Trong hệ thống các môn thể dục thể thao thì điền kinh là một trong những môn được nhiều người ưa thích bởi nó là một môn rất gần gũi với những hoạt động hàng ngày của con người, điền kin
Trang 1Vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, không thể không chăm lo đến việc bồi dưỡng phát huy nhân tố con người vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài của cách mạng Hơn lúc nào hết nhiệm vụ yêu cầu đối với thế hệ trẻ cũng phải được đặt ra trước sự sống còn của đất nước Họ phải được giáo dục, rèn luyện để trở thành những con người phát triển toàn diện trên tất cả các mặt: Đức, trí, thể, mỹ, lao động
Trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục, Bác Hồ viết: "Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công, một người dân yếu ớt tức là làm cho cả đất nước yếu ớt một phần Mỗi người dân mạnh khoẻ tức là góp phần cho đất nước mạnh khoẻ" Trước lời kêu gọi ấy, chúng
ta càng ý thức được rằng bên cạnh việc phải trau dồi tri thức, đạo đức nghề nghiệp
và trình độ chuyên môn còn cần phải có sức khoẻ mới có thể đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng về kinh tế xã hội, ngành TDTT cũng đang trên đà phát triển và gặt hái được nhiều thành tựu đáng khích lệ trong các cuộc thi đấu khu vực và các châu lục, đặc biệt là trong các kỳ Seagames Điều ấy càng khẳng định thêm vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế Với khẩu hiệu : "Khoẻ để xây dựng và bảo vệ tổ quốc" càng cho thấy phát triển sự nghiệp TDTT không chỉ là nguyện vọng của Nhân dân mà còn là một yêu cầu không thể thiếu của xã hội văn minh, tiến bộ
Lịch sử thể thao thế giới nói chung và thể thao Việt Nam nói riêng, ngay từ khi được hình thành đã sản sinh ra một môn thể thao mà đến nay luôn được mệnh danh là môn "Thể thao nữ hoàng", Đó chính là môn Điền kinh Ở nước ta, Điền
Trang 22
kinh chiếm một vị trí hết sức quan trọng vì nó là tiền đề để tiếp thu và nâng cao thành tích cho các môn thể thao khác Có thể nói Điền kinh là nền tảng đầu tiên cho việc hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực của các môn thể thao Trong hệ thống các môn thể dục thể thao thì điền kinh là một trong những môn được nhiều người ưa thích bởi nó là một môn rất gần gũi với những hoạt động hàng ngày của con người, điền kinh không những có tác dụng nâng cao sức khỏe mà còn là phương tiện để phát triển tất cả các tố chất thể lực giúp con người phát triển toàn diện
Môn điền kinh nói chung và nội dung “nhảy cao nằm nghiêng” nói riêng là một trong những môn học cơ bản trong chương trình đào tạo trong trường trung học phổ thông phương tiện tập luyện đơn giản, dễ tập
Nhảy cao có tác dụng nâng cao năng lực hoạt động của nội tạng, sự khéo léo, không chỉ vậy nhảy cao nằm nghiêng còn có tác dụng rèn luyện tinh thần dũng cảm phục vụ tốt yêu cầu của cuộc sống hàng ngày
Đối với học sinh trung học phổ thông việc tập luyện môn nhảy cao trong đó
có nhảy cao nằm nghiêng giúp các em rèn luyện, phát triển các tổ chất như sức nhanh, sức mạnh, khéo léo…
Vì vậy trong giảng dạy áp dụng những bài tập, phương tiện tập luyện chưa được chú trọng Điều đó ảnh hưởng không tốt với chất lượng giảng dạy và tập luyện, cũng như thành tích Xuất phát từ thực tế nêu trên vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu, đưa ra một số bài tập phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng trong chương trình giảng dạy ở các trường trung học phổ thông nên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Lựa chọn một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông ”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Học sinh lớp 10 THPT
