cách để kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh trong môn Ngữ văn

Về chiến lược đọc Siêu sáu đã được TS Dương Thị Hồng Hiếu giới thiệu và lược dịch trong cuốn Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông

mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên Tuy nhiên, đó mới chỉ là phần lý thuyết cơ bản nhất, còn việc hướng dẫn, minh họa khi dạy một tác phẩm cụ thể, nhất là ở văn bản Vợ chồng

A Phủ và Vợ nhặt là chưa có Đây thực sự là điều trăn trở với GV dạy văn vì đây là một chiến lược đọc hiểu rất thú vị, kích thích được tư duy và tạo được hứng thú cho học sinh

Như vậy, qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng: Những bộ tài liệu là những công cụ có tính chất nền tảng còn việc việc thực hiện hiệu quả đến đâu là phụ thuộc vào nhân tố con người, vào thực tế của từng cơ sở giáo dục, vào những điều kiện chủ quan và khách quan khác Chính vì vậy, khi lựa chọn nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn góp một kinh nghiệm nhỏ trong việc phát triển năng lực của học sinh thông qua quá trình đọc hiểu văn Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt với việc áp dụng chiến lược đọc Siêu sáu, từ đó góp phần nâng cao chất lượng môn Ngữ văn ở trường phổ thông

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tài liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng chiến lược đọc Siêu sáu để dạy học văn bản Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt trong chương trình Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển năng lực học sinh

3.2 Phạm vi tài liệu khảo sát: Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt trong chương trình Ngữ văn 12 THPT

Trang 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài: vấn đề phát triển năng lực học sinh, dạy học theo đặc trưng thể loại, cách thức vận dụng chiến lược đọc “siêu sáu” để đọc hiểu văn bản trong và ngoài nhà trường tính cấp thiết của việc đổi mới phương pháp và vai trò của các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

- Vận dụng chiến lược đọc Siêu sáu để dạy học văn bản Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt theo định hướng phát triển năng lực

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính phù hợp và hiệu quả các

đề xuất

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã phối hợp 2 nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn Bao gồm: phương pháp phân tích

và tổng hợp lý thuyết, phân loại và tổng hợp lý thuyết, phương pháp quan sát và điều tra, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thực nghiệm

6 Đóng góp của SKKN

- Về mặt lí luận, góp phần làm rõ khái niệm phát triển năng lực của học sinh, dạy học theo đặc trưng thể loại, các chiến lược đọc hiểu văn bản trong đó có chiến lược đọc Siêu sáu cũng như những yêu cầu cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông

- Về mặt thực tiễn, đề tài bước đầu đề xuất sử dụng chiến lược đọc Siêu sáu kết hợp với một số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực khác để dạy học văn bản Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt theo định hướng phát triển năng lực học sinh, nhằm góp phần đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học môn Ngữ văn Đây cũng là những thay đổi cần thiết để tiếp cận chương trình Giáo dục phổ thông 2018

7 Cấu trúc SKKN

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của sáng kiến được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Vận dụng chiến lược đọc Siêu sáu để dạy học văn bản Vợ chồng A Phủ và

Vợ nhặt theo định hướng phát triển năng lực

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 10

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số vấn đề về năng lực và phát triển năng lực

* Khái niệm năng lực:

Năng lực là “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” (Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng, 1998)

Các nhà giáo dục học cũng nêu ra nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực:

- Theo Tổ chức OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới) quan niệm: Năng lực là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể” Định nghĩa này nêu được đặc trưng quan trọng nhất để nhận diện năng lực là “hiệu quả”, nhưng chưa làm rõ được cấu trúc và “địa chỉ” tồn tại của năng lực

- Theo F E Weinert, năng lực là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp.” Định nghĩa này cũng nói tới sự đóng góp của những yếu tố “sẵn có” ở mỗi cá nhân vào việc phát triển năng lực của bản thân

- Theo Denyse Tremblay, năng lực là “khả năng hành động, thành công và tiến

bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.”

Dựa vào các kết quả nghiên cứu nói trên, Chương trình giáo dục phổ thông

2018 giải thích khái niệm năng lực như sau: năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể

* Đặc điểm của năng lực: Từ nội hàm của khái niệm đó, có thể chỉ ra những đặc điểm của năng lực là: Năng lực là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học; năng lực là kết quả huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực được

Trang 11

hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn

* Những năng lực cần thiết phải hình thành cho học sinh THPT: Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 xác định hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau:

- Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;

- Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh

* Năng lực môn Ngữ văn:

Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn; giúp HS có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường; giúp HS khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn;

có tình yêu đối với tiếng Việt và văn học; có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế

Với tư cách là một môn học công cụ và do đặc trưng của mình, môn Ngữ Văn có điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển một số năng lực chung như năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực thẩm mĩ

+ Viết được văn bản nghị luận và văn bản thông tin có đề tài tương đối phức tạp

Trang 12

+ Biết tranh luận về những vấn đề tồn tại các quan điểm trái ngược nhau; có thái độ cầu thị và văn hoá tranh luận phù hợp; có khả năng nghe và đánh giá được nội dung và hình thức của bài thuyết trình; có hứng thú thể hiện chủ kiến, cá tính trong tranh luận…

- Năng lực văn học:

+ Phân tích và đánh giá văn bản văn học dựa trên những hiểu biết về phong cách nghệ thuật và lịch sử văn học Nhận biết được đặc trưng của hình tượng văn học; phân tích và đánh giá được nội dung tư tưởng và cách thể hiện nội dung tư tưởng trong một văn bản văn học…

+ Nêu được những nét tổng quát về lịch sử văn họsc dân tộc và vận dụng vào việc đọc tác phẩm văn học

+ Tạo lập được một số kiểu văn bản văn học thể hiện khả năng biểu đạt cảm xúc và

ý tưởng bằng hình thức ngôn từ mang tính thẩm mĩ

1.1.2 Dạy học theo đặc trưng thể loại

Loại thể văn học là: “Phạm trù phân loại các tác phẩm văn học, vốn đa dạng đồng thời có sự giống nhau, từng nhóm một, về một số dấu hiệu nhất định Các nhóm lớn nhất là những “loại”; mỗi loại gồm những nhóm nhỏ hơn là những thể (hoặc “thể loại”, “thể tài”).” (Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, H 1999, tr.190) Từ đó có thể thấy thể loại văn học là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo văn bản

Do vậy, dạy học bám sát đặc trưng thi pháp loại thể là việc dẫn dắt HS khám phá, phát hiện, phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra

ý nghĩa thẩm mỹ của nó Dạy học bám sát đặc trưng thi pháp loại thể cũng là yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay

Việc xác định loại thể là vấn đề mấu chốt trong dạy học tác phẩm văn chương Không xác định rõ “chất của loại” trong thể dễ dẫn đến tình trạng khi thấy thơ, ta dạy thơ trữ tình, khi gặp truyện, ta dạy học theo tinh thần văn xuôi tự sự Một điều ta thấy rất rõ là khi xa rời bản chất loại thể của tác phẩm chính là xa rời tác phẩm cả về linh hồn và thể xác Vì thế, có thể nói, xác định loại thể là vấn đề mấu chốt trong việc dạy học tác phẩm văn chương

Muốn vậy, trước khi hướng dẫn HS đi vào tìm hiểu văn bản, GV cần hướng dẫn

HS xác định thể loại của tác phẩm, tìm hiểu những đặc trưng của thể loại đó Kiến thức

về thể loại sẽ giúp HS tìm ra con đường để đi sâu vào phân tích kết cấu và ngôn ngữ, các phương tiện nghệ thuật đặc trưng… mà tác giả dùng để tái hiện đời sống xã hội Từ

đó, lĩnh hội được những tư tưởng, tình cảm được thể hiện trong tác phẩm, cảm nhận tác phẩm một cách sâu sắc nhất Đây cũng chính là điều kiện tiên quyết quyết định hiệu quả quá trình tiếp nhận của HS

Trang 13

VCAP và VN là những truyện ngắn thuộc giai đoạn văn học 1945 – 1975 Đây là những truyện ngắn hiện đại với những đặc sắc rất riêng về nội dung và nghệ thuật

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài):

+ Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội giải phóng vùng cao Tây Bắc, tác giả đã tận mắt chứng kiến cuộc sống tối tăm, tủi nhục của nhân dân Tây Bắc dưới ách thống trị của thực dân phong kiến Đồng thời nhà văn cũng cảm nhận được những tình cảm tốt đẹp mà đồng bào nơi đây dành cho cách mạng

+ Giá trị nội dung: Tác phẩm đặt ra vấn đề số phận con người- những con người dưới đáy xã hội - những con người bị tước đoạt hết tài sản, bị bóc lột sức lao động và bị chà đạp nặng nề về nhân phẩm Ở đó, truyện phơi bày bản chất tàn bạo của giai cấp phong kiến thống trị ở miền núi (dẫn chứng cha con thống lí Pá Tra) Từ câu chuyện về số phận người dân miền núi bị đày đọa, người đọc thấy rõ tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới

mẻ của nhà văn Tô Hoài: thể hiện lòng yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc với thân phận đau khổ của người lao động nghèo miền núi ; phê phán quyết liệt những thế lực chà đạp con người; phát hiện, trân trọng và khẳng định niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khát vọng hạnh phúc cháy bỏng của con người đồng thời chỉ ra cho người dân miền núi Tây Bắc nói riêng, những số phận khổ đau nói chung con đường tự giải thoát khỏi những bất công, con đường làm chủ vận mệnh của mình