* Thời gian thực hiện: Năm học 2019-2020 và học kỳ I năm học 2020 - 2021
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu vai trò các bài tập bổ trợ cho nhảy cao kiểu nằm nghiêng của học sinh lớp 10 THPT và biện pháp thúc đẩy nó
Trang 33
- Áp dụng vào công tác giảng dạy và huấn luyện ở các nhà trường THPT
4 Giả thiết nghiên cứu
Nếu phát huy tốt hiệu quả các bài tập bổ trợ thì sẽ thành công hơn trong việc nâng cao thành tích nhảy cao
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và nghiên cứu các tài liệu văn bản liên quan đến đổi mới PPDH bộ môn Thể dục trong trường THPT
- Phương pháp quan sát: Thông qua việc dự giờ, quan sát, đánh giá giờ dạy của đồng nghiệp tại trường và các kỳ thi giáo viên giỏi
- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi, chia sẻ với các cán bộ quản lý và giáo viên
- Phương pháp thực nghiệm: Áp dụng vào các tiết dạy trên lớp
ức chế, các em tiếp thu cái mới rất nhanh nhưng cũng dễ nhàm chán, chóng quên và
dễ bị môi trường ngoài tác động vào Khi thành công thì thường hay tự kiêu, tự mãn, ngược lại khi thất bại thường hay rụt rè, chán nản và tự trách mình
Nhìn chung lứa tuổi này tâm lý các em phát triển và dần ổn định, cảm giác khả năng vận động của cơ thể dần chính xác hơn Điều đó cho phép các em tự kiểm tra, đánh giá tính chất vận động, biên độ, hình dáng động tác Tức là kiểm tra sự vận động của cơ thể mình Do đó tri giác vận động thông qua cảm giác cơ bắp sẽ giúp tiếp thu nhanh chóng kỹ thuật các bài tập thể thao
Hơn thế nữa ở lứa tuổi này các em hay thích những cái mới, tránh sự lặp lại nhàm chán, đơn điệu và luôn muốn thể hiện khả năng của mình với mọi người xung
Trang 44
quanh nên luôn tự đặt ra cho mình những yêu cầu cao về kỹ thuật, tính kỷ luật và tính kiên trì trong học tập và công tác của mình Vì vậy trong quá trình giảng dạy nói chung và nhảy cao nói riêng giáo viên cần phải nắm bắt được tâm lý của học sinh và năng lực hoạt động của các em từ đó đề ra những yêu cầu cho phù hợp nhằm phát huy hết khả năng của học sinh
2 Cơ sở thực tiển
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi đang phát triển mạnh và các cơ quan trong
cơ thể đã có một số bộ phận đạt đến mức như người lớn
+ Hệ xương:
Bộ xương của lứa tuổi này thường phát triển một cách rất nhanh về chiều dài và
bề dày, tính đàn hồi của xương giảm do hàm lượng photpho, canxi trong xương tăng, làm cho xương cứng dần và xuất hiện sự cốt hoá ở một số bộ phận như: xương sống, xương cẳng tay Có thể xảy ra cong vẹo cột sống nếu tư thế ngồi sai, hoạt động vận động không đúng
+ Hệ cơ:
Lứa tuổi này hệ cơ rất phát triển nhưng tốc độ phát triển của hệ cơ có phần phát triển hơn hệ xương Khối lượng cơ tăng nhanh, cơ chủ yếu phát triển chiều dài nên cơ dài và nhỏ Khi hoạt động rất nhanh mệt mỏi vì chưa có sự phát triển bề dày của cơ Cho nên trong quá trình học tập giáo viên cần phải chú ý giảng dạy đúng cách nhằm phát triển cân đối cơ bắp cho học sinh
+ Hệ hô hấp:
Lứa tuổi học sinh THPT phổi phát triển mạnh nhưng không đồng đều dẫn đến lồng ngực còn hẹp, nhịp thở nhanh và chưa có sự ổn định của dung tích sống, thông khí phổi, nhu mô phổi; đó là nguyên nhân chính làm cho tần số hô hấp tăng cao khi hoạt động vận động dẫn đến hiện tượng mệt mỏi do thiếu oxi
+ Hệ tuần hoàn:
Hệ tuần hoàn phát triển khá mạnh nhưng vẫn thiếu sự cân đối giữa các bộ phận Vì vậy thường mất cân bằng hệ tim mạch, dung tích sống tăng gấp đôi ở lứa tuổi thiếu niên nhưng tính đàn hồi của mạch máu chỉ tăng gấp rưỡi Tim mạch phát