+ Giá trị nghệ thuật : Nghệ thuật kể chuyện tự nhiên mà ấn tượng, mạch truyện phát triển liên tục, ngôn ngữ kể chuyện sinh động, chọn lọc và sáng tạo, lối văn giàu tính tạo hình thấm đẫm chất thơ, nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc - khắc họa rõ tâm tư sâu kín, nhiều khi mới chỉ là các ý nghĩ chập chờn trong tiềm thức nhân vật ; giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, đượm màu sắc và phong vị dân tộc, đậm màu sắc phong tục và cảnh sắc vùng đất Tây Bắc…

- Truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân):

+ Hoàn cảnh sáng tác: Truyện lấy bối cảnh là nạn đói khủng khiếp năm 1945 với hơn

2 triệu người Việt Nam chết đói Truyện ngắn Vợ nhặt tiền thân là một truyện dài nằm trong dự định của Kim Lân - tiểu thuyết Xóm ngụ cư Nhưng sau đó mất bản thảo, thất lạc và Kim Lân muốn dồn đọng lại nội dung ý tưởng trong một tập truyện ngắn, đó là

lí do Vợ nhặt ra đời Truyện ngắn có sự rút ngắn về mặt dung lượng, độ lùi thời gian nên Vợ nhặt thực sự đã kết tinh được tài năng và tâm sức của nhà văn Kim Lân, hơn nữa nó còn có sức nén của một tiểu thuyết

+ Giá trị nội dung: Thông qua tình huống nhặt vợ của nhân vật Tràng, truyện đã dựng lại một cách chân thực những ngày tháng bi thảm trong lịch sử dân tộc, đó là khoảng thời gian diễn ra nạn đói năm 1945; phơi bày bản chất tàn bạo của thực dân Pháp và

Trang 14

của Kim Lân về những người lao động trong cơn bĩ cực: đồng cảm xót thương với số phận của người lao động nghèo khổ; lên án tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp; phát hiện, trân trọng tấm lòng nhân hậu, niềm khát khao sống, khao khát hạnh phúc bình dị và tinh thần lạc quan, vươn tới tương lai tươi sáng của người lao động nghèo Bên cạnh đó là chỉ ra con đường đi đến tương lai của những người cùng khổ

+ Giá trị nghệ thuật: Xây dựng tình huống truyện độc đáo, éo leo, hấp dẫn; lối trần thuật tự nhiên, hấp dẫn làm nổi bật sự đối lập giữa hoàn cảnh và tính cách nhân vật; tạo không khí và dựng thoại rất hấp dẫn, ấn tượng; nhân vật được khắc hoạ sinh động đặc biệt là ngòi bút miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế; ngôn ngữ bình dị, đời thường nhưng có chắt lọc kỹ lưỡng, có sức gợi và đậm chất Bắc Bộ…

1.1.3 Sử dụng các chiến lược trong đọc hiểu văn bản

a Khái niệm đọc hiểu văn bản

Trên thế giới, “đọc hiểu” (reading comprehension, reading literacy) không phải

là khái niệm được dùng riêng cho môn Ngữ văn hay môn Ngôn ngữ nghệ thuật (Language for Art) mà còn dùng chung cho những môn học và lĩnh vực khác Tuy nhiên, trong đọc văn, khái niệm đọc hiểu được nhắc đến nhiều hơn

Bàn về khái niệm đọc hiểu, có rất nhiều quan niệm khác nhau

Năm 2000, PISA (Chương trình đánh giá học sinh quốc, PISA được xây dựng và điều phối bởi tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD) đề xuất quan niệm về đọc hiểu và năng lực đọc hiểu văn bản như sau: “Đọc hiểu là hiểu, sử dụng và phản hồi các văn bản viết để đạt được các mục tiêu cá nhân, phát triển tri thức, tiềm năng của bản thân và tham gia vào xã hội” Đến năm 2009 và tiếp theo đó là các chu kì đánh giá

2012, 2015, bên cạnh những yếu tố vừa nêu, quan niệm về đọc hiểu được bổ sung thêm nhân tố: sự tham gia, hứng thú, tích cực như là một phần làm nên cấu trúc thành tố của năng lực Đến năm 2018, quan niệm đọc hiểu tiếp tục được được điều chỉnh theo hướng thêm thành tố nữa là đánh giá Cụm từ viết đã được loại bỏ Cụ thể: Đọc hiểu là hiểu,

sử dụng, đánh giá, phản hồi và tham gia tích cực, hứng thú vào các văn bản để đạt được các mục tiêu cá nhân, phát triển tri thức, tiềm năng của bản thân và tham gia vào

xã hội”

Vấn đề này cũng được các nhà nghiên cứu giáo dục của Việt Nam dành nhiều sự quan tâm Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, đã có những sự lý giải, nhìn nhận về khái niệm then chốt này Về vấn đề Đọc, trong bài viết “Đọc - hiểu văn bản- Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay” đăng tải trên Thông tin Khoa học Sư phạm, số 1 tháng 8 năm 2003, Giáo sư cho rằng: Đọc là một qúa trình hoạt động

Trang 15

tâm lí nhằm tiếp nhận ý nghĩa từ kí hiệu ngôn ngữ được in hay viết Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra một số nội dung then chốt về việc đọc:

- Đọc là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản, tất phải hiểu ngôn ngữ của văn bản; phải dựa vào tính tích cực của chủ thể và tác động qua lại giữa chủ thể và văn bản

- Đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại với người tạo ra văn bản

- Đọc là quá trình tiêu dùng văn bản văn bản

- Đọc là quá trình tạo ra các năng lực người (năng lực hiểu mình, hiểu văn hóa

và hiểu thế giới)

Về vấn đề Hiểu, tác giả lí giải: hiểu trong đọc hiểu gồm nhiều hành động gắn với nhau:

- Cảm thụ kí hiệu vật chất (màu sắc, con chữ…)

- Nhận ra kí hiệu quen hay lạ, hiểu ý nghĩa của nó được lặp lại trong ngôn ngữ

- Hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh

- Đối thoại với ý nghĩa đó (tán thành, phản đối), trong nhận thức bao gồm cả sự đánh giá về chiều sâu và chiều rộng

Như vậy, biên độ cái hiểu đã được đẩy ra mọi chiều kích, từ mức độ đơn giản nhất là nhận biết cho tới mức độ cao nhất là đánh giá, vận dụng

Cũng bàn về đọc hiểu, Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Đọc – hiểu văn chương trong Nhà trường, NXB Giáo dục, 2008 cho rằng: Đọc – hiểu là một khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc – hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực văn của người đọc… Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của các mối quan hệ đó Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống Trên cơ sở đó, tác giả đã chỉ ra các nội dung cần phải hiểu trong văn bản văn học với các tiêu chí sau:

- Khám phá ý nghĩa nội dung chứa đựng trong văn bản Ý nghĩa này do tác giả bày tỏ biểu lộ trong văn bản

- Hiểu mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả xây dựng và tổ chức nên

- Khẳng định mục đích, ý đồ, nội dung hiện thực, tiền giả đinh

- Đánh giá tư tưởng của tác giả

- Sáp nhập, hòa đồng thông tin và tư tưởng của tác giả với tri thức và kinh nghiệm phù hợp của người đọc

Trang 16

Nhìn một cách khái quát, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau ở góc nhìn: đọc hiểu chính một khái niệm khoa học chỉ một chuỗi hoạt động tư duy, có ý thức của con người, với đối tượng và mục tiêu rõ ràng Đó cũng là một hoạt động tâm lí của con người tiếp nhận hệ thống các tổ chức kí hiệu biểu đạt nhằm hiện thực hóa động cơ, nhu cầu chiếm lĩnh vốn tri thức của nhân loại, phát triển, hoàn thiện bản thân và tham gia vào đời sống xã hội

Từ sự nhìn nhận đó, khái niệm đọc hiểu được hình thành với những nội hàm như sau:

- Mục tiêu đọc hiểu: khám phá, hiểu, chiếm lĩnh văn bản được đọc, qua đó phát hiện và tiếp nhận có chủ kiến những điều văn bản đem tới, hiểu rõ và vận dụng nội dung đọc được, kết quả của hoạt động đọc vào cuộc sống, là để phát triển năng lực và góp phần hoàn thiện nhân cách con người Mục tiêu của đọc hiểu trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông là hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu văn bản, giúp HS

có năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tiếp nhận, lĩnh hội và sử dụng thông tin, năng lực ngôn ngữ

- Chủ thể đọc hiểu: chính là bạn đọc Mỗi người đọc đều đem đến hoạt động đọc của họ tất cả những đặc điểm cụ thể về động cơ, hứng thú, cả, xúc, thiên hướng…

- Đối tượng của hoạt động đọc hiểu: chính là văn bản Văn bản có thể là VB ngôn ngữ, có thể là biểu đồ, hình ảnh, biểu tượng, có thể kết hợp các dạng thức trên

Về nội dung, cuộc sống có bao nhiêu vấn đề thuộc các lĩnh vực khác nhau thì có bấy nhiêu dạng nội dung văn bản là đối tượng của đọc hiểu, từ lĩnh vực khoa học, xã hội, đời sống, nghệ thuật, tâm linh…

- Nội dung đọc hiểu: Nội dung đọc hiểu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mục đích đọc hiểu, đặc điểm của văn bản đọc hiểu … Dựa vào các tiêu chí khác nhau như kiểu loại văn bản, mục đích đọc, cấp độ đọc, trình độ của bạn đọc, đối tượng đọc hiểu

mà nội dung đọc hiểu có những điểm khác nhau

- Bối cảnh của hoạt động đọc hiểu: chính là điều kiện cụ thể về không gian, thời gian, môi trường; các yếu tố chính trị, văn hóa, xã hội… nó như là cái nền diễn ra hoạt động độc hiểu và cũng là bầu khí quyển chi phối người đọc trong quá trình lĩnh hội văn bản Đối với việc đọc hiểu văn bản trong nhà trường, HS còn bị chi phối rất nhiều bởi vai trò tổ chức, hướng dẫn của GV

- Đọc hiểu là quá trình kiến tạo ý nghĩa từ văn bản của người đọc: quá trình này thực chất là một quá trình kép, phức tạp và năng động, gồm quá trình xử lí văn bản (tiếp cận, chiết xuất thông tin, hiểu – suy luận và đánh giá, phản hồi) và quá trình quản lí các nhiệm vụ (xác định mục tiêu đọc, lập kế hoạch, giám sát và điều chỉnh) Kết quả của

Trang 17

quá trình kép này là ý nghĩa thực thụ của một văn bản sẽ được kiến tạo trong thế giới tinh thần của người tiếp cận, chiếm lĩnh văn bản

- Đọc hiểu văn bản là hoạt động giao tiếp, đối thoại: Đọc hiểu là quá trình giao tiếp với văn bản, với những bạn đọc khác Đọc hiểu cũng chính là một hoạt động đối thoại, đối thoại với tác giả, đối thoại liên chủ thể và liên văn bản Cuộc đối thoại ấy không ngừng được mở ra theo các chiều khác nhau của không gian, thời gian, đồng địa, lịch đại Có thể cùng một văn bản nhưng mỗi thời đại lại có cách tiếp nhận khác nhau Chính điều này sẽ đem đến tinh thần dân chủ cho quá trình dạy đọc hiểu văn bản trong các nhà trường Từ việc tạo ra các cuộc đối thoại, cuộc giao tiếp sẽ góp phần mở ra nhiều chiều nhìn nhận cho học sinh

Khi nắm vững những điều này thì cả GV và HS sẽ có quá trình đọc hiểu văn bản

có chất lượng, khám phá nhiều điều thú vị từ văn bản

b Vai trò của đọc hiểu văn bản trong cuộc sống của con người

Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của HS Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Vì vậy mà đọc hiểu có một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của con người

Đọc hiểu là kĩ năng quan trọng cần hình thành cho HS trong tất cả các bộ môn Nếu không có quá trình đọc, tiếp nhận văn bản và làm quen với các thuật ngữ HS sẽ không thể tham gia các hoạt động học tập về sau cũng như không thể phát triển được

tư duy

Đọc hiểu có vai trò rất quan trọng, là năng lực then chốt giúp HS thành công trong cuộc sống và trong học tập, tạo ra nền tảng cho các em khám phá những chân trời tri thức rộng lớn Chỉ khi có kĩ năng đọc, HS mới có thể hiểu được đầy đủ ý nghĩa của văn bản và dự đoán được những điều sẽ xảy ra tiếp theo Đọc là một quá trình phức tạp, gắn với hoạt động thực hành Những khía cạnh quan trọng của việc đọc phải được đảm bảo trong quá trình dạy đọc cho học sinh

Để rồi từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính, chủ động, phát triển Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho HS năng lực của chủ thể tiếp nhận các giá trị thẩm mỹ Đó là những cơ sở quan trọng giúp

HS THPT và sau này là những công dân thực thụ được rèn luyện, hình thành tư duy, kỹ năng đọc hiểu các văn bản mà họ tiếp cận trong đời sống

Đọc hiểu là một trong những hoạt động cơ bản của con người nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức văn hóa, từ khi có chữ viết, loài người đã có thể ghi lại lịch sử văn

Trang 18

minh của mình, do đó, các sản phẩm thành văn tự cổ chí kim đều mang dấu ấn của thời đại, là nguồn tri thức văn hóa vô tận được hun đúc trong từng con chữ Dù ngày nay, hoạt động đọc đã không còn là con đường duy nhất, song vẫn luôn là con đường chủ yếu giúp con người có được sự hiểu biết về thế giới

c Các chiến lược đọc hiểu văn bản

Chiến lược là một thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự: Chiến lược, tổng thể các phương châm, chính sách và mưu lược được hoạch định để xác định mục tiêu, sắp xếp, quy tụ lực lượng và đề ra giải pháp nhằm đạt một mục đích nhất định bằng con đường có lợi nhất, tạo ra trạng thái phát triển mới của một lĩnh vực (chiến lược chuyên ngành), toàn xã hội (chiến lược quốc gia) hoặc toàn thế giới (chiến lược toàn cầu) trong một thời kì nhất định Với nghĩa chung nhất, đến nay “chiến lược” là thuật ngữ được hiểu với ý nghĩa như là “một bản kế hoạch” “một sự hoạch định trước các bước để thực hiện một mục tiêu đã xác định”

Chiến lược đọc hiểu có thể được định nghĩa là người đọc “có chủ ý, có kế hoạch,

có chủ đích, hướng đến mục tiêu” (Phakiti, 2003) trong quá trình đọc để cải thiện kĩ năng đọc hiểu, và chúng khác với kĩ năng đọc ở chỗ rằng các kỹ năng được vận hành ngoài ý thức của người đọc hoặc sự kiểm soát có chủ đích (Anderson, 2009)

Một số chiến lược đọc hiểu văn bản hiện nay mà các nhà nghiên cứu đề xuất: chiến lược đọc hiểu theo 3 giai đoạn; cuốn phím trí óc; nhân vật mong muốn, nhưng…; vòng tròn văn học; SQ3R; chiến lược đọc Siêu sáu; đánh dấu và ghi chú bên lề; mối quan hệ nhận thức và siêu nhận thức; tự đặt câu hỏi; cuộc giao tiếp văn học; đọc suy luận; cộng tác ghi chú…

Trên đây là một số chiến lược để đọc hiểu văn bản GV có thể áp dụng các chiến lược này để tố chức các hoạt động để hỗ trợ việc đọc của HS Những chiến thuật trên giúp HS hình thành được kĩ năng đọc hiểu văn bản và cảm thấy hứng thú hơn với việc đọc Các giáo viên có thể tham khảo để sử dụng cho HS của mình trong các giờ học hoặc giờ đọc sách trong thư viện

1.1.4 Chiến lược đọc Siêu sáu

Chiến lược đọc Siêu sáu là một chiến lược bao gồm sáu phần nhỏ có quan hệ chặt chẽ với nhau và thường được sử dụng chung nhằm phát triển năng lực đọc độc lập của HS Chiến lược này được sử dụng khá rộng rãi trong dạy đọc NSW Department of Education and Training (2010) mô tả chiến lược này như sau:

- Tạo sự kết nối (making connectinonns): HS được GV hướng dẫn để kết nối những vấn đề trong văn bản với những gì đã diễn ra trong cuộc sống của chính các em,

Trang 19

kết nối với văn bản khác và kết nối với thế giới xung quanh bằng cách trả lời các câu hỏi của GV hay do mình đặt ra

- Dự đoán (predicting): HS sẽ sử dụng các thông tin trong văn bản và cả vốn tri thức, kinh nghiệm cá nhân để dự đoán những điều có thể được đọc, được thấy và từ đó

có thể tự điều chỉnh cách hiểu của mình về văn bản

- Hỏi (questioning): Trong quá trình đọc, HS sẽ dừng lại và trả lừoi những câu hỏi để giúp các em hiểu rõ văn bản hơn Câu hỏi có thể được đặt ra bởi GV, các bạn hoặc chính học sinh

- Giám sát (monitorning): HS dừng lại và suy nghĩ về văn bản để biết sẽ cần làm

gì khi ý nghĩa bị gián đoạn Chủ yếu là giám sát cách hiểu của bản thân về văn bản

- Hình dung (visualizing): Trong khi đọc, HS sẽ tưởng tượng ra những hình ảnh

về đoạn văn bản đã đọc/nghe/xem Việc hình dung, tưởng tượng này sẽ làm cho văn bản trở nên sống động, giúp các em phát triển trí tưởng tượng và cách sử dụng các giác quan

- Tóm tắt (summarizing): Trong hoạt động này, HS xác định các thông tin, ý tưởng quan trọng nhất của văn bản và trình bày ngắn gọn bằng ngôn ngữ của chính mình