Trang 5Bên cạnh đó, hoạt động của các tuyến nội tiết như: tuyến yên, tuyến giáp Cũng gây ảnh hưởng tới sự hưng phấn của hệ thần kinh Do đó quá trình ức chế và quá trình hưng phấn mất cân bằng làm ảnh hưởng tới kết quả hoạt động thể thao
Ngoài sự phát triển thể lực toàn diện, nhảy cao còn đòi hỏi vận động viên phải có một tố chất thể lực đặc thù riêng
Đặc điểm môn nhảy cao là cần phải kéo dài khoảng cách bay trên không do quá trình chạy đà và giậm nhảy tạo nên Quỹ đạo của trọng tâm cơ thể người nhảy lúc bay phụ thuộc vào ba yếu tố chính:
Trang 66
Qua phân tích nguyên lý, đặc điểm kỹ thuật, tính chất hoạt động của nhảy cao
và nghiên cứu mối tương quan giữa các tố chất thể lực chuyên môn với thành tích, các nhà chuyên môn cho rằng các tố chất thể lực đặc trưng trong nhảy cao là: Sức nhanh, sức mạnh tốc độ và khả năng phối hợp vận động
3.2 Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh tốc độ
Sức mạnh tốc độ là khả năng khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự căng cơ Sức mạnh tốc độ là một dạng của sức mạnh trong đó có sự phát lực lớn và mạnh
Sức mạnh của cơ phụ thuộc vào:
+ Số lượng đơn vị vận động (sợi cơ) tham gia vào căng cơ
+ Chế độ co của đơn vị vận động (sợi cơ) đó
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sức mạnh:
- Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi
+ Điều kiện cơ học của sự co cơ
+ Chiều dài ban đầu của sợi cơ
+ Độ dày (tiết diện ngang) của cơ
+ Đặc điểm cấu tạo của các loại sợi cơ chứa trong cơ
- Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp giữa các sợi cơ và cơ, trước tiên là khả năng, chức năng của nơron thần kinh vận động, tức là mức độ phát xung động với tần số cao
* Sức mạnh tốc độ của cơ phụ thuộc vào:
+ Lực co cơ tối đa: lực co cơ tối đa có tương quan tuyến tính với độ dài của ô
cơ hoặc chiều dài của sợi miozin Chiều dài của ô cơ và chiều dài của sợi miozin mang tính di truyền sẽ không biến đổi trong quá trình phát triển cá thể và dưới ảnh hưởng của tập luyện
+ Hàm lượng actin ở cơ có sự tương quan tuyến tính với tổng hàm lượng creatin trong cơ Cả hai chỉ số này có thể được sử dụng để kiểm tra sự phát triển sức mạnh cơ và dự báo thành tích thể thao ở các bài tập sức mạnh tốc độ
+ Tốc độ co cơ tối đa phụ thuộc vào tỷ lệ các sợi cơ, sợi cơ trắng (sợi cơ nhanh) co nhanh gấp 4 lần sợi cơ đỏ (sợi cơ chậm)
Trang 77
+ Sự thay đổi cường độ khi co cơ
Có thể nói rằng từ sự phụ thuộc giữa sức mạnh và tốc độ co cơ mà những bài tập phát triển sức mạnh tốc độ có những đòi hỏi cơ bản
* Cơ chế cải thiện sức mạnh tốc độ:
Cơ sở sinh lý của sự phát triển sức mạnh là tăng cường số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động đặc biệt các đơn vị vận động nhanh chứa các sợi cơ nhóm II có khả năng phì đại cơ lớn Để đạt được điều đó phải tập các bài tập có trọng tải lớn để gây hưng phấn mạnh đối với các đơn vị vận động nhanh có ngưỡng hưng phấn thấp, tạo ra sự phối hợp đồng bộ giữa các đơn vị vận động Để cải thiện sức mạnh tốc độ thì trị số sức cản phải từ 40 - 70%
Người ta sử dụng hai phương pháp cơ bản để phát triển tối đa sức mạnh tốc độ: phương pháp gắng sức tối đa và bài tập lặp lại tối đa
Cần sử dụng các bài tập có cấu trúc động lực học gần giống với bài tập thi đấu, với số lần lặp lại và quãng nghỉ không cố định nhưng đủ thời gian để hồi phục
và huy động lặp lại gắng sức tối đa (thông thường 1,5 - 2 phút)
Phương pháp lặp lại bài tập tối đa nhằm tổng hợp protit và tăng khối lượng
cơ, để giải quyết nhiệm vụ này có thể sử dụng rộng rãi các bài tập ở mức nặng đáng