1.2 Cơ sở thực tiễn

Đọc hiểu là kĩ năng quan trọng cần hình thành cho học sinh Nếu không có quá trình đọc, tiếp nhận văn bản một cách chủ động thì học sinh sẽ không thể tham gia các hoạt động học tập về sau cũng như không thể phát triển được tư duy Tuy nhiên, về vấn

đề sử dụng các chiến lược đọc hiểu có hiệu quả, cả GV và HS đang có những lúng túng nhất định

Trong khuôn khổ của đề tài, để có những cơ sở cho việc triển khai các biện pháp, chúng tôi chỉ khảo sát thực trạng của việc vận dụng chiến lược đọc đọc hiểu và chiến lược đọc Siêu sáu khi dạy học văn bản Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt tại các trường THPT

Để tìm hiểu về thực trạng dạy học bài Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt theo định hướng phát triển năng lực và suy nghĩ của HS về việc GV sử dụng chiến lược đọc Siêu sáu, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 25 GV dạy môn Ngữ văn ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai (Nội dung phiếu khảo sát được trình bày trong phụ lục 3) và 125 HS ở các lớp tôi và đồng nghiệp giảng dạy (Nội dung phiếu khảo sát được trình bày trong phụ lục 4)

1.2.1 Nội dung khảo sát

- Tìm hiểu thực trạng dạy học theo định hướng năng lực của GV môn Ngữ văn

Trang 20

- Tìm hiểu việc vận dụng chiến lược đọc Siêu sáu khi dạy đọc hiểu văn bản VCAP và VN

- Tìm hiểu hứng thú và thái độ học tập của HS đối với các PPDH của GV

Từ đó xác định những khó khăn của GV và HS gặp phải để bước đầu đề xuất việc sử dụng các chiến lược đọc hiểu, trong đó có chiến lược Siêu sáu nhằm dạy văn bản Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt theo định hướng phát triển năng lực HS một cách hiệu quả nhất

1.2.2 Phương pháp khảo sát

Để thực hiện đề tài, bên cạnh việc dùng phiếu khảo sát, chúng tôi còn tiến hành nghiên cứu giáo án, bài giảng, trao đổi trực tiếp với giáo viên; dự giờ dạy một số giáo viên trong một số năm học liên tiếp

1.2.3 Kết quả khảo sát

* Đối với giáo viên: sau khảo sát 25 GV chúng tôi thu được các số liệu như sau:

1 Mức độ tiếp nhận lí luận về dạy học phát triển

năng lực của thầy cô là: (Câu hỏi có thể đánh

nhiều lựa chọn)

- Đã từng nghiên cứu/ đã từng được tập huấn 25/25 100%

- Đã từng vận dụng trong dạy học môn mình phụ

- Đã vận dụng và có những thành công nhất định 10/25 40%

2 Mức độ quan tâm của thầy/ cô về việc dạy học

phát triển năng lực trong trường THPT:

3 Thầy cô nghĩ gì về vai trò của các phương pháp

dạy học tích cực trong quá trình dạy học hiện nay:

Trang 21

- Không quan trọng 0/25 0%

4 Khả năng vận dụng các chiến lược đọc hiểu văn

bản của thầy/cô để hướng dẫn học sinh đọc hiểu

5 Thầy/cô đã từng nghe đến và vận dụng chiến

lược đọc Siêu sáu khi dạy các văn bản trong

chương trình phổ thông:

6 Thầy/cô có sử dụng chiến lược đọc Siêu sáu khi

- Phần lớn GV đều rất quan tâm dến dạy học theo định hướng phát triển năng lực

và họ đều cho rằng áp dụng các PPDH tích cực là yêu cầu có tính chất bắt buộc (100%

GV được hỏi đều thừa nhận vai trò của các PPDH tích cực) Các GV đã cố gắng tính tích cực hoá hoạt động của HS nhưng chủ yếu được thực hiện khi có hoạt động thao giảng, thi giáo viên giỏi Tuy nhiên, việc thay đổi PPDH ở đây còn mang tính chắp vá, chưa có sự thay đổi về chất, các phương pháp sử dụng cũng chưa hẳn phù hợp, khiến cho hiệu quả không thực sự cao, HS không thực sự hứng thú

- Việc sử dụng các chiến lược đọc hiểu của GV còn ít ỏi, nếu có sử dụng thì cũng chưa bài bản, thấu đáo, còn mang tính hình thức: có khả năng vận dụng (20%), có khả năng vận dụng cao (12%)

Trang 22

- Chiến lược đọc Siêu sáu đa số GV chưa từng tiếp cận, áp dụng: vận dung trong dạy đọc hiểu (4%), vận dụng trong dạy VCAP và VN (4%)

- Một số GV chỉ dạy về phương pháp dạy thuyết trình vì đây là 2 tác phẩm trọng tâm của chương trình thi Tốt nghiệp THPT GV sợ rằng khi đổi mới phương pháp thì

HS sẽ không nắm vững được kiến thức cơ bản của tác phẩm, ảnh hưởng đến chất lượng

kì thi Phần đông GV đang lựa chọn phương pháp này Đóng vai trò chủ đạo trong lớp học là GV, HS chủ yếu vẫn là ngồi nghe, ghi chép, suy nghĩ theo cách hiểu, kiến thức

mà GV truyền cho Hướng dạy học này giúp GV chủ động hơn trong dạy học, ít phải đầu tư thời gian, công sức và đảm bảo được tiến trình giờ dạy Tuy nhiên, nó lại đem

đế sự áp đặt cho HS, các em luôn thụ động, thiếu sáng tạo, không khí giờ học tẻ nhạt

- Một số GV còn chưa thực sự tự tin và vận dụng linh hoạt, hiệu quả các PPDH tích cực, các chiến lược đọc hiểu văn bản Một số GV đã có nhiều cố gắng để tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát huy được phẩm chất, năng lực HS Như vậy, vận còn hiện tượng nhiều GV chưa thực sự đổi mới PPDH hoặc việc vận dụng phương pháp của bộ phận GV trong thực tiễn dạy học còn nhiều điểm chưa thực sự hợp lí

* Đối với học sinh: Qua việc trao đổi, quan sát trực tiếp với HS, qua 4 câu hỏi nhiều lựa chọn, kết quả hỏi ý kiến 125 HS, cho thấy:

2 Các em có quan tâm đến việc giáo viên đổi mới

phương pháp, hình thức giảng dạy không?

3 Mức độ hứng thú của em đối với môn Ngữ Văn

khi GV chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình?

Trang 23

- Rất hứng thú 12/125 10%

4 Mong mong muốn một hình thức học tập môn Ngữ

Văn như thế nào, nhất là với các bài đọc hiểu văn

bản?

- Nghe giảng, ghi chép thụ động 27/125 21,6%

- GV sử dụng đa dạng các kĩ thuật dạy học để hướng

dẫn HS tìm hiểu văn bản, phát biểu, thảo luận, tranh

biện…

41/125 32,8%

Với kết quả khảo sát như trên và qua quá trình theo dõi hoạt động học tập của

HS, bên cạnh những HS có ý thức và kĩ năng học tập tốt thì chúng tôi nhận thấy việc tham gia học tập của HS vẫn còn một số tồn tại như: đa số HS rất thụ động, chưa tích cực, tự lực trong quá trình học tập, HS thiếu kĩ năng làm việc theo nhóm, theo tập thể; hứng thú học tập chưa thực sự nhiều…

Bên cạnh đó, HS rất quan tâm đến việc đổi mới PPDH của GV: quan tâm ở mức độ rất cao (52,8%), mức độ cao (37,6%) HS cũng rất mong muốn được trải nghiệm những hình thức học tập mới như: GV sử dụng đa dạng các kĩ thuật dạy học (32,8%), được trải nghiệm sáng tạo (33,6%) bên cạnh phương pháp học tập truyền thống (21,6%) và làm đề vận dụng để phục vụ cho việc kiểm tra đánh giá (12%)

Với kết quả khảo sát GV - HS trình bày ở trên, chúng tôi thấy rằng việc sử dụng các chiến lược đọc hiểu, trong đó có chiến lược đọc Siêu sáu kết hợp với các PPDH mới nhằm góp phần phát triển năng lực cho HS nói riêng, văn bản Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt nói chung là cần thiết, phù hợp với nhu cầu học tập của HS Vì thế mà chúng tôi

đã đề xuất sử dụng chiến lược đọc hiểu Siêu sáu trong chương tiếp theo

Trang 24

CHƯƠNG 2

VẬN DỤNG CHIẾN LƯỢC ĐỌC SIÊU SÁU ĐỂ DẠY HỌC VĂN BẢN VỢ CHỒNG A

PHỦ VÀ VỢ NHẶT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Trong chương 2, chúng tôi sẽ trình bày việc vận dụng chiến lược đọc Siêu sáu kết hợp với việc sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực và chuyển đổi số khi dạy văn bản Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt nhằm phát huy phẩm chất và năng lực của

HS Tuy nhiên, các hoạt động thuộc các phần trong chiến lược đọc Siêu sáu mà chúng tôi trình bày dưới đây không phải theo tiến trình tổ chức bài dạy mà GV có thể vận dụng một cách linh hoạt khi tổ chức các hoạt động học tập cho HS

2.1 Tạo sự kết nối

Ở hoạt động này, GV hướng dẫn HS liên hệ, kết nối những vấn đề trong văn bản với những gì đã diễn ra trong cuộc sống của chính các em (text to self), với văn bản khác - liên văn bản (text to text), với thế giới xung quanh (text tto word) bằng cách trả lời nhưng câu hỏi của chính mình hay do GV đặt ra

* Câu hỏi kết nối:

GV có thể sử dụng một số dạng câu hỏi để hướng dẫn HS thực hiện 3 loại liên

hệ trên như sau:

- Liên hệ bản thân: Văn bản/ chi tiết/ sự kiện này gợi nhớ điều gì về cuộc sống của tôi? Tính cách/ suy nghĩ của tôi có điều gì tương đồng với nhân vật? Tôi cảm thấy như thế nào sau khi đọc văn bản? Văn bản này để lại cho tôi những bài học gì, những nhận thức mới nào?

- Liên hệ liên văn bản: Văn bản gợi cho tôi liên tưởng tới văn bản nào? Điểm gặp gỡ, điểm khác biệt giữa văn bản này và văn bản … là gì? Nhân vật/ chi tiết này gợi cho tôi nhớ đến nhâtn vật/ chi tiết nào nào?

- Liên hệ với thế giới: Văn bản này gợi cho tôi nhớ điều gì về thế giới xung quanh? Tôi đã từng gặp câu chuyện/ nhân vật/ chi tiết… tương tự trong cuộc sống hay chưa? Điều này có gì khác thực tế cuốc ống mà tôi đã trải nghiệm? Văn bản/ nhân vật/ chi tiết… gợi cho bạn suy nghĩ gì về cuộc sống, con người? …

Hệ thống câu hỏi này sẽ giúp GV có thể hướng dân HS kết nối văn bản ở chiều sâu nhất Không chỉ là hiểu kĩ càng về văn bản mà quan trọng hơn là HS sẽ có những chiêm nghiệm, suy nghĩ sâu sắc hơn sau khi liên hệ với bản thân và kết nối với thực tiễn đời sống

* Các giai đoạn kết nối và cách thức kết nối:

Trước khi đọc văn bản: Khi tiếp cận bất cứ văn bản nào thì người đọc cũng cố gắng để huy động kiến thức nền có trước để hỗ trợ cho việc đọc Từ kiến thức nền

Trang 25

của mỗi người, bạn đọc có thể khơi dậy những yếu tố ít nhiều có liên quan đến thể loại văn bản, bối cảnh câu chuyện, hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, các sáng tác gần gũi cùng thời… Nguồn tri thức nền ấy phụ thuộc vào hiểu biết và tích lũy của mỗi cá nhân

Việc kích hoạt tri thức nền, tạo sự kết nối xảy ra ở toàn bộ qua trình đọc hiểu Tuy nhiên, gai đoạn trước khi đọc rất quan trọng Ở thời điểm ban đầu, hành động này giúp kích hoạt tâm thế, “đón trước”, “lót ổ”, “tạo bộ khung dự hướng” cho người đọc

Vì vậy, mà khi hướng dẫn HS đọc hiểu VCAP và VN, chúng tôi đã tạo sự kết nối, kích hoạt tri thức nền bằng cách xây dựng hệ thống phiếu học tập, các hoạt động khác nhau, tạo bộ khung tham chiếu để khơi gợi cho HS, làm nền cho việc đọc hiểu văn bản

Ví dụ: khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài Vợ Nhặt, chúng tôi đã thiết kế phiếu học dưới đây để HS huy động kiến thức nền về nạn đói - bối cảnh của tác phẩm với các gợi dẫn:

Với gợi dẫn như trên, HS đã có quá trình tìm hiểu ở nhà, hoàn thành phiếu học tập Dưới đây là phiếu học tập đã hoàn thành ở nhà

Làm thế nào tôi biết về chủ đề?

Những điều tôi biết về chủ đề?

Người nông dân Việt Nam trong nạn đói

1945

Trang 26

Dưới đây là một số phiếu học tập mà học sinh đã thực hiện ở nhà

Lưu ý: Với việc kích hoạt tri thức nền thì sau đó trong quá trình đọc văn bản thì nên lưu ý HS đối chiếu với các tri thức nền này em thực sự đã đọc thêm được điều

gì sau khi đọc văn bản Có thể kết hợp hoạt động tạo sự kết nối này như một hình thức dân dắt vào bài mới; cũng có thể kết hợp đưa thêm sự đoán

Trang 27

Với hoạt động này, HS được tạo tâm thế sẵn sàng đón nhận, đồng thời có thể đưa ra những dự đoán ban đầu về nội dung văn bản Khung tham chiếu với các tri thức nền được hoạt hóa xung quanh bài học cũng là sơ sở để sau khi đọc hiểu, HS sẽ đánh giá về văn bản được học trong mối quan hệ với các yếu tố khác

Trong khi đọc văn bản: chúng tôi kết nối giữa văn bản này và văn bản khác

để hướng dẫn HS khám phá chiều sâu của tác phẩm, nhất là khi tìm hiểu các chi tiết nghệ thuật có ý nghĩa

Dạy Vợ chồng A Phủ, khi hướng dẫn HS tìm hiểu sự thức tỉnh, hồi sinh của mị sau những năm tháng sống trong câm lặng, đọa đày, chúng tôi kết nối với nhận vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao để thấy được sự gặp gỡ của hai nhà văn trong góc nhìn về việc phát hiện vẻ đẹp tâm hồn đáng trân trọng của những con người “rơi vào cùng đường tuyệt lộ, không có ai để bênh vực”

Còn khi hướng dẫn HS tìm hiểu cảnh Mị cởi trói cho A Phủ trong đêm mùa đông, chúng tôi tập trung nhiều đến giọt nước mắt của A Phủ vì đây là chất xúc tác

để khiến cho Mị thay đổi tâm lí, hành động, để rồi đưa ra những quyết định có tính chất bước ngoặt Sau khi đặt ra các câu hỏi cho HS để tìm hiểu về giọt nước mắt của

A Phủ như như: Tác giả miêu tả như thế nào về giọt nước mắt của nhân vật? A Phủ đang khóc cho mình, cho ai nữa? Giọt nước mắt đó biểu thị tâm trạng, cảm xúc gì ở

A Phủ? Giọt nước mắt đó đánh thức điều gì ở Mị?

Sau khi HS đã có câu trả lời, GV đã yêu cầu HS kết nối liên văn bản để thấy rõ tài năng của nhà văn Tô Hoài trong việc miêu tả tâm lí nhân vật cũng như việc lữa chọn chi tiết trong một truyện ngắn Muốn HS kết nối GV yêu cầu HS thực hiện phiếu học tập dưới đây

Khi dạy Vợ nhặt, ở đoạn kết tác phẩm, GV đã đưa ra câu hỏi: So sánh kết thúc truyện ngắn Vợ nhặt và Chí Phèo? Lý giải sự khác biệt? theo mô hình sơ đồ Veen Với câu hỏi này, HS sẽ chỉ ra được điểm khác nhau, điểm gặp gỡ trong cách kết thúc của 2 tác phẩm và nhìn nhận rõ nguyên nhân dẫn tới sự khác nhau là do cảm quan

Giọt nước mắt của Lão Hạc

(Lão Hạc - Nam Cao)

Giọt nước mắt của Hộ (Đời thừa - Nam Cao)

Giọt nước mắt của Chí Phèo

Những giọt nước mắt

Trang 28

hiện thực của nhà văn Từ đó, GV khái quát được cho HS thấy rõ sự khác biệt trong góc nhìn cuộc sống và con người của giai đoạn văn học 1930 – 1945 và giai đoạn

2 tác phẩm đều có nhiều điểm chung nên chúng tôi đã thực hiện sự kết nối sau khi học xong 2 văn bản với đời sống thực tiễn

Ví dụ: Sau khi dạy xong bài VCAP và VN, ngoài những câu hỏi vận dụng khi kết thúc bài, chúng tôi đã tiến hành thực hiện hoạt động luyện tập Sau khi học xong

2 văn bản, HS đã nhận diện được một số vấn đề của đời sống thực tiễn, thuộc về minh triết của tác phẩm đó là vấn đề của sự chọn lựa và bước qua ranh giới Chúng tôi đã

tổ chức một cuộc giao tiếp văn học giữa 2 tác phẩm

Thực hiện cuộc giao tiếp này, HS sẽ nhận ra những điểm khác trong cách nhìn của tác giả về các nhân vật, các vấn đề được nói tới Đặc biệt là, HS cũng sẽ nhận thức được những tiếng nói đa thanh, vấn đề nào của đời sống được tác giả gửi gắm thông qua tác phẩm Để từ đó, HS có cái nhìn sâu sắc hơn về nội dung tác phẩm, hiểu hơn những trăn trở của nhà văn rồi những trăn trở đó đến thế hệ HS hôm nay nghĩ về điều đó ra sao? Hoạt động này chúng tôi cho HS chuẩn bị ở nhà, đưa sản phẩm lên trang facebook tại địa chỉ: https://www.facebook.com/groups/235083837430684, sau đó thuyết trình tại lớp ở tiết ôn tập giữa kì 2