kể cho nhóm cơ đã chọn, lượng trọng tải khắc phục không cao hơn 70% lực co cơ đẳng trường tối đa Bài tập được thực hiện với số lần lặp lại cho đến khi mỏi
Sự kết hợp có ý nghĩa và ứng dụng tuần tự cả hai phương pháp này trong quá trình tập luyện có thể đảm bảo mức độ phát triển cao tố chất sức mạnh tốc độ của người tập
3.3 Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh
Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắn nhất
Nó là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành đó là: thời gian phản ứng vận động, thời gian của động tác riêng lẻ và tần số hoạt động
Yếu tố quyết định tốc độ của các dạng sức nhanh là độ linh hoạt của các quá trình thần kinh và tốc độ co cơ
Trang 88
+ Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện sự biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế trong trung tâm thần kinh, ngoài ra độ linh hoạt thần kinh còn bao gồm cả tốc độ dẫn truyền xung động trong các dây thần kinh ở ngoại vi
+ Tốc độ co cơ trước tiên phụ thuộc vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong cơ Các cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh cao, đặc biệt là sợi cơ nhanh nhóm II-A có khả năng tốc độ cao hơn
Cơ chế cải thiện sức nhanh: Trong hoạt động TDTT để phát triển sức nhanh cần lựa chọn những bài tập giúp tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở trung tâm thần kinh và bộ máy vận động, tăng cường phối hợp giữa các sợi
cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng cơ Chọn những bài tập tần số cao, trọng tải nhỏ, có thời gian nghỉ dài
3.4 Cơ sở sinh lý của tố chất khéo léo
Khéo léo là khả năng thực hiện những động tác phối hợp phức tạp và khả năng hình thành nhanh những động tác mới phù hợp với yêu cầu của vận động
Về bản chất, sự khéo léo là khả năng hình thành nhanh những đường liên hệ tạm thời đảm bảo cho việc thực hiện những động tác vận động phức tạp, vì vậy nó
có liên quan với việc hình thành kỹ năng vận động
Sự khéo léo được biểu hiện dưới 3 hình thái chính:
- Trong sự chuẩn xác của động tác về không gian
- Trong sự chuẩn xác của động tác khi thời gian thực hiện động tác bị hạn chế
- Khả năng quyết định nhanh và đúng những tình huống xuất hiện bất ngờ trong hoạt động
+ Các yếu tố ảnh hưởng:
Khéo léo thường được coi là tố chất vận động loại hai, phụ thuộc vào sự phát triển của các tố chất thể lực khác như sức mạnh, sức nhanh, sức bền Mức độ phát triển khéo léo liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương
+ Cơ chế cải thiện tố chất khéo léo:
Trang 99
Tập luyện phát triển sự khéo léo lâu dài làm tăng độ linh hoạt của quá trình thần kinh, làm cho cơ hưng phấn và thả lỏng nhanh hơn Tập luyện các bài tập chuyên môn có thể làm tăng sự phối hợp với các nhóm cơ hưởng ứng cũng như cơ đối kháng
3.5 Yếu tố quyết định độ cao của một lần nhảy
Theo chuyển động cơ học độ cao khi bay của một vật thể được tính theo công thức:
- V0: Là tốc độ bay ban đầu
- : Là góc độ bay của trọng tâm cơ thể
- g: Là gia tốc rơi tự do (g = 9,98m/s2) Như vậy, V0 và là 2 yếu tố quyết định độ cao của một lần nhảy
3.6 Đặc điểm kỹ thuật nhảy cao kiểu ”nằm nghiêng”
Nhảy cao là hoạt động không có chu kỳ bao gồm nhiều động tác liên kết với nhau một cách chặt chẽ từ chạy đà - giậm nhảy - trên không - rơi xuống đất Trong giảng dạy và huấn luyện, nhảy cao kiểu nằm nghiêng được chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn chạy đà
- Giai đoạn giậm nhảy
- Giai đoạn trên không
- Giai đoạn rơi xuống đất
Để có thành tích nhảy cao tốt thì người tập phải biết phối hợp chặt chẽ các giai đoạn với nhau Tốc độ chạy đà là tiền đề cho giậm nhảy, chạy đà phải tạo được tốc độ ban đầu lớn nhất và tạo được điều kiện thuận lợi nhất cho giai đoạn giậm nhảy
Ở giai đoạn giậm nhảy, chạy đà phải thay đổi hướng của trọng tâm cơ chuyển thành tốc độ thẳng đứng Ý nghĩa của giai đoạn giậm nhảy là chuyển tốc độ nằm ngang thành tốc độ thẳng đứng lớn nhất đưa trọng tâm cơ thể lên cao với tốc độ bay
Trang 1010
ban đầu (V o) lớn nhất và tốc độ bay hợp lý Yêu cầu của nhảy cao là phải kéo dài thời gian bay trên không của trọng tâm cơ thể nhờ sự nỗ lực của người nhảy trong chạy đà và giậm nhảy
Như vậy, để có thành tích tốt thì khi kết thúc giai đoạn giậm nhảy phải tạo được tốc độ bay ban đầu và góc độ bay ban đầu hợp lý Kết thúc giai đoạn giậm nhảy người nhảy phải tận dụng tốt nhất độ cao quỹ đạo bay của tổng trọng tâm cơ thể, chuyển các bộ phận của cơ thể qua xà một cách hợp lý thì thành tích sẽ tốt hơn Muốn vậy người nhảy phải cố gắng hoàn thành tốt động tác chuyển qua xà một cách hợp lý tận dụng tối đa độ cao quỹ đạo bay của tổng trọng tâm cơ thể để không làm ảnh hưởng tới thành tích
Tóm lại, nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng” là một kỹ thuật phức tạp, là sự liên kết chặt chẽ các giai đoạn Vì vậy trong huấn luyện và giảng dạy việc hoàn thiện các giai đoạn kỹ thuật và chuẩn bị thể lực cho người tập là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu
3.7 Khái niệm bài tập bổ trợ chuyên môn
Hiện nay có nhiều khái niệm về bài tập bổ trợ chuyên môn của các tác giả khác nhau Bài tập bổ trợ chuyên môn là bài tập nhằm hỗ trợ cho việc nhanh chóng tiếp thu và thực hiện có hiệu quả bài tập chuyên môn
- Theo quan điểm của PGS Nguyễn Toán và TS Phạm Danh Tốn “Bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập phức hợp các yếu tố của động tác thi đấu cùng các biến dạng của chúng cũng như bài tập dẫn dắt tác động có chủ đích và có hiệu quả đến sự phát triển các tố chất và các kỹ xảo của vận động ở chính ngay môn thể thao đó”
- Còn một số tác giả nước ngoài thì cho rằng: bài tập bổ trợ là một trong những biện pháp giảng dạy, bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho vận động, bài tập mang tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập tăng cường các
tố chất thể lực
Các khái niệm trên tuy khác nhau về cách trình bày nhưng luôn có sự thống nhất về ý nghĩa
Trang 1111
Như vậy bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập mang tính chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt cho từng kỹ thuật và từng môn thể thao khác nhau
Trong nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng” người ta phân tích kỹ thuật thành 4 giai đoạn: chạy đà, giậm nhảy, bay trên không, tiếp đất Trên cơ sở người học nắm bắt từng phần kỹ thuật sau đó liên kết lại hình thành được kỹ thuật hoàn chỉnh Ở mỗi giai đoạn kỹ thuật, để giúp người tập hình thành được kỹ thuật người ta sử dụng các bài tập:
- Mang tính chuẩn bị nhằm đưa người học vào trạng thái sinh lý, tâm lý thích hợp với việc tiếp thu kỹ thuật
- Mang tính dẫn dắt nhằm làm cho người tập nắm được các yếu lĩnh từ dễ đến khó,
từ đơn giản đến phức tạp và từ đơn lẻ đến liên hoàn kỹ thuật cần học
- Mang tính chuyển đổi từ động tác này đến động tác khác với cảm giác không gian thời gian khác nhau nhằm tạo ra sự lợi dụng các kỹ năng đã có, hình thành ra các kỹ năng mới
Trong nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng” ngoài các bài tập bổ trợ về kỹ thuật người ta còn rất chú trọng đưa vào những bài tập để tăng cường một số tố chất thể lực chuyên môn cần thiết Có thể nói bài tập bổ trợ chuyên môn vừa là biện pháp để nắm kỹ thuật phức tạp vừa là khâu quan trọng để thúc đẩy nhanh quá trình hình thành kỹ năng vận động