Không chỉ vậy, muốn thể nghiệm HS có thêm kĩ năng đọc sách chủ động sau khi hướng dẫn chiến lược đọc Siêu sáu, chúng tôi yêu cầu HS giới thiệu cuốn sách liên quan đến chủ đề thuyết trình Đó là cuốn sách: Sự lựa chọn – nơi ngục tối không thể ngăn hi vọng nở hoa của tác giả Edith Eva Eger

Trang 29

Dưới đây là một vài hình ảnh mà các nhóm HS đã chuẩn bị và trình bày Toàn nội dung của phần thuyết trình chúng tôi trình bày ở phần Phụ lục 7

Một vài hình ảnh của việc học sinh trình bày phần kết nối văn bản với đời sống

Trang 31

* Kỹ thuật kết nối:

Có nhiều cách thức để giúp HS tạo sự liên hệ, kết nối Ở phía trên chúng tôi đã giới thiệu việc kết nối thông qua việc sử dụng hệ thống câu hỏi, xây dựng phiếu học tập, thực hiện cuộc giao tiếp văn học, giao thực hiện các sản phẩm học tập… Những cách thức này sẽ tạo sự kết nối tốt khi HS đọc hiểu văn bản

Ngoài ra, GV có thể hướng dẫn HS thực hiện kĩ thuật kết nối Sách và tôi (Book

& me) Theo đó, GV hướng dẫn HS chia trang vở ghi thành 2 cột với tiêu đề lần lượt

là Sách và Tôi Trước và trong khi đọc HS sẽ điền các chi tiết về những mối liên hệ giữa văn bản và cuộc sống của các em

Ở cột “Trong trang sách”, HS ghi những chi tiết, sự kiện gợi cho các em suy nghĩ, liên hệ đến những văn bản khác, đến cuộc sống của bản thân và của những người xung quanh Ở cột “Trong đầu tôi”, HS ghi những suy nghĩ, cảm xúc, kỉ niệm… liên quan đến các chi tiết đó Với kĩ thuật này, trước và trong khi đọc thì HS điền các chi tiết về những mối liên hệ giữa văn bản và cuộc sống của các em

Phiếu học tập Sách và tôi (Book & me)

Tuy nhiên, trong quá trình hướng dẫn HS kết nối, GV cần cho HS thấy mối quan hệ giữa biết và tìm biết Điều này rất có ý nghĩa đối với HS vì sẽ giúp cho các

em chủ động trong quá trình tìm tòi, phát hiện, tránh tình trạng suy diễn, áp đặt kiến thức

2.2 Dự đoán

Trong qua trình đọc một văn bản thì người đọc sẽ thường xuyên đưa ra các dự đoán dựa trên sự tổ chức liên kết để có thể tiệm cận văn bản một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất Việc dự đoán được dựa vào kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thẩm mĩ

và cả tư duy logic Điều này làm cho hoạt động đọc hiểu trở nên năng động, sáng tạo

Trang 32

* Các giai đoạn dự đoán:

Việc dự đoán được thực hiện trong cả 3 giai đoạn: trước, trong và sau khi đọc Trước khi đọc, độc giả dựa trên sự tham khảo khung để đưa ra dự đoán ban đầu về chất lượng nội dung, nghệ thuật, sức hấp dẫn của văn bản Trong khi đọc, những dự đoán sẽ giúp người đọc khám phá văn bản có chiều sâu Sau khi đọc, có thể tiếp tục

sử dụng những dự đoán để “đóng vai” tác giả viết tiếp câu chuyện Chẳng hạn, ở giai đoạn trước khi đọc hiểu văn bản Vợ nhặt, nhìn vào nhan đề, với sự gợi dẫn của GV,

HS có thể dự đoán được đây là câu chuyện vô cùng hấp dẫn về một cuộc hôn nhân

* Cách thức dự đoán:

Dưới sự hướng dẫn của GV, HS sử dụng các thông tin trong văn bản và cả kinh nghiệm cá nhân để dự đoán những điều có thể được đọc, được thấy và từ đó có thể tự điều chỉnh cách hiểu của mình về văn bản

Một mô hình chung cho các dự đoán như sau: Nhan đề, các tiêu đề… có gợi lên bất cứ dự đoán, gợi những ý kết nối nào cho người đọc không? Tác giả: quen thuộc hay lạ lẫm? Những lời giới thiệu, phê bình được trích dẫn trong SGK có gây chú ý cho người đọc không? Nó có giúp cho chúng ta đưa ra bất cứ dự đoán nào về văn bản sẽ đọc không? Bối cảnh ra đời của văn bản có gì đặc biệt không? Tiếp theo

sẽ xảy ra sự kiện gì? Đọc nhanh đoạn mở đầu, dự đoán đoạn tiếp theo? Hãy dự đoán kết thúc? Dựa vào những dự đoán ban đầu, hãy đưa ra dự đoán sơ bộ về tác phẩm sắp học?

Trên cơ sở các vấn đề trên, có thể thiết lập phiếu học tập cho HS như sau: Quan sát ban đầu về văn bản Cảm nhận, dự đoán… của người đọc

Dự đoán (đánh giá) khái quát của người đọc về văn bản:

* Câu hỏi dự đoán:

Để thực hiện việc “đoán”, HS cũng có thể tự trả lời những câu hỏi của chính mình hay do GV khơi gợi

Khi dạy Vợ chồng A Phủ, chúng tôi đã đưa ra phiếu học tập với các câu hỏi dự đoán như sau:

Trang 33

Những điều tôi biết sơ bộ về văn

- Mị nhiều năm sống trong câm lặng,

mùa xuân đến, Mị nghe tiếng sáo,

uống rượu:

- Mị thấy A Phủ bị trói, Mị thản

nhiên thổi lửa hơ tay

Phiếu học tập này GV giao cho HS thực hiện ở nhà trong phần chuẩn bị bài Trên lớp, GV gọi 1-2 HS trình bày phiếu học tập và chốt lại một số thông tin cơ bản trong phần Tiểu dẫn Còn các thông tin liên quan đến tác phẩm, GV sẽ hỏi trong quá trình đọc hiểu văn bản

Khi dạy Vợ nhặt, chúng tôi đã đưa ra các câu hỏi dự đoán như:

+ Nhan đề gợi cho em dự đoán về điều gì?

+ Anh/ chị đoán xem, về thấy nhà Tràng nghèo đói, Thị có bỏ đi không? Vì sao?

+ Với tình huống nhặt vợ giữa nạn đói, cả Tràng, bà cụ Tứ và Thị đều có nhưng

sự thay đổi tâm lí Vậy, anh/chị đoán xem dân xóm ngụ cư có thể thay đổi không? Vì sao?

+ Từ phần kết thúc tác phẩm, hãy dự đoán về cuộc sống của gia đình Tràng sau buổi sáng ngày hôm đó?

Có thể thấy, mọi phỏng đoán đều có giá trị Khi phỏng đoán đúng có nghĩa độc giả là người rất hiểu tác giả hoặc là bản thân tác phẩm ấy không có gì mới mẻ, hấp dẫn Còn khi có độ “chênh” giữa dự đoán và thực tế diễn ra trong tác phẩm lại có thể

mở ra rất nhiều những trường suy nghĩ để có thể khám phá văn bản thấu đáo hơn

Như vậy, vấn đề quan trọng nhất ở đây là không phải dự đoán đúng hay không

mà là việc dự đoán đã làm cho HS phải tham gia trực tiếp vào quá trình đọc hiểu văn

Trang 34

bản Lúc đó, người đọc đã trở thành người đồng sáng tạo với tác giả Đặc biệt, muốn

dự đoán đúng hoặc gần đúng, độc giả phải kích hoạt tư duy, kích hoạt trí tuệ cảm xúc

và sống cùng với thế giới nghệ thuật trong tác phẩm

2.3 Đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi

Một giờ học thành công thì phải có quá trinh tương tác Sự tương tác, đối thoại

đó phần nhiều thể hiện trong quá trình đặt câu hỏi, phản hổi câu hỏi giữa GV và HS

Bằng hệ thống câu hỏi được chuẩn bị kĩ càng, GV dẫn dắt, định hướng, tổ chức cho HS đọc và chiếm lĩnh các giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản

* Các giai đoạn đặt câu hỏi:

Trong suốt quá trình hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản, GV đều phải sử dụng các câu hỏi Các câu hỏi được thực hiện ở cả 3 giai đoạn

- Giai đoạn trước khi đọc: Cả GV và HS đều có thể nêu ra các câu hỏi như: Hình dung điều gì sẽ xảy ra trong văn bản? Tôi đọc văn bản này nhằm mục đích gì? Văn bản này thuộc loại văn bản gì? Cách đọc hiểu nào là phù hợp với kiểu văn bản này? Những thông tin nào về lịch sử, văn hóa, xã hội liên quan đến văn bản cần tìm hiểu? Bạn muốn biết về điều gì?

- Giai đoạn trong khi đọc: Để giúp HS có thể thấu tỏ các vấn đề trong văn bản,

GV có thể nêu ra một số câu hỏi như sau: Em hãy nêu những hiểu biết về tác giả, bối cảnh ra đời của tác phẩm? Tác giả giới thiệu như thế nào về nhân vật? Đặt nhân vật vào bối cảnh/ tình huống như thế nào? Em hiểu như thế nào về nhân vật? Đánh giá như thế nào về hành động của các nhân vật? Đọc văn bản này, em nhớ tới văn bản nào? Có điểm gì gặp gỡ không? Nhân vật này khiến em nhớ tới nhân vật nào? Có điểm gì gặp gỡ không? Thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua văn bản? Nhận xét đặc sắc nghệ thuật của văn bản? Nếu có cơ hội gặp gỡ tác giả, em muốn tác giả

* Sử dụng các loại câu hỏi khác nhau:

Trong quá trình đọc hiểu văn bản, sử dụng cách thức đặt câu hỏi theo các giai đoạn như đã trình bày ở trên, chúng tôi thấy bước đầu có thể phân chia và sử dụng 4 loại câu hỏi sau đây:

- Câu hỏi tái hiện kiến thức (Riggtht there): loại câu hỏi này yêu cầu HS bám vào văn bản, phát hiện những thông tin cụ thể để trả lời Kiểu câu hỏi thường là: Ai là nhân

Trang 35

vật chính? Sự việc đó diễn ra ở đâu? Nhân vật hành động như thế nào? Kết quả ra sao? Kết thúc câu chuyện như thế nào?

- Câu hỏi suy nghĩ và tìm kiếm (Think and Search): Ngoài những thông tin có trong văn bản, loại câu hỏi này đòi hỏi người đọc phải tư duy, cắt nghĩa, lý giải… rồi mới có thể đưa ra câu trả lời Kiểu câu hỏi thường là: Nội dung chính của đoạn văn? Vì sao nhân vật lại thay đổi suy nghĩ? Vì sao nhân vật lại hành động như vậy? Nhân thức của nhân vật giữa các thời điểm có giống nhau không? Vì sao có sự thay đổi đó?

- Câu hỏi sáng tạo (Author and You): Đây là loại câu hỏi liên quan đến cả việc vận dung tri thức nền và cả việc nhận diện tư tưởng, thông điệp của tác giả Câu hỏi này được tạo ra nhằm khám phá, phát hiện chiều sâu của văn bản Kiểu câu hỏi thường là: Thông điệp của tác giả gửi gắm qua văn bản? Điểm nhìn của nhà văn có gì gặp gỡ

và khác biệt với các nhà văn khác khi viết về cùng đề tài? Dấu ấn phong cách nhà văn được thể hiện như thế nào qua tác phẩm? …

- Câu hỏi tự bộc lộ (On my own): Loại câu hỏi này có thể được trả lời bằng tri thức nền của độc giả về chủ đề của văn bản đang học Loại câu hỏi có thể gặp là: Theo bạn, vấn đề trên có tính thời sự không? Dựa vào trải nghiệm của bạn, hãy chia sẻ về…?

Đó có phải là vấn đề đáng quan tâm trong cuộc sống hiện nay không? Những vấn đề đặt ra từ văn bản sẽ khơi gợi cho độc giả tiếp tục suy nghĩ, tiếp tục kết nối văn bản với đời sống thực tiễn

Dưới đây là sơ đồ tóm tắt về việc sử dụng các loại câu hỏi:

Các loại câu hỏi Mức độ 1: Tái hiện kiến thức

(Riggtht there)

Câu trả lời ở đâu?

Mức độ 2: Suy nghĩ và tìm

kiếm (Think and Search):

Câu trả lời ở đâu?

Câu trả lời nằm trong văn

bản

Câu trả lời nằm trong văn bản nhưng tôi phải suy nghĩ

để có câu trả lời

Trang 36

Câu trả lời ở đâu?

Có thể thấy, các dạng câu hỏi này sẽ bám theo các mức độ nhận thức của thang tư duy Bloom: Ghi nhớ (Remembering), Hiểu (Understanding), Áp dụng (Applying), Phân tích (Analyzing), Đánh giá (Evaluating), Sáng tạo (Creating) Nhờ đó sẽ đo được mức độ nhận thức của HS cũng như phát triển được năng lực của các em

Trong thực tế hướng dẫn HS đọc hiểu, chúng tôi đều đã sử dụng hệ thống các loại câu hỏi này Chẳng hạn, khi hướng dẫn HS phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật

Mị trong đêm mùa đông trên núi cao ở truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, GV có thể sử dụng

hệ thống các câu hỏi như sau:

- Câu hỏi tái hiện kiến thức:

+ Mị phản ứng như thế nào khi thấy A Phủ bị trói?

+ Mị thay đổi ra sao khi thấy A Phủ khóc? Sau khi cởi trói cho A Phủ, Mị hành động như thế nào?

+ Tìm những câu văn, những động từ miêu tả hành động của Mị sau khi A Phủ

đã vùng chạy

- Câu hỏi suy nghĩ và tìm kiếm:

+ Vì sao Mị lại “thản nhiên thổi lửa hơ tay” khi thấy A Phủ bị trói? Giọt nước mắt của A Phủ khóc cho ai?

+ Vì sao bạn lại cho là như vậy? Giọt nước mắt đó có sức mạnh như thế nào?

Từ tri thức nế của bản thân, cộng với tri thức tác giả cung cấp, tôi có câu trả lời

Câu trả lời thực sự nằm trong

đầu tôi

Trang 37

+ Phân tích hiệu quả nghệ thuật của các động từ: chạy, băng… khi tác giả miêu

tả hành động của Mị?

+ Hành động Mị cởi trói cho A Phủ và chạy theo A Phủ của Mị có phù hợp với mạch phát triển tâm lý, tích cách của nhân vật không?

+ Anh/ chị nhận xét về Mị ở hành động này?

- Câu hỏi sáng tạo:

+ Có ý kiến cho rằng: Mị cởi trói cho A Phủ những thực chất cũng là cởi trói cho chính cuộc đời của mình Ý kiến của anh/chị?

+ Theo anh/ chị, nhà văn Tô Hoài muốn khẳng định điều gì qua việc khắc họa

Mị trong đêm mùa đông và trong toàn bộ tác phẩm?

+ Nhận xét tình cảm, thái độ của nhà văn Tô Hoài với người lao động miền núi trước Cách mạng tháng tám?

- Câu hỏi tự bộc lộ:

+ Nếu là anh/chị là Mị, anh chị có lựa chọn chạy theo A Phủ không?

+ Theo anh/ chị, câu chuyện về cuộc đời Mị đã khiến cho anh/chị nghĩ như thế nào về sự chọn lựa và việc bước qua ranh giới trong cuộc sống?

Còn khi hướng dẫn HS tìm hiểu về tình huống truyện trong Vợ nhặt, GV có thể

sử dụng hệ thống câu hỏi như sau:

- Câu hỏi tái hiện kiến thức:

+ Liệt kê các chi tiết miêu tả nạn đói được cảm nhận qua thị giác, thính giác, khứu giác? Hãy miêu tả lại bức tranh nạn đói bằng ngôn ngữ của em?

+ Giữa bối cảnh nạn đói, sự kiện nào tác động mạnh mẽ đến mọi người?

+ Phản ứng của mọi người ra sao khi thấy Tràng dẫn theo một người đàn bà về xóm ngụ cư? (Bà cụ Tứ, Tràng, thị, người dân xóm ngụ cư)

+ Hãy phát hiện và ghi lại sự thay đổi của các nhân vật sau đám cưới giữa một

“đám ma khổng lồ”

- Câu hỏi suy nghĩ và tìm kiếm:

+ Vì sao việc Tràng lấy vợ lại nhận được sự quan tâm đặc biệt của người dân xóm ngụ cư? Tại sao mọi người lại có phản ứng như vậy?

+ Em có nhận xét gì về tình huống trong tác phẩm “Vợ nhặt”?

Trang 38

+ Có ý kiến cho rằng: Kim Lân đã xây dựng được một tình huống bất thường để thể hiện khát vọng bình thường của con người Lại có ý kiến khẳng định: từ tình huống bình thường, nhà văn giúp cho độc giả thấy những điều phi thường Ý kiến của anh/chị?

+ Theo anh/ chị, nhà văn Kim Lân tạo dựng tình huống truyện có tính chất lịch

sử như vậy nhằm thể hiện điều gì?

- Câu hỏi tự bộc lộ:

+ Thông qua tình huống truyện trong tác phẩm, em có suy nghĩ gì về mối quan

hệ giữa con người với con người trong xã hội ngày nay?