Như vậy trong dạy học nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng” thì các bài tập bổ trợ
có vai trò rất quan trọng để giúp người học nắm được kỹ thuật chính xác và rút ngắn thời gian tập luyện cũng như hướng tới việc phát triển các năng lực cần thiết để đạt hiệu quả cao trong tập luyện và thi đấu
PHẦN II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
ĐẾN NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 1212
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu và đối tượng là học sinh lớp 10 với số lượng nghiên cứu là 80 học sinh Tôi tiến hành chia đối tượng nghiên cứu làm 2 nhóm: Nhóm đối chứng (nA = 40) và nhóm thực nghiệm (nB = 40)
2 Phương pháp nghiên cứu
3 Phương pháp đọc và phân tích tài liệu
Khi xác định hướng nghiên cứu mảng đề tài này chúng tôi đã tìm, thu thập, đọc tài liệu có liên quan Qua đó chúng tôi chắt lọc, ghi chép, đánh dấu những nội dung cần thiết để đưa ra các giả định, hay kết luận quan trọng giúp chúng tôi tìm
hiểu hoàn thành đề tài
4 Phương pháp quan sát sư phạm
Trong quá trình học tập tại trường chúng tôi đã sử dụng quan sát sư phạm, dự giờ của các thầy cô giáo trong môn điền kinh, đặc biệt là quá trình học nhảy cao nằm nghiêng Qua đó, chúng tôi rút ra những kinh nghiệm thực tiễn kết hợp với lý luận để xác định áp dụng bài tập hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn nhảy
cao kiểu “ nằm nghiêng”
- Khi quan sát chúng tôi luôn đề ra mục đích và nhiệm vụ rõ ràng, xây dựng
kế hoạch quan sát trong quá trình nghiên cứu theo từng buổi và quan sát có chọn lọc
- Khi quan sát chúng tôi ghi chép lại những kết quả thu được thông qua đó chúng tôi đánh giá được chính xác vấn đề
Để thực hiện tốt phương pháp này chúng tôi sử dụng các hình thức:
+ Quan sát trực tiếp giờ dạy thể dục và có nhận định, đánh giá khách quan
+ Quan sát công khai
+ Quan sát liên tục
5 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp giáo viên thể dục, học sinh Từ đó bổ sung thêm các dữ liệu cần thiết loại bỏ những vấn đề chưa phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi, xác định hiện trạng vấn đề nghiên cứu
Trang 1313
Để có cơ sở lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng” chúng tôi đã điều tra, phỏng vấn các vấn đề liên quan đến đề tài này như:
- Xây dựng các bài tập nhằm phát triển thể lực trong nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng”
- Xây dựng các bài tập bổ trợ kỹ thuật trong nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng”
6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đây là phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học đặc biệt là giáo dục thể chất, phương pháp này cho phép tác động lên các đối tượng nghiên cứu một cách chủ động của nhà nghiên cứu
Từ thực tế và lý luận đó chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm để đánh giá, kiểm định tính khả thi của việc áp dụng bài tập nhằm nâng cao thành tích Để đánh giá khách quan chúng tôi tiến hành theo nguyên tắc
- Thực nghiệm được tiến hành trên các giờ học của học sinh, đảm bảo tính hợp lý về thời gian, cấu trúc giờ học, tiến trình giảng dạy cũng như phương pháp giảng dạy
- Phân nhóm, nhóm thực nghiệm và đối chứng được lựa chọn ngẫu nhiên có
số lượng, hình thức, chức năng, trình độ thể lực và trình độ văn hóa ngang nhau, được kiểm tra chất lượng ban đầu Sau đó tập luyện theo các bài tập đã đặt ra (dành cho nhóm thực nghiệm) và nhóm đối chứng theo hệ thống bài tập thông thường theo chương trình sách giáo khoa
Trang 1414
1.2 Thực trạng học sinh học các giờ học nhảy cao ở THPT
Hầu hết các trường THPT trên cả nước là một cơ sở giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ cho xã hội Qua quan sát các tiết học thể dục nội dung nhảy cao kiểu nằm nghiêng của học sinh lớp 10 tôi thấy rằng: Đa số học sinh chưa nắm vững kỹ thuật động tác, trình độ thể lực chuyên môn đặc trưng cho môn nhảy cao nằm nghiêng
đang còn yếu, hứng thú học tập của các em còn chưa cao
1.3 Thực trạng sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy nhảy cao nằm nghiêng ở THPT
Để có thể tìm hiểu và đánh giá thực trạng việc sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy nhảy cao nằm nghiêng chúng tôi đã sử dụng hai phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp điều tra phỏng vấn
Từ hai phương pháp trên chúng tôi có thể rút ra nhận xét về thực trạng sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh THPT còn thấp
- Tỷ lệ sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn còn ít, lượng vận động còn thấp, mật độ còn thưa, cường độ còn thấp, tỷ lệ bài tập bổ trợ chuyên môn còn nhỏ so với bài tập bổ trợ chung
- Các bài tập phát triển thể lực chuyên môn còn đơn điệu, chưa tạo ra được hiệu quả cao
- Các bài tập bổ trợ trong giảng dạy chưa đủ để dẫn dắt và tạo cảm giác cho người tập về không gian, thời gian… trong quá trình thực hiện động tác
- Các bài tập bổ trợ chuyên môn còn chưa đa dạng, chưa tận dụng được các phương pháp tập luyện
Ở trường THPT, việc sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy còn hạn chế, đặc biệt trong giảng dạy nhảy cao nằm nghiêng Đây là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng tới thành tích của học sinh Vì vậy để đảm bảo
Trang 15- Các bài tập bổ trợ chuyên môn phải trực tiếp giúp người tập nắm được các khâu riêng lẻ cũng như hoàn chỉnh của kỹ thuật
- Các bài tập bổ trợ chuyên môn phải mở rộng được kỹ năng cho người tập
- Các bài tập bổ trợ chuyên môn phải giúp khắc phục các yếu tố làm ảnh hưởng tới việc nắm bắt kỹ thuật và nâng cao thành tích
- Cần đa dạng hóa các hình thức tập luyện triệt để, lợi dụng các phương tiện tập luyện để giúp cho quá trình chuyển đổi và liên kết kỹ năng tốt hơn
- Các bài tập phải hợp lý, vừa sức và được nâng cao dần độ khó, đặc biệt chú
ý đến khâu an toàn để tránh xảy ra chấn thương
2.2 Lựa chọn một số bài tập góp phần nâng cao thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh lớp 10
Căn cứ vào các yêu cầu khi lựa chọn bài tập bổ trợ ở trên và dựa trên cơ sở lý luận, thực tiễn, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, điều kiện sân bãi, dựa vào sự trao đổi với các giáo viên bộ môn, kết hợp với đọc và tham khảo tài liệu, tôi đã xác định
được 2 nhóm bài tập: bài tập bổ trợ kỹ thuật và bài tập bổ trợ phát triển thể lực: NHÓM BÀI TẬP Bæ TRỢ KỸ THUẬT NHẢY CAO NẰM NGHIÊNG
1 Tại chỗ giậm nhảy Giúp người học củng cố Bật căng về phía trước –
Trang 1616
kết hợp đá lăng và
xoay người
và hoàn thiện động tác
nhảy cao nằm nghiêng
lên trên, thực hiện động
tác xoay người và tiếp đất
2 Chạy đà, đi 3 - 5
bước giậm nhảy đá
chân lăng
Giúp cho HS hình thành cảm giác trước khi vào
tập luyện với xà
Khi giậm nhảy và thực hiện kỹ thuật thì phải bật nhảy lên cao và hai tay
hoàn thiện 4 giai
đoạn kỹ thuật nhảy
với xà giậm nhảy
chân lăng duỗi
chân, cơ đùi
Thực hiện nhanh, mạnh, duỗi thẳng các khớp cổ chân, khớp
gối
7 Lò cò tiếp sức 15m x 2 Phát triển cơ
chân, cơ đùi
Lò cò liên tục bằng chân giậm nhảy, không được đổi
chân
8 Bật cao tại chổ Phát triển sức Thực hiện liên tục