+ Theo em, trong cuộc sống, việc lựa chọn dễ dàng hay khó khăn? Đã khi nào

em đứng trước một sự lựa chọn khó khăn chưa? Hay chia sẻ điều đó cùng mọi người

* Tự đặt câu hỏi và trả lời:

Trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập, GV cũng có thể sử dụng các loại câu hỏi trên đây để hướng dẫn học sinh tự đặt câu hỏi cho quá trình tìm hiểu văn bản

Bên cạnh việc GV đặt nhưng câu hỏi kích thích, khơi gợi nhu cầu tìm biết, sáng tạo của HS, còn cần đến việc hướng dẫn để HS có thể đặt câu hỏi khi tìm hiểu văn bản HS tích cực tự tạo ra các câu hỏi và tìm kiếm câu trả lừoi từ văn bản, từ tri thức

và trải nghiệm của bản thân Đó là những câu hỏi đặt ra cho chính mình, cho bạn bè, thầy cô… Có như vậy, mới có thể vươn tới mục tiêu HS tự đặt ra và tự giải quyết các vấn đề Mà năng lực này là một trong những năng lực vô cùng quan trọng phải có được của những công dân thời đại mới

Muốn HS thực hiện tốt việc này, GV phải cũng cấp, hướng dẫn cho HS cách thức tự đặt câu hỏi Chúng tôi đã làm rõ với HS một số vấn đề về hoạt động tự đặt câu hỏi, tự tìm kiếm câu trả lời theo một số sơ đồ dưới đây trong quá trình dạy trên lớp Sơ đồ này HS dùng trong quá trình đọc mọi văn bản Trên cơ sở đó, HS sẽ tự thực hiện việc này chủ yếu ở nhà, một phần ở lớp để thực hiện nhiệm vụ

Sơ đồ của việc tự đặt câu hỏi như sau:

2 Hỏi khi nào? Trước, trong và sau khi đọc

3 Hỏi điều gì? - Các phương diện của văn bản

- Việc tiếp nhận văn bản của người đọc (của bản thân

và bạn đọc khác)

- Hỏi tác giả, nhân vật (với phương pháp đóng vai)

Trang 39

- Hỏi bạn đọc khác (thầy cô, bạn bè, cộng đồng bạn đọc)

5 Mức độ hỏi? - Nhận biết thông tin

- Phân tích, lý giải thông tin

- Phản hồi, đánh giá thông tin

7 Hỏi để làm gì? - Với HS: Để hiểu sâu hơn văn bản; để giám sát việc

học, việc hiểu của bản thân; để tạo hứng thú học tập…

- Với GV: để tạo môi trường học tập dân chủ; để giám sát việc hiểu của HS; để kích thích tư duy sáng tạo, tư duy phản biện…

Nếu đi theo tiến trình đọc hiểu, việc tự đặt câu hỏi của HS được GV hướng dẫn theo một khung cơ bản như dưới đây Trên cơ sở đó, HS có thể tự đặt câu hỏi, tự trả lời khi tìm hiểu bất cứ văn bản nào

- Trước khi đọc: Tự đặt câu hỏi về những điều đã biết có liên quan đến các thông tin về tác giả, tác phẩm, thể loại… Tự đặt câu hỏi về những điều muốn biết về các thông tin liên quan đến tác phẩm

- Trong khi đọc: Có thể tự đặt các loại câu hỏi và tự trả lời bằng các từ khóa:

Tự hỏi - đoạn văn bản này kể về điều gì? Tự hỏi để tóm tắt đoạn văn bản này ra sao?

Tự hỏi để dự đoán văn bản này tiếp theo sẽ thế nào? Tự hỏi để hình dung về nhân vật: nhân vật được tác giả khắc họa như thế nào về: cuộc đời, ngoại hình, suy nghĩ, hành động…/ Các nhân vật khác nghĩ như thế nào về nhân vật A/ Nhân vật A khiến tôi/mình liên tưởng đến nhân vật nào/ Với nhân vật A, nhà văn muốn thể hiện góc nhìn nào về con người và cuộc sống?

- Sau khi đọc: Có thể tự đặt các loại câu hỏi và tự trả lời bằng các từ khóa: Tự hỏi để xác định ấn tượng về văn bản sau khi học xong Tự hỏi để tóm tắt toàn bộ nội dung cốt lõi của văn bản Có thể sử dụng kĩ thuật 5Wh + 1How Tự hỏi theo bảng nội dung về nhân vật Tự hỏi để trả lời về những vẫn đề mà văn bản kết nối với thực tiễn đời sống

Trang 40

Dưới đây là một phiếu tự đặt câu hỏi của học sinh khi tìm hiểu về nhân vật Thị trong tác phẩm Vợ nhặt

Thực tế cho thấy, sự phát triển về nhận thức, xã hội, xúc cảm, khả năng đọc đa quan điểm của HS trung học giúp bạn đọc lứa tuổi này có thể tự đặt ra các câu hỏi đọc hiểu ở mức độ tư duy cao Như vậy, với việc tự đặt câu hỏi, GV đã chuyển giao một phần nhiệm vụ của HS, HS có thể tự giám sát việc hiểu của bản thân, phát huy năng lực, hướng đến việc trở thành một bạn đọc độc lập, làm chủ hoạt động đọc

Có một vấn đề cần lưu ý trong quá trình đặt câu hỏi để mang lại hiệu quả cao trong quá trình hướn dẫn HS đọc hiểu văn bản là GV cần lưu ý thêm một số vấn đề như: câu hỏi liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học; ngắn gọn, rõ ràng, lệnh hỏi rõ; hỏi đúng lúc, đúng chỗ; phù hợp với trình độ học sinh; kích thích suy nghĩ của học sinh; phù hợp với thời gian thực tế; sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó theo các mức độ nhận thức; không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc… Có như vậy, việc đặt câu hỏi mới thể hiện đúng chức năng kích thích tư duy của HS

2.4 Giám sát

* Bản chất của hoạt động giám sát:

Đọc - hiểu là một quá trình tiếp diễn, cách hiểu về văn bản luôn được điều chỉnh trong quá trình đọc Hoạt động kiểm soát trong quá trình đọc xảy ra khi người đọc tự hỏi bản thân những câu hỏi như: Mình hiểu như thế này có đúng không? Mình hiểu sai chỗ nào không? Phải ghi chú lại đoạn này, đọc lại lần nữa xem sao? Thông

Ngày đăng: 03/07/2022, 07:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT - SKKN vận DỤNG CHIẾN lược đọc SIÊU sáu để dạy học văn bản vợ CHỒNG a PHỦ và vợ NHẶT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn 12 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH
BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT (Trang 4)
4 Mong mong muốn một hình thức học tập môn Ngữ Văn như thế nào, nhất là với các bài đọc hiểu văn  bản? - SKKN vận DỤNG CHIẾN lược đọc SIÊU sáu để dạy học văn bản vợ CHỒNG a PHỦ và vợ NHẶT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn 12 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH
4 Mong mong muốn một hình thức học tập môn Ngữ Văn như thế nào, nhất là với các bài đọc hiểu văn bản? (Trang 23)
Dưới đây là một vài hình ảnh mà các nhóm HS đã chuẩn bị và trình bày. Toàn nội dung của phần thuyết trình chúng tôi trình bày ở phần Phụ lục 7. - SKKN vận DỤNG CHIẾN lược đọc SIÊU sáu để dạy học văn bản vợ CHỒNG a PHỦ và vợ NHẶT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn 12 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH
i đây là một vài hình ảnh mà các nhóm HS đã chuẩn bị và trình bày. Toàn nội dung của phần thuyết trình chúng tôi trình bày ở phần Phụ lục 7 (Trang 29)
Ngoài ra, GV còn có thể cho HS hình dung bằng việc vẽ tranh để tái hiện góc nhìn về nhân vật, chi tiết, sự kiện - SKKN vận DỤNG CHIẾN lược đọc SIÊU sáu để dạy học văn bản vợ CHỒNG a PHỦ và vợ NHẶT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn 12 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH
go ài ra, GV còn có thể cho HS hình dung bằng việc vẽ tranh để tái hiện góc nhìn về nhân vật, chi tiết, sự kiện (Trang 43)
HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI  a. Mục tiêu - SKKN vận DỤNG CHIẾN lược đọc SIÊU sáu để dạy học văn bản vợ CHỒNG a PHỦ và vợ NHẶT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn 12 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH
2 HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI a. Mục tiêu (Trang 55)
Bảng kết quả khảo sát mức độ hứng thú của 127 HS các lớp thực nghiệm Khi được tham gia các hoạt động học tập với việc - SKKN vận DỤNG CHIẾN lược đọc SIÊU sáu để dạy học văn bản vợ CHỒNG a PHỦ và vợ NHẶT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn 12 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH
Bảng k ết quả khảo sát mức độ hứng thú của 127 HS các lớp thực nghiệm Khi được tham gia các hoạt động học tập với việc (Trang 74)
Qua bảng thống kê trên, chúng ta thấy rõ sự chênh lệch số điểm giữa 2 nhóm TN và ĐC: Phổ điểm cơ bản của nhóm TN là từ 6 điểm trở lên, trong đó có nhiều bài điểm  giỏi - SKKN vận DỤNG CHIẾN lược đọc SIÊU sáu để dạy học văn bản vợ CHỒNG a PHỦ và vợ NHẶT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn 12 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH
ua bảng thống kê trên, chúng ta thấy rõ sự chênh lệch số điểm giữa 2 nhóm TN và ĐC: Phổ điểm cơ bản của nhóm TN là từ 6 điểm trở lên, trong đó có nhiều bài điểm giỏi (Trang 75)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